CHUYÊN ĐỀ

Thánh Giustinô tử đạo và thế kỷ thứ II

Hôm nay
72
Bài dịch của Linh mục Đaminh Phạm Ngọc Thủy - giáo phận Xuân Lộc

Người con của đất Samaria

Gần 100 năm đã trôi qua kể từ ngày Đức Kitô giáng thế, tuy nhiên vẫn còn nhiều người thế tục sống trong miền Thánh Địa. Thí dụ như Quận hạt Samaria vẫn còn nguyên trạng như lời tiên tri Isaia đã mô tả: “Bông hoa tàn, vương niệm kiêu hãnh của những kẻ say sưa miền Ephraim”. Người ta nghĩ về Sicar, thị trấn gần giếng Giacóp, nơi Đức Giêsu đã nói với người phụ nữ Samaria: “Nếu bà nhận biết ơn Thiên Chúa và ai là người đang nói với bà (xin cho tôi nước uống) (Ga 3, 30) hoặc nghĩ về Sichem nằm dọc theo đường đèo từ bờ sông Gióc-đan nơi Abraham cư ngụ khi họ vào Đất Hứa. Lúc này, chính nơi thuộc miền đất vô danh giữa Giuđêa và Galilêa này Giustinô đã mở mắt chào đời. Là người con dân ngoại, trái tim của ông khô cằn như miền sa mạc kề bên, nhưng ông có tâm trí cởi mở như tỉnh hạt quê hương của ông. Niềm khao khát kiến thức xâm chiếm người Samaritanô trẻ trung này đến nỗi các trường học ở Flavia Neopolis (thành Sichem cổ xưa) không thể cung cấp những điều mà tâm hồn của ông đang khao khát. Vì thế, ngay từ những năm đầu của tuổi trưởng thành, Giustinô đã lên đường tìm kiếm thêm ánh sáng cho riêng mình; ông phải chạm mặt với các dữ liệu, thu thập kinh nghiệm, chà xát thực tế. Triết gia mới ra ràng này rảo bước, đi lên đi xuống khắp miền Palestin xinh đẹp, khao khát gặp gỡ bất kỳ vị thầy nào có thể làm giàu kiến thức cho ông. Ông đã gặp biết bao nhiêu nhóm triết gia khác nhau, cả Do Thái lẫn dân ngoại; cũng hãy thử tưởng tượng xem biết bao nhiêu thứ học thuyết lạ kỳ ông đã học qua trong cuộc tìm kiếm chân lý không ngưng nghỉ này.

Giustinô như chúng ta sẽ thấy, sẽ phải trải qua con đường gian khổ lâu dài trước khi ông gặp được ân sủng của Thiên Chúa. Nhưng tha thiết nhất vẫn là khao khát tìm kiếm chân lý của ông, chân thành nhất vẫn là cuộc truy tầm mà một ngày kia ông sẽ đạt phần thưởng được hứa ban bởi Vị Thầy của các vị thầy. “Hãy đến với Ta… Ta sẽ bồi dưỡng cho. Nếu ngươi tìm Ta với hết cả tấm lòng chắc chắn ngươi sẽ gặp được Ta”. Đó là câu chuyện tóm gọn của cuộc hành trình Odyssey được hướng dẫn bởi trời của Giustinô mà đã đưa ông vào những nẻo đường ngang dọc kỳ lạ. Trong giai đoạn đầu cuộc hành trình, người Samaritanô trẻ trung tiếp xúc với những người Do Thái đầy hăng hái trong việc chinh phục ông đi theo họ. Họ đã hướng dẫn ông theo Bia Giới Răn, kể cho ông về vị lãnh tụ vĩ đại sẽ đến, thậm chí còn hé lộ âm mưu lật đổ ách thống trị của người Rôma của họ nhằm khôi phục nước Israel về cho Đức Giavê. Thời giờ đã gần kề. Họ đoan chắc với ông như thế, khi Đấng Mêsia mang tính chính trị sẽ trị vì từ Giêrusalem mà hướng về đó tất cả dân nước sẽ vội vã mang lễ vật và lễ tế để tiến dâng trên núi Sion. Lòng căm ghét sôi sục của họ đối với Rôma cũng ngang bằng với mối ác cảm sâu đậm họ có với các đồ đệ của Đấng Bị Đóng Đinh. Chẳng phải Người Nazareth này, người mà các kitô hữu đã gọi là Con Thiên Chúa, đã tạo ra một cuộc ly khai trong các thứ bậc trong dân Do Thái và chẳng phải cũng các kitô hữu này đang nỗ lực thay thế luật gây sợ hãi cũ bằng luật tình thương kỳ dị đó sao? Mặc dù những con người luôn hằn học này đã chẳng bao giờ nói tốt cho tôn giáo mới, Giustinô luôn luôn vận dụng những quan năng của mình trong việc thủ đắc kiến thức, chẳng bao lâu sau, ông tìm ra cho chính mình rất nhiều điều! Sự thật thì lớn tiếng hơn là dối trá, và gương sáng có giá trị làm chứng hơn bất kỳ các con số những cáo buộc vô tâm nào. Đàn chiên nhỏ bé mà ông biết tới thật tử tế, hay giúp đỡ, khiêm nhu, gồm những con người yêu thương người lân cận. Họ mang lấy những gánh nặng của người khác cách can đảm, những ý nghĩ của họ luôn hướng về trời cao nơi Đấng Cứu Độ của họ ngự trị; họ thực sự thi hành Bài Giảng Trên Núi được Giustinô phân định như là những viên đá góc cho một nền văn minh đích thật. Còn điều khác nữa, các kitô hữu này tiếp tục kiên vững trong niềm tin của họ mặc dù bị người Do Thái căm ghét, thậm chí phải đối mặt với cuộc bách hại tàn bạo khủng khiếp được mưu tính bởi các Hoàng đế đầy uy quyền của Rôma.

