TRƯỚC KHI CÂU CHUYỆN GIÊSU ĐƯỢC VIẾT RA

Bốn cuốn đầu tiên trong Tân Ước được gọi là Tin Mừng. Những cuốn này tường thuật câu chuyện cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu thành Nazareth. Người sống vào đầu thế kỷ I s.CN. Theo như các Tin Mừng ghi lại, Người chịu đóng đinh vào khoảng năm 30 dưới thời tổng trấn Phongxiô Philatô.
Nhưng nếu có cùng điểm chung là kể lại câu chuyện Giêsu, thì tại sao các Tin Mừng lại khác nhau, và cũng đầy những điểm không đồng nhất? Chẳng hạn, Matthêu nói Chúa công bố các mối phúc trên núi, và bài giảng của Người chỉ toàn phúc và phúc mà thôi (x. Mt 5,1-12), trong khi Luca lại cho biết Chúa giảng ở đồng bằng, vừa nói đến cái phúc, vừa nói đến cái họa của người môn đệ (x. Lc 6,17-26). Từ đây, nảy sinh một số câu hỏi: Các tác giả Tin Mừng lấy thông tin từ đâu mà viết? Những nguồn văn này lưu hành thế nào, bằng hình thức nào, truyền khẩu hay truyền văn? Phải chăng nguồn liệu về Chúa thì giống nhau, nhưng rồi các thánh sử thêm thắt điều gì đó vào trong nguồn văn để “diễn lại” cho hợp với hoàn cảnh cộng đoàn, hay đối tượng thính giả/ độc giả riêng của Tin Mừng? Chúng ta sẽ không trả lời những thắc mắc vừa nêu, nhưng thay vì vậy, với những câu hỏi này, ta đi đến giai đoạn tiền Tin Mừng, tức là giai đoạn trước khi những câu chuyện về Chúa Giêsu được biên soạn dưới dạng văn bản trong bốn Tin Mừng.
Từ kinh nghiệm của những chứng nhân đầu tiên
Trước khi các Tin Mừng được viết thành văn thì đã có một Tin Mừng được Giáo hội sơ khai rao giảng. Sự hiểu biết của chúng ta về thời kỳ đầu này của Giáo hội không nhiều, nói chung là vì có ít nguồn liệu để nghiên cứu. Những thông tin hiện còn chủ yếu do Kitô hữu đầu tiên truyền lại bằng miệng; rồi sau, chúng được viết ra để đáp ứng những nhu cầu và mục đích chuyên biệt, chứ không đơn giản là cung cấp thông tin nào đó hay thỏa mãn sự hiếu kỳ tò mò. Tuy vậy, điều này không làm ta nản chí. Chúng ta vẫn có thể dựa vào các tài liệu đó để có những thông tin hữu ích về những kinh nghiệm của các Kitô hữu thời kỳ sơ khai và đôi nét việc rao giảng Tin Mừng.
Hầu hết các học giả đều đồng ý với nhau là Chúa Giêsu đã không tổ chức Giáo hội theo kiểu một thể chế tôn giáo trong suốt quãng thời gian ngài thi hành sứ vụ, mà là một cộng đoàn nhỏ với các môn đệ thuộc các thành phần xã hội khác nhau. Mối liên hệ mà Người có với các môn đệ, theo một cách nào đó, khá giống với hình mẫu vốn gặp thấy trong Do Thái giáo, tức là Chúa gần giống như một thầy Rabbi Do Thái có các đồ đệ quanh mình. Nhưng có một khác biệt căn bản. Chúa không huấn luyện họ trở thành những thầy dạy chuyên nghiệp nhưng muốn họ chia sẻ thân phận với Người, và trở thành những nhân tố qua đó làm cho ý định và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện.
