CHUYÊN ĐỀ

Thánh Anthony và Thế Kỷ Thứ Ba

Hôm nay
95

Thánh Anthony, Vị Sáng Lập Lối Sống Đan Tu

Ánh Sáng và Bóng Tối

Bắc Phi trong thời kỳ này là khu vườn kín ẩn của Giáo Hội, được tưới gội bằng máu các Thánh Tử Đạo, và được tiền định để trổ sinh hoa trái sau thời gian dài gian lao của các Kitô hữu. Dọc theo miền duyên hải đang tăng trưởng của Bắc Phi, các thành phố lớn phát triển nhanh, được biết tới nhiều bởi các trường học rạng rỡ và các thư viện bề thế. Văn chương Kitô giáo Latin phát sinh từ những trung tâm này, cách đặc biệt ở Alexandria và Carthage, các giáo sư nổi tiếng ở đây tỏ ra là những tác giả lớn nhất của thời kỳ này. Có thể kể ra như Clement, một Giáo phụ, và người học trò thông thái nhưng lầm lạc của ông là Origen, [cùng với] Cyprian và Dionysius Cả, lan tỏa vinh quang đức tin của mình khắp Đế quốc. Những giám mục đầy tài năng, các giáo lý viên nhiệt tình tông đồ, những Kitô hữu dạn dĩ sống gương mẫu chân lý theo lời Thánh Phaolô: “Đối với họ lòng yêu mến Thiên Chúa làm cho tất cả mọi sự cùng hoạt động hướng tới điều thiện hảo, tới mức, theo Ý Ngài, mọi người được mời gọi nên thánh.”[1] Những Kitô hữu này thật tuyệt vời! Quả là một đặc ân khi được nghe biết về họ. Thật phấn khích được thấy Giáo Hội của Thiên Chúa tăng trưởng trong thánh thiện, từ chối thỏa hiệp với sai lầm hoặc chủ nghĩa đế quốc. Rất xác thực, nhưng còn mặt khác của bức tranh, cho thấy những đường nét cứng cỏi của lạc giáo, những bóng đen của việc bách hại. Bằng việc loan truyền rộng khắp các lạc giáo của họ, Plotinus ở Ai cập và ở Rome, Montanus, con người cứng cỏi ở Phrygia, Novation ở Ý, đe dọa bình an và hiệp nhất của Giáo Hội. Vào đầu thế kỷ vị Hoàng Đế, Septimus Severus, phát động một cuộc thanh trừng gay gắt; ông sai các lão sư đi do thám tất cả các đối tượng, cấm chỉ tất cả các cuộc trở lại đạo, ban hành các sắc lệnh để tiêu diệt đạo mới. Ở Carthage hai người phụ nữ dịu dàng, Perpetua và Felicitas, thể hiện một tinh thần chứng tá quả cảm đến mức mẫu gương của họ được tiếp nối bởi rất nhiều vị anh hùng dọc dài những năm sau đó. Thánh Cyprian viết: “Không thiếu những vị đồng trinh trong số người này. Và ở giữa những cậu bé có một nhân đức lớn hơn độ tuổi của họ, vượt trổi hơn tuổi của họ là vinh quang cuộc tuyên xưng đức tin của họ.”

Băng qua Biển Lớn, Đế quốc bị thúc đẩy bởi đám đông dường như hoàn toàn điên loạn và tàn sát là lệnh truyền của thời này. Các Hoàng Đế [xuất thân từ] Trại Lính cai trị theo ý muốn hay lý lẽ của quân đội, hầu hết các ông nổi lên từ xứ Gaul, Tây Ban Nha, Anh quốc, Syria, thậm chí từ Ba Tư. Và trong khi một số tỏ ra có tầm nhìn cao rộng, phần nhiều xuất thân từ giới bình dân và những phương cách ngoại quốc cho thấy tính hung ác và thiếu hiểu biết. Đứng đầu trong số này là Caracella, người chọn chiếc áo khoác theo kiểu xứ Gaul hơn là áo bào “toga” kiểu Roma, chống đối Giáo Hội cách cay nghiệt. Sáu năm sau, Heliogabalus người Syria (218-222) vươn lên ngôi vị hoàng đế và, đáng nói là, đã tỏ ra thân thiện với người Kitô hữu, vì ông ta nhận thức được sức mạnh đức tin của họ. Vị “hoàng đế điên”, như người Roma gọi ông, đã được kế vị bởi Alexander vào năm 222, một thủ lãnh tuyệt vời đạo hạnh tới mức đặt Ảnh Chúa Giêsu vào giữa những tượng thần trong nhà ông. Không bao lâu sau, vị hoàng đế kế tiếp, Maximinus Thracian (235-238), ngay khi chiếm quyền đã tiến hành cuộc đàn áp tàn bạo chống lại những thần dân Kitô hữu của ông, chỉ đem lại cho lãnh thổ xáo trộn và đổ máu. Gordian (238-244) ưu đãi các đồ đệ Đức Kitô, như người kế vị ông, Philip người Ả rập (244-249) đã làm. Bên cạnh việc không có gì được biết tới về cuộc trở lại sau này, dù ông đã được gọi là vị hoàng đế Kitô giáo đầu tiên; tuy nhiên, điều chắc chắn là ông đã chiếm quyền và cũng bị cướp mất quyền bính bằng bạo động.


