Thánh Lễ Dầu (2/4): Canh tân sứ mạng Kitô giáo
Sáng ngày 2/4, Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha đã cử hành Thánh Lễ Truyền Dầu tại Đền thờ thánh Phêrô cùng với các Hồng y, Giám mục và linh mục. Ngài suy tư về ý nghĩa của sứ mạng Kitô giáo.
Vatican News
Bài giảng của Đức Thánh Cha - Thánh Lễ Dầu (2/4)
Anh chị em thân mến,
Chúng ta đã ở ngưỡng cửa của Tam Nhật Vượt Qua. Một lần nữa, Chúa sẽ dẫn chúng ta đến đỉnh cao sứ vụ của Người, để cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Người trở nên trung tâm của sứ mạng chúng ta. Thật vậy, điều chúng ta sắp cử hành có sức mạnh biến đổi tất cả những gì lòng kiêu ngạo của con người thường làm cho chai cứng: căn tính và địa vị của chúng ta trong thế giới. Tự do của Đức Giêsu biến đổi con tim, chữa lành vết thương, chiếu rạng khuôn mặt chúng ta, hòa giải và quy tụ, tha thứ và làm cho sống lại.
Trong năm đầu tiên tôi chủ sự Thánh lễ Truyền Dầu với tư cách là Giám mục Roma, tôi ước muốn cùng anh em suy tư về sứ mạng mà Thiên Chúa thánh hiến chúng ta như dân của Người. Đó là sứ mạng Kitô giáo, cũng chính là sứ mạng của Đức Giêsu, chứ không phải một sứ mạng nào khác. Mỗi người tham dự vào sứ mạng ấy theo ơn gọi riêng và trong sự vâng phục rất cá vị đối với tiếng nói của Thánh Thần; nhưng không bao giờ tách rời khỏi người khác, không bao giờ làm tổn hại hay phá vỡ sự hiệp thông! Các giám mục và linh mục, khi lặp lại lời hứa của mình, phục vụ một dân tộc mang tính truyền giáo. Cùng với tất cả những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta là Thân Thể Đức Kitô, được xức dầu bởi Thần Khí của tự do và an ủi, Thần Khí của ngôn sứ và hiệp nhất.
Những gì Đức Giêsu sống trong những khoảnh khắc cao điểm trong sứ vụ của Người đã được loan báo trước qua lời ngôn sứ Isaia, lời mà chính Người đã công bố trong hội đường Nazareth như là Lời được “ứng nghiệm hôm nay” (x. Lc 4,21). Trong giờ Vượt Qua, điều này trở nên rõ ràng dứt khoát: Thiên Chúa thánh hiến để sai đi. Đức Giêsu nói: “Người đã sai tôi” (Lc 4,18), diễn tả chuyển động nối kết chính Thân Thể Người với người nghèo, với những kẻ bị giam cầm, với những ai đang lần mò trong bóng tối và bị áp bức. Và chúng ta, là những chi thể của Thân Thể ấy, được gọi là “tông truyền”, Hội Thánh được sai đi, được thúc đẩy vượt ra khỏi chính mình, được thánh hiến cho Thiên Chúa trong việc phục vụ các thụ tạo của Người: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21).
Chúng ta biết rằng được sai đi, trước hết, bao hàm một sự dứt bỏ, nghĩa là dám rời bỏ những gì quen thuộc và chắc chắn để bước vào điều mới mẻ. Thật đáng chú ý khi “với quyền năng Thánh Thần” (Lc 4,14), sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Đức Giêsu trở về Galilê và đến “Nazareth, nơi Người đã lớn lên” (Lc 4,16). Đó chính là nơi Người phải rời bỏ. Người hành động “theo thói quen của mình” (c.16), nhưng để khai mở một thời đại mới. Người sẽ phải dứt khoát rời khỏi ngôi làng ấy, để những gì đã được gieo mầm nơi đó qua việc trung thành lắng nghe Lời Chúa, từ ngày sabát này qua ngày sabát khác, được trưởng thành. Tương tự, Người cũng sẽ gọi những người khác ra đi, dám mạo hiểm, để không nơi nào trở thành một rào giậu, không căn tính nào trở thành nơi trú ẩn khép kín.