Những môn đệ của Chúa Giêsu xem cuộc tử nạn của Người là biến cố gây sốc nhưng đó hoàn toàn không phải là chỉ dấu của án phạt; trái lại, đó là dấu chỉ của sự hoàn tất ý định cứu độ thần linh. Chẳng bao lâu sau, tất cả họ đều tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết. Họ rao giảng bằng chính kinh nghiệm của mình: họ thấy Chúa Giêsu đã hiện ra sau khi Người được chôn táng. Họ hiểu và mô tả những kinh nghiệm này có điều gì đó hoàn toàn khác lạ, chứ không phải là những thị kiến, ảo giác hay đại loại những kiểu xuất thần mơ hồ mà người ta bày vẽ ra. Họ biết và xác tín cách chắc chắn, thậm chí lấy chính mạng sống để bảo đảm, rằng Đấng hiện ra với họ, Đức Giêsu Phục sinh, là Đấng Thiên Chúa chọn để những kẻ tin vào Người thì được sự sống đời đời. Trước đây họ thờ phượng và tin vào Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, nhưng giờ đây họ cũng thờ phượng chính Chúa Giêsu là Đấng ban sự sống, là Đấng mà qua đó Thiên Chúa ban sự sống đời đời và viên mãn cho nhân loại.
Niềm tin của những môn đệ đầu tiên này dần dần lan ra và được đón nhận… Những người Kitô hữu đầu tiên tin rằng họ đang sống trong những ngày cuối cùng, sống vào thời kỳ cánh chung khi Thiên Chúa đổ tràn trên mọi xác phàm Thánh Thần Người đã hứa từ xưa (x. Cv 2,14-36). Họ tin rằng Thiên Chúa đang hoạt động mạnh mẽ, và họ chính là những người thừa hưởng lời chúc lành. Vì xác tín rằng thời đại của Chúa Giêsu là thời đại cuối cùng (x. Dt 1,1-3), nên các Kitô hữu bị thúc đẩy một cách mãnh liệt phải nói cho mọi người – Do Thái hay dân ngoại – Tin Mừng cứu độ.
Kể những câu chuyện về Chúa Giêsu
Một trong những cách rao giảng hữu hiệu nhất là kể chuyện về Chúa Giêsu. Khi kể lại những câu chuyện này, các Kitô hữu không nhắm cung cấp thông tin cho thính giả về một nhân vật lịch sử có tên là Giêsu, cũng không chỉ là kể sao cho hấp dẫn, thu hút, càng không phải kể cho vui nhằm thỏa mãn trí tò mò; nhưng mối bận tâm của họ là làm cho người nghe nhận thức rằng nơi Chúa Giêsu kế hoạch của Thiên Chúa đã nên trọn và cho biết thực sự Người là ai.
Dĩ nhiên có nhiều câu chuyện về Chúa Giêsu. Có những câu chuyện được kể thường xuyên, có những câu chuyện thi thoảng mới kể, nhưng có cả những câu chuyện bị quên lãng. Khi đóng lại Tin Mừng thứ tư, thánh Gioan nói rõ điều này, mặc dù có phần phóng đại: “Còn có nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (Ga 21,25). Nếu thế, phải lựa lọc những câu chuyện có tính thuyết phục và hữu ích nhất nhằm đưa người ta đến tin nhận Chúa Giêsu là Chúa.
Hữu ích và thuyết phục để tin, chứ không phải kể sao cho hợp nhĩ. Thế nên, có những câu chuyện về Chúa Giêsu mà người Do Thái nghe xong sẽ cảm thấy sốc; một trong số đó là những câu chuyện liên quan đến Lề Luật. Làm sao một người Do Thái, nhất là người Do Thái ngoan đạo, có thể chịu nổi khi các Kitô hữu sơ khai tường thuật lại rằng Chúa Giêsu đến để kiện toàn Lề Luật và các tiên tri, và rằng Người đã tự cho mình còn lớn hơn cả Môsê và Lề Luật: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”? Những điệp ngữ này cứ vang lên mãi hết ngày này đến ngày khác! Nhân vật Giêsu này tự coi mình là ai mà dám đứng trên cả Luật và giải thích lại Luật? Và càng sốc hơn nữa khi các Kitô hữu “liều mạng” rao giảng về một người tên là Giêsu bị đóng đinh và bị giết, nay lại trở thành nguồn ơn cứu độ (x. Gl 3,13). Hoàn toàn không chấp nhận được vì theo quan niệm Do Thái giáo, kẻ đó bị Thiên Chúa nguyền rủa. Quan niệm này được ghi chép trong sách Luật hẳn hoi: “[…] người bị treo là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa!” (Đnl 21,23). Và rồi càng sốc hơn nữa là câu chuyện Phục sinh!
