SUY TƯ

THẾ NÀO LÀ LÒNG TIN?

23/01/2026
1034

Thế Nào Là Lòng Tin?

Lts.Tôi đã đọc và không thể nào phai nhạt trong lòng tâm sự của vị cha chung, Đức Thánh Cha Bênêđictô, qua thư giới thiệu tập giáo lý cho người trẻ ‘Youcat’:

“…Sau Công đồng Vaticanô II (1962-1965) trong môi trường văn hóa thay đổi, nhiều người không còn biết chính xác Kitô hữu thực sự tin gì, Giáo hội dạy gì, và Giáo hội còn gì để dạy nữa. Người ta phân vân không biết các điều trên (giáo lý) còn phù hợp với hoàn cảnh văn hóa đã đổi mới sâu xa. Kitô giáo như vậy đã lỗi thời rồi chăng? Vẫn còn có thể là một tín hữu hợp thời chăng? Đây là những câu hỏi mà nhiều Kitô hữu tốt ngày nay vẫn còn tự vấn…

Một số người nói với Cha rằng ngày nay những người trẻ không quan tâm đên giáo lý. Nhưng Cha không nghĩ vậy và chắc rằng Cha có lý. Không nên phán đoán người trẻ theo bề ngoài. Những người trẻ muốn biết trong cuộc sống cái gì thực sự là quan trọng. Một cuốn tiểu thuyết trinh thám có sức hấp dẫn bởi vì nó lôi cuốn ta vào số phận của người khác, một số phận cũng có thể là số phận của ta.

Vì thế Cha mời các bạn hãy nghiên cứu giáo lý! Đây là mong muốn chân thành của Cha. Biết rằng giáo lý không cung cấp các giải pháp dễ dàng, nó đòi các bạn một cuộc đổi đời. Nó giới thiệu với các bạn thông điệp của Tin Mừng như ‘viên ngọc đáng giá tuyệt vời’ (Mt 13:45), mà nếu muốn có, các bạn phải đánh đổi bằng mọi thứ bạn có. Vì vậy Cha đề nghị các bạn hy sinh thời giờ của các bạn để kiên trì học hỏi giáo lý với niềm đam mê! Nghiên cứu nó trong sự tĩnh lặng của tâm hồn, đọc nó với bạn bè, với các nhóm, trao đổi với nhau trên Internet. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy đối thoại về đức tin của bạn!...

Tất cả các bạn biết các cộng đồng tín hữu gần đây đã bị tổn thương bởi các cuộc tấn công của tội lỗi…Đừng coi đây là cớ để chạy trốn khỏi sự hiện diện của Thiên Chúa. Bạn là phần thân mình Chúa Kitô, bạn là Giáo hội. Bạn hãy đem vào Giáo hội ngọn lửa tình yêu cháy bỏng của bạn mỗi khi người ta làm xấu đi bộ mặt của Giáo hội. ‘Hãy nhiệt thành, không trễ nải, lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa’ (Rm 12:11). Khi Israel đã ở vào thời điểm đen tối nhất trong lịch sử của mình, Thiên Chúa đã không kêu gọi những kẻ quyền lực, những người cao cả và được tôn trọng để giúp đỡ, nhưng chọn một người trẻ tên là Giêrêmia. Cảm thấy mình phải lãnh nhận một sứ mạng quá lớn, chàng nói: ‘A, lạy Chúa, con không biết nói thế nào, vì con còn quá trẻ’ (Gr 1:6). Nhưng Thiên Chúa đã không xiêu lòng, Người nói: ‘Đừng nói: con còn quá trẻ, Ta sai người đi đâu, người cứ đi. Ta bảo nói gì, ngươi cứ nói’ (Gr 1:7)…” (x. Youcat, bản dịch Lm. Antôn Nguyễn Mạnh Đồng, Hà nội, nxb Tôn giáo, 2013

…Nghe âm vang mãi trong lòng những lời này…chúng chạm đến chúng ta, những người đang sống đời thánh hiến…

 

‘Thế nào là lòng tin? Tôi biết lòng tin là gì, nhưng hành động tin đối với tôi ít rõ ràng hơn’. Đó là câu hỏi một linh mục đặt ra cho tôi. Lòng tin không tự động đến cho mỗi người và hơn bao giờ chẳng tự động đến trong văn hóa của chúng ta, nơi mà mọi tín hữu biểu lộ lòng tin, còn những người vô tín lại chẳng rõ, không những lòng tin, mà còn chẳng rõ cả thái độ cởi mở cho lòng tin. Mọi người tự hỏi sự thật về ý nghĩa hành động tin, hơn là sống theo thói quen chẳng đặt vấn đề gì cả. Vì vậy, thích hợp để chúng ta đặt vấn đề ý nghĩa hành động tin và những lý do biện minh cho hành động ấy.

Lòng tin và/hay tri thức

Lòng tin đối lại tri thức. Đó là hình thức cố cựu khi nói về đối tượng cần tìm hiểu. Như người ta nói người ta biết ‘cái biết chắc chắn’. Đối tượng của lòng tin xem ra yếu hơn, thuộc loại ‘xác tín tư riêng’ như nơi các quan tòa. Tuy nhiên vẫn còn khoảng dành cho nghi vấn. Tất cả các ý thức hệ đương thời cậy vào tri thức, đặc biệt các khoa học, và do dự trước lãnh vực lòng tin, lãnh vực này bị coi là yếu kém, thuộc loại xác tín cá nhân, nghĩa là không cần bàn luận cũng không thể chia sẻ cho người khác.

Đây mới chỉ là thoáng nhìn. Thực ra ‘động tác tin’ diễn ra hằng ngày không có không được. Trước hết, chính hiểu biết của chúng ta là hoa trái tiếp nhận hiểu biết từ những người khác. Những gì trẻ em hoặc bạn trẻ học tại trường, các em đón nhận và tin, dựa vào hiểu biết của thầy cô. Không hoàn toàn phải kiểm chứng, điều tra hay làm lại các thí nghiệm khoa học xem có được cùng một kết quả không. Có thể sau này, trong chuyên ngành em chọn, em kiểm chứng điều đã tiếp thu từ các thầy cô xưa. Cũng thế đối với những thông tin từ báo chí, cũng như trong giao tiếp hằng ngày, tin tức phổ biến ồ ạt như người ta gọi là ‘điện thoại Ả rập’. Chúng ta cần có óc phê bình trong từng trường hợp. Một ký giả có thể đánh tráo chân lý và thổi phồng từ không có gì thành vấn đề. Chúng ta biết rằng trong một số trường hợp, truyền thông không do dự dựa trên sự bóp méo xuyên tạc các ý kiến. Chúng ta cũng ý thức mức độ tin cậy tùy nơi mỗi người sống chung quanh và cùng tạo hiệu quả làm lan rộng tin tức. Chúng ta giữ thái độ cẩn trọng và trong một số trường hợp ta coi nhẹ.

Vẫn tồn tại dữ kiện căn bản: ta không thể sống mà không tin vào lời người khác. Tin tưởng này là nền tảng của xã hội, do đó dối trá là vấn đề khá trầm trọng trong toàn bộ đời sống xã hội. Trung thực là hình thức liêm chính nền tảng.