Anh chị em thân mến, chúng ta bước theo Đức Giêsu, Đấng “đã không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự hủy chính mình” (Pl 2,6-7): mọi sứ mạng đều bắt đầu từ sự tự hủy ấy, nơi đó mọi sự được tái sinh. Phẩm giá làm con cái Thiên Chúa của chúng ta không thể bị tước đoạt hay mất đi; đồng thời những tình cảm, những nơi chốn, những kinh nghiệm khởi nguồn cho cuộc đời chúng ta cũng không thể bị xóa bỏ. Chúng ta là người thừa hưởng nhiều điều tốt đẹp, đồng thời cũng mang những giới hạn của một lịch sử mà Tin Mừng phải chiếu sáng và cứu độ, tha thứ và chữa lành. Vì thế, không có sứ mạng nếu không có sự hòa giải với nguồn cội của mình, với những ân ban và giới hạn của nền giáo dục đã lãnh nhận; nhưng đồng thời, không có bình an nếu không có những cuộc lên đường, không có nhận thức nếu không có sự rời bỏ, không có niềm vui nếu không có mạo hiểm. Chúng ta là Thân Thể Đức Kitô khi biết tiến bước, đối diện với quá khứ mà không bị nó giam hãm: mọi sự được tìm lại và sinh hoa trái nếu trước đó được dứt bỏ, không sợ hãi. Đây là bí quyết thứ nhất của sứ mạng – và không chỉ trải nghiệm một lần, nhưng trong mỗi lần bắt đầu lại.
Hành trình của Đức Giêsu cho thấy rằng: sự tự hủy, sự sẵn sàng mất đi, tự nó không phải là mục đích, nhưng là điều kiện cho gặp gỡ và hiệp thông. Tình yêu chỉ đích thực khi từ bỏ vũ khí, không màu mè, không phô trương, biết trân trọng cách tế nhị sự yếu đuối và trần trụi. Chúng ta gặp khó khăn khi dấn thân vào một sứ mạng mong manh như thế, nhưng sẽ không có “tin mừng cho người nghèo” (x. Lc 4,18) nếu chúng ta đến với họ bằng những dấu hiệu của quyền lực; cũng không có giải phóng đích thực nếu chúng ta không trở nên tự do khỏi sự chiếm hữu. Đây là bí quyết thứ hai của sứ mạng Kitô giáo: luật của gặp gỡ. Trong dòng lịch sử, sứ mạng nhiều khi đã bị bóp méo bởi những logic thống trị, hoàn toàn xa lạ với con đường của Đức Kitô. Thánh Gioan Phaolô II đã can đảm nhìn nhận rằng: “vì mối dây liên kết chúng ta trong Thân Thể mầu nhiệm, tất cả chúng ta – dù không mang trách nhiệm cá nhân – vẫn mang gánh nặng những sai lầm và tội lỗi của những người đi trước”.[1]
Do đó, điều cấp thiết là phải nhớ rằng trong lãnh vực mục vụ cũng như xã hội và chính trị, điều thiện không thể phát sinh từ sự áp đặt. Các nhà truyền giáo vĩ đại là những chứng nhân của sự gần gũi nhẹ nhàng, với phương pháp là chia sẻ đời sống, phục vụ vô vị lợi, từ bỏ mọi chiến lược tính toán, đối thoại và tôn trọng. Đó là con đường của Nhập Thể, luôn mang hình thức hội nhập văn hóa. Ơn cứu độ chỉ có thể được đón nhận trong chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mỗi người: “Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta ?” (Cv 2,8). Kinh nghiệm Lễ Ngũ Tuần được tái diễn khi chúng ta không muốn làm chủ thời gian của Thiên Chúa, nhưng tin tưởng nơi Chúa Thánh Thần, Đấng “hiện diện và hoạt động, đến trước chúng ta, làm việc nhiều hơn và tốt hơn chúng ta”.[2]
Để đạt tới sự hòa điệu với Đấng vô hình ấy, thì chúng ta cần đến với nơi mình được sai đến bằng sự đơn sơ, tôn trọng mầu nhiệm nơi mỗi con người và mỗi cộng đoàn. Chúng ta là khách: với tư cách giám mục, linh mục, tu sĩ hay Kitô hữu. Muốn đón tiếp, trước hết chúng ta phải học để cho mình được đón tiếp. Ngay cả những nơi bị tục hóa sâu rộng cũng không phải là vùng đất để chinh phục hay tái chinh phục: “Những nền văn hóa mới vẫn tiếp tục được hình thành trong những không gian nhân loại rộng lớn này, nơi người Kitô hữu không còn quen đóng vai trò là người khởi xướng hay kiến tạo ý nghĩa, nhưng đón nhận từ đó những ngôn ngữ, biểu tượng, sứ điệp và mô hình mới, vốn mang lại những định hướng sống mới, nhiều khi trái ngược với Tin Mừng của Đức Giêsu. […] Cần phải đến nơi mà những câu chuyện và mô hình mới đang được hình thành, để dùng Lời của Đức Giêsu chạm tới những chiều sâu nhất của tâm hồn các thành phố”.[3] Điều này chỉ có thể xảy ra nếu trong Hội Thánh, chúng ta cùng nhau bước đi, nếu sứ mạng không phải là cuộc phiêu lưu anh hùng của một vài người, nhưng là chứng tá sống động của một Thân Thể gồm nhiều chi thể.