Mỗi hoàn cảnh, mỗi câu chuyện
Nhiều câu chuyện về Chúa Giêsu, nhưng mỗi câu chuyện lại được kể trong những tình huống khác nhau với những mục đích khác nhau. Chẳng hạn, với mục đích huấn giáo, cần giới thiệu Chúa là Con Thiên Chúa, lúc ấy người rao giảng sẽ kể những câu chuyện Phép Rửa (x. Mt 3,13-17; Lc 3,21-22), lời tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô và các Tông đồ tại Xêdarêa Philiphê (x. Mt 16,13-20; Lc 9,18-21). Có những câu chuyện khác trợ giúp Giáo hội trong việc thờ phượng, và được phát triển trong bối cảnh thờ phượng, như kinh Lạy Cha (x. Mt 6,9-15), hay bữa tiệc ly (x. Mc 14,17-25).
Thính giả cũng được nghe những câu chuyện đưa ra nguyên tắc hay giải pháp cho những khủng hoảng về đời sống luân lý trong cộng đoàn Giáo hội, như những chỉ thị của Chúa Giêsu về vấn đề ly dị (x. Lc 16,18), khiêm nhường (x. Lc 14,7-14) hay lời khuyên về kỷ luật và sửa lỗi trong cộng đoàn (x. Mt 18,15-20). Khi những người Kitô hữu trở nên uể oải thì họ được nghe lại dụ ngôn gieo giống, khích lệ họ lắng nghe và làm cho Lời Chúa sinh hoa kết quả (x. Mc 4,1-20). Nếu các tín hữu đang chịu đau khổ vì bị bách hại thì họ sẽ được nghe và đến lượt mình sẽ kể lại cho người khác những câu chuyện thích hợp để củng cố niềm tin (x. Lc 6,27-36; Mc 8,34-9,1; 13,9-13). Những câu chuyện về Chúa Giêsu giúp cho cộng đoàn Giáo hội đứng vững và có hướng giải quyết trong những tình huống cụ thể.
Câu chuyện lan xa
Có một khoảng thời gian dài giữa khởi đầu của Giáo hội từ khi Chúa Giêsu lên trời đến khi Tin Mừng đầu tiên được viết thành văn, tức là Tin Mừng Marcô khoảng năm 70 s.CN; quãng thời gian này kéo dài kéo dài trên dưới 40 năm. Ban đầu các Kitô hữu là những người Do Thái, nhưng 40 năm sau đó họ đã thành một nhóm cả những người dân ngoại (x. Cv 7; 16). Ngôn ngữ bây giờ cũng thay đổi: từ tiếng Aram sang tiếng Hy Lạp. Bối cảnh văn hóa cũng khác: từ văn hóa Semit (vùng Trung Cận Đông) đến nền văn hóa Hy Lạp (nền văn hóa Hy-La của vùng Địa Trung Hải). Ta tạm chia quãng thời gian này thành ba giai đoạn.
(1) Giai đoạn đầu tiên của Kitô giáo có thể được gọi là Kitô giáo nói tiếng Aram ở vùng Palestine. Cộng đoàn Kitô chủ yếu tập trung quanh Giêrusalem và một số vùng phụ cận, lên tới phía bắc là Galilêa. Đây chính là những người môn đệ liên kết với Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời công khai của Người. Qua lời giảng dạy của họ, những người Do Thái khác được thuyết phục và tin vào Chúa Giêsu. Người được nghe rao giảng cũng chủ yếu là những người nói tiếng Aram. Họ quen thuộc với truyền thống tôn giáo Do Thái và chấp nhập niềm tin Do Thái giáo. Vì tiếng Aram được dùng để giảng nên dĩ nhiên những câu chuyện về Chúa Giêsu cũng phải được kể bằng tiếng Aram.