Thời Trẻ của vị Ẩn Sĩ

Nửa thế kỷ loạn lạc đã qua khi Anthony ở Ai Cập được sinh ra tại Coma, ở Fayum. Cha mẹ ngài, những kitô hữu giàu có dòng dõi quý tộc, kiêu hãnh “hơn cả vàng bạc và hồng ngọc” là di sản kitô giáo của họ và vui hưởng thời vàng son của Giáo Hội Châu Phi. Năm thánh Anthony sinh ra, năm 250, thật đáng ghi nhớ như là khoảng thời gian Rôma ngoại giáo thực hiện cố gắng cuối cùng chống lại quyền lực Chúa Kitô. Còn là một cậu nhỏ, Anthony đi học tại một trường Kitô giáo nơi dạy văn phạm, hùng biện và lý luận. Tuy nhiên, những môn học này ít hấp dẫn đối với cậu hơn so với những điều mang tính luân lý và thiêng liêng, vì thế thay vì tìm học những gì được gọi là giáo dục tự do, cậu hướng mình tới con đường cao hơn. Như vậy ngay từ đầu chàng trai trẻ đã chọn lựa “con đường khó khăn hơn”, hướng tới việc hiểu chính mình và tự chế. Kết quả là cậu đã trở nên người trưởng thành trong tính từ bỏ bản thân nơi những thói quen của mình, hoàn toàn chu tất các bổn phận với cha mẹ, dấn thân sâu xa trong đời sống tôn giáo thánh thiện. Việc tham dự Thánh Lễ, đọc Kinh Thánh và Kinh Thần Vụ đưa cậu mỗi ngày đến gần Chúa Kitô hơn và cậu uốn mình cách mạnh mẽ như Người Thầy yêu dấu của mình, trong sự khôn ngoan và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và người ta. Đồng thời, người thanh niên này có thể chỉ được nghe về những tội ác dân ngoại trong thế giới hỗn loạn bên ngoài.[2] Chính Châu Phi, được cậu nhận thức, thực như là Đế quốc thu nhỏ, hiện ra như ngược lại với bối cảnh các cuộc bách hại. Kề cận với quê hương Ai Cập của ngài, Cyprian, vị giám mục thánh thiện của Carthage, và Dionysius, vị giám mục cao cả của Alexandria, đối đầu với những quan chức sát máu của Hoàng Đế. Những vận động viên này của Chúa Kitô đã trở nên niềm vinh dự và vinh quang cho Giáo Hội Châu Phi; những lá thư mục vụ sống động của các ngài được đọc vang khắp mọi miền đất nước, cho biết đàn chiên của các ngài đã bị tản mác, bị xé nát vì đòn roi, một số bị ném vào tù ngục ghê tởm, một số khác bị kết án khổ sai trong những hầm mỏ tăm tối ra sao. Tổng trấn Paternus đã nói với Cyprian: “Các vị Hoàng đế rất thánh Valerius và Gallianus đã hạ cố viết cho tôi ra lệnh rằng những ai không theo tôn giáo Rôma, ít nhất cũng cần phải nhìn nhận các nghi lễ Rôma.” Với Dionysius, vị tổng trấn Aemiliean công bố: “Ngươi sẽ bị đày đi miền Libyan… ngươi sẽ không được phép tổ chức các buổi họp mặt hoặc đi tới những nơi ngươi gọi là các nghĩa trang.” Thật tuyệt vời, cả hai vị giám mục, gốc dân ngoại, giữ vững đức tin và tiếp tục chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa cho tới cuối cuộc hành trình vẫn giữ được lòng trung thành. Cyprian giành được triều thiên tử đạo năm 258 dười thời Valerian. Dionysius hai lần bị đi đày và được gọi về năm 261 bởi cùng một vị hoàng đế và qua đời ba năm sau đó.