Đi xa hơn, có thể hữu ích cho một số bạn đọc, cần nói rằng chính sự khảo cứu khoa học đã sẵn mang một phần lòng tin. Giả thuyết là gì, nếu chẳng phải là lòng tin rằng một định luật nào đó có thể cho kết quả về những hiện tượng đang phân tích? Khi đó nhà khoa học thực hiện một thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết của ông. Nếu thí nghiệm không thành, nó vẫn hữu ích: nó cho thấy giả thuyết chưa đúng hay chưa hoàn toàn đúng, nhưng có thể phải chăm chút hơn. Tóm lại, giải thích mang lòng tin, tuy tạm thời, vẫn là động lực cho cuộc tìm tòi. Nó thuộc luận lý khám phá phát minh, khác với luận lý chứng minh.

Yếu tố lòng tin hay xác tín vẫn còn mạnh mẽ dù đã đạt các kết quả. Ta hãy nghe giai thoại kinh nghiệm của một nhà toán học trứ danh người Đức, Georg Cantor (1845-1918). Ông đã khám phá một đinh lý toán học ngược lại tất cả những gì khi đó được coi là đúng. Ông gởi kết quả cho người bạn cũng là đồng môn, Dedekind và nói rõ: ‘Điều tôi vừa mới thông tin cho bạn đối với tôi hết sức bất ngờ, mới mẻ, đến nỗi, có thể nói, tôi không thể an bình cho tới khi, thưa bạn rất quý mến, tôi nhận được thẩm định của bạn định lý ấy là đúng. Bao lâu bạn chưa đồng ý, tôi chỉ nghĩ là tôi thấy kết quả nhưng chưa dám tin’.

Hãy lưu ý mối liên hệ tinh tế giữa ‘thấy’ và ‘tin’. Ông Cantor đã thấy định lý: ông biết, ông nhận ra nó xác thực, nhưng lại chưa dám tin. Để tin được, ông đợi chờ bạn đồng môn toán học đồng thuận, được coi như sự đồng thuận của giới toán học. Trong thư từ của họ, Cantor và Dedekind đề cập cả đến ‘điều khoản tin của lý thuyết đa chiều’.

Dedekind trả lời: ‘Định lý của bạn chính xác, nhưng nó lại đặt thành vấn đề các khoản mục lòng tin cho tới bây giờ được chấp nhận’. Xem ra không thể tin được, xét trong hậu quả. Vậy Dedekind góp ý cho bạn đừng gây nên những tranh luận công khai về chủ đề này. M. de Certeau nhận xét: ‘Tóm lại, đã hẳn là đúng, nhưng không thích hợp, từ ngữ này nhằm tới không chỉ vấn đề sự thật, mà còn bảo vệ những thỏa thuận chung làm nền cho những vận hành riêng biệt của nhóm. Những xác tín và chiều hướng tư tưởng của ông ngăn cản ông chấp nhận’. Về sau, định lý này trở nên hiển nhiên được giới toán học tiếp nhận.

Lòng tin và tri thức tạo nên mối tương quan nền tảng. Chúng là hai lãnh vực tuy khác nhau nhưng không đối kháng. Điều này làm ta ngạc nhiên hơn vì ta đang bàn đến lãnh vực khoa học chính xác nhất, không phải là khoa học nhân văn, cũng không phải là khoa vật lý, nhưng là khoa học đòi hỏi lý luận chặt chẽ toàn bộ. Điều đó cho thấy ngay toán học cũng phải chịu ảnh hưởng một số ý kiến thuộc lòng tin.

Tất cả nội dung trên nhắc nhở ta một cách đơn giản ‘lòng tin’ không phải là thái độ chỉ thuộc tôn giáo, nhưng là thực tại người, hoàn toàn phổ cập; và nhắc nhở đặt ‘lòng tin’ đối kháng ‘tri thức’ là không đơn giản. Lòng tin thấm nhập những thông tin hằng ngày của chúng ta, ngay cả lúc này trong những khảo cứu khoa học. Đàng khác, người ta đã chẳng nói về một nhà thông thái cống hiến hoàn toàn cho công trình khảo cứu là ‘ông mang ngọn lửa thiêng, ông có lòng tin’ đó sao?

Tin tưởng vào những người khác

Tới đây chúng ta vẫn còn trong lãnh vực khách quan của các sự việc. Có một lãnh vực hoàn toàn khác, trong đó lòng tin thấm nhuần trong ta, đó là lãnh vực những tương quan xã hội. Người ta không thể sống trong xã hội mà không có sự tin cậy, nghĩa là không có ít nhất lòng tin vào nhau. Người ta không thể thương mến hay có tình bạn mà không tin vào nhau. Lời ‘ưng thuận’ hôn nhân mà đôi bạn tình cảm trao nhau là kết quả của tình yêu giữa họ. Tình yêu đặt nền trên lòng tin vào nhau, lòng tin tạo tín nhiệm nơi người kia và dựa trên lòng trung thành trải ra trong đời. Hôn nhân là điển hình ấn tượng về sự liên đới giữa lòng tin, cậy trông và yêu mến.

Mối liên hệ giữa lòng tin, cậy trông, và yêu mến có giá trị nơi mọi loại cam kết khác. Chẳng hạn, tôi không thể cống hiến bản thân cho một lý tưởng nhân đạo mà không dạt dào tình thương dành cho những nạn nhân bạo lực hay bất công. Cũng vậy nếu không tin tưởng, hy vọng rằng hành động của tôi, cùng với hành động của những người khác, hẳn là trong tổ chức của một tập đoàn, sẽ làm thăng tiến hay ít nhất điều chỉnh tình huống. Tới đây chúng ta đã đi vào trung tâm thân phận con người. Xin nhắc lại, ta không thể yêu thương mà không đón nhận một loại hình lòng tin mà chẳng tri thức nào tước đoạt được.

Lòng tin vào các giá trị

Dù ta thế nào, tất cả chúng ta đều cảm nhận cách nào đó ý nghĩa thiện ác. Dù cảm nhận này đúng hay sai, nghiêm khắc hay tháo thứ, nó không phải là chuyện nhất thời. Không ai trong chúng ta có thể sống mà không một chút ý thức giá trị, dù tạm thời hay không, dù đổi thay theo dòng hiện sinh hay không. Có những vụ việc làm ta mất danh dự nếu ta thực hiện chúng. Ngay cả thân phận ta yếu hèn xâm phạm một số giá trị, ta vẫn phán đoán minh bạch về chúng. Ta biết mình không được nói dối. Đây không còn là vấn đề một chút quanh co của trẻ em muốn tránh bị phạt, nhưng trên bình diện nghề nghiệp chẳng hạn, ta lèo lái tinh vi một hồ sơ, nhằm thủ lợi. Chúng ta ghi nhận đời sống xã hội và công cộng đặt nền trên một số giá trị mọi người đồng thuận: ‘Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ’, châm ngôn này đề cao ba giá trị.

Tự yếu tính, giá trị không phải là một sự vật. Nó là một loại ‘ước mơ’ về cách chúng ta phải sống. Một người bị tước đoạt mọi giá trị, liệu có còn là một người? Vả lại, mọi giá trị người ta tự ràng mình vào trở thành đối tượng của hành động tin. Lãnh vực tri thức nơi đây bất động. Con người vượt xa chứ không phải một tổng hợp những tri thức. Con người là kẻ phân định, phán đoán và cho tri thức một ý nghĩa. Nhưng ngay khi nói tới ý nghĩa, đường lối, ý hướng, người ta đã bước sang lãnh vực lòng tin.

