Ý Nghĩa Muôn Đời Của Nhân Tính Chúa Giêsu

Ý Nghĩa Muôn Đời Của Nhân Tính Chúa Giêsu
Cha Karl Rahner
Lts. ‘Biến cố độc nhất vô nhị là việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa, không có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của một sự pha trộn lẫn lộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người đã thật sự làm người, mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật’ (GLHTCG 464)
Cha Karl Rahner cảm nhận sâu đậm mầu nhiệm Nhập Thể, đã bàn giải đến ngọn nguồn mối tương quan Thần tính - Nhân tính nơi Chúa Giêsu Kitô và Tình yêu tuyệt diệu qua mầu nhiệm Nhập Thể cứu độ nhân loại của Con Thiên Chúa làm người.
‘Et Verbum caro factum est’ (Ga 1: 14)
Chính vị Thiên Chúa là người, cũng vừa là đỉnh cao duy nhất và là nền tảng uyên nguyên của mối tương quan giữa Thiên Chúa với yếu tố thụ tạo của Người trong đó, Thiên Chúa và yếu tố thụ tạo cùng trực tiếp phát triển hòa hợp. Yếu tố thụ tạo tích cực này không chỉ được lượng định một cách đơn thuần trong tương quan với hư vô nhưng còn trong tương quan với Thiên Chúa, đạt tới tột đỉnh độc đáo nhất trong Chúa Kitô.
Theo bằng chứng đức tin, bản tính người được tạo dựng là cửa ngõ thường trực và bắt buộc qua đó mọi thụ tạo phải đi qua nếu muốn tìm gặp sự trọn hảo của thành quả muôn đời trước Thiên Chúa. Chúa Kitô là cổng - cửa, là cội - cùng, Đấng ôm trọn tất cả, Đấng đã làm người mà yếu tố thụ tạo lấy lại được sự bình ổn. Ai thấy Người là thấy Cha, và ai không thấy Người, Thiên Chúa làm người, thì cũng không thấy Thiên Chúa.
Chúng ta có thể nói về cái tuyệt đối khách quan, không cần xác thể không tuyệt đối của Đấng là Con, nhưng cái tuyệt đối liên quan đến từng người chỉ có thể được tìm gặp trong Người, nơi Người Thiên tính sung mãn hiện diện, trong yếu tố thuộc về ‘đất’ của nhân tính của Người. Không có Người mọi cái tuyệt đối ta nói hay ta nghĩ ta đạt được bằng sự vươn lên một cách nhiệm mầu, thì xét cho cùng hoàn toàn là cái không bao giờ đạt tới, có tương quan khách quan với cái trống rỗng và hổng không, cái vô biên đen tối đang tự thiêu rụi một cách tuyệt vọng là chính chúng ta: Cái vô biên của cái hữu hạn vô thỏa, chứ không phải cái vô biên phước đức của sự sung mãn thực sư vô hạn. Tuy nhiên, thực tại này chỉ có thể gặp được nơi Đức Giêsu Nazareth là một hữu thể hữu hạn sờ đụng tới được, hữu thể nay còn mai mất, mà Người lại là Đấng tồn tại muôn đời.
Tuy nhiên, yếu tố quyết định cho vấn đề cơ bản của tất cả suy tư của chúng ta là: Đức Giêsu, một người, không đơn thuần đã hiện diện vào thời điểm quyết định quan trọng cho sự cứu độ của chúng ta, nghĩa là, cho cuộc tìm thực sự Thiên Chúa tuyệt đối, bằng lịch sử cuộc đời của Người và bây giờ là những sự kiện thập giá đã diễn ra, và những việc tương tự, nhưng, là Đấng đã làm người và tồn tại là một thụ tạo, bây giờ và mãi mãi, Người mở ra thường trực hữu thể hữu hạn của chúng ta vào sự sống vĩnh cửu, vô biên của Thiên Chúa hằng sống. Do đó, nhờ nhân tính của Người, Người là hữu thể được tạo dựng cho chúng ta, trong thực hành tôn giáo của chúng ta, hữu thể này mang tầm vóc quan trọng đến nỗi, nếu không có sự việc hướng về nhân tính của Người và nhờ nhân tính của Người (mặc nhiên hay minh nhiên), hoạt động tôn giáo căn bản hướng về Thiên Chúa sẽ chẳng bao giờ đạt mục đích.
Luôn luôn ai thấy Cha thì buộc phải nhờ Đức Giêsu. Cũng như phải trực tiếp như vậy, cho sự việc trực tiếp hưởng kiến Thiên Chúa, thì không thể chối từ sự trung gian của Chúa Kitô Đấng làm người. Người ta sẽ nói rằng, một đàng, chân lý sự trung gian chủ quan và khách quan của Chúa Kitô trong tư cách làm người thì khó mà giống như một Kitô hữu nào đó từng rơi vào nguy hiểm từ chối một cách lý thuyết, nhưng đàng khác, đó chưa phải, bằng một suy tư lâu dài và dựa trên những ý niệm, là giải quyết cho đủ như phải làm.