Anthony không chịu đựng được việc nhìn thấy thế giới Rôma thật sự cần phải thay đổi trí lòng, cần đến ơn cứu rỗi biết bao. Tất cả đức liêm chính cổ xưa, tất cả những nhân đức cổ truyền, cách riêng lòng đạo đức, đã tan biến trong cuộc trỗi dậy của các lối sống xác thịt và giết chóc của con người. Người phương Đông lan tràn khắp nơi. Người Dothái sinh sôi đầy dẫy dù cho có những cuộc tàn sát. Những man dân gốc Đức tràn ngập khắp các tỉnh thành. Rôma, chắc chắn, đang trên bờ vực tan vỡ; không có gì cứu vớt đế quốc ngoài đạo Chúa Kitô. Khi mọi chuyện dường như trở nên tồi tệ nhất Thiên Chúa thúc đẩy Anthony chuẩn bị chính mình cho cuộc mạo hiểm rộng lớn. Công trình cả đời ngài có lẽ là đặt nền móng cho lối sống đan tu và làm cho Giáo hội có thể văn minh hóa và Kitô hóa Đế quốc đang suy sụp. Lúc này, ở Ai Cập đang có những con người thánh thiện, các vị ẩn sĩ sinh sống trong khu vực gần Coma mà một số trong đó thường được Anthony thăm viếng. Con người trẻ tuổi này, bị cuốn hút bởi đời sống thanh thoát của họ, âm thầm ao ước được chia sẻ những thực hành khổ hạnh của họ, trí nguyện và việc hãm mình nhiệm nhặt của họ. Và rồi ngay khi tâm trí Anthony hoàn toàn hướng tới việc bắt chước họ bằng việc bước vào phụng sự Thiên Chúa cách âm thầm, việc cha mẹ ngài qua đời đã làm cho ngài trở nên đơn độc với một cô em gái duy nhất. Tuy giầu có và trẻ trung, ngài tìm cách từ bỏ hết những của thừa kế kếch xù của mình và dõi bước theo dấu chân Đấng Cứu chuộc rất đáng yêu mến của mình. Nhắm tới việc chuẩn bị mình cho đời sống tu trì, ngài tìm sống trong cô tịch hơn để có thể theo đuổi việc chiêm niệm và bỏ mình hoàn toàn cho đời sống thiêng liêng. Một ngày kia, trong khi tham dự Thánh lễ, Anthony đang chăm chú lắng nghe Tin Mừng – “Nếu ngươi muốn nên hoàn hảo, hãy đi và bán tất cả những gì ngươi đang có.” Những lời bay bổng xuyên thấu trái tim ngài, cắm ngập ở đó như một mũi tên. Sáu tháng sau, bán hết tài sản của mình, ngài sắp đặt để cho em gái mình được cung cấp đầy đủ rồi phân phát hết số vàng bạc còn lại cho người nghèo.


Bén rễ trong sa mạc

Cuối cùng ngài được tự do để đi theo tiếng thúc giục thánh thiêng đã từ lâu điều khiển tâm hồn thao thức của ngài. Không xa khỏi Coma là một hầm mộ cũ ngài đã chiếm cứ và bắt đầu thực hành đời sống khổ hạnh tại đó. Ngài đã không dung tha thân xác ngài một chút nào nhưng lao động bằng đôi tay, tâm tưởng đến lời Thánh Phaolô: “Nếu ai không làm, thì đừng có ăn.”[3] Những bí quyết cầu nguyện bừng lên trong tâm hồn ngài từng chút một, những nẻo đường ẩn khuất mở ra hướng về tính thánh thiện, vì thế ngài như đang sống trong một vương quốc hạnh phúc hơi khác lạ. Một cách cần mẫn, từng viên gạch một, người trẻ này xây đắp nền tảng vững chắc cho tâm hồn mình, và khi ngày ngày trôi qua ngài trưởng thành trong tầm vóc thiêng liêng. Vị thánh này đơn giản chỉ là một con người mà nơi người tính thánh thiện cá nhân biến đổi nên một nhân cách phản chiếu hiện hữu sáng ngời của Chúa chúng ta. Ngài chuyển đổi tâm điểm chú ý từ “bản ngã” của mình hướng tới Thiên Chúa, và nhờ ân sủng chỉ tìm kiếm trở nên giống Chúa Kitô, mặc lấy Đấng được yêu mến. Từ thời kỳ Anthony đi vào sa mạc, không sớm hơn, ngài đã sống như thế, không tìm ý muốn riêng của bản thân, chỉ tìm ý Chúa, và tìm trong mọi sự; động cơ thúc đẩy nội tâm của ân sủng thực hiện phần còn lại, duy trì ngài bằng sức mạnh tới mức hiền hậu và hy sinh không biết mỏi mệt là điều ngài tỏ lộ ra cho những đồ đệ của ngài. Vì thế, không có gì phải ngạc nhiên khi trong làng các bạn hữu của ngài thấy nơi Anthony chuẩn mực về “phong cách tinh luyện, tính dịu hiền, chịu đựng dẻo dai, kiên trì trong cầu nguyện, các buổi canh thức, các cuộc chay tịnh dài”. Nhưng điều đánh động họ nhất là lòng sùng mộ cá nhân cháy bỏng của ngài đối với Chúa Kitô và tình yêu tha nhân không mỏi mệt.