(2) Trong giai đoạn hai, Kitô giáo không bị đóng khung trong lãnh thổ của Palestine và ngôn ngữ rao giảng không còn là tiếng Aram, thứ tiếng mà người Do Thái sử dụng. Địa bàn rao giảng chuyển dịch dần dần từ Giêrusalem tới quanh vùng Judea và tới Samaria, Damas, Antiokia và xa hơn. Vì sao chuyển dịch? Có nhiều lý do, chẳng hạn, một số Kitô hữu đi từ Giêrusalem tới những vùng khác để buôn bán; và rồi những vụ bách hại các Kitô hữu… Đi đến đâu họ thực thi lệnh truyền của Chúa Giêsu đến đó: loan báo Tin Mừng cho muôn dân (x. Mt 28, 16-20). Nhưng cũng có lý do mạnh hơn, đó là nhiều người tin rằng Chúa sẽ sớm trở lại, thậm chí nay mai thôi (x. 1Tx 4,17), và điều này thôi thúc họ phải đem Tin Mừng đến cho những người khác ở những vùng khác sớm nhất có thể.
Tuy vậy, vào thời kỳ này, những người nghe giáo huấn Kitô giáo ở những vùng xa xôi như thế phần đông vẫn là người Do Thái. Đúng hơn, họ là những người Do Thái bị Hy Lạp hóa, tức là những người Do Thái do thời cuộc đã cùng với gia đình bỏ lãnh thổ Palestine đi đến những miền khác trong đế quốc và chịu ảnh hưởng của lối sống Hy Lạp, sử dụng tiếng Hy Lạp để trao đổi. Vào thời này, văn hóa quốc tế là văn hóa Hy Lạp, cũng như ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại chịu ảnh hưởng của văn hóa Âu Mỹ.
Việc rao giảng cho những người Do Thái Hy Lạp hóa giả định rằng người rao giảng phải biết những phong tục và truyền thống Hy Lạp và Rôma, ngược lại Do Thái kiều cũng biết ít nhiều phong tục, truyền thống và niềm tin Do Thái giáo. Hơn nữa, để thuyết phục những người bây giờ không còn gốc Do Thái trăm phần trăm, hoặc mang dòng máu Do Thái nhưng có lối sống Hy Lạp, người rao giảng phải điều chỉnh cách giảng và hành vi của mình sao cho người nghe có thể dễ dàng hiểu và chấp nhận.
Một trong những cách thức cụ thể là những câu chuyện về Chúa Giêsu phải được dịch từ tiếng Aram sang tiếng Hy Lạp. Dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác không hề đơn giản. Sắc thái của những câu chuyện thay đổi: khác nhau trong cách diễn tả, thế giới quan, những giả định triết học… Trong nền văn hóa mà chữ viết chưa thịnh hành, thời mà người ta chủ yếu dùng lối truyền khẩu, thì sự khác biệt về sắc thái và nội dung câu chuyện giữa ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ ngoại quốc càng lớn hơn! Một câu chuyện từ miệng người này sang người khác tự nhiên sẽ khác, từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác tất phải khác. Dĩ nhiên, vẫn phải giữ lại điều cốt lõi!