Chúng ta suy tư trong hầu hết những trường hợp, dựa vào vai trò trung gian luân lý và lịch sử của suốt cuộc đời trần thế của Con Người. Như vậy, nhân tính của Chúa Kitô trở thành không quan trọng, ở mức trung bình trong ý thức lòng tin tôn giáo của chúng ta. Chúng ta còn biết ở đâu đó trong kiến thức đức tin rằng có thực tại nhân tính này và nhân tính này được chúc phúc, được tôn vinh và được hưởng kiến Thiên Chúa. Có lẽ người ta sẽ thêm vào ý tưởng đạo đức cho nhận định (dĩ nhiên không có trong thần học tín lý) rằng’bên cạnh’ ơn hưởng kiến (trong đó, mọi tri thức khác và niềm hạnh phúc được ban một cách bội hậu, đến nỗi người ta không thật sự có thể mơ ước điều gì khác) người ta còn có thể có thêm niềm vui từ nhân tính của Chúa Kitô trên trời.
Tuy nhiên, ở đâu có những kiến thức rõ ràng, được diễn tả bằng từ ngữ siêu hình, về sự kiện sẽ mãi mãi đúng khi nói không ai biết Cha trừ Đấng là Con và những ai Người muốn mạc khải cho thì ở đó: Có phải ai thấy Con là thấy Cha? Nơi đâu gặp được ý thức rõ ràng rằng, ở đây, bây giờ và mãi mãi, ơn cứu độ, ân sủng, hiểu biết của tôi về Thiên Chúa, thì nơi đó vẫn còn dựa vào ‘Lời’ làm người như chúng ta?
Sự kiện là rất khó để phát biểu, chứng minh, và giải nghĩa tất cả những điều ấy một cách chính xác, và đủ rõ ràng dựa vào ngôn từ siêu hình, dù vậy vẫn không có lý do để lặng lẽ bỏ qua những thực tại đó. Quả là dễ dàng hơn, nhờ một số những tính chất giống nhau trong lãnh vực chân lý, khi chỉ ra rằng điều ấy là không thể. Rốt cuộc mọi chân lý đức tin đều như thế cả. Thần học gia cũng không được ‘miễn nhiễm’ trước những nguy hiểm chối từ hay một cách lặng lẽ xóa bỏ những chân lý đức tin dựa vào những phương thức triết học lý trí, cả khi những chân lý này hoàn toàn hiển nhiên trong trực giác đức tin của Giáo hội, mà cũng không được ghi một cách minh nhiên trong ‘Denzinger’.
Những cố gắng làm cho chân lý này sáng tỏ đã từng được thực hiện và cần được triển khai sâu xa hơn. Giáo lý về sự chuyển cầu và phụng vụ muôn thuở của Chúa Kitô trên trời là một phần của chân lý này. Người ta cần tự hỏi phải chăng, được nhìn từ ‘quan điểm hiện sinh này’, giáo lý về nguyên nhân dụng cụ, thể lý, bởi nhân tính của Chúa Kitô, cho mọi ân phúc, không được nhận thực là chân lý, dù có lẽ trong cách thức chưa chắc chắn và là cách chưa đạt được giả định riêng của nó, trong khi đây là chân lý phải được bảo toàn tuyệt đối.
Mọi thần học gia nên tự hỏi: Mình có ôm ấp nền thần học, trong đó, bởi sự kiện Chúa Kitô làm người và tới tận mức làm người như thế, ‘Lời’ là Đấng trung gian thường trực và thiết yếu của ơn cứu độ, không chỉ giản đơn một khoảng nào trong quá khứ nhưng cho bây giờ và muôn đời? Nền thần học mình chủ trương có thật sự nhận biết Chúa Kitô, mà sau khi trở nên Thiên Chúa làm người, Người cũng cột mình, bởi nhân tính của Người, vào hành động tôn giáo đến nỗi hành động này (dù ý thức hay không) đi xuyên qua nhân tính để tới Thiên Chúa, và nhân tính này là thiết yếu và mãi mãi là phương thức trung gian của hành vi thờ phượng (latria) hướng về Thiên Chúa là mục đích?
Ta cần chỉ ra rằng vấn đề Kitô học này quan hệ tới hoạt động tôn giáo căn bản của chúng ta, không có nghĩa một cách đơn giản là người ta cũng có thể thờ phượng Đấng đã làm người, và thờ phượng ngay cả nhân tính của Người. Thật tuyệt, chân lý này nằm trong mọi nền thần học tín lý. Nhưng tiếc thay điều ấy không được nói lên trong mọi nền thần học tín lý rằng nếu hoạt động tôn giáo thực sư muốn gặp được Thiên Chúa, nó luôn luôn và trong mọi tình huống phải có một cách chính xác cấu trúc ‘nhập thể’, cấu trúc này tự nó cũng phải song song với điều kiện khách quan căn bản, nghĩa là, trong ‘Lời’ nhập thể, Thiên Chúa thông ban chính mình cho thế giới, đến nỗi ‘Lời’ tồn tại mãi mãi là Chúa Kitô. Cấu trúc nhập thể này của hoạt động tôn giáo, nói chung, dĩ nhiên không có nghĩa rằng phải luôn luôn ý thức minh nhiên, hay trên lãnh vực giới hạn của ý thức tại thế của chúng ta, vẫn có thể, hữu ích và thiết yếu phải phấn đấu cho đạt ý thức minh nhiên và trong mọi hoạt động phải luôn luôn qui chiếu vào ‘Lời’ nhập thể.
Giám mục Gioan chuyển ngữ










