TRUYỆN NGẮN

Truyện ngắn: MẸ YÊU CỦA CON | 11. Người Mẹ Mù

06/04/2024
426

Truyện ngắn: MẸ YÊU CỦA CON | 11. Người Mẹ Mù

Tác giả: Song Nguyễn

Tôi đã xa nhà nhiều năm. Ngày tôi trở về thăm nhà, xe tôi dừng lại bên đường vì lối vào nhà quá nhỏ, chỉ vừa một chiếc xe hơi, không còn chỗ cho xe máy và người đi bộ.

Mở cửa xe bước ra, tôi nhìn thấy, người thiếu phụ dáng thanh lịch, mắt đeo cặp kính mát thời trang qua đường một cách thong thả, trong lúc đó, xe qua lại, người đông đúc, khiến tôi hơi ngạc nhiên, thắc mắc và tự hỏi: “Người thiếu phụ này là ai? Và chị đang đi đâu?”. Theo dõi bước chân chị, tôi thấy chị rẽ vào phía nhà tôi, rồi ngạc nhiên hơn nữa, tôi thấy chị bước vào nhà tôi. Tôi lấy làm lạ, liền hỏi lại chú em:

-  Ngõ nhà mình đâu?

-  Chỗ cháu Khánh vừa bước vào đó!

Tôi “ồ” lên một cách tự nhiên:

-  Ồ, thế mà anh tưởng nhà mình lại đổi nhà rồi.

Tôi chỉ nói đến đó mà không giải thích tại sao tôi hỏi chú em. Trong lòng tôi tự nhủ: “mình sẽ có dịp để biết người thiếu phụ bước vào nhà tôi là ai”.

Bước vào trong nhà, đông đảo bà con vỗ tay và đứng lên chào tôi, rồi từng người bắt tay tôi, cả người thiếu phụ đeo kính mát mà tôi đã gặp ở ngoài đường. Chị bắt tay tôi và nụ cười của chị thật rạng rỡ, nhưng vẫn không bỏ kính ra, loại kính râm chỉ dành cho người đi ngoài nắng, khiến tôi hơi thắc mắc: “Chị đau mắt, hay mới đi mổ mắt về? Mắt kính chị đeo là loại kính thời trang dành cho các cô tuổi teen đeo để làm dáng”. Nhưng tôi phải nén ngay ý tưởng đó lại vì còn nhiều người muốn bắt tay tôi.

Thế rồi, vì tôi xa nhà đã quá lâu, nên ai cũng muốn gần tôi, họ muốn nhìn xem tôi có gì thay đổi không. Người thì khen tôi ngày càng đẹp ra, người thì khen tôi giống Việt kiều, người thì khen tôi: “ăn cơm Tây có khác”… có người muốn biết tôi sinh sống làm sao. Ai cũng muốn tôi kể cho họ nghe những cái khác với quê hương của họ. Còn tôi, tôi muốn biết những thay đổi của quê hương thì chẳng được ai kể cho.

Chuyện trò với nhau gần hai tiếng đồng hồ, tôi cảm thấy mệt vì mới đi xa về. Thế mà nhiều người mến thương tôi, ai cũng tỏ ra thương nhớ tôi và ai cũng muốn tôi chú ý đến họ, có lẽ cũng để chờ đợi một cái gì nơi tôi. Còn tôi, tôi cũng cố gắng gượng “sầu làm vui”, uống miếng nước vối đắng để nuốt trôi những mệt nhọc, nhớ nhà, để mọi người được vui.

Vì đã biết tin tôi về nhà, nên nhà đã sẵn sàng cơm nước để mời mọi người bà con thân thuộc ăn mừng tôi trở về. Cỗ bàn đầy nhà. Ai nấy ngồi theo cấp bậc, họ hàng. Bàn ăn của tôi ngồi cách xa bàn ăn của người thiếu phụ đeo kính mát khoảng bốn năm bàn, nhưng thẳng hàng với tôi, khiến tôi nhìn thấy mọi người trong họ hàng một cách dễ dàng.