(3) Giai đoạn ba. Việc rao giảng bây giờ dịch chuyển đến những trung tâm lớn của đế quốc. Bây giờ không chỉ là chuyện thuyết phục những người Do Thái Hy Lạp hóa, mà là cả những người dân ngoại. Với những người này, hoàn cảnh đã khác, và có nhiều vấn đề mới nảy sinh. Chẳng hạn, dân ngoại có tập tục cúng thần, vậy phải giải quyết vấn đề này ra sao? Cụ thể là một Kitô hữu không cúng thần, nhưng khi được mời ăn thì có được phép ăn thịt cúng không (x. 1Cr 8,1-13)? Trong giai đoạn này, liên tục diễn ra tiến trình thích ứng và giải thích những câu chuyện về Chúa Giêsu. Chúng ta nói thêm một chi tiết nhỏ nữa liên quan đến thuật ngữ “Abba” để minh họa. Người Do Thái ngỏ với Thiên Chúa theo cách này, và tạm dịch sang tiếng Việt là “Ba ơi!/ Bố ơi!?/ Cha ơi!”, và như vậy đậm chất tình cảm gia đình, ruột thịt. Khi chữ Abba được nói cho người nói tiếng Hy Lạp thì được dịch thành Patēr (πατήρ). Tuy vậy, thuật ngữ Hy Lạp này, tự nó là trung tính, tùy hoàn cảnh cụ thể mới diễn tả được đầy đủ sắc thái và ngữ nghĩa. Có đôi khi thánh Phaolô đành phải viết liền kề hai chữ này lại với nhau, hoặc giải thích rõ hơn cho người nghe hiểu Abba là Patēr (x. Rm 8,15; Gl 4,6). Thậm chí, Patēr có thể chỉ ma quỷ. Chúa Giêsu không ngần ngại nói với những người Do Thái thù địch: “Cha (Patēr) các ông là ma quỷ!” (Ga 8,44). Trong tiếng Do Thái, từ Abba không thể mang nghĩa này! Từ Abba xuất hiện rất ít trong Tin Mừng và các thư, nhưng nếu xuất hiện thì luôn là chỉ dấu của điều gì đó quan trọng liên quan đến Chúa Giêsu, và diễn tả mối tương quan độc nhất của Người với Thiên Chúa là Cha. Nói vắn tắt, những nhà giảng thuyết Kitô giáo phải biết lựa lọc điều mình phải giảng sao cho phù hợp với văn hóa và tâm thức mới rất khác biệt với thế giới Do Thái.
Trong một nền văn hóa truyền khẩu
Phần lớn dân chúng thế kỷ I không biết đọc biết viết. Chỉ một số lượng nhỏ có khả năng này, và họ thường sống ở những trung tâm lớn của đế quốc như Ephêxô, Corintô, Athen, Alexandria, và dĩ nhiên có cả Rôma. Những nghiên cứu cho thấy khoảng 5-10% dân số đế quốc biết chữ. Tỷ lệ những Kitô hữu biết chữ có lẽ còn ít hơn. Cũng cần nói thêm: biết chữ chủ yếu là biết đọc, còn biết viết lại là chuyện khác. Người ta chủ yếu thông tri với nhau bằng lời nói chứ không bằng chữ viết.
Nền văn hóa truyền khẩu có những đặc điểm riêng của nó. Cụ thể là để kể hay nói một vấn đề gì thì điều phải lưu ý trước tiên là sự ngắn gọn và dễ nhớ. Người kể nếu muốn người nghe ghi nhớ thì phải biết vận dụng nhiều kỹ thuật như chơi chữ, láy âm, láy vần, kỹ thuật liên tưởng. Có những tình huống khác nhau trong đó các câu chuyện được lưu truyền và được “tạo hình” lại sao cho phù hợp: tang lễ, cưới hỏi, đăng quang, chiến thắng, cử hành thờ phượng, các ngày thu hoạch vụ mùa, những chỉ dẫn hằng ngày… Điều này cũng tựa như ngày nay, mỗi bản tin hay sự kiện được ghi lại theo những cách khác nhau là tùy thuộc tình huống mà câu chuyện được lồng vào trong đó. Một vụ cướp được kể ở tòa án sẽ khác với vụ cướp được minh họa trong bài giảng của một lớp giáo lý!