Các thù địch với Đức Kitô

Thời kỳ trừng phạt đối với Giáo hội là cách mô tả thế kỷ này đúng nhất, trong khi Giustinô sống suốt thời niên thiếu ở Samaria, vị Hoàng đế Nerva đã xách nhiễu cách tàn bạo các đồ đệ của Đức Kitô vì họ đã từ chối tham dự các nghi lễ ngoại giáo. Trajan, người kế vị ông, bất bình cách ghê gớm đối với các kitô hữu vì cho rằng họ đã phạm tội ác trong việc tôn vinh “Danh” và đã ra lệnh cho phép các cuộc bách hại đẫm máu. Một nhân viên hoàng gia, Pliny trẻ, người đã hành quyết nhiều kitô hữu cảm thấy buộc phải báo cho Caesar rằng các đền thờ của các thần Rôma đang bị bỏ phế, vì vậy “mê tín” mới đang mau chóng chiếm lĩnh ưu thế nơi các miền quê cũng như các thành phố. Và lúc này khi Giustinô rảo bước trên con đường hành hương, Hadrian (117-138) đang trừng phạt các tín hữu bằng việc ra sắc chỉ đề cập tới thực hành bác ái của họ (caritas) như là điều đe dọa tất cả những gì mà người Rôma đại diện cho. Tuy nhiên, họ tiếp tục gia tăng về con số cách đáng kinh ngạc, dân chúng gồm cả nam lẫn nữ, gồm mọi lứa tuổi và mọi giai cấp trở thành kitô hữu. Người ta chỉ cần nhìn bằng một mắt cũng có thể thấy những người dân không biết sợ hãi này đã thực hiện những thay đổi xã hội mang tầm mức một cuộc cách mạng ngay khi còn phải đương đầu với những chống đối dữ dội. Khi làm quen với những vị anh hùng đức tin âm thầm này, người học trò ngoại giáo của chúng ta đạt được những hiểu biết sâu xa về đời sống thầm kín của họ. Tuy những quan điểm của ông còn mơ hồ nhưng khi ông tiếp tục nôn nóng tìm kiếm ánh sáng rồi đạt được thêm ánh sáng, chính Thiên Đàng mở rộng trong tầm mắt ông. Vì thế cuối cùng triết gia trẻ tuổi đón nhận chính chân lý.  Hãy nhớ rằng ngay từ khởi đầu sự nghiệp của ông, Giustinô đã thể hiện lòng yêu mến nồng nhiệt đối với chân lý, tâm trí ông như những cánh chim không ngừng đập bay đi tìm hòa bình, tác giả được linh hứng đã nói: “chim cùng loại đậu chung một chỗ, cũng vậy chân lý trở về với những ai thực hành nó” (Hc 27, 9).

Người Samaritanô này, vẫn đang trong độ tuổi hai mươi, tiếp tục đi đây đó cho tới lúc đến được Êphêsô. Thành phố Hy lạp đang tăng trưởng này vang vọng bước chân của thánh Phaolô và hình thành nên trung tâm mà từ đó Thánh Gioan đã từng điều hành Giáo hội trong miền Tiểu Á. Nhiều người Do Thái và dân ngoại trong miền này, đầy nhiệt tâm, dường như sẵn sàng bước vào hết cuộc tranh luận này đến cuộc tranh luận khác với vị khách lạ háo hức này. Trong cuộc tranh luận nảy lửa, Giustinô nghe được cùng những câu chuyện ngớ ngẩn xưa cũ đã từng gây cho ông nỗi đau lòng ở Palestin. Tuy nhiên vào lúc này, con người có tài quan sát sâu sắc không bị lừa phỉnh, ông đã biết rõ các động cơ đàng sau những cáo buộc cay đắng này. Một sự thật rõ ràng rằng các kitô hữu sẵn sàng từ bỏ những xa hoa và những trang sức sang trọng đã không hòa mình với những thương gia ngoại giáo; việc họ từ chối công khai tế thần, như Pliny đã nhận xét, làm tổn hại tới túi tiền của những người buôn bán súc vật tham lam; họ từ khước những trò chơi nơi các hý trường, vì thế những người trình diễn chuyên nghiệp khó chịu vì bị giảm thu nhập. Bất kỳ ai có một chút suy nghĩ cũng sẽ nhận ra lý do và nguồn gốc của những điều này. Không! Giustinô không dễ bị lừa hoặc cũng không dễ bị làm hại. Tất cả những lời đồn đại tàn ác này về các đồ đệ Đức Kitô gán cho họ tội vô thần, chống chính quyền và phản bội quốc gia, được chứng minh rằng đó chỉ là những điều vô nghĩa; cũng cùng một tầm mức thấp hèn là những cáo buộc ác ý về những tội loạn luân và ăn thịt người, về ma thuật và phù chú mà những người Do Thái cảnh giác ngu si đồn đại lên ở trong các con hẻm tại Giêrusalem và Joppa. Những sự kiện thực tế là như sau: Các kitô hữu phục vụ trong hàng ngũ những người lính trung thành nhất trong quân đội đế quốc, nhưng họ còn chứng tỏ mình là các “milites Christi” còn tốt hơn nữa, và Giáo hội có thể kể ra rất nhiều các vị tử đạo gốc lính. Các sự kiện đã chẳng chứng minh rằng những con người nhiệt thành với đức tin này càng bị chà đạp bởi những người bách hại tàn bạo bao nhiêu thì con số của họ càng đông đảo biết bao đấy sao? Giustinô đã viết: “trong khi tôi còn chưa phải là đồ đệ của triết học Platon thì tôi đã nghe biết việc các kitô hữu bị lùng bắt bởi vì các vu khống và đã thấy họ đứng can trường trước cái chết và đủ mọi thứ gây kinh hãi, tôi đã tự nghĩ rằng những người như thế không thể bị coi là xấu xa và đồi bại” (Giustinô, HG I, 26). Thực ra cảnh tượng các vị tử đạo anh hùng được nâng đỡ bởi Thiên Chúa vô hình đã đưa tới nhiều cuộc trở lại cho những người ngoại giáo quen thuộc; và đây cũng là lý do cho cuộc trở lại của chính triết gia này (Giustinô, HG II,12).