Anthony, “người được Thiên Chúa yêu thương”, thực thi những nỗ lực như thế trong đời sống cao vượt mà tâm hồn ngài chịu đựng vì cuộc phiêu lưu thiêng liêng xa mãi. Trong năm 285, ngài ra đi đến một nơi ở mới nơi bởi thiên định ngài sẽ sống suốt quãng đời dài còn lại. Điều lạ kỳ là vào tuổi ba mươi lăm con người thánh thiện này nên từ bỏ thế giới Rôma băng hoại về luân lý nhưng Anthony đã là như thế theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Băng qua sống Nile, ngài đã một mình trốn đi vào trong sa mạc, tiếp tục cuộc hành trình cho tới khi đến được ngọn núi, Der el Memun, gần bờ Đông dòng Sông Lớn. Ở đó ngài gặp được một đồn binh bị bỏ hoang đầy dẫy rắn, ngài chiếm lấy và sống bằng bánh mì trong sáu tháng. Có một cái giếng trong khu trại, vì thế Anthony giam mình trong đồn lũy nơi ngài sống trong hai mươi năm, không bao giờ gặp mặt một ai. Những người bạn cũ tìm kiếm ngài, cũng như trước kia, lo lắng làm sao để gặp được vị ẩn tu là người mà họ vẫn yêu mến như người anh em. Mặc dầu họ ở lại bên ngoài nơi mờ tối nhiều ngày đêm và chưa bao giờ liếc thấy ngài, nhưng họ nghe được những tiếng động và tiếng tranh luận và họ e ngại cho sinh mạng của người bạn ẩn tu. “Ngài quan tâm đến họ hơn là những thần dữ, và rồi bước tới gần ngay cửa, ngài chào tiễn họ đi và vấn an họ đừng sợ; ngài nói: “vì quỷ dữ tạo ra tất cả những động tác giả này để dọa kẻ nhút nhát. Anh em, hãy tự xem và ra về trong yên tâm, và hãy để chúng bày trò cho chính chúng.”

Sa mạc trổ hoa

Trong tất cả những ngày ở sa mạc, khi Anthony thắt lưng để thực hiện công cuộc lớn lao của mình, đế quốc vui hưởng thời kỳ tương đối hòa bình, có lẽ đây là thời kỳ hòa bình giả hiệu vì đã quá mệt mỏi. Valerian, kẻ đàn áp, gây chiến với người Batư, đã bị bắt bỏ tù vào năm 260, trong khi người con trai ông là Gallienus chiếm ngai báu và truyền ra những lệnh ngưng lại các cuộc bách hại. Sắc chỉ của ông, đối đãi với các giám mục như những thống đốc của Giáo Hội, tạo nên một khoảng thời gian ngắn yên ổn tiếp tục cho đến hết thế kỷ. Thời kỳ ngắn ngủi này được Giáo hội tận dụng rất tốt trở nên như một thời kỳ gieo trồng đức tin tiêu biểu. Lúc này Đấng Gieo Hạt Cao Cả ban cho Anthony hạt giống tốt để gieo trong những năm thinh lặng này, việc ngài đã thực hiện bằng cầu nguyện, chay tịnh và chiêm niệm. Sau hai thập kỷ hoàn toàn cô tịch ngài xuất hiện để đối diện với đám đông, và gặp được họ đang thực hành cầu nguyện và từ bỏ bản thân theo gương mẫu của vị ẩn sĩ ẩn khuất. Anthony khôngs tỏ ra thư giãn nhưng chào đón họ và thúc giục họ tích trữ kho báu Nước Trời cho dù những cám dỗ của thế gian. Họ nài xin con người thánh thiện này làm người hướng dẫn họ trong đời sống thiêng liêng và như thế bắt đầu khu vực sinh sống của những vị ẩn tu trong sa mạc Châu Phi. Và kìa! Hạt giống được gieo trong nước mắt bắt đầu nảy nở và đâm chồi. Giống như bình minh của vườn địa đàng, và lời tiên tri Isaia đến rồi đi:

Sẽ có niềm vui trong hoang địa và sa mạc…

Như hoa thủy tiên, niềm vui sẽ bừng lên

Và hãy hân hoan, thật lớn lao! Và reo vui trong chiến thắng

Những ai sẽ nhìn thấy vinh quang Đức Chúa.

Ánh huy hoàng của Đức Chúa[4]

Thời gian trôi qua ngày càng nhiều người đến từ miền núi xa xôi, những người lạ từ mọi nơi, những người đến tỏ bày tâm hồn và giao hòa với Thiên Chúa. Đối với từng người và hết mọi người Anthony hết lòng cảm thông; ngài an ủi những ai đang sầu khổ, giao hòa những kẻ thù, khuyên bảo họ hãy kiên tâm và sống theo Ý Chúa. Ngài không chỉ chữa lành những người bị áp bức; nhiều lần bằng một dấu thánh giá ngài giải thoát người bị quyền lực quỷ dữ xâm chiếm! Ngài giải thích: “Tại sao anh em ngạc nhiên về điều này? Chẳng phải chúng ta đã thực hiện điều đó, nhưng Chúa Kitô mới là người thực hiện thông qua những người tin vào Ngài.” Khi lời đồn về những điều kỳ diệu này lan ra thế giới bên ngoài, những triết gia ngoại giáo, tò mò và hoài nghi, lên đường đi tới khu cư trú nổi tiếng trong sa mạc. Hãy tưởng tượng sự ngạc nhiên của họ khi nhìn thấy số đông người đang sống với nhau trong yêu thương và phục vụ, tụ họp với nhau để cầu nguyện hoặc hát thánh thi ca ngợi. Nhiều người trí thức, nói về Anthony như là “con người cổ kính,” cười nhạo việc vị ẩn sĩ không biết gì về văn học Latin và Hy Lạp và bằng một thái độ kiêu ngạo tìm cách gài bẫy ngài, nhưng khi họ phải tranh luận, vị ẩn sĩ giầu ân sủng không biết tiếng Hy Lạp và chỉ nói tiếng Coptic dễ dàng bẻ gẫy họ. Đàng khác, những người tìm kiếm chân lý ngay lành nhận ra nơi ngài một con người không xảo trá, có trí khôn ngoan của một nhà tiên tri và tầm nhìn của một thiên thần. Anthony khuyên nhủ họ: “Các bạn cũng tin và sẽ thấy rằng đạo của chúng tôi không hệ tại nơi một số lý lẽ khoa học nhưng hệ tại nơi đức tin, một đức tin hoạt động nhờ Lời Đức Giêsu Kitô; nếu các bạn đạt được đức tin này, các bạn cũng sẽ không còn tìm cách phô bày những điều rút ra từ các lý luận, nhưng các bạn sẽ coi đức tin vào Chúa Kitô là đầy đủ rồi.”