Bữa ăn theo kiểu nhà quê “mâm cao cỗ đầy”, thức uống cũng đủ loại: rượu “nước mắt quê hương” (rượu để ngâm thuốc), bia, nước ngọt… ai uống thứ gì tùy thích. Còn tôi, họ hỏi tôi đủ thứ rượu, có cả rượu Tây, vì họ nghĩ tôi ở có mức sống cao, lại hay đi Tây, đi Mỹ, nên phải biết uống những thứ rượu đó, hay ít nhất là bia Heniken. Tôi từ chối mọi thư rượu, lấy lý do là mới đi xa về, không uống rượu được, chỉ xin một chai nước khoáng.

Làm dấu thánh hóa bữa ăn xong, tôi ăn uống một chút rồi đi thăm từng bàn. Đến bàn người thiếu phụ đeo kính mát, theo cách sắp đặt trong nhà, tôi hiểu bàn này là bàn các cháu. Tôi ngạc nhiên thấy bàn này và mấy bàn gần đó rất nhiều cháu lớn tuổi quá, người nào cũng có con cái rồi và nhiều cô rất đẹp gái. Người ta đồn rằng: quê hương tôi có dòng nước ngọt, ai ăn uống dòng nước này đều có nước da rất đẹp, nhất là các cô gái thì khỏi chê.

 Tôi đến gần người thiếu phụ, thấy cô vẫn cười nói thản nhiên mà không thấy nhìn tôi, tôi đoán cô bị mù. Thấy tôi nhìn cô có vẻ thắc mắc, chú em tôi mới nói nhỏ với tôi:

-  Đây là cháu Khánh, anh gặp lúc rẽ vào nhà mình đấy!

-  Cháu chào bác - người thiếu phụ lên tiếng - bác về có khỏe không? Ở nhà ai cũng nhớ bác, mong bác về từng ngày.

-  Thế cô Khánh có nhớ bác lắm không?

Người thiếu phụ quờ quạng để nắm lấy tay tôi, tôi vội đưa tay bắt tay cháu:

-  Tay bác thơm quá, cháu bị mù rồi không nhìn thấy bác, chắc bác khỏe và đẹp lắm!

Tôi vui vẻ nói đùa:

-  Bác đẹp cũng còn thua Khánh nhiều lắm.

Nghe tôi khen, có lẽ đã “điểm trúng huyệt” của Khánh, nên cháu có vẻ xúc động. Tôi sợ kéo dài sẽ làm bữa ăn mất vui, tôi chào thăm cả bàn để đến thăm bàn khác. Tuy nhiên, tôi vẫn theo dõi cháu Khánh xem cháu phản ứng thế nào sau lần thăm hỏi vừa rồi.

Quả nhiên, tôi thấy cháu xúc động và không ăn uống gì nữa, vì chén của cháu những người ngồi cùng bàn đã gắp đầy thức ăn, hối thúc Khánh ăn nhưng cháu vẫn cứ ngồi yên, tôi phải nhờ chú em đến an ủi cháu:

- Khánh không ăn là bác không đến thăm Khánh đâu.

Đến lúc này, Khánh mới chịu ăn, khác hẳn lúc đầu bữa. Khánh ăn vui vẻ và còn cười đùa với mấy cháu khác nữa.

Tất cả những cử chỉ và con người của cháu Khánh làm tôi chú ý. Bữa ăn xong và mọi sự dọn dẹp đã ổn, mọi người ra về để tôi nghỉ ngơi.

Còn lại một mình ở gia đình chú em, tôi đưa câu chuyện của cháu Khánh ra hỏi:

-  Cháu Khánh tên là gì, tại sao bị mù vậy?

Chú em bắt đầu kể về cháu Khánh để trả lời những thắc mắc của tôi:

Cháu Khánh, tên Khánh là tên của chồng cháu (ở quê tôi, khi con gái đi lấy chồng thì mất tên gọi mà cha mẹ đặt cho, để lấy tên chồng hoặc đứng tuổi thì gọi bằng tên con trai trưởng). Cháu Khánh, tên cha mẹ đặt cho là Tươi, Đinh Thanh Tươi. Chú em tôi cho rằng: gia đình đặt cho cháu tên đó cũng rất phù hợp, vì từ nhỏ đến lớn, lúc nào cháu cũng thanh tươi, lúc nào cũng nói cười vui vẻ, không biết giận ai.