Ánh sáng ban sự sống

Trung thành với nguyên tắc của mình trong việc truy tầm chân lý, Giustinô hân hoan vui mừng trước mọi hướng dẫn của chân lý. Đúng vậy, chân lý, thêm chân lý nữa, rồi lại thêm chân lý nữa, là tất cả những gì ông muốn. Một ngày kia khi lang thang ngang qua một thành phố cổ, ông đã gặp một người khả kính, người đó nói những lời khôn ngoan sâu sắc và nài nỉ ông tiến xa hơn trong cuộc tìm kiếm chân lý bằng việc nghiên cứu cặn kẽ các tiên tri của Israel. Tỏ vẻ vâng phục, người Samaritanô xa lạ nghiên cứu các cuộn sách tiếng Do Thái sờn cũ cho tới khi ông được tưởng thưởng bằng một thoáng nhìn về phía đích điểm các cuộn sách nhắm tới, nhân vật các cuộn sách mô tả như là Đấng Cứu Thế chịu đau khổ. Chuỗi dài những ngày tháng trống rỗng về mặt thiêng liêng mà ông phải trải qua đã bị bỏ lại sau lưng. Những luồng sáng mới, cho tới lúc này chẳng hề được mơ tới, đã cho người học trò không biết mỏi mệt một cảm quan mới hơn; ngoài ra, khi ông được biết các kitô hữu cách gần gũi hơn, ông bắt đầu nắm bắt được các tư tưởng và các lý tưởng họ tuyên xưng. Lúc này, hơn bao giờ hết, các lối sống của họ ăn sâu vào trong tâm trí ông, và ông đã có thể nhìn thẳng vào mắt họ trong ánh sáng của Đấng Vĩnh Hằng. Như thế, toàn bộ công cuộc cứu độ chầm chậm hé ánh bình minh trên tâm hồn thao thức của Giustinô. Ông biết rằng chính vì để phụng sự Thiên Chúa cách đích thực mà những người dân khiêm hạ vô tội này bị căm ghét bởi những người có tâm địa xấu xa. Thật vậy, ông đã thấy họ biểu lộ lòng can đảm tuyệt vời khi đối mặt với những nhục mạ thô tục và tiếng la ó nhạo báng! Họ đã tuân giữ trung thành Lời Tin Mừng biết bao! Họ đã thực sự yêu thương nhau, xa tránh cám dỗ trong mọi hình thức biết chừng nào! Và tất cả là vì Danh Đức Kitô là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống của họ. Và rồi một điều kỳ diệu nho nhỏ xảy đến khi ông ngồi dưới chân của những người thực hành Lời Chúa ông nắm bắt được tinh thần của họ và ngay lập tức quyết định rằng ông không thể mãi là một người dân ngoại nữa. Người truy tầm miệt mài đã băng qua sa mạc, đã dừng lại một vài nơi để nghỉ ngơi và suy nghĩ, nhưng bây giờ Thành Đô Thiên Chúa đang mở ra trước mắt. Được ban cho ân huệ đức tin, Giustinô ngay trong chính độ tuổi hoa niên của mình vui mừng đón nhận Đạo của Đấng Chịu Đóng Đinh, âm thầm thề hứa phục vụ Đấng là chân lý toàn vẹn.

Trong chiếc áo choàng của một triết gia người tân tòng kiên quyết lên đường đi giảng dạy Tin Mừng. Phương thức của ông là dùng triết học như những bậc thềm đá để vươn tới những chân lý cao xa hơn và thuyết phục những người nghe ông về tính xác thực của học thuyết Kitô giáo. Các người Do Thái và các người dân ngoại tề tựu lại để nghe ông tranh luận, khuyên nhủ, khích bác, thuyết phục hết mùa này sang mùa khác. Chẳng bao lâu ông đi vào cuộc tranh luận nổi tiếng với người Do Thái học thức tên là Trypho và cuộc tranh luận kéo dài tới hai ngày; cuộc “Đối Thoại” này, như được gọi, đề cập tới luật cũ và luật mới, tới các Tiên Tri và Đấng Mêsia, cuộc sống và giáo huấn của Người Nazareth này! Bây giờ hãy nghe vị hộ giáo kitô hữu Giustinô lập luận:

“Cũng như đã có những tiên tri giả trong thời của các vị tiên tri thánh thiện đang ở giữa các ngươi, vì thế cũng có nhiều thầy dạy giả danh giữa chúng ta mà về họ Chúa của chúng ta đã khuyến cáo chúng ta phải cảnh giác, nhờ vậy chúng ta sẽ không bao giờ sai lạc, hãy biết rằng Ngài biết trước những gì sẽ xảy ra cho chúng ta sau khi Ngài đã sống lại từ cõi chết và lên trời, vì Ngài đã nói rằng chúng ta phải bị giết và bị ghét vì Danh của Ngài và rằng nhiều tiên tri giả và kitô giả sẽ đến trước nhân danh Ngài và sẽ dẫn đưa nhiều người vào con đường lầm lạc. Và đây là một điển hình. Vì nhiều người đã dạy những điều vô thần và báng bổ và đã lấy Danh Ngài làm hiệu chứng sai lầm và xấu xa cho giáo huấn của họ, và đã dạy những điều được đưa vào trong tâm trí họ bởi quỷ thần ô uế và vẫn còn giảng dạy những điều đó cho tới bây giờ”.