Một hệ luận được rút ra: hành động lòng tin thì thiết yếu trong thân phận người, hành động cao quý và đích thực của con người, chứ chẳng hề là hành vi đáng xấu hổ. Lòng tin hiện hữu trong đời ta, độc lập với lòng tin theo nghĩa riêng biệt của tôn giáo. Ước muốn bỏ lơ lòng tin, không những là một mâu thuẫn hiện sinh, mà cách nào đó còn là sự đánh mất bản chất là mình của chúng ta.

Một mâu thuẫn mới

Tương quan giữa lòng tin và tri thức trong đời ta đưa đến sự phân định một mâu thuẫn mới trong hiện hữu của chúng ta. Chúng ta ‘bị kết án’ phải quyết định, trong đó tri thức cho việc quyết định rất thiếu thốn. Tuy nhiên, từ chối quyết định, cũng là một cách quyết định, nhưng lại là cách tiêu cực nhất, vì ngăn cản chúng ta có kinh nghiệm tích cực về sự dấn thân với những phúc lợi của nó. Nếu là một dấn thân cá nhân cho một lý tưởng, nếu dấn thân vào cuộc thành hôn, chúng ta ‘bị kết án’ phải quyết định quá tầm ta hiểu biết. Sẽ luôn có những lý do thuận và nghịch. Chính chúng ta sẽ đặt lên mỗi bên bàn cân và chính ta phải xác nhận cân nghiêng về bên nào. Điều này ngược lại việc ta tìm kiếm an toàn cho tương lai. Có lẽ đó là lý do ngày nay người ta lui lại trước viễn tượng dấn thân cả đời như viễn tượng hôn nhân. Nhưng chúng ta rút lui khỏi tình huống này chỉ như là rút lui khỏi cái bóng tối ta chưa biết.

Lòng tin tôn giáo

Hình thức rõ nhất biểu lộ tin tưởng là lòng tin tôn giáo. Ngày nay lòng tin này có cả trong những hình thức xấu cũng như tốt. Nếu những ‘thể chế của lòng tin’ như sự tuyên tín vĩ đại Kitô giáo xem ra không tăng triển mạnh, thì ta nhận xét thấy ngược lại sự phát triển của những giáo phái. Một số giáo phái lầm lạc từ lòng tin, đôi khi phi luân, khi chiếm đoạt một cách tham lam (được che giấu khéo léo) tài sản của các tín hữu, tệ hơn, còn lạm dụng xâm phạm tính dục tín hữu hoặc đẩy tới những cuộc tự sát tập thể. Những sự việc này cho thấy một điển hình sầu buồn về sự mong manh dễ vỡ của con người, luôn dễ xuôi theo những biến chất xấu và suy thoái của lòng tin, dễ bị chi phối bóp méo làm mất tính người. Sự tái xuất hiện của ‘cái gọi là tôn giáo’ gây nguy cơ kéo lui chúng ta môt cách nguy hiểm.

Tuy nhiên sẽ bất công khi thẩm định lòng tin tôn giáo chỉ dựa trên sự dễ tin, hay trên những biến chất thành bất khoan nhượng, chẳng hạn. Trong lịch sử loài người, lòng tin tôn giáo đã viết nên những trang cao đẹp. Chỉ cần đan cử điển hình mới đây, phải chăng lòng tin tôn giáo là cái đẹp làm động lực cho sự dấn thân của Mẹ Têrêsa dành cho những người khốn cùng nhất? Vậy chúng ta cần phân tách lòng tin tôn giáo trong những biểu lộ cao quý của nó.

Sự phát sinh đức Tin tôn giáo

Ta cùng nhìn lại một chút lịch sử và tiếp cận nguồn gốc phát sinh lòng tin tôn giáo. Đan cử là lòng tin nơi người Do thái, sẽ dẫn tới lòng tin Kitô. Chắc chắn sự phân tách có giá trị cho cả việc tìm hiểu nguồn gốc lòng tin nơi các tôn giáo khác và đừng tự phụ chỉ có truyền thống Do thái-Kitô có đặc ân về lòng tin tôn giáo. Tuy nhiên, còn hơn một điển hình, vì một mức độ nào đó, lòng tin là thực tại đặc thù của truyền thống Do thái-Kitô. Không phải mọi thái độ tôn giáo đều quyết liệt đòi lòng tin. Một số rất cực đoan, lấy làm đối kháng giữa tôn giáo và lòng tin. Họ quan niệm như thế với ý tiêu cực về tôn giáo, được hiểu như con người tìm cách chế ngự lãnh vực thần thiêng làm lợi cho mình.

Theo chuyên gia về lịch sử các tôn giáo, G. Van der Leeuw, lòng tin tôn giáo, nghĩa là sự tín thác toàn diện của con người trước Thiên Chúa mà họ đã bản thân gặp gỡ, đã có nơi những người Do thái cổ thời. ‘Giữa một dân bé nhỏ, trong một góc trời xa, tác giả viết, một hiện tượng sâu thẳm nảy nở là lòng tin’. Chứng nhân đầu tiên của lòng tin này, theo truyền thống Kinh Thánh, là con người Abraham, ông đã ‘tin vào Thiên Chúa và Thiên Chúa nhìn nhận ông là người công chính’ (St 15: 6). Sự kiện này mang ý nghĩa gì?

Vấn đề lòng tin trong Cựu Ước không bám trụ vào lòng tin Thiên Chúa hiện hữu, Đấng một cách nào đã vốn được tin trong thời đại ấy. Đàng khác, lòng tin này có thể còn rất hàm hồ, thần thánh hay các thần thánh được trình bày dưới hình thức quyền lực, hơn kém được nhân cách hóa và làm chủ con người. Những nguy cơ ma thuật và ngẫu tượng rất lớn. Khi có nhiều các thần thánh quyền lực, các vị ấy gây nên nỗi âu lo khi người ta đã quên làm hòa một vị nào đó trong các thần.

Thái độ Abraham là đón nhận mối tương quan cá vị với Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối duy nhất. Tương quan này khởi sự từ lòng tín thác vào lời làm nên tiếng gọi ông đã nghe được. Abraham đã tin bằng cả tấm thân vào lời Thiên Chúa hứa sẽ gầy dựng từ ông một dân vĩ đại. Để thực hiện điều ấy, ông phải rời bỏ quê hương, thân nhân và nhà cha mẹ mình (St 12: 1.2), và lên đường mà không biết đi đâu. Lòng tin của ông phát triển nối tiếp trong lịch sử giao ước liên cá vị, giao ước chứng thực một cách trung thành lòng tín thác ban đầu.

Vấn đề đích thực của lòng tin: không phải là tin vào Thiên Chúa hiện hữu, nhưng là tin rằng con người hiện hữu cho Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa có quan tâm tới con người không? Thiên Chúa có thể can thiệp vào lịch sử con người nhằm giúp họ không? Từ Abraham, lòng tin là lời đáp VÂNG. Đó là kinh nghiệm căn bản trên đó khởi hành truyền thống thiêng liêng của dân Do thái và tiếp trên đó truyền thống Kitô được tháp nhập.