Ngay từ lúc còn nhỏ, cháu đã được các Dì mời vào ca đoàn và hội dâng hoa để hát và tung hoa các dịp lễ. Đặc biệt, các dịp lễ Giáng Sinh và tết, cháu thường ở cả ngày trong nhà Dì để học hành ăn uống và có khi ngủ nghỉ tại đó. Cháu rất vui vẻ và chẳng nhớ nhà nên các Dì rất mến cháu.

Với nếp sinh hoạt đó, cháu đã lớn dần và càng ngày cháu càng xinh đẹp, lại rất siêng năng đạo đức. Cháu rất chú trọng việc nhà Chúa, nhiều khi còn hơn cả việc nhà. Có lúc gia đình phải đi tìm cháu về để ăn uống.

Ở nhà thờ, cháu đàn hát, tập múa cho các em thiếu nhi và tập tung hoa và dâng hoa trong các dịp lễ lớn, lại còn tham gia hội Con Đức Mẹ, phụ giúp các Dì cắm hoa ở nhà thờ. Các ngày lễ và Chúa Nhật, cháu thường trú luôn ở nhà các Dì.

Trong gia đình, cháu rất đảm đang. Công việc đồng áng như: cấy lúa, gieo mạ, nhổ mạ… cháu đều làm rất giỏi, chỉ một điểm yếu là cháu rất sợ đỉa. Cũng tại sở đỉa mà cháu lập gia đình…

Ở trong làng, con gái từ 18-20 tuổi mà chưa lập gia đình thì người ta cho là có vấn đề, hoặc là ế, hoặc là vô sinh. Vì thế, con gái khoảng 16, 17 tuổi là có người đem trầu cau đến đặt rồi.

Còn đối với cháu Khánh, đã 20 tuổi rồi mà tính tình vẫn hồn nhiên, mãi lo công việc nhà thờ và việc gia đình, ai ngỏ lời cũng như “đỉa gặp vôi”. Cháu thường trả lời bố mẹ:

-  Con không lấy chồng đâu, con ở với bố mẹ luôn!

Bà mẹ giận nói:

-  Lớn rồi, mày không lấy chồng thì đi tu đi.

Cháu đáp lại:

-  Bố mẹ bằng lòng cho con đi tu nhé.

-  Lớn bằng này rồi, đi tu ai mà nhận mày?

-  Con sẽ xin bác con để con vào trong Nam tu.

Nghe nói đến bác ở trong Nam là bà mẹ hoảng, sợ con đi tu thật. Bà vội nói lảng:

-  Thôi, không đi tu đi tác gì cả, để tao làm mối cho!

Dù nói vậy, nhưng hễ bà mẹ giới thiệu chàng nào cháu cũng đều từ chối.

Cho đến một ngày kia, có đoàn thanh niên nam nữ vào làm công cho nhà xứ, các anh thanh niên thì nhổ mạ trên đám ruộng cao, còn các cô gái thì cấy ở thửa ruộng nước gần đấy (những thửa ruộng nước này có tiếng là nhiều đỉa vì bón phân trâu). Mới cấy được mấy luống, một cô hô to:

-  Đỉa bám chân em rồi, cứu em với!

Nghe tiếng hô, cô nào cũng nhấc chân lên và cô nào cũng bị đỉa bám, nên tất cả cùng kêu cứu.

Phần cháu Tươi, cháu sợ quá nên hét lên lớn tiếng, rồi chạy đến ôm cháu Khánh:

-  Anh ơi, cứu em với!

Cháu Khánh đỡ cháu Tươi ra và cúi xuống gỡ từng chú đỉa đang hút máu ở chân cháu Tươi. Con nào con nấy to tròn như hạt mít.

Gỡ các chú đỉa ra, máu từ vết thương cũng chảy theo. Quá hoảng sợ, cháu Tươi xỉu ngay tại đó. Cháu Khánh phải bế cháu Tươi lên bờ để chữa trị. Cũng từ đó, cháu Khánh và cháu Tươi bị bọn trẻ trêu chọc. Cả hai cũng bắt đầu có tình cảm và muốn xây dựng gia đình với nhau.