Khi Giustinô nhấn mạnh luận điểm của mình, hết điểm này sang điểm khác, ông đã dùng Cựu và Tân Ước như một thanh gươm hai lưỡi để minh định chân lý mà ông đã gặp được nơi Đức Giêsu. Ông đã nói với Trypho rằng luật Môisen phải nhường chỗ cho luật Đức Kitô. Việc thờ phượng Đức Giêsu thực sự đồng dạng thức với việc tôn thờ Thiên Chúa chân thực, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp. Còn dân Israel đích thực chỉ có thể tìm thấy được nơi các kitô hữu là những người thuộc về lời hứa giao ước. Giustinô khẳng định rằng: “chẳng có một quốc gia nào cho dù là Hylạp hay man dân hoặc được gọi bằng bất kỳ tên gọi nào, hoặc sống nơi đầm lầy, hoặc không có đến một mái nhà, hoặc sống trong các lều bạt và chăn nuôi các đàn gia súc mà từ giữa những nhóm đó lại không vang lên những lời cầu nguyện và tạ ơn hướng lên Chúa Cha là Đấng tạo thành vụ trụ nhân danh Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh” đó sao. (Đối thoại với Trypho, số 117). Chắc hẳn là ông Trypho hay lý luận này sẽ có nhiều lần đã gặp một đối thủ trên cơ và đã để lộ một giây phút yếu thế nào đó trong cuộc tranh cãi bất phân thắng bại này, tuy nhiên vẫn có điều tốt hơn, cuộc “Đối Thoại” của Giustinô hẳn đã cất đi bức màn đen vô tri và ác cảm khỏi tâm trí của rất nhiều người, hết thế hệ này sang thế hệ khác.

Thời Kỳ Đen Tối

Trong những ngày sau cuộc tranh luận lịch sử, những người Do Thái cũng như những kitô hữu bị thử thách trong lò lửa xung đột. Cuộc nổi dậy chống quyền lực Rôma được ấp ủ từ lâu bùng dậy cách mãnh liệt ở Giêrusalem dưới sự điều động của một con người cực đoan khát máu, Bar-Cochab. Nỗi căm giận của con người này đối với người kitô hữu cũng chẳng kém gì nỗi căm giận dành cho người Rôma không là gì khác hơn tính quỷ quyệt; trong suốt thời gian ngắn ngủi của nhà độc tài này, từ năm 132 đến năm 133, ông đã tàn sát hàng trăm tín hữu vì từ chối công nhận ông là Đấng Mêsia và từ chối tham gia cuộc cách mạng của ông. Hadrian, vị Hoàng đế, đã dùng quân đội để dập tắt vụ này, ông gửi quân đội tàn sát cách thô bạo tất cả những người nổi dậy cùng với tất cả dân cư Giêrusalem. Một thuộc địa của Rôma, Elia Capotolina, được thiết lập trên đống đổ vỡ đang ngút khói của Thành Thánh, và quốc gia của người Do thái kết thúc trong buồn thảm. Năm năm sau, vào năm 138, vị Hoàng đế này lìa thế. Người kế vị của ông, Antonius Pius, chứng tỏ ông trung thành với Rôma cổ xưa, nhân ái và khoan dung tới mức không ai nhận ra quyền lực của đế đô đang hoạt động. Dĩ nhiên niềm tin kitô giáo vẫn còn bị coi là “Religio illicita” (tôn giáo bất hợp pháp), bởi thế các thành viên của đạo này phải sống trong nguy hiểm bất ngờ, một lưỡi gươm treo lơ lửng trên đầu họ. Các do thám truy nã họ, đám đông có khuynh hướng nổi dậy chống lại họ bất kỳ ngày nào. Trong khi đó Giustinô chẳng sợ hãi gì đi đây đó tranh luận và giảng dạy cho tới cuối cuộc hành trình của ông kết thúc ở Rôma. Đức Giáo Hoàng Hyginus, sinh tại Hylạp, đang trên ngai tòa Thánh Phêrô, và Thành Phố Vĩnh Hằng dung nạp một dân số đông đảo người Hylạp cùng với những người dân từ mọi tỉnh hạt của đế quốc. Không có gì thực tiễn hơn cho người đồ đệ Đức Kitô như Thánh Giustinô ngoài việc tiếp tục làm điều Thiên Chúa đã muốn ủy thác cho ông. Luôn luôn cảnh giác, triết gia không biết sợ hãi này chen vai sát cánh với mọi người và từng người cách riêng biệt, trong khi ông luôn hướng tới mục đích truyền giáo của mình đã cố đạt tới mục đích ấy như một người yêu nỗ lực để tìm cách trình bày sự thật và vẻ đẹp của người mình yêu. Là một cố vấn đầy năng lực cho Đức Kitô, ông tranh luận với người dân ngoại, minh chứng cho nhiều người được thỏa lòng về chân lý và vẻ đẹp của tôn giáo mới. Triết gia Crescens đã ngỡ ngàng cũng như Marcian, kẻ lạc giáo, và nhiều lý thuyết gia Hylạp. Ông thuyết giảng cách hùng hồn về tính đơn nhất của Thiên Chúa, về vẻ huy hoàng của sách Thánh vịnh, về cuộc Phục Sinh, nhưng ông không nói lời nào về những mầu nhiệm Kitô giáo, vì quy luật disciplina arcani (những nguyên tắc bí nhiệm) đã trở nên một thói quen thiết định và chưa đến thời kỳ tỏ lộ những điều thánh thiêng này cho những người đang do thám. Rồi cũng đến một ngày kia vào năm 138 khi mối hiểm nguy đen tối một lần nữa lấp ló ở chân trời. Một bản mô tả đương thời về Alexander vị tử đạo đã viết: “Ôi! Thời buổi bất hạnh, khi giữa những điều thánh thiêng và mối bận tâm vào việc cầu nguyện chúng ta không thể được bình an ngay cả khi ở bên trong lòng đất; còn gì đau khổ hơn là sống, còn gì đau khổ hơn là chết khi chúng ta không thể được chôn cất bên cạnh bạn hữu của mình” (Arringhi, Subterranean Rome, Cuốn 3, ch. 22). Đó thực sự là thời buổi bất hạnh vì các lời đồn đại xấu xa và các vu cáo tiếp tục lan rộng như lửa rừng và cuộc bách hại rộng khắp khác dường như sắp xảy đến. Trong niềm hy vọng rằng người anh chị em của mình có thể nhận được lối cư xử nhân đạo từ công quyền, Giustinô đã thực hiện một giải pháp lớn lao. Ông đem ngòi bút mình đấu lại với lưỡi gươm; phải, ông kể với chính Hoàng Đế và Nghị Viện về niềm tin và những việc làm thực sự của các kitô hữu, như thế cuốn “Hộ Giáo Thứ Nhất” đã được viết ra không những như là chứng từ vô giá về các thực hành và các sự kiện của Giáo hội sơ khai mà còn được lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Giustinô dạn dĩ báo cho Antonius: “các vị quan tướng của Hoàng đế là đồng bọn của kẻ cắp, yêu thích của hối lộ, tìm kiếm các phần thưởng. Nhưng nếu Hoàng đế biết được bất kỳ điều gì như thế ở giữa chúng tôi ít nhất là không phạm thượng, hoặc cố giải thích sai lầm Kinh Thánh và Đức Kitô vì những người như thế”. Nhà hộ giáo xác quyết: Không có sự tương đồng giữa mầu nhiệm Thánh Thể và các nghi lễ kinh tởm của bữa tiệc Thyestean; chẳng có gì trong Bí Tích Thánh Tẩy lại giống với bất kỳ ý nghĩ hư hỏng nơi các người dân ngoại hoàn toàn chẳng biết gì về các cử hành thánh. Với sức mạnh và tính trong sáng, nhà bảo vệ đức tin không sợ hãi tiếp tục nhấn mạnh những luận điểm đáng để ghi nhớ bởi vì chúng tóm gọn bản hộ giáo vĩ đại này.