Từ ngữ Do thái diễn tả kinh nghiệm này không hề mang tính kỹ thuật, nhưng diễn tả những thái độ căn bản: lấy sức mạnh từ Chúa, tìm nương dựa vào Người trong những xung đột cuộc sống, được an lành với Người, cậy dựa vào Người như dựa trên trụ vững chắc. Thiên Chúa làm nền cho con người: đây là chủ đề của Thiên Chúa ‘Đá Tảng của Israel’ (Tv 61:4). Thiên Chúa đã ngỏ với con người như vậy: ‘Nếu các ngươi không bám vào Ta (= nếu không tin vào Ta), các người không tồn tại’ (Is 7:9). Đó là thái độ của Abraham, ông cậy vào Thiên Chúa và dựa vào ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện trong lịch sử. Chúa Giêsu sẽ đề cập chủ đề này phần cuối bài giảng trên núi, bằng gợi lên dụ ngôn hai căn nhà, một căn được xây trên đá tảng và một căn trên cát (Mt 7: 24-27). Một cách cụ thể, cậy dựa vào Thiên Chúa là tín thác bằng đáp lại những điều Thiên Chúa mong đợi.

Lòng tin cũng khơi lên lòng trung thành. Trước tiên, sự trung thành này là của chính Thiên Chúa, luôn trung thành với lời hứa. Thiên Chúa là Chúa Abraham, Isaac và Giacob, Thiên Chúa của cha ông dân Israel. Những kinh Tin Kính đầu tiên của truyền thống Kinh Thánh là những tuyên tín đậm tính ‘lịch sử’, nghĩa là những kinh Tin Kính kể lại như một kinh cầu những ‘kỳ công’ Chúa đã thực hiện cho dân Người trong quá khứ. Trải theo thời gian, danh sách không ngớt trải dài. Tuy nhiên, lòng trung thành này đòi hỏi lòng trung thành từ phía dân mà cho dân, Thiên Chúa tự mạc khải Người là Đấng như thế đó.

Quá khứ là sự bảo đảm của tương lai: lòng tin Israel tín thác vào Thiên Chúa, trông đợi và hy vọng. Lòng Thiên Chúa trung thành trong tương lai là một với lòng trung thành của quá khứ, bởi vì ‘Thiên Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi kẻ kiếm tìm Người’ (Tv 9:11).

Như vậy lòng tin là tương quan mạnh mẽ giữa Thiên Chúa và dân Người. Lòng tin được ghi dấu trong giao ước. Giao ước này có phần lạ kỳ: Từ đầu, giao ước này có một bên, vì chính Thiên Chúa làm tất cả bằng việc tuyển chọn, tuyển chọn ‘nhiệm mầu’, dân bé nhỏ này nhưng lại nhằm đến ơn cứu độ phổ quát. Giao ước dần dần trở nên đôi bên, vì giao ước không thể tồn tại mà thiếu đối thoại liên lỉ qua đó, dân đáp lại Thiên Chúa bằng lòng tin vào Người và sống theo lề luật của Người. Lòng tin luôn là lời đáp trước sáng kiến giao ước của Thiên Chúa.

Cũng như vậy trong Tân Ước, từ ngữ ‘tin vào’ (300 lần) và ‘lòng tin’ (250 lần) trở nên ngập tràn và mang ý nghĩa có chủ đích. Các sách Tin Mừng là những cuốn sách của lòng tin vào Chúa Giêsu.

Lòng tin này nối kết hai yếu tố: ‘tin vào’ và ‘tin rằng’. Thực sự lòng tin bắt đầu từ cuộc gặp gỡ một con người, con người Giêsu làng Nazareth, mang theo thời gian quyết định sự dấn thân bước tới Người. ‘Tin vào’ là hành động liên vị, qua đó, đệ tử hiến bản thân cho Chúa Giêsu, để tùy Người sử dụng đời mình và tín thác hoàn toàn nơi Người: ‘Con theo Ngài mọi nơi Ngài đi’. Một hành động như thế có phải lẽ không khi ngỏ với một người? Chúng ta còn nhớ biết bao những lời thề thốt trung thành các thủ lãnh thế gian yêu cầu, hay nơi một số thầy guru mà ta có lý do không thể coi trọng. Ta hãy nói một cách vắn tắt rằng những gì Chúa Giêsu yêu cầu nơi các môn đệ, thực sự là những điều chỉ có Thiên Chúa có quyền như thế. Vậy chỉ là chính đáng nếu Giêsu thực sự và chung cuộc là Đấng được Thiên Chúa gởi đến. Nhờ trung gian nhân tính của Người, Chúa Giêsu yêu cầu đệ tử hành động tin vào Thiên Chúa.

Tuy nhiên quyết định này hàm ẩn lòng tin ‘tin rằng’, nghĩa là chiều kích chân lý liên hệ tới con người Đức Giêsu. Để tin vào Giêsu, cũng cần tin những gì Chúa Giêsu dạy và tin rằng Giêsu thực sự là Đấng như Người chứng minh về mình. Chiều kích này đặc biệt biểu lộ trong Tin Mừng theo Gioan, trong đó từ ngữ ‘tin’ thường mang nghĩa ‘nhìn nhận là thật’, trong khi nơi Matthêu, Marcô và Luca, từ này đậm nghĩa ‘tín thác dấn thân’ nơi một Đấng mình theo. Đức Tin Kitô tập trung vào bản thân Đức Giêsu, Đấng đã sống, đã chết, sống lại và khai sáng mối tương quan với Thiên Chúa.

Thánh Augustinô đã trình bày liền mạch, được nâng cấp với ba phương diện của lòng tin Kitô: Tin Thiên Chúa nghĩa là tin Thiên Chúa hiện hữu, đây là điều tiên quyết của mọi lòng tin. Thứ đến ‘tin nơi Thiên Chúa’, nghĩa là tin lời Người. Cuối cùng, ‘tin vào Thiên Chúa’, nghĩa là tin theo nghĩa Kinh Thánh và Tin Mừng: trao dâng bản thân cho Thiên Chúa và tín thác nghĩa lý đời sống, cậy dựa nơi Người là Đá Tảng, đặt vận mạng nơi Người trong sự năng động của lời đáp trước giao ước Người mời gọi. Điều đó cho thấy tại sao giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Người được diễn tả trong Kinh Thánh theo phương thức một cuộc hôn nhân. Như vậy có nhiều cấp độ trong hành vi tin, nhưng chỉ cấp cuối cùng mới hoàn toàn đúng nghĩa lòng tin Kitô.

Lòng Tin là bước vào cuộc đối thoại

Khi tín hữu Kitô đọc lên ‘tôi tin vào Thiên Chúa’, người ấy diễn tả lời đáp của lòng tin vào một trật ba sáng kiến của Thiên Chúa cho tín hữu: sáng kiến của Cha, Đấng Tạo Thành là cội nguồn của tất cả; sáng kiến của Con đến sống thân phận phàm nhân, chết vì chúng ta và đã sống lại; sáng kiến của Thánh Thần, Đấng đã được ban cho Giáo hội. Lòng tin này đã hiện hữu và còn được biểu lộ trong cử hành bí tích Thánh Tẩy hay trong việc lặp lại những lời hứa của bí tích Thánh Tẩy trong đêm canh thức Vượt Qua. Lời tuyên tín lúc đó là cuộc đối thoại với ba câu hỏi và ba câu đáp: - ‘Bạn có tin vào Chúa Cha …?’  – ‘Con tin’. – ‘Bạn có tin vào Con của Người, Chúa Giêsu Kitô…?’  – ‘Con tin’. – ‘Bạn có tin vào Chúa Thánh Thần…?’ – ‘Con tin’.