Các Anh Hùng của Đức Kitô

Vậy thì con người có phúc độc đáo này là ai vậy? Vị ẩn sĩ cao niên này có dáng vẻ ra sao? A! Anthony, luôn là con người cao thượng của Thiên Chúa, đã trổi vượt cách diệu kỳ trong khôn ngoan và thánh thiện. Chân dung thiêng liêng của ngài mang dáng vẻ một vị thánh Ai Cập luôn ở cùng Thiên Chúa và nói năng lưu loát về đời sống nội tâm và về những nhân đức của ngài. Athanasius, bạn của ngài viết: “Ngài vẫn là một con người như họ đã biết trước khi ngài đi vào tĩnh tâm, ăn mặc không tươm tất như đang tập thể thao, cũng không mang tính cách cau có như đặc trưng của người đang chay tịnh hay đang đối đầu với những kẻ gian ác. Tâm trí ngài cũng an tĩnh, không hẹp hòi vì sầu buồn, cũng không thoải mái vì buông thả, vui thú quá độ hoặc sầu buồn vu vơ. Đức Chúa ban cho ngài ơn ngôn ngữ… trong lúc ngài nói chuyện với dân chúng và khuyên răn họ hãy nhớ đến hạnh phúc mai sau và lòng nhân hậu đầy yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng ta trong việc không tiếc người Con Một của Ngài nhưng trao phó Ngài cho tất cả chúng ta, ngài đã thuyết phục nhiều người chọn đời sống đan tu.” Bấy giờ điều kỳ diệu là công cuộc Thánh Anthony cho các linh hồn tiến triển hết năm này qua năm khác cho đến trọn một thế kỷ. Những người đồng thời với ngài đã phản ứng rất sâu sắc đối với lời nói và gương sống của ngài đến nỗi rất nhiều người đã từ bỏ làng quê của họ và đời sống phố thị, thậm chí những trang trại và những nhà cửa để vội vã gia nhậpcùng vị thánh. Chẳng bao lâu họ trở thành những vị tu sĩ theo đẳng cấp ẩn sĩ và theo đuổi đời sống chết đi cho bản thân để đạt được quyền công dân Nước Trời, hết đan viện này đến đan viện khác xuất hiện trong các vùng hoang mạc. Và những cư dân ở đó, đã từ bỏ tất cả vì Đức Kitô, tìm được niềm vui lớn lao trong việc phụng sự Thiên Chúa cách âm thầm và cảm nghiệm một niềm bình an nội tâm vượt trên mọi hiểu biết.

Anthony có thể đã mơ ước rất nhỏ bé, ngay cả trước đó một phần tư thế kỷ, về sự quan phòng Thiên Chúa đã dành cho những môn đệ trung tín của Ngài.  Kìa! Một cảnh trí thiên giới đang dần tỏ hiện trong những giờ đen tối nhất của Giáo Hội Châu Phi. Nếp sống đan tu đang lặng lẽ bén rễ tại Ai Cập; những con người theo khuôn mẫu nghiêm ngặt đón nhận đời sống tử đạo dần dần giống hệt Chúa Kitô và, trong việc bắt chước Thầy mình, đền tội thay cho người khác. Những người này, không phải các tâm hồn tạm được, cũng không phải những bức tượng thạch cao, nhưng là những con người đáng yêu và giầu lòng yêu thương, thánh thiện, khiêm tốn và anh hùng. Tại thượng nguồn sông Nile một môn đệ của Anthony là Pacomius đang huấn luyện những con người như thế hình thành nên một cộng đoàn và soạn thảo luật đan tu đầu tiên. Việc học hỏi về bộ luật đó và trình độ của những người tuân theo luật đó, số đông đảo các thanh niên thuộc các gia đình quý tộc từ bỏ những khu phố chợ đông đảo; chỉ tìm cho được nhận vào các đan viện Châu Phi để được dấn thân vào những hoạt động nguyện cầu và tự chế. Những chỗ ở của họ trong sa mạc, nằm giữa những mộ phần, cát đá và bụi gai trở nên nơi nuôi dưỡng những tác vụ thiêng liêng, vườn ươm cho việc phát triển trong tình yêu Chúa Kitô. Vâng, những nam tu sĩ này là những người, cùng với các giám mục và các thánh tử đạo cao cả, đã gieo trồng đức tin mỗi ngày một sâu xa hơn trong miền đất khô cằn, công cuộc của các ngài sẽ triệt để khắc phục lại tác hại của quyền lực sự dữ. Vượt qua mọi hoài nghi, họ là người phòng vệ tiêu biểu, người hỗ trợ và bảo vệ Giáo Hội Thiên Chúa. Cuộc sống của các ngài giống như những đóa hoa thương khó bừng nở trong miền cát sa mạc, những đức tính của các ngài lôi kéo hàng trăm người bước theo con đường của những lời khuyên [Phúc Âm] và dấn thân vào sứ vụ Kitô giáo ở khắp nơi. Bắc Phi, quả thực, đã trở nên Khu Vườn của Giáo Hội! có lẽ là một khu vườn rào kín, nhưng là khu vườn điểm xuyến với những khu ẩn tu, nơi tỏa ngát hương thơm thiên giới.