Đấng Cứu Độ thế giới, Đức Kitô Giêsu, thực sự là Con Thiên Chúa như các lời tiên tri xưa đã chỉ cho thấy một cách không sai lầm.

Những cáo buộc của những người dân vô đạo đối địch nhắm vào các đồ đệ của Người Nazaret thực quá sai lầm, quá vô căn cứ.

Vì thế, Hoàng đế nên thu hồi các sắc lệnh trừng phạt chống lại người kitô hữu, nhờ thế Hoàng đế sẽ trở nên một thủ lĩnh được biết tới nhờ đức công chính và tinh thần công bằng của mình.

Tuy “Nền Hòa Bình ngắn hạn của Giáo Hội” tồn tại vào thời điểm đó, nhưng cũng vẫn có những ngày đen tối, vì đó, Giustinô cho rằng vị Hoàng đế phải lãnh trách nhiệm. Nhưng dù có bị bách hại hay không bị bách hại, cộng đoàn Kitô hữu vẫn mạnh mẽ trong tình liên đới và tính quy củ, rồi khi các buổi phụng vụ tốt đẹp nở rộ, sức mạnh của đời sống Kitô giáo được cảm nhận ở khắp nơi.

Kinh sư của Nước Trời

Xét theo những hoạt động của ông, Giustinô ngày càng trở nên có tinh thần tông đồ. Đức Giêsu đã thực sự nuôi dưỡng con người Samaritanô mệt lả vì du hành này bằng bánh ban sự sống và những hiểu biết, Ngài cũng ban cho ông được uống nước ban trí khôn ngoan. Đổi lại, triết gia đầy lòng biết ơn này cố gắng bước đi theo vết chân Người Bạn Trung Thành của mình, gieo rắc dầu thơm bác ái và rượu ngon niềm vui Kitô giáo cho tất cả những ai trong tầm với của ông. Ông đã thành lập và điều hành ở Rôma một ngôi trường nổi tiếng dạy những chỉ dẫn Kitô giáo, như ông đã viết: “cần mẫn trong việc giảng dạy theo sát Kinh Thánh, không phải vì ham mê tiền bạc, hoặc hư danh hay thú vui”. Các thầy dạy ngoại giáo đầy năng lực tiếp tục thách thức ông trong các cuộc tranh luận công khai; những người này ông gặp được lúc này hay lúc khác, và không ít người đã bị chinh phục về với đức tin chân thực.

Tuy nhiên, Giustinô không chỉ làm việc bằng ngòi viết và tiếng nói, mà còn bằng lời nói và việc làm, vì cuộc bảo vệ chân lý được ông chăm lo hơn tất cả mọi sự trên trần gian. Mặc dù đã có nhiều bài viết về nhà hộ giáo tiên phong này, cũng phải thừa nhận rằng còn có nhiều nhà vô địch khác trong Kitô giới vào những ngày này; ngay đầu năm 120, Barnabas đã cho ra một lá thư mục vụ; vào năm 124, Aristides đã viết một bản hộ giáo ở Athens; vào năm 160, một học trò của Giustinô tên là Tatian, đã tấn công gay gắt lối sống ngoại giáo ở Antiôkia; vào năm 170, Ignatius đã viết những lá thư nổi tiếng cho các tín hữu ở Asia. Và trong khi các nhà truyền giáo lanh lợi đi đông đi tây, thiết lập các Hội Thánh và gây ngỡ ngàng cho các người ngoại giáo khôn ranh, các đồng sự thông thái của họ, Athanagoras và Theopholus, Appolinaris và Miltiades đang giải thích đạo Kitô và trả lời cho mọi cáo buộc sai lầm chống lại anh chị em mình; Vị mục tử bí nhiệm xứ Hermes cũng xuất hiện vào thời này, cùng với nhiều tác giả của các tiểu luận giáo thuyết khác. Ai có thể chối bỏ rằng những kinh sư trường phái Kitô như thế đã viết lách ngay trong tình thế nguy hiểm đến tính mạng mình? Không nghi ngờ gì nữa nhiều người trong họ bị giật mất cây bút khỏi bàn tay thánh thiện của mình trong khi họ tiến tới đón nhận nhát gươm tử đạo.

Một trong những vị anh hùng vì Đức Kitô này là Polycarp, Giám mục Smyrna, “Hạnh thánh” của ngài là tường thuật cổ xưa nhất về cuộc tử đạo mà chúng ta có được. Vị giảng thuyết vĩ đại, “vị hoàng tử hoa râm miềm Asia” này trở nên đối địch cho lòng thù hận của các đồng bào ngoại giáo của mình là những người đã bắt giữ ngài và điệu ngài đến trước Proconsul. Một cảnh tưởng không thể quên được tiếp theo sau đó khi các diễn viên chính, nhà độc tài và vị tử đạo, mặt đối mặt.