Cuộc đối thoại này diễn tả đích thực tiếng nói đầu tiên của giao ước. Đúng vậy, ‘tiếng nói đầu tiên’, vì nếu lòng tin là một lời đáp, lòng tin giả thiết Thiên Chúa đã lên tiếng trước. Chắc hẳn ý tưởng Thiên Chúa nói với con người không thể chỉ có một bên. Đây đang đề cập vấn đề khó hơn là mạc khải, ta sẽ bàn đến trong chương sau. Lúc này ta ghi nhận lòng tin Kitô thể hiện trong một giao ước, tuy không cân xứng nhưng có hai bên, trong đó, Thiên Chúa đã làm tất cả nhờ Con của Người là Chúa Giêsu, là Đấng ban cho ta khả năng làm được tất cả thuộc phía chúng ta để đáp lại lời Thiên Chúa. Thiên Chúa quan tâm tới con người: trên nền tảng này, con người có thể dâng lên lòng tin của mình.

Những ‘con mắt’ của lòng tin

Cách diễn tả này được dùng do thần học gia dòng Tên, Pierre Rousselot, vào đầu thế kỷ XX, mất sớm, năm 1915, vào đầu thế chiến thứ nhất. P. Rousselot nỗ lực phân tách tâm lý lòng tin và biện minh cho lòng tin không chỉ dựa vào lý trí mà còn dựa vào sự vận hành cụ thể của tri thức. Ông lưu ý đến chính hành động tin bao gồm những lý do để tin và không bao giờ bị giản lược đi. Hành động tin, bằng sự dấn thân và bằng chính thực tại tin, luôn vượt trên những lý lẽ hay những dấu chỉ để tin.

P. Rousselot so sánh hai điều tra viên làm việc trong cùng một vụ án tội phạm. Cả hai nghiên cứu cùng những dấu vết. Từ đó, người thì xác định được phạm nhân, người kia thì không. Điều gì làm nên khác biệt? Khả năng tổng hợp và trực giác trước tiên giúp nối kết những dấu vết và tìm ra chuỗi liên hệ dẫn đến xác tín xác định được phạm nhân. Người kia không có khả năng trực giác đó nên dậm chân tại chỗ.

Cũng thế trong suy luận khoa học, thao tác trên, loại có thể gọi ‘vòng tròn’ giữa giả thuyết và kết luận, và chính kết luận nhận ra được, soi sáng các dấu vết và cho thấy ý nghĩa các dấu vết. Quả là một vòng tròn vì các dấu vết tạo nên xác tín và đến lượt xác tín đem lại ý nghĩa cho các dấu vết. Đây không phải là ‘vòng tròn bất tận’. Tất cả sự phát triển hiện nay, về những suy tư trên sự hiểu biết của con người, được quan sát không những bằng logic mà còn dựa trên những sự kiện phát sinh cụ thể…đã củng cố những quan sát này của P. Rousselot.

Hành động tin cũng giống như vậy. Tuy nhiên ai đóng vai trò của sự trực giác tổng hợp đưa đến kết luận vượt trên những dấu hiệu và công bố: ‘Eurêka’ (tôi đã gặp được) ?’ Một tâm thế thích hợp, hình thành từ lý trí và tự do mà giáo lý Kitô nhìn nhận là ân huệ của Thiên Chúa, ngôn ngữ truyền thống gọi là ‘ân sủng’.

Xin đan cử một trường hợp tiêu biểu tôi trải qua từ một kinh nghiệm nhỏ khi tôi làm tuyên úy nhà tù. Một tù nhân, nằm tại khu bệnh viện, xin cho tôi đến gặp và nói với tôi: ‘Tôi đã 78 tuổi và còn phải tù ba năm nữa. Tôi không biết có sống tới ngày ấy hay không. Một việc tôi từng làm là tôi luôn tự hỏi: nếu Thiên Chúa hiện hữu, Người không thể tha thứ cho tôi. Tuy nhiên, ngày kia tôi biết một nữ tu phục vụ trong khu bệnh viện như một ‘tù nhân tình nguyện’, từ hơn mười lăm năm . Điều ấy cho thấy không đơn giản là hành động của con người, nhưng nói lên rằng Thiên Chúa hiện hữu và Người có thể tha thứ cho tôi’, Cụ già ấy đã xin được chịu phép Thánh Tẩy.

Người ta có thể thấy một khoảng cách lớn giữa dấu vết hoàn toàn ngoại tại với kết luận rút ra được. Chúng ta đang đề cập trường hợp về lòng tin của người ‘đơn sơ’, trong đó chiều kích tri thức có giới hạn. Điều quan trọng không phải rõ ràng là lòng tin mở ra cho hết mọi người, người khiêm hạ nhất cũng như người thông thái nhất? Chủ thuyết ưu tuyển quan niệm lòng tin chỉ dành cho những ‘nhà thông thái’ sẽ không được đón nhận. Sau khi mở lòng cho đức tin, sẽ ‘trôi đi’ những sự việc lớn. Cụ già trên đây đã rơi vào một cách thất vọng nào đó về chính mình và không thoát khỏi vấn nạn của mình: nếu Thiên Chúa hiện hữu, tôi đánh mất tất cả. Tất cả vấn đề xoay quanh quan điểm đó. Nhờ sự tận tuỵ của một nữ tu mà cụ già nghĩ là người phi thường, cụ ấy liền nghiệm ra giải đáp trước vấn nạn chính: Thiên Chúa quan tâm tới tôi, tôi sống cho Người, vậy Người có thể thứ tha cho tôi. Chúng ta chẳng thấy ở đây sự gắn bó vào toàn bộ nội dung lòng tin Kitô mà chắc hẳn cụ già không biết là rất rộng lớn, nhưng một kinh nghiệm cụ thể giải thoát cụ khỏi vấn nạn căn bản và mở ra cho Thiên Chúa Đấng có thể tha thứ cho cụ.

Sự chắc chắn và tự do của lòng tin

Theo giáo huấn của Giáo hội, lòng tin đồng thời vừa chắc chắn vừa tự do. Xem ra có sự trái ngược giữa hai thực tại. Một đàng, thực tại càng chắc chắn, xem ra càng kém tự do: tôi có tự do không, chẳng hạn, phủ nhận 2 với 2 là 4 (ít nhất theo toán học Euclide!) không? Đàng khác, càng tuyên xưng lòng tin trong tự do, xem ra càng chắc chắn. Thường thường người ta coi đó thuộc lãnh vực ‘tùy ý mỗi người’. Làm sao giải quyết vấn nạn này?

Giải pháp sai hệ tại coi trọng yếu tố này để xem nhẹ yếu tố kia. Chẳng hạn người ta nói: ‘Hãy trước tiên cứ nhắm mắt mà tin, sau đó sẽ thấy’. Thái độ tình nguyện này không tương hợp diễn trình sâu xa của kinh nghiệm. Đàng khác, người ta nói: hãy thấy cho tường đã, hiểu biết đã, và sau đó bạn tin’. Đây lại là thái độ duy lý.

Để gải quyết, ta cần trở về giải pháp ‘cái vòng’ nổi tiếng đã đề cập trên đây và tổng hợp cả hai lập trường. Có sự hỗ tương giữa chắc chắn và tự do. Càng dấn thân tin tưởng, tôi càng thấy lòng tin trong ánh sáng giúp tôi vững lòng chắc chắn. Càng nhận định được đâu là sự thật, tôi càng muốn tin.