Vì ít người có khả năng đọc nên họ phải lệ thuộc nhiều vào việc nghe đọc và nghe giảng giải. Trong các trường học tôn giáo, các Rabbi huấn luyện cho các học trò học thuộc lòng phần lớn Sách Thánh. Học trò cũng phải học thuộc những bộ sưu tập giải thích Sách Thánh. Họ ghi nhớ nên có thể dễ dàng trích dẫn và nại đến ý kiến của Kinh Thánh hay của các thầy Rabbi khi phải tranh cãi về một vấn đề gì. Các Kitô hữu cũng phải thuộc lòng hay nhớ những gì đã nghe để trình bày về Chúa Giêsu.
Phương thức truyền khẩu thời xưa được chú trọng hơn cũng còn vì lý do kinh tế. Vào thời này, việc ghi chép trên các bản giấy da hay giấy cói rất mắc mỏ và cực kỳ xa xỉ. Thử tượng tượng, nếu phải chép trên miếng da thuộc thì toàn bộ một tấm da dê hay da bò chép được bao nhiêu ký tự? Với xã hội công nghiệp phát triển hiện nay, một người thu nhập kinh tế trung bình có một chiếc áo khoác da bò chính hiệu đã là hiếm, thì thời xưa lương thực thiếu thốn, việc giữ lại một miếng da bò để viết lách là chuyện không dễ dàng! Cũng vì vật liệu dùng cho việc ghi chép được sản xuất với số lượng cực kỳ hạn chế và khó kiếm, nên người ta phải đắn đo điều gì cần chép điều gì không, và phải chép cực kỳ cẩn thận để tránh phí phạm.
Riêng đối với các Kitô hữu, ngoài lý do biết đọc biết viết, phương thức truyền khẩu vào thời kỳ đầu của Giáo hội cũng được xem trọng vì liên quan đến xác tín về ngày giờ quang lâm của Chúa đã gần kề. Các Kitô hữu không chỉ thường xuyên được nghe công bố lại những lời rao giảng của Chúa Giêsu: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15), hay là: “Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật anh em: anh em chưa đi hết các thành của Israel, thì Con Người đã đến” (Mt 10,23); nhưng còn được nghe từ miệng của chính các Tông đồ: “Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu. Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên; rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung” (1Tx 4,15-17). Chúa sắp đến, cận kề ngay cửa nhà, cần gì phải mất thời gian cho việc viết ra những câu chuyện hoặc những lời giảng giải về Người! Chỉ cần giảng và kể là đủ!
Một câu chuyện: giống mà lại khác!
Trong khi rao giảng như thế, vì bối cảnh văn hóa truyền khẩu này, không có gì chúng ta phải ngạc nhiên khi Giáo hội tiên khởi sử dụng các câu chuyện về Chúa Giêsu rất tự do. Cùng một câu chuyện nhưng được đặt vào trong những hoàn cảnh khác nhau và cho những mục đích khác nhau.
Chúng ta xem xét một thí dụ đơn giản: câu chuyện Chúa Giêsu chịu phép rửa trong Marcô và Matthêu (Mc 1,9-11; Mt 3,13-17). Nhìn chung, trong cả hai Tin mừng, câu chuyện được dùng trong bối cảnh huấn giáo về ý nghĩa của Phép Rửa tội, và nhắm làm sáng tỏ nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa trong thân phận người phàm. Tuy nhiên, với một ít sự chú ý, chẳng mấy chốc thính giả sẽ nhận ra sự khác biệt. Trong khi Marcô kể vắn gọn, nêu thẳng vấn đề, thì Matthêu đưa thêm vào chi tiết Gioan Tẩy giả “một mực can ngăn” Chúa Giêsu và không muốn làm Phép Rửa cho Người. Chỉ sau khi nhận ra thái độ cương quyết của Chúa, “bấy giờ Gioan mới chiều theo ý Người” (Mt 3,14-15). Tại sao Matthêu lại thêm vào chi tiết này ở đây?