Nhưng khi viên thủ hiến ép ngài và nói: “Hãy thề hứa rồi ta sẽ để cho ngươi đi, hãy phỉ báng Ông Kitô”. Polycarp nói: “Trong tám mươi sáu năm tôi làm tôi tớ của Ngài, và Ngài đã chẳng xử tệ với tôi, vậy làm sao tôi có thể báng bổ Quân Vương của tôi, Đấng cứu rỗi tôi được”. Nhưng khi viên quan nài ép lần nữa mà nói rằng: “Hãy thề trên tài trí của Caesar”. Ngài trả lời: “Nếu Quan uổng sức mà nghĩ rằng tôi sẽ thề trên tài trí của Caesar, như Quan nói, và giả vờ như ông không biết tôi là ai, hãy nghe cho tỏ - Tôi là một Kitô hữu”… Và rồi Procunsul đã nói: “Ta có những con thú hoang dữ, Ta sẽ liệng ngươi cho chúng trừ khi ngươi đổi ý”. Ngài đã nói: “Hãy gọi chúng tới, vì đổi ý từ điều tốt hơn để lấy điều tồi tệ hơn thì tôi chẳng bao giờ làm; nhưng thật tốt đẹp việc hoán chuyển từ điều xấu xa trở nên điều ngay chính”. Và viên quan lại nói với ngài rằng: “Ta sẽ bắt ngươi phải chịu thiêu trong lửa, nếu ngươi coi thường thú dữ, trừ khi ngươi hối cải”. Thế nhưng Polycarp đã đáp lại: “Quan đe dọa bằng lửa chỉ cháy được trong một thời gian, và chẳng bao lâu sẽ lịm tắt, vì Quan chẳng biết ngọn lửa sẽ chờ đợi những người xấu xa trong cuộc phán xét sắp đến và trong hình phạt đời đời. Nhưng tại sao Quan còn chần chừ? Hãy cứ làm điều Quan muốn” (Eusebius).

Ngay tại chỗ, vị anh hùng cao niên dâng lời tạ ơn vì được uống chén Đức Kitô. Ngọn lửa đã không hủy diệt được ngài, vì thế những kẻ ngoại giáo man rợ đâm ngài cho tới chết, và rồi đốt cháy thi thể ngài. Nhưng các Kitô hữu tại Smyrna đã gom thánh tích của ngài, “quý giá hơn những trang sức đắt giá nhất hay vàng”, và đem cất giấu nơi bí mật cho tới khi các tín hữu sửa chữa lại thành đền thánh để cử hành ngày sinh nhật trên trời của Ngài, ngày ngài chịu tử đạo. Tin tức về sự kiện có sức làm xao động tâm hồn này lan rộng khắp dọc ngang Đế Quốc với những hiệu quả đáng kinh ngạc. Sức mạnh của mẫu gương anh hùng như thế, được nhân gấp bội bởi số các vị tử đạo không đếm hết được, phát huy tác dụng cách mạnh mẽ nơi các tín hữu. Sau hết, chẳng phải chính quyền năng Thiên Chúa, Đấng đã định gây chấn động toàn Đế Quốc đến tận nền móng nó, và biến đổi “Roma immortalis” (Rôma bất tử) ngoại giáo thành “Roma aeternalis” (Rôma vĩnh cửu) Kitô giáo, thành đô được dành riêng làm nơi cư ngụ của Đấng Đại Diện cho Người Con của Ngài đó sao.

Đồ đệ phái Khắc Kỷ đối nghịch với người Kitô hữu

Marcus Aurelius, con rể của Antonius Pius, bắt đầu trị vì từ năm 161 sau CN, và Đế Quốc đạt tới đỉnh cao kỳ vĩ nhất. Ông nhận biết rằng vẻ hùng vĩ của Roma phải được canh phòng cách nghiêm ngặt kẻo nó cũng sẽ phai nhòa đi như vinh quang của Hy Lạp. Với nhãn giới sắc xảo, vị Hoàng đế mới xem sức mở rộng của tôn giáo mới như một mối đe dọa cho thế giới ngoại giáo; ông đưa ra giải pháp hủy diệt tôn giáo này cách vô cùng tàn bạo và đồi bại – cả gốc rễ lẫn cành nhánh. Mặc dù Marcus Aurelius đã khoác lên mình áo choàng triết gia vào năm mười một tuổi, không vị Hoàng đế nào tỏ ra thiếu năng lực hiểu biết về Đạo của các thần dân Kitô giáo của mình như ông. Giáo Hội, trong đôi mắt đầy đe dọa của ông, là một hiểm họa; giáo thuyết chống ngoại giáo của Giáo hội này trổ sinh khắp nơi; con cái Giáo hội này có vẻ như đang làm thay đổi toàn bộ thế giới. Là một nhà Khắc kỷ tới tận cốt lõi tâm hồn, vị Hoàng Đế đề cập cách khắt khe đến niềm tin của các Kitô hữu như là chủ thuyết hoàn toàn cực đoan; thái độ kiên cường siêu việt của họ trước các thẩm phán tàn bạo chỉ là tính bướng bỉnh; thái độ chấp nhận cách vui tươi cuộc tử đạo chỉ là “một trò kịch nghiệt ngã”! Không có chỗ cho lòng thương xót trong các cảm xúc của nhà độc tài này, con người bị ám ảnh bởi cuộc sống kiêu hãnh và đòi hỏi của hoàn cảnh. Trước những cực hình dành cho Ponticus mười sáu tuổi và thái độ can trường của cô bé Blandina dịu dàng, ông vẫn lạnh lùng. Khi Pottinus, vị Giám mục cao niên, bị đối xử tàn bạo bởi các cai ngục của ông, đã qua đời trong tù hai ngày sau, Marcus Aurelius chẳng bị tác động bao nhiêu cũng như khi ông nghe biết cuộc tử đạo anh hùng của vị mục tử vĩ đại khác, Polycarp. Không! Tất cả mọi Kitô hữu, sang hay hèn, phải bị quét sạch tới người cuối cùng và cùng với họ tất cả những gì họ tha thiết – giá trị vô cùng của linh hồn bất tử, tính bình đẳng của tất cả mọi người, nô lệ cũng như người quý phái; phẩm giá của lao động, ngay cả lao công của người nô lệ; mối phúc cho tinh thần nghèo khó. Thật vô nghĩa, tất cả những điều đó, điều vô nghĩa phạm thượng, nổi loạn và ngu si! Nhân danh tất cả các thần Rôma, ông là người khôn ngoan và là chiến binh sẽ nại tới sức mạnh của luật pháp cứng rắn để thành công trong việc mà các vị tiền nhiệm của ông đã thất bại thảm hại. Non licet Christianos esse! (không để cho dân kitô hữu tồn tại)