Giả sử tôi phải quyết định một việc. Tôi do dự trước hai khả thể. Mỗi bên có những thuận nghịch. Tôi cân nhắc ưu và nhược điểm. Tới một lúc, xem ra tôi nghiêng về một bên. Tôi cảm thấy sẵn sàng quyết định bên mà tôi thấy tốt hơn. Càng dấn thân trong quyết định, những lý do thúc đẩy tôi quyết định càng mạnh mẽ. Cuối cùng, tôi nhận định bên tôi chọn là hiển nhiên. Tuy nhiên tiến trình này có thể tạo ra kết quả ngược lại. Càng dấn thân quyết định, những trở ngại càng trổi lên mà trước đây tôi chưa thấy, và tôi càng cảm thấy ái ngại và thẩm định rằng tôi sẽ rơi vào tai họa trong chiều hướng này. Vậy, tôi sẽ loại bỏ giải pháp này với sự chắc chắn để trở lại quyết định lấy bên kia.

Chúng ta đang trong trường hợp sự dấn thân tự do hỗ trợ cho sự thật. Điếu ấy xem ra đối chọi. Sự việc vẫn thế. Chúng ta luôn luôn ở trong sự hỗ tương giữa chủ quan và khách quan.

Thái độ yêu thích hay ghen ghét có vai trò quan trọng trong sự tự do của chúng ta. Nếu tôi tự khép mình trong tư tưởng riêng, cảm nhận riêng, trong những tranh luận vừa qua với các giải pháp thế này thế nọ, tôi sẽ không thể thấy được sự việc rõ rệt để quyết định, vì phần nào tôi đã khép góc lại. Nếu, ngược lại, tôi có thái độ cởi mở, thiện cảm, cảm nhận công bình, tóm lại là mang phẩm chất của tình yêu, tôi sẽ nhận ra thực tại tôi phải làm tốt hơn. Như vậy ở đây một thực tại tình yêu sẽ ban tặng những đôi mắt mới.

Cuộc hoán cải của Charles de Foucauld

Gương lành hoán cải của Charles de foucauld đã được ghi nhận và chân dung tinh tuyền của chứng nhân lòng tin Kitô nơi thế giới Hồi giáo này đã lưu dấu sâu xa trong những thập niên đầu của thế kỷ XX. Cuộc hoán cải trải ra trong hành trình dài lâu từ cuộc gặp gỡ tại tòa giải tội với cha Huvelin trong thánh đường Augustinô năm 1886… Charles đã đón nhận nền giáo dục Kitô, nhưng anh đã đánh mất lòng tin và rơi vào lối sống trụy lạc. Dần dà anh cảm thấy ngán ngẩm lối sống thời trẻ này. Một thực tại nội tâm thiêng liêng phát triển chín chắn trong anh. Anh cố gắng tập ‘nhân đức’, nhưng theo kiểu ‘chư dân’. Anh chối từ Kitô giáo, lúc ấy đối với anh có vẻ kỳ cục, hoàn toàn phi lý, nhưng anh lại được ‘đánh động’ bởi thiện cảm với một người bà con, chị Marie de Bondy, thiện cảm này khiến anh có ý tưởng ‘có lẽ tôn giáo này không đến nỗi mâu thuẫn’. Anh bắt đầu lui tới nhà thờ Thánh Augustin để làm ‘cái’ gọi là ‘lời nguyện cầu kỳ lạ’: ‘Lạy Thiên Chúa, nếu Chúa hiện hữu, xin làm cho con biết Chúa’. Khi ấy anh tìm kiếm một ‘người dẫn đàng tôn giáo’ và vì vậy mà anh đến tòa giải tội của cha Huvelin. Vị linh mục này đã là chứng nhân âm thầm những bước trở về của anh. Charles nói với cha anh đến không để xưng tội bởi vì không tin, nhưng muốn được biết thêm về Thiên Chúa và tôn giáo. Vừa khi bắt đầu đối thoại, cha nói với anh: ‘Anh hãy quỳ xuống đây và hãy xưng tội’. Charles chấp nhận và cha đã giúp anh hiệp thông ngay khi đó. Sự việc cần được giải thích chu đáo. Cha Huvelin, người có tài phân định sự việc, không rơi vào thái độ duy ý chí đã bị phê bình trên đây. Cha đã hiểu bạn trẻ này tìm điều gì, lòng mang nặng nỗi chao đảo căn bản: tôi không có lòng tin nhưng tôi muốn người ta nói cho tôi về Thiên Chúa. Tôi không thể tiếp tục sống một đời sa đọa mà không tìm ơn tha thứ. Vị giải tội chỉ cần giúp Charles tập trung vào bước khởi hành anh đã bắt đầu. Cha không đòi ‘lòng tin’ như tiên quyết để xưng tội. Chính trong kinh nghiệm hướng về sự lành của việc xưng tội mà ánh sáng lòng tin có thể bừng lên. Đó chính là điều đã xẩy ra: ‘Ngay khi tôi tin có một Thiên Chúa, tôi hiểu rằng tôi không thể làm gì khác hơn là chỉ sống cho Chúa’. Điều này không thể nói rằng Charles đã tiếp nhận trong một khoảnh khắc tất cả giáo lý đạo Chúa: ‘Tôi là kẻ đã quá nhiều hồ nghi, tôi đã không tin tất cả trong một ngày’. Sự trau dồi nội tâm sẽ tiếp tục tiệm tiến. ‘Tiếng sét tòa giải tội’ là chóp đỉnh của cuộc biến đổi dài lâu. Bước đường tiếp theo dẫn anh đi, trong nỗi khát khao không đáy tìm Thiên Chúa, từ tu viện Đức Bà Núi Tuyết đến Nazareth, sau đó từ sa mạc Sahara đến Tamanrasset.

Tự do tôn giáo

Sự tự do sâu xa của hành động tin là nền tảng cho điều Thánh Công đồng Vatican II gọi là ‘tự do tôn giáo’. Lãnh vực này quả thật quá thiết thân, quá sâu xa đến nỗi nó không thể là đối tượng của bất cứ sự áp bức nào, hiểu theo hai nghĩa: không ai bị ép hành động trái lương tâm mình và thực hành lễ nghi tôn giáo trái lại lương tâm. Đồng thời không ai bị ngăn cản hành động phù hợp lương tâm và tôn giáo mình trừ một số giới hạn. Những giới hạn này thì minh bạch, dựa vào công ích, luân lý, an bình công cộng, tôn trọng tự do người khác cũng như những thành viên của niềm tin tôn giáo đang có vấn đề. Công đồng Vatican II đã cho thấy, sau những tranh luận sôi nổi, rằng lập trường này đặt nền trên phẩm giá lương tâm con người, trên quyền con người chứ không trên sự thật khách quan mà Công giáo đòi hỏi cho lòng tin. Thực vậy, nỗ lực bênh vực Công giáo đã trường kỳ nói rằng chỉ có sự thật có những quyền mà sự sai lầm không có. Trên nền nguyên tắc này, Công giáo đòi hỏi sự tự do tôn thờ cho mình, nhưng không cho những tuyên tín và các tôn giáo khác. Ngày nay, Công giáo đòi hỏi tự do này cho mọi người, thuộc bất cứ tôn giáo hay không tôn giáo nào.