Rồi còn có một chiều kích thứ ba, có lẽ là triệt để nhất, của sứ mạng Kitô giáo. Điều này đã được biểu lộ ngay trong phản ứng dữ dội của dân Nazareth trước lời của Đức Giêsu, cho thấy khả năng bi thảm của sự hiểu lầm và khước từ: “Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực” (Lc 4,28-29). Mặc dù bài đọc phụng vụ đã lược bỏ phần này, nhưng những gì chúng ta sắp cử hành từ tối nay đòi buộc chúng ta không trốn tránh, nhưng “băng qua giữa” thử thách, như Đức Giêsu, Đấng “băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,30). Thập giá là một phần của sứ mạng: việc được sai đi có thể trở nên cay đắng và đáng sợ hơn, nhưng cũng có thể trở nên vô vị lợi và nhiệt huyết mạnh mẽ hơn. Sự chiếm hữu mang tính đế quốc của thế giới vì thế bị phá vỡ từ bên trong; bạo lực, vốn cho đến nay vẫn được coi như luật lệ, bị vạch trần. Đấng Mêsia nghèo khó, bị giam cầm và bị khước từ, rơi vào bóng tối của cái chết, nhưng chính nhờ đó sinh ra một tạo thành mới.
Biết bao lần chúng ta cũng được cảm nghiệm những cuộc phục sinh, khi, được giải thoát khỏi thái độ phòng thủ, chúng ta bước xuống trong phục vụ như một hạt giống gieo vào lòng đất! Trong cuộc sống, chúng ta có thể đi qua những hoàn cảnh mà mọi sự dường như đã kết thúc. Khi ấy, chúng ta tự hỏi liệu sứ mạng có trở nên vô ích hay không. Đúng vậy: khác với Đức Giêsu, chúng ta cũng trải qua những thất bại phát sinh từ sự bất toàn của chính mình hoặc của người khác, thường là từ một mớ đan xen những trách nhiệm, những ánh sáng và bóng tối. Nhưng chúng ta có thể làm cho niềm hy vọng của nhiều chứng nhân trở thành của mình. Tôi muốn nhắc đến một vị đặc biệt thân thiết với tôi. Một tháng trước khi qua đời, trong sổ ghi chép các bài Linh thao, vị Giám mục thánh thiện Óscar Romero đã viết: “Vị Sứ thần tại Costa Rica đã cảnh báo tôi về một nguy hiểm cận kề ngay trong tuần này… Những hoàn cảnh không lường trước sẽ được đối diện bằng ân sủng của Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô đã nâng đỡ các vị tử đạo, và nếu cần, tôi sẽ cảm nhận Người rất gần khi phó dâng cho Người hơi thở cuối cùng của tôi. Nhưng hơn cả giây phút cuối cùng của sự sống, điều quan trọng là hiến dâng trọn cuộc đời cho Người và sống cho Người… Chỉ cần biết chắc chắn rằng trong Người là sự sống và cái chết của tôi là đủ để tôi được hạnh phúc và vững tin; rằng, bất chấp tội lỗi của tôi, tôi đã đặt trọn niềm tín thác nơi Người và sẽ không phải thất vọng, và những người khác sẽ tiếp tục, với sự khôn ngoan và thánh thiện hơn, công việc cho Hội Thánh và cho quê hương”.
Anh chị em thân mến, các thánh làm nên lịch sử. Đó chính là sứ điệp của sách Khải Huyền: “Xin Đức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an” (Kh 1,5). Lời chào này tóm kết hành trình của Đức Giêsu trong một thế giới bị giằng co bởi những quyền lực tàn phá nó. Ngay giữa lòng thế giới ấy, một dân mới được hình thành – không phải là những nạn nhân, nhưng là những chứng nhân. Trong thời khắc tăm tối này của lịch sử, Thiên Chúa đã muốn sai chúng ta đi để lan tỏa hương thơm của Đức Kitô ở nơi đang lan tràn mùi của sự chết. Chúng ta hãy canh tân lời “xin vâng” của mình đối với sứ mạng đòi hỏi sự hiệp nhất và mang lại sự bình an. Vâng, này chúng con đây! Chúng con vượt thắng cảm giác bất lực và sợ hãi! Chúng con loan truyền Chúa chịu chết, lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến.
[1] Thánh Gioan Phaolô II, Sắc chỉ công bố Đại Năm Thánh 2000 Incarnationis mysterium (29/11/1998), 11.
[2] C.M. Martini, Ba câu chuyện về Thánh Thần, Milano 1997, 11.
[3] ĐTC Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24/11/2013), 73-74.