Giustinô, Vị Tử Đạo

Vào một ngày tàn sát đẫm máu ở Rôma, Urbinus, vị tổng trấn, giết ba kitô hữu mà không một lời cảnh báo. Thật là một cú đâm lén! Họ đã chẳng làm gì xấu xa; họ là những công nhân tốt lành ngay thẳng. Những điều này thật quá tồi tệ, nên Giustinô đã chọn trường hợp của họ để viết một bài sớ cứng rắn cho Hoàng đế, yêu cầu sự can thiệp từ phía đế quốc và can đảm bảo vệ đạo Đức Kitô. Tuy nhiên bài hộ giáo không đạt được mục đích vì lời lẽ vụng về, triết lý không đủ sức để khơi lên cảm thức công lý nơi vị thủ lĩnh theo phái khắc kỷ này. Marcus Aurelius đã chẳng làm gì để ngăn cản đám đông bạo loạn, cũng chẳng thèm lay động đến một ngón tay út để bắt các nhà cầm quyền phải xử công bằng và ngay chính. Chẳng có gì lay chuyển ngay cả bởi các thiên tai, động đất, lũ lụt xảy ra trong lãnh thổ của ông thậm chí cả biến cố đại dịch năm 166 khiến đế quốc không bao giờ hồi phục lại như xưa, nhà cầm quyền khắc kỷ tiếp tục bách hại các thần dân kitô hữu của ông nói: hãy để lưỡi gươm tung hoành bất cứ nơi nào cần đến cho tới khi kẻ thù đế quốc Rôma phải bị tận diệt. Cơn lốc thù hận trở nên thường xuyên hơn và điều này, cuộc bách hại thảm khốc thứ tư, được coi là một trong những cuộc bách hại ghê rợn nhất trong lịch sử Giáo hội Công Giáo. Con cái của Giáo hội chịu đau khổ cả vì cơn giận dữ của quần chúng lẫn nhà cầm quyền trong cuộc chiến ráo riết chống lại Thiên Chúa và Đức Kitô của Ngài. Các tín hữu nơi các hội thánh Lyons và Vienne bị thử thách trong lò lửa, đã viết những lá thư gây súc động cho anh em ở Tiểu Á. Và như thể là các cực hình cũng như án tử thì chưa đủ, những lời đồn đại tàn ác ngày càng nhiều chống lại kitô hữu vì những cuộc quy tụ của họ chỉ dành riêng cho họ mà thôi; cũng cùng những lời đồn đại xưa cũ cáo buộc tội loạn luân, giết trẻ em và những chuyện ghê tởm tương tự khác được đồn thổi và điều tồi tệ hơn nữa là chúng được đám đông dân chúng tin là thật.

Giustinô, bị kéo vào trong đám đông điên cuồng, hẳn ông đã cảm thấy rằng cái chết đã gần kề. Nhà hộ giáo can trường còn được một vài lần nữa chứng kiến cuộc bách hại của anh chị em mình, lúc này nhận ra mình đang bị xô đẩy bởi đám đông dân ngoại. Liệu ông có run rẩy sợ hãi, liệu ông có bỏ cuộc hay không? Câu trả lời là: không! Con người này đã đạt tới chân lý trong gian khổ sẽ chẳng bao giờ từ bỏ điều mình đã đạt được, chẳng bao giờ từ bỏ đức tin kitô giáo cho dù là lửa thiêu hay gươm chém. Nói được là làm được, Giustinô xem mình không là gì hơn người tôi tớ của Thiên Chúa được ân huệ để làm cho Giáo hội của Đức Kitô được biết đến và được yêu mến. Lúc này ông nhận thức rằng chỉ có một điều duy nhất đáng kể - lòng trung thành với chân lý nơi Đức Giêsu Kitô. Trên hết mọi sự, Thiên Chúa, Đấng đã bồng ẵm ông trong bình minh cuộc đời sẽ tỏ lộ ơn cứu rỗi của Ngài trong thời thử thách. Rồi cũng tới ngày đẫm máu năm 166 vị triết gia kitô hữu này tỏ ra cho thấy là đã sẵn sàng đón nhận điều tồi tệ nhất. Giustinô đã bị bách hại cùng với các anh hùng Kitô khác – Chariton, Euelpistus từ Cappadocia, Hierax từ Iconium, Paeon, Liberianus, Valerianus và Caritina! Tất cả được điệu tới trước mặt tổng trấn Rôma, bị cáo buộc tội ác chống lại quốc gia, bị thúc ép từ bỏ đạo mới. Nhóm người can đảm này đứng vững cách kiên cường: “chúng tôi là các kitô hữu, hãy để cho ý Thiên Chúa được thực hiện…” bị dẫn tới nơi hành quyết, họ phó dâng linh hồn trong tay Đấng tạo thành nên mình. Tại sao, đối mặt với cái chết vì Danh Đức Kitô sẽ là một thành tựu của đời người, bằng chứng trung thành tới cùng của họ dấu chỉ chắc chắn nhất của chiến thắng vĩnh cửu. Vì thế chúng ta chia tay với Giustinô, vị tử đạo chân thực nhất, đang hân hoan trong Đức Chúa, mong ước được đóng ấn bằng máu của mình lời cam kết từ lâu với Thầy Chí Thánh của mình. Hẳn ông đã chết cách hân hoan như cách ông đã sống, vì Người Samaritanô nhân hậu, Đấng đã gặp thấy ông cách đây không quá lâu bị thương tổn cách thiêng liêng và nằm dở sống dở chết bên lề cuộc đời và lúc này đang đưa ông tới quán trọ riêng của Ngài.