Cháu Khánh được Trời cho cháu Tươi đẹp người, đẹp nết, khiến cho nhiều chàng trai trong làng tiếc ngẩn ngơ. Họ cũng muốn đi làm ruộng trong xứ để được Trời thưởng cho như vậy.

Nói là được của Trời cho chứ cháu Khánh và cháu Tươi cũng rất xứng đôi vừa lứa. Khánh là con một ông chủ khá giàu có. Ông có đôi ba dãy ruộng (mỗi dãy 3 hecta) ở vùng biển, nhà cửa thì rộng rãi. Nhưng cháu Khánh cũng thuộc loại kén vợ, bỗng dưng Trời cho của quý, thật là xứng đôi vừa lứa.

Lấy nhau về, gia đình hai cháu rất hạnh phúc. Con cái cứ hai năm có một cháu. Cháu Tươi sinh được ba đứa con, bây giờ cháu được gọi bằng tên chồng là cháu Khánh. Ba đứa bé, đứa nào cũng xinh đẹp, khỏe mạnh. Đứa bé trai đầu có chút nét giống bố, còn hai bé gái sau giống mẹ như đúc.

Cháu Khánh rất khéo nuôi dạy con, ngay từ nhỏ các cháu đã có những dấu hiệu hơn hẳn con người ta.

Người đời thường nói: “con hư tại mẹ”, có lẽ cũng không sai. Biết vậy, cháu Khánh dạy dỗ con cái từ thuở còn thơ. Nhờ khỏe mạnh, vui tươi, các cháu không hề khóc nhè, ăn uống có giờ giấc, cháu nào cũng có tật hay ngủ. Công việc ở nhà quê rất nhiều, người mẹ làm không hết. Vậy mà các cháu rất dễ tính, cháu nào cũng vậy, đặt xuống giường là ngủ ngay.

Nhờ giáo dục từ thuở còn thơ bé, cháu nào cũng ngoan hiền. Đến tuổi đi học, cháu nào cũng học hành xuất sắc, việc đạo đức cũng rất siêng năng. Cháu trai thi vào hội lễ sinh. Sáng nào cháu cũng dậy sớm, đánh thức mọi người dậy đi lễ. Sáng nào cháu ngủ quên mà bố mẹ không đánh thức cháu dậy đi lễ là cháu hờn, ăn vạ. Còn bé gái lớn lên một chút thì cháu cũng giống mẹ, tham gia ca đoàn và hội tiến hoa, tung hoa. Vợ chồng cháu Khánh nhiều khi công việc đồng áng cực nhọc, tối về nhiều lúc ngủ quên. Những lúc đó, các cháu lại hô dậy để dẫn các cháu đi lễ. Nhiều khi cháu Khánh phải dẫn các cháu đến nhà thờ rồi mới về để lo cơm nước cho chồng và cho thợ ra đồng.

Trong làng, từ Cha xứ đến các Thầy, các Dì và bà con thân thuộc đều quý mến và khâm phục sự giáo dục con của gia đình cháu Khánh. Cho đến năm cháu trai đã tốt nghiệp phổ thông, hai cháu gái đã lớp 10 và lớp 8 thì một tai nạn xảy ra.

Một buổi sáng nọ, cháu Khánh thức dậy dọn cơm nước cho chồng, cho con và cho thợ. Cháu Khánh ra ngoài nhà lấy một bó rơm vào đun bếp. Khi đút rơm vào bếp, thì một tiếng nổ long trời phát ra khiến khói lửa, bụi tro văng tung tóe. Không biết chất nổ hay vật gì bắn vào mắt cháu, khiến cháu bật ngửa ra sau và máu từ hai con mắt chảy ra xối xả.

Chồng cháu Khánh và bà con quanh nhà thức dậy chạy đến bên bếp thì thấy cháu Khánh đã bất tỉnh trên vũng máu. Gia đình vội vã cáng cháu ra trạm xá gần đó để xin xe đưa cháu Khánh lên huyện, từ bệnh viện huyện, bác sĩ bắt chuyển lên tỉnh, rồi lên thành phố. Chạy chữa hết cách vẫn không cứu chữa được hai con mắt của cháu Khánh.