Kẻ nội thù

Trong suốt nhiều năm trong vòng năm mươi năm làm nên bước ngoặt lịch sử này, 250-300, “Các Vua trần gian đứng lên và các vương công họp lại với nhau, chống lại đức Chúa và chống lại Đức Kitô của ngài.” Nếu các cuộc bách hại trong thế kỷ thứ nhất và thứ hai có vẻ tàn khốc, thì ít nhất chúng cũng chỉ từng thời kỳ, nhưng vào thời này chúng trở nên có hệ thống cách dữ dội. Decius (249-251), cư xử như ác quỷ, khởi xướng một kế hoạch được hình thành cách quỷ quyệt để hủy diệt Giáo Hội; ông đã giết nhiều Kitô hữu trong mọi miền của đế quốc thậm chí tận nơi Anh quốc xa xôi. Cũng uổng sức người kế vị tàn ác ngang ông, Gallus, truyền lệnh cho các tín hữu dâng tế thần linh ngoại giáo, bắt họ chịu trách nhiệm về những hạn hán, đói kém và dịch bệnh đang càn quét khắp đế quốc. Valerian (253-260), nhận thức được những thất bại trước đây, áp dụng một phương thức xảo quyệt để tấn công Kitô giới như một bang hội, sắc chỉ của ông chỉ bị xóa bỏ bởi con của ông, Gallienus, 260-268, người đưa các giám mục trở về từ các nơi lưu đầy và giành cho các kitô hữu thái độ khoan dung. Trong khi tính tàn bạo của các Hoàng đế không thể thành công trong việc lay chuyển Giáo hội, tình trạng suy đồi của con dân của chính Giáo Hội làm đau lòng Mẹ Thánh cách xót xa. Đấng Sáng Lập chí thánh của Giáo Hội đã nói: “kẻ thù của con người không phải ai khác nhưng là chính người nhà mình,” đây là lời tiên tri vẫn thường diễn ra trong lịch sử Giáo hội. Hết lần này đến lần khác Giáo hội đã chịu thương tích và bị cản trở trong công cuộc thánh thiêng của mình bởi chính những con người tội lỗi đang ở trong cộng đoàn Giáo Hội. Và rồi liệu chúng ta có cần phải ngạc nhiên bởi các khủng hoảng trong thế kỷ thứ ba khi tình đoàn kết trong Giáo Hội bị thương tổn bởi chính những kẻ thù bên trong, đúng như chính hiện hữu của Giáo hội bị đe dọa bởi thế giới ngoại giáo bên ngoài? Không, chúng ta không cần, vì chúng ta biết rằng bởi việc ngự trị bên trong của Thần khí Chúa Kitô, Giáo hội đã tỏ ra vững như bàn thạch, không thể bị hủy diệt. Luôn trung thành với giáo huấn thánh thiêng, Giáo hội duy trì những nguyên tắc của mình và loại trừ khỏi đoàn chiên ngay cả những người cuồng nhiệt bất thường là những người vẫn tự cho mình là đồ đệ Chúa Kitô.

Ở Châu Phi, nơi đầy tính bi kịch của riêng lục địa này, bạn có thể thấy Giáo Hội bị thử thách cách đau đớn bởi lạc giáo và ly khai. Mối hiểm họa cho đức tin gia tăng khi Kitô giới đón nhận không chỉ những người nghèo và thất học mà còn đủ mọi thành phần xã hội. Vào đầu thế kỷ việc phát triển nhanh chóng của nền học vấn Kitô giáo ở Alexandria đã mang lại những tầng lớp có giáo dục, ở giữa họ, này đây, có nhiều người trèo cao đáng thương và những người phục vụ lâu dài kiêu hãnh. Những người này không phải chịu khổ như cha ông họ về đức tin cũng như việc hưởng mối quan hệ hạnh phúc hiện tại giữa Giáo Hội và nhà cầm quyền cũng không làm gia tăng lòng nhiệt thành của họ chút nào. Các Kitô hữu nửa vời, họ thiếu lòng can đảm để chịu liều mình vì đạo, hơn nữa họ còn chọn đi theo những con đường buông thả và đồng hành cùng các thầy dạy lạc giáo. Khi lệnh trừng phạt được ban ra tất cả những kẻ khả nghi bị truy diệt và dâng cúng công khai hoặc khác nữa – có nhiều người hết sức hèn nhát đã từ bỏ đạo Chúa Kitô của mình để cứu lấy mạng sống. “Các giấy chứng nhận dâng cúng thần linh,” được trao ban cho những người chối đạo như thế được tìm thấy trong số những cuộn giấy phát hiện gần đây tại Ai Cập.[5] Chính Anthony hẳn phải cảm nhận được tác động của những kẻ thù này, vì ngài sống nhiều năm vào thế kỷ kế tiếp, qua đời vào tuổi một trăm năm mươi.