Thời gian là trọng tài vĩ đại trong việc cho thấy Thiên Chúa quan phòng luôn chăm sóc Giáo hội. Vì thế chẳng thành vấn đề việc các thánh nhân của Thiên Chúa bị chống đối bởi tổ chức chính trị quyền lực nhất mà thế giới đã từng thấy; ít nữa, việc họ phải đối đầu với hàng ngũ đông đảo nhất các vua chúa được biết tới trong lịch sử cổ đại hay hiện đại. Thật vậy mỗi cuộc tử đạo kitô giáo giữ vai trò như một nam châm thiên giới lôi kéo nhiều người ngoài vào hàng ngũ các tín hữu. Marcus Aurelius, như các bạo chúa trước đây nhận thấy các mục tiêu ngoại giáo tinh ranh của mình đã ra vô ích, chính ông đã đàn áp bằng mọi kế hoạch độc ác nhất của ông. Dưới thời của Commodius, người con trai tồi tệ của vị triết gia khắc kỷ, chắc rằng đã có một cuộc bách hại dữ dội mới nhưng thật rõ ràng Pax Romana (Hòa bình Rôma) sẽ chẳng bao giờ đạt được bằng những phương pháp như thế. Đối với Giáo hội, vươn dậy như một người khổng lồ trẻ trung sau mỗi lần té ngã, lớn mạnh hơn qua từng năm tháng. Đức Giáo Hoàng Eleutherius (174-189) dự định mở rộng đức tin tới miền Anh Quốc xa xôi, và các thừa sai mang Tin mừng tới tận Ba Tư, Media, Parthia và Bactria. Còn tuyệt vời hơn nữa là việc lớn dậy một cách mau chóng của đạo mới là cách thức các kitô hữu gắn bó với ý tưởng thấm đượm Tin mừng trong tương quan với thế giới, một lý tưởng được phác họa rõ nét trong “Bức Thư gửi Diognetus” nổi tiếng (Thư gởi Diognetus, ch. 5-6). Hãy tìm hiểu đoạn văn độc đáo sau đây xem bạn có thể thấy đức tin mạnh mẽ của họ, lòng trung thành với Giáo hội của họ, chuẩn mực thiêng liêng cao cả của họ hay không. Tác giả là người sống vào cuối thế kỷ thứ hai viết rằng:

“Các kitô hữu sống trong các thành thị quê hương của họ nhưng lại như khách lữ hành; họ chia sẻ mọi thứ như người công dân nhưng lại chịu đựng mọi sự như người ngoại bang; mọi quốc gia khác đối với họ đều là quê cha đất tổ và mọi tổ quốc đều là miền đất ngoại bang…họ sống trong thân xác nhưng không theo tính xác thịt, họ trải qua thời gian trên trần gian nhưng thực hành quyền công dân Nước Trời. Họ tuân thủ luật pháp hiện hành, và bằng đời sống cá nhân của mình, họ vượt lên trên luật pháp. Họ yêu thương hết thảy mọi người nhưng lại bị bách hại bởi tất cả mọi người, họ bị kết án ngay khi còn là vô danh; họ bị giết chết nhưng lại được phục sinh. Họ là các hành khất nhưng lại làm cho nhiều người nên giàu có. Họ thiếu thốn mọi sự nhưng lại giàu có trong mọi sự”.

Như thế chúng ta thấy các kitô hữu có được những đặc điểm riêng biệt, được liên kết bởi ràng buộc đức tin và mối dây yêu thương. Thầy Chí Thánh đã từng nói với họ: “các con là ánh sáng thế giới. Các con là muối cho trần gian”. Họ biết rõ những công việc nằm sẵn trong thế giới ngoại giáo, lời huấn dụ của Thánh Phaolô thật là thâm thúy:

“Vì, hỡi anh chị em, hãy xem ơn gọi của anh chị em thế nào: không có nhiều người khôn ngoan theo tính xác thịt cũng không có nhiều người mạnh mẽ, càng không có nhiều người cao sang đã được kêu gọi: nhưng Thiên Chúa đã chọn những điều ngu dại của thế giới mà Ngài hẳn đã làm cho những người khôn ngoan xấu hổ; và Thiên Chúa đã chọn những điều yếu đuối của thế gian và Ngài hẳn đã làm cho những điều mạnh mẽ phải xấu hổ” (1Cr 1,26-27).

Như thế đó, câu chuyện thật ngắn gọn về lòng nhân từ của Thiên Chúa và những tôi tớ trung tín của Ngài sống ở giữa những nguy hiểm gây thất đảm và những cuộc bách hại tàn khốc.

(Lm. Joseph A. Dunney, Lịch Sử Giáo Hội Dưới Ánh Sáng Các Vị Thánh, New York, The Macmillan Company, 1944)

 

CHIA SẺ BÀI VIẾT
TIN LIÊN QUAN

THÔNG BÁO

VĂN KIỆN GIÁO HỘI

LIÊN KẾT NHANH

Đại Chủng Viện Thánh Giuse Xuân Lộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Cổng Thông Tin Điện Tử Giáo Phận Xuân Lộc
Thánh Lễ Trực Tuyến
Vatican News
Bài Ca Mới
Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu
Tin Vui Xuân Lộc
Ban Văn Hoá. Gp Xuân Lộc
Youtube Gp. Xuân Lộc