Thế là từ hôm đó, gia tài của cháu Khánh cũng đi theo hai con mắt của cháu. Cháu bị mù lòa vĩnh viễn.

Sở dĩ tiếng nổ long trời phát ra làm mù con mắt cháu Khánh là do một sơ suất nhỏ: không biết bọn trẻ nhặt được một cái kíp lựu đạn ở đâu. Chúng chuyền nhau xem rồi, khi đi ngang qua nhà cháu Khánh, chúng vất vào trong đống rơm. Cháu Khánh sáng sớm ra lấy rơm thổi cơm không để ý, thế là khi cháu đút rơm vào bếp, thì cái kíp lựu đạn bung ra và gây ra tiếng nổ long trời.

Cháu Khánh xuống tinh thần trầm trọng, phần vì mặc cảm mù lòa, phần vì cháu không thể ra ngoài được nữa, kể cả việc đến nhà thờ. Cháu cứ luẩn quẩn ở nhà, hay đúng hơn là chỉ ở trong phòng. Có ai đến hỏi thăm là cháu khóc.

Các con của cháu lúc đầu thấy mẹ quá đau khổ, chúng chỉ biết khóc theo. Cũng may mà nhà xứ, Cha xứ và giáo xứ động viên. Trước hết là họ an ủi, động viên các đứa con của cháu Khánh, khuyên chúng phải cầu nguyện, phải sống ngoan ngoãn và học hành, còn về vật chất, nếu khó khăn thì giáo xứ sẽ giúp.

Cũng may mà chúng đã được mẹ giáo dục từ bé nên các cháu sớm ý thức được điều đó. Chính các cháu cũng động viên, an ủi mẹ. Cháu nào được giấy khen, phần thưởng hay quà bánh gì cũng khoe với mẹ và trao cho mẹ. Đặc biệt là cháu út, Thu Hương, vừa tốt nghiệp lớp 9, cháu xin mẹ đi tu.

Thu Hương là đứa con út được mẹ thương cách đặc biệt. Cháu Khánh thường khoe với mọi người về Thu Hương: Thu Hương rất ngoan hiền, có hiếu với cha mẹ và theo mẹ như hình với bóng. Cháu Khánh còn nói: Thu Hương là niềm hy vọng, là cái gậy chống cho mẹ. Bây giờ Thu Hương lại xin đi tu trong lúc cháu Khánh dường như tuyệt vọng. Vì thế, cháu Khánh vừa khóc, vừa nức nở hỏi con:

-  Tại sao con lại đi tu. Con bỏ mẹ à?

Thấy mẹ khóc, Thu Hương cũng khóc và trả lời mẹ:

-  Bởi vì con thấy sống ở thế gian này khổ quá, mẹ ơi!

Rồi Thu Hương nắm lấy tay mẹ giải thích:

-  Như mẹ đây, nếu có một tai nạn gì xảy đến cho mẹ hoặc ba thì cả gia đình đều khổ theo.

-  Tai nạn thì làm sao biết được, con? - Cháu Khánh đáp lời con.

-  Vâng, mẹ ạ, khi học giáo lý, quý Thầy, quý Dì có dạy chúng con: hãy vác thánh giá mình hằng ngày mà theo Chúa. Nhưng vì con thấy mẹ buồn quá, con muốn đi tu để cầu nguyện cho mẹ được vui lên.

Được đứa con nhỏ giải thích một cách mộc mạc, cháu Khánh cũng có phần thấm thía. Cháu nắm chặt tay con và nói:

-  Vậy mẹ sẽ vui lên để các con vui nhé!

Thu Hương ôm lấy cổ mẹ rồi hôn mẹ. Thu Hương nói:

-  Mẹ hứa với con nhé. Con sẽ biếu mẹ cái này hay lắm!