Liệu ở đây có sự chấp nhận thuyết tương đối không, theo đó mọi tôn giáo đều có giá trị? Không, nhưng đây là sự tôn trọng phẩm giá lương tâm con người, các quyền và các bổn phận của họ. Phẩm giá này làm nên quyền không thể mai một về tự do tôn giáo, bất kể cách thức mỗi người sử dụng quyền này, khi thì trong chọn tôn giáo, khi thì trong chối từ mọi tôn giáo hay vô thần.

Lòng tin, ân huệ Thiên Chúa ban

Nào ta cùng đi tới tận cùng vấn đề của chúng ta. Tại sao mối tương quan của con người với Thiên Chúa lại phải đi qua lòng tin, nghĩa là qua một thực tại huyền nhiệm đến nỗi từng bị nghi ngờ, thay vì trổ sinh trong ánh sáng và sự chắc chắn do tính chất hiển nhiên? Thực sự, vấn nạn này không ‘biết’ đến điều nó đòi hỏi. Nó giả thiết con người có khả năng đóng khung Thiên Chúa trong hệ thống tri thức, nhận biết Thiên Chúa tựa như người ta biết nhau giữa những con người, tắt một lời, có thể làm chủ hay ngay cả chế ngự (như trong một số hình thức mê tín).

Điều vừa đề cập không thể có được, đơn giản vì Thiên Chúa là Thiên Chúa và người là người. Thánh Augustinô đã nói: Nếu bạn hiểu thấu Thiên Chúa, thì đó không phải là Thiên Chúa’. Trong ước muốn nhận biết Thiên Chúa của chúng ta, có nguy cơ rơi vào ngẫu tượng, nguy cơ tạo ra Thiên Chúa trong tầm tay ta. Thiên Chúa hằng hữu luôn luôn siêu việt vô biên tầm chúng ta có thể suy tưởng về Người. Vì vậy Thiên Chúa làm chúng ta ngỡ ngàng và chưng hửng. Lòng tin quả là ân huệ của Thiên Chúa, vì chỉ nhờ Thiên Chúa ta mới có thể nói về Thiên Chúa. Pascal đã từng nói: ‘Thiên Chúa mới nói được cho đúng về Thiên Chúa’.

Điều vừa đề cập hoàn toàn tương hợp với kinh nghiệm sự trổi vượt vô tận của con người so với chính mình mà ta đã có dịp đề cập. Chúng ta nhận thấy sự trào dâng ý tưởng về Thiên Chúa và vấn đề Thiên Chúa xẩy ra trong vùng sâu thẳm của mỗi chúng ta mà ta không thể làm chủ. Cũng vậy, chúng ta không thể làm chủ Thiên Chúa.

Hành động tin là thực tại kinh nghiệm tôn giáo hoàn toàn thuộc căn cội gốc gác của con người. Người tín hữu giải thích lòng tin như ân huệ Thiên Chúa ban không, ân huệ vượt trên con người và vì vậy người không thể thấu hiểu, nhưng là ân huệ con người đón nhận với tất cả tự do. Chính trong hành vi này mà con người nhận biết mình được ‘công chính hóa’, như cụ tổ Abraham xưa, nghĩa là được tha thứ, được hòa giải, được trở về trong ‘ân sủng’, được tiếp nhận vào trong sự sống của Thiên Chúa.

Lòng tin là đặc ân hay là tặng phẩm cho mọi người?

Chúng ta không thấy trong những điều đã đề cập về hành động tin, sự khẳng định tình trạng ‘thua kém’ căn bản nơi người không có lòng tin, là người không thấy sao? Ẩn dụ hai viên chức hay hai nhà thông thái, trong đó, một người tìm gặp và người kia thì không, cho thấy cái thất lợi của người không có lòng tin. Những trang sách này có thể chỉ cho thấy rõ nơi người không tin, phần lòng tin ẩn sau cuộc sống của họ, cũng như nơi người tín hữu, tất cả phần không tin bất kể sự tuyên tín chính thức. Ta hãy nhớ sự chọn lựa được công bố có thể không cho thấy sự thật của chọn lựa thực.

Diễn giải này về việc tin chỉ là tra vấn mỗi người trong chúng ta, bất kể đang ở vị trí nào trên ‘võ đài’ của lòng tin. Người ta biết một tuyển tập những sách nhỏ tựa đề ‘Điều Tôi Tin’. Những tập sách hình thành bởi nhiều người, Kitô hữu hay không Kitô hữu, tín hữu hay người không tin. Mỗi tác giả đặt mình trong lãnh vực lòng tin, nghĩa là trong ý nghĩa người ấy thực hiện cho đời mình, những giá trị tác giả tôn trọng, và đôi khi với cảm nhận tuyệt đối cảm nhận trong lương tâm.

Người ta cũng có thể đảo ngược vấn nạn: nếu lòng tin là ân huệ của Thiên Chúa, sẽ có những người được ban lòng tin và có những người không được. Đây là một hình thức bất công nào đó. Người ta thường nghe suy tư sầu buồn này: ‘Tôi nghĩ rằng khuynh hướng căn bản của tôi là tốt nhưng sao tôi không tin?’

Ân huệ ban không chẳng có nghĩa là ân huệ chỉ ban cho một số người. Một ân huệ sẽ kém là ‘ban không’ khi tặng cho mọi người. Đây chính là vấn đề. Nhiều yếu tố đến từ lịch sử đời tôi, từ những kinh nghiệm cá nhân, gia đình, từ môi trường xã hội, trong mức độ nào đó có thể cản trở tôi đón nhận tặng phẩm của Thiên Chúa. Yếu tố quyết định là xem tôi có nghiêm chỉnh mở lòng tìm kiếm sự thật hay không. Vì tặng phẩm của Thiên Chúa tiếp cận tự do và diễn ra trong lịch sử đời ta. Hành động tin có thể bao gồm những khoảnh khắc quyết định, nhưng, như trong mọi cuộc đối thoại, nó trải dài trong đời ta, khi ‘cao trào’ khi lặng lẽ. Lòng tin cần luôn luôn tái khẳng định và tái dấn thân. Lời nguyện cầu thâm thúy của Thánh Hồng y Newman (1801-1890) đã chẳng nguyện xin cho được đừng bao giờ ‘phạm tội chống lại sự thật’ đó sao? Đàng khác, toàn bộ lời đáp của lòng tin còn bị điều kiện hóa bởi thực tế tôn giáo trong xứ sở tôi sinh sống.

Lòng tin và bạo lực

Một vấn đề trầm trọng trong văn hóa thế giới hiện đại. Chúng ta bị thương tổn biết bao bởi chủ trương bảo thủ tôn giáo dưới mọi hình thức, Hồi giáo, Do thái và ngay cả Kitô giáo…đến nỗi ta bị càm dỗ coi mọi tôn giáo như tác nhân bạo lực. Ngày nay, lòng tin tôn giáo bị tố cáo duy trì nếu không nói là đổ dầu vào lửa nạn bạo lực giữa các dân tộc. Chúng ta chứng kiến quá nhiều trường hợp trong đó những xung đột không thể hàn gắn lại giữa các thế hệ vẫn giữ làm biểu tượng, nếu không nói là bảng tên, danh hiệu thuộc tôn giáo: Bắc Ái Nhĩ Lan, Nam Tư, Algérie. Trong những trường hợp cực đoan nhất, người ta đòi giết người nhân danh Thượng Đế và nhằm tôn vinh Người.