Thời Giáo hội sơ khai, xét về mặt hình thức, tồn tại song song hai phong trao trào cùng làm Phép Rửa: phong trào của Gioan Tẩy giả và phong trào của Chúa Giêsu (x. Cv 19,1-7). Nếu phong trào Kitô giáo trình bày Đấng sáng lập là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, thì làm thế nào hóa giải một số vấn đề mà những người Kitô hữu gặp phải với nhóm môn đệ của Gioan Tẩy giả (x. Ga 1,19-34; 3,22-24), chẳng hạn, có đúng thật Chúa của tôi bước xuống cho Gioan làm phép Rửa? Trong khi các Kitô hữu không thể loại bỏ câu chuyện có thật và đậm ý nghĩa huấn giáo này, thì cần thêm lời giải đáp: Gioan không đủ tư cách làm chuyện đó, vì chính ông đã thừa nhận rằng “Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người” (Mt 3,11b); và ở đây thêm một lần nữa, thính giả được giải thích: Gioan không dám thực hiện và rồi sau đó “miễn cưỡng” vì vâng phục Đấng “quyền thế” hơn mình!
Từ thí dụ này, ta có thể thấy luôn có khuynh hướng giải thích và làm rõ nghĩa được lồng vào trong các câu chuyện về Chúa Giêsu, tùy theo hoàn cảnh và mục đích của câu chuyện được kể. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa việc truyền khẩu là tùy tiện. Tính tự do áp dụng câu chuyện luôn được kiềm hãm lại bởi nguyên tắc bảo tồn nguyên bản. Trong thực tế, nhất thiết tồn tại một hạt nhân của mỗi câu chuyện mà người ta không được phép bỏ qua. Các câu chuyện phải giữ lại tinh chất của chúng về những sự kiện liên quan đến Chúa Giêsu. Như trong câu chuyện vừa nêu, điểm chính yếu là tính lịch sử của sự kiện Chúa Giêsu chịu phép Rửa, và rằng Chúa sẽ làm phép Rửa trong “Thánh Thần và lửa”, một hình ảnh diễn tả Chúa là Đấng Messiah vào thời sau hết này để đem ơn cứu độ.
Để kết
Những điều vắn lược được trình bày trên đây về việc rao giảng trong nền văn hóa truyền khẩu cho ta thoáng thấy lý do tại sao ngoài những trình thuật tương tự về nội dung, nhưng các chi tiết lại khác nhau? Tại sao một số câu chuyện rất ý nghĩa xuất hiện trong Tin Mừng này mà lại không có trong Tin Mừng khác? Tại sao Luca kể dụ ngôn “Người cha nhân hậu và hai con trai”, trong khi Marcô và Matthêu lại không? Và còn nhiều thắc mắc khác. Một trong những câu trả lời phải giả định: trước khi Tin mừng được viết ra, những câu chuyện của Chúa Giêsu được lưu hành và “sống” trong môi trường văn hóa truyền khẩu, và điều đó lý giải một phần cho sự khác biệt giữa các Tin Mừng.
Nhưng rồi thì các câu chuyện về Chúa Giêsu phải được viết ra, các Tin Mừng phải được viết ra. Tại sao? Có nhiều lý do mà ta sẽ bàn tới khi có dịp, nhưng xin nêu ra đây hai lý do chính. Thứ nhất, thế hệ các Tông đồ là những chứng nhân trực tiếp của Chúa dần dần qua đời, và khoảng cách về thời gian với thế hệ chứng nhân trực tiếp này càng lúc càng lớn. Thẩm quyền nào sẽ “kiểm soát” tính xác thực của những chuyện được kể? Thứ hai là nguyên lý “tam sao thất bản”. Nếu những câu chuyện về Chúa Giêsu được kể, được giải thích và cứ lập đi lập lại trong các bối cảnh khác nhau, làm sao bảo đảm được tính nguyên mẫu như chúng đã từng được kể, hay ít là phải giữ được “nòng cốt” của câu chuyện? Thế nên, sớm hay muộn sẽ xuất hiện nhu cầu chúng lại thành văn bản.
Tham khảo
Barry W. Henaut, Oral Tradition and the Gospels. The Problem of Mark 4 (JSNT.S 82; Sheffield 1993).
Eric Eve, Behind the Gospels. Understanding the Oral Tradition (London 2014).