Chúng ta hãy liếc nhìn lại để xác định cách nhìn của chúng ta về thế kỷ thứ ba. Cảnh huống của những biến cố đã qua vừa bao quát vừa đầy kịch tính. Cuộc bách hại gay gắt xảy đến rồi qua đi, qua đi nhưng tái lại, tuy nhiên Giáo Hội đứng trụ vững vàng và mạnh mẽ. Những giáo phụ cao cả xuất hiện nhiều; cao trọng hơn vẫn là các vị tử đạo, những vị hiến mạng sống mình vì Đức Kitô. Bạn thấy Giáo Hội là một tổ chức thiêng thánh, Công Giáo, mang tính hoàn vũ, vượt trên các hệ thống tỉnh thành hay đế quốc. Tuy nhiên, Giáo hội vẫn là đồ đệ khiêm tốn của Chúa Giêsu, dấn thân cách tích cực vào cuộc phiêu lưu thiêng thánh của mình; cao vượt trên thế gian, Giáo Hội trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, nhưng luôn luôn tuyên xưng lòng trung thành cao xa hơn một cách vô hạn định rằng Hội Thánh thuộc về Thiên Chúa mà thôi. Hơn bao giờ hết, Hội Thánh ý thức về những con chiên và những con dê trong đồng cỏ của mình và chắc chắn về những con thuộc hàng ngũ mình và những con ở bên ngoài đàn chiên đích thực. Khi tình hiệp nhất Công Giáo tăng trưởng nhanh chóng, kỷ luật Kitô giáo cũng tăng cao, và các giáo phận được tổ chức chặt chẽ nhóm nhau lại quanh những tòa cấp tỉnh miền. Carthage đã trở nên trung tâm của Châu Phi, Numidia và Maurentania; Alexandria đối với Ai Cập và Cyrenaica; và tất cả hướng về Rôma nơi Đức Giáo Hoàng điều hành nhân danh Chúa Kitô. Trong những nơi xa xôi hạt giống Tin Mừng, đã chôn vùi từ lâu trong lòng đất tối, đang nảy mầm nhanh chóng, trổ bông vươn ra ngoài những khu vườn tu viện, phát tán những hạt giống mới về mọi hướng. Các nhà thờ có thể gặp được ở khắp nơi, được các Kitô hữu dựng lên là những người thể hiện được một “esprit de corps” to lớn. Và khi các giáo hội, cũng giống như các cư dân ẩn tu trong vùng Thebaid, gia tăng con số cách lạ lùng, những ngôi nhà đầy quyền năng này của Nước Trời phân phát sức sống được Chúa Kitô hằng sống trao ban khắp mọi miền đế quốc Rôma. Nhưng cuộc chiến chống sự dữ vẫn còn lâu lắm mới đạt được thắng lợi. Công cuộc chính yếu, trong niềm tin vào Thiên Chúa, vẫn còn đó cho các vị Giáo Hoàng và các tu sĩ. Tuy nhiên điều kỳ diệu của nếp sống đan tu, những anh hùng đức tin kiên cường về mặt thiêng liêng sẽ thách thức tất cả mọi lực lượng dân ngoại và bảo đảm cách chung kết một thế giới can đảm hơn và tốt đẹp hơn.


(Lm. Joseph A. Dunney, Lịch Sử Giáo Hội dưới ánh sáng các Vị Thánh, New York, The Macmillan Company, 1944)



[1] Rm 8, 28

[2] Theo lời Cyprian: “senuisse jam mundus” – Thế giới bị rách nát.

[3] 2Tx 3, 10

[4] Is 25, 1-2

[5] Oxyrhyncus Papyri, Tập IX, tr. 49

CHIA SẺ BÀI VIẾT

HÌNH ẢNH

Photo-0
TIN LIÊN QUAN

THÔNG BÁO

VĂN KIỆN GIÁO HỘI

LIÊN KẾT NHANH

Đại Chủng Viện Thánh Giuse Xuân Lộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Cổng Thông Tin Điện Tử Giáo Phận Xuân Lộc
Thánh Lễ Trực Tuyến
Vatican News
Bài Ca Mới
Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu
Tin Vui Xuân Lộc
Ban Văn Hoá. Gp Xuân Lộc
Youtube Gp. Xuân Lộc