Lời tố cáo là rất mạnh mẽ và được công bố rất nghiêm chỉnh bởi những người tin. Đây là trường hợp giống như trong ngạn ngữ La tinh: ‘Sự băng hoại của điều tốt là tệ nhất’. Đây có ý nói đến sự băng hoại của ý nghĩa sự thánh thiêng. Sự thánh thiêng là cách diễn tả Đấng Tuyết Đối trong cuộc đời. Đó là lãnh vực đòi sự tôn trọng và tôn thờ. Người ta bị cám đỗ đồng hóa mình với thực tại thánh thiêng, làm nên nguyên do của ‘cuộc thánh chiến’ và lấy tôn giáo làm phía công chính duy nhất chống lại đám đông tội lỗi xấu xa. Chính vì vậy thực tại thánh thiêng trở nên cái gốc của bạo lực. Đó là trường hợp những cuộc chiến tôn giáo tại Châu Âu thế kỷ XVI và XVII. Đó còn xẩy ra ngày nay trong các khuynh hướng Hồi giáo cực đoan. Điều đó hiển nhiên không thể biện minh và đi ngược lại yếu tính của mọi sứ điệp tôn giáo mà, nếu muốn chính danh, không thể khác hơn là giảng dạy yêu thương, tha thứ và hòa giải.

Lời đáp đầu tiên cho vấn nạn là nhận thức, trong tinh thần sám hối, những hành động bạo lực, tàn ác, bất công…mà tôn giáo của tôi, lòng tin Kitô phán định là tội ác. Giáo hội Công giáo, về phần mình, từ Công đồng Vaticanô II, đã bắt đầu tuyên bố những lời can đảm mang ý nghĩa trên. Giáo hội đã phát triển và còn phát triển hơn tiếp tục đi trong chiều hướng đó.

Lời đáp thứ hai hệ tại nhận thức rằng bạo lực tôn giáo là biểu lộ tội lỗi của con người, lộ mặt trong những kiểu bạo lực vì rất nhiều lý do. Nếu một tôn giáo muốn biện minh bạo lực nhân danh sứ điệp của họ, thì ta cần khẳng định rằng sứ điệp ấy, hoặc phần nào của sứ điệp chứa đựng sự kêu gọi bạo lực, thì không cách nào đến cùng Thiên Chúa được.

Những lý do để không tin

Tôi đã nỗ lực diễn giải những lý do để tin, nhưng cũng có những lý do để không tin. André Compte-Sponville, được biết đến như người ‘gần gũi với truyền thống Kitô và mang những dấu ấn rõ ràng của Tin Mừng’, đã kể ra ba lý do trong một bài báo. Phản ứng đầu tiên của tôi là suy tư, cùng với tác giả, là còn có nhiều lý do hơn nữa.

Lý do đầu tiên, theo tác giả là do vô vàn sự dữ. Đây hẳn là lý do căn bản và ta còn trở lại nhiều sau. Lý do thứ hai là sự tầm thường của nhân loại, ’đáng buồn cười’ hơn là ‘gian ác’. Lý do thứ ba gây bất ngờ nhưng trầm trọng, là lòng tin vào Thiên Chúa và tôn giáo liên quan quá nhiều vào đúng những ước muốn mạnh nhất của chúng ta, là được sống mãi và được yêu thương. Đây là lý do làm mất giá trị của mình: một niềm tin liên hệ quá mạnh với những ước muốn của chúng ta, sẽ hoàn toàn gây nên tư tưởng là lòng tin ấy được khám phá nhằm ước muốn đó để tự thỏa mãn, tự ủi an, có nghĩa là ảo tưởng.

Có phải tôi đang sập bẫy là quá nhấn mạnh ước muốn căn bản hiện hữu trong hoạt động của lương tâm và định vị nguồn gốc của mọi ý niệm về Thiên Chúa? Có nên nhắc tới lời nổi tiếng của Renan: ‘Ước muốn, một cách tổng quát, tạo nên đối tượng?’ Đây là vấn nạn lớn của thế kỷ XIX đặc biệt nơi Feuerbach và Marx, sau đó là Freud. Lời giải đáp vừa đề cập diển ý là hư vô không thể tạo nền cho bất cứ thực tại nào và cũng không thể tạo nền cho sức năng động mở vào thực tại vô biên của Thiên Chúa. Liệu đã đủ để bước đến xác tín? Đó có phải là lý luận quá trừu tượng? Tuy nhiên, cần nhận thức rằng sự tương hợp sâu xa giữa ước muốn của chúng ta và thực tại lòng tin Kitô mang lại, vẫn gây ra băn khoăn và mời gọi phải suy tư. Lòng tin này mang chiều kích lý trí. Đàng khác, người ta, cùng với cha Lubac, đã nhận thức rằng không có gì giải thích được nguồn gốc của những ước muốn như thế và ước muốn khao khát Thiên Chúa. Người không tin và người có lòng tin đều vấp phải cùng một mầu nhiệm.

Vì vậy, tôi cũng đã đề cập có một động tác phải làm là tự do lựa chọn. Những tâm hồn vĩ đại đã chọn với những cách thức khác nhau, Điều gây ngạc nhiên, vấn đề căn bản là vấn đề sự thật là vấn đề của lựa chọn. Chúng ta đã biết mối liên hệ giữa chân lý và tự do và ý nghĩa của mối liên hệ này đến nỗi nhờ đó con người mới vẫn còn là người và không trở nên loài ‘kiến khéo léo’. Nhận định này giúp chúng ta tiếp tục xem xét vấn đề sự thật trong nhãn quan hiện sinh của con người.

Bản tổng kết ngắn gọn

Chẳng có suy tư nào, chẳng có chứng minh nào có thể mang lại lòng tin cho một người. Tôi không mong đợi chút nào một độc giả không tin giơ tay nói: ông đã thuyết phục tôi. Điều tôi muốn trình bày, trước tiên là hành động tin là hành động nhân văn mang trọn tính chất quý phái. Nó tương hợp thân phận con người, thân phận không cho phép ta tránh được sự khẩn thiết phải tin trong mọi lãnh vực.

Tôi cũng nỗ lực hết sức trình bày hành động tôn giáo là lòng tin, như được biểu lộ trong truyền thống Do thái Kitô, để cho thấy tính phức tạp, nhưng phong phú và cả tính nhiệm màu. Hành động này, hoàn toàn được biện minh nhờ lý trí, là kinh nghiệm cơ bản của con người và là hoa trái của cuộc gặp gỡ, nhờ ân sủng và tự do. Hiển nhiên chưa thể đề cập trọn vẹn lòng tin nên những trang sau sẽ soi sáng bao nhiêu có thể ý nghĩa nội dung ấy.

 

Giám mục Gioan chuyển ngữ

 

CHIA SẺ BÀI VIẾT

HÌNH ẢNH

Photo-0
TIN LIÊN QUAN

THÔNG BÁO

VĂN KIỆN GIÁO HỘI

LIÊN KẾT NHANH

Đại Chủng Viện Thánh Giuse Xuân Lộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Cổng Thông Tin Điện Tử Giáo Phận Xuân Lộc
Thánh Lễ Trực Tuyến
Vatican News
Bài Ca Mới
Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu
Tin Vui Xuân Lộc
Ban Văn Hoá. Gp Xuân Lộc
Youtube Gp. Xuân Lộc