Thế là từ hôm đó, với những lời lẽ của Thu Hương cùng với những lời động viên, khích lệ của quý Thầy, quý Dì và nhất là bà chánh, cháu Khánh đã thay đổi cuộc sống, cháu không còn ẩn mình trong nhà để thất vọng và than trách cho số phận nữa.

Trước hết là nhờ Thu Hương đã theo lời chỉ dẫn của quý Thầy, quý Dì để đánh đòn tâm lý, kéo mẹ cháu thoát ra khỏi cái mặc cảm và thất vọng, Thu Hương còn hứa tặng mẹ món quà đó là cái gậy chống của người mù.

Đợi chú em kể mãi, bây giờ tôi mới có dịp xen vào:

-  Nhưng lúc nãy gặp cháu Khánh, anh thấy cháu ấy có dùng gậy chống đâu?

Chú em hỏi lại tôi:

-  Có phải anh thấy cháu Khánh đi như người bình thường, kể cả lúc quẹo vào nhà mình, cháu cũng đi một nước?

Chú em giải thích:

-  Khi sai các con làm gì, nhất là Thu Hương, thường được nhờ nhất. Nếu Thu Hương không biết nhà, biết người, dù xa hay gần, cháu Khánh đều chỉ vanh vách, trừ trường hợp những người mới đến; nhưng nếu có ai chỉ cho cháu thì lần sau cháu sẽ nhớ rất rõ.

Cháu cũng dùng trí nhớ của mình để dạy dỗ con và góp ý với chồng trong việc làm ăn giống như người sáng mắt vậy.

Tôi hỏi lại:

-  Thế còn việc nhà thờ Kinh Lễ thì sao?

-  Trước khi mù thế nào thì sau khi mù vẫn vậy. Kinh Lễ sáng tối không bao giờ cháu bỏ nữa. Đã vậy, cháu còn khuyên bảo những người sáng mắt đi nhà thờ để đọc kinh, dâng lễ. Cháu tham dự thánh lễ rất sốt sắng, nhất là những lúc mọi người đứng ngồi hay quỳ, cháu đều làm theo răm rắp, không cần ai nhắc nhở, giống như người sáng mắt vậy.

Tôi thêm:

-  Có lẽ Chúa cho cháu trí nhớ như thế, nên khi bị tai nạn cháu mới khổ sở và thất vọng nặng nề như vậy.

Chú em tôi trả lời:

-  Trước kia cháu Khánh cũng có trí nhớ đặc biệt: bao nhiêu kinh cầu, cả kinh “Phục Dĩ Chí Tôn” (kinh nguyện giỗ cầu hồn “Cảm Tạ Niệm Từ”), cháu thuộc hết, rồi kinh dâng hoa, kinh ngắm mười lăm sự thương khó… cháu đều thuộc. Khi cháu bị mù, trí nhớ của cháu được tốt hơn nữa, thay cho đôi mắt.

Tôi thêm:

-  Phải rồi, càng nhớ thời vàng son của mình bao nhiêu mà bây giờ không thấy được thì thật khổ, nhưng rất may cháu Khánh là người biết được trách nhiệm làm mẹ để dạy dỗ con từ thuở nhỏ cho đến khi các con khôn lớn, chúng cứ nếp đó mà sống. Nếu các con của cháu sai lỗi thì chính trí nhớ của cháu sẽ bổ túc cho các con, vì cháu đã có một trí nhớ rất sắc bén để hướng dẫn chồng trong việc làm ăn.

Cháu Khánh quả là một người mẹ hiếm có!

Mù đâu phải không thấy,

Thấy có khi lại mù:

Thấy, mù, đâu xa mấy.

Mù thấy tình Giêsu.

(Thầy DKQ)

CHIA SẺ BÀI VIẾT
TIN LIÊN QUAN

THÔNG BÁO

VĂN KIỆN GIÁO HỘI

LIÊN KẾT NHANH

Đại Chủng Viện Thánh Giuse Xuân Lộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Cổng Thông Tin Điện Tử Giáo Phận Xuân Lộc
Thánh Lễ Trực Tuyến
Vatican News
Bài Ca Mới
Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu
Tin Vui Xuân Lộc
Ban Văn Hoá. Gp Xuân Lộc
Youtube Gp. Xuân Lộc