Tâm Tình Mục Tử tháng 2 năm 2026 : ‘Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Đá mòn nhưng dạ vẫn còn… giấc mơ…’

Quý cha và quý Tu sĩ thân mến,
Ngày 20 tháng này, thứ sáu, sẽ là lễ Tro, ngày lễ đưa Dân Thánh vào mùa Chay Thánh. Cha Trưởng ban Phụng vụ, trong Lịch Phụng vụ Giáo phận, trích lời Viện phụ Prosper Guéranger: ‘Thời gian Phụng vụ là thời gian thánh, ở đó, Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử để biến đổi thời gian của chúng ta thành con đường cứu độ’.
Bước vào mùa Chay Thánh, chúng ta chạm đến một thực tại nền tảng của tín hữu, nhất là những tín hữu tự nguyện sống đời dâng hiến, lòng trung tín:
‘Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Đá mòn nhưng dạ vẫn còn… giấc mơ…’
Một
Thi nhân tiền chiến Lưu Trọng Lư[1] đưa ta vào cảnh mộng ‘con nai vàng ngơ ngác trong rừng thu…’ Những câu chuyện dù chuyện mộng, tình bao giờ cũng thực. Trong rừng thu, có ‘tiếng thu’, có ‘tấm tình’ ẩn sau màn mây mờ… có ‘nỗi đau thường quá’ phải không, thường như hầu hết những nỗi đau thành thực của loài người… Và mối tình chan chứa trong bài thơ bắt ta phải bồi hồi:
‘Em không nghe mùa thu,
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực,
Hình ảnh kẻ chinh phu,
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác,
Đạp trên lá vàng khô’.
Văn học nước ta còn lưu giữ sự tích ‘Hòn Vọng Phu’[2], một cô phụ ôm con trông chờ kẻ chinh phu… đến hóa thành pho tượng đá:
‘Lệnh Vua hành quân trống vang dồn, quan với quân lên đường…
Người đi ngoài vạn lý quan san, người đứng chờ trong bóng cô đơn…
Người không rời khỏi kiếp gian nan, người biến thành tượng đá ôm con…’
Người vọng phu bất kể gió mưa, bế con đã ‘hoài công’ đứng chờ, người chồng đi đã bao năm chưa thấy về… Đám cỏ cây, như người còn trẻ thơ, bây giờ đã thành rừng cổ thụ già… Rừng núi non sông cố khuyên nàng trở về, bước chân nàng trải thời gian đã in mòn trên núi đá… trở về đi chớ để xuân tàn… Hình hài người bế con nước mắt chảy chan hòa thấm vào đến tận tâm hồn đứa con… Người mẹ bế con cố đợi nghìn năm… và một nghìn năm khác đã qua… đến khi núi lở xuống mòn…
‘Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Đá mòn nhưng dạ vẫn còn… giấc mơ…’
Bao mối thương vang động trong lòng… ‘Hòn Vọng Phu’…
Hai
Mọi tín hữu, nhất là những tín hữu tự nguyện sống đời thánh hiến, đặc biệt các linh mục cần khám phá giá trị then chốt của sự trung tín. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm các sắc lệnh Công đồng Vaticanô II: ‘Đào tạo ứng sinh Linh mục’ (Optatam Totius) và ‘Chức vụ và đời sống Linh mục’ (Presbyterorum Ordinis), Đức Thánh Cha Lêô XIV công bố tông thư mang tên: ‘Sự trung tín tạo nên tương lai’, được ký ngày 8/12/2025.
Giáo hội đang đối diện các lạm dụng của một số ít giáo sĩ và hiện tượng những người sau vài năm hoặc thậm chí vài chục năm, rời bỏ thừa tác vụ Thánh. Thực tại đau lòng này không nên chỉ đặt dưới góc độ pháp lý, nhưng hướng chúng ta nhìn cuộc đời những anh em ấy và những nguyên nhân dẫn họ đến quyết định đó cách cẩn trọng và khoan dung. Nhãn quan thích hợp nhất và trên hết là mối quan tâm làm mới lại việc đào tạo, đưa vào hành trình tăng trưởng trong sự thân mật với Chúa, bao hàm toàn bộ con người, con tim, trí tuệ và tự do, để uốn nắn người ấy theo hình ảnh của Mục tử nhân lành. Không đặc điểm nào nơi tính cách độc đáo của cá nhân anh em bị loại bỏ nhưng mọi đặc điểm được đón nhận và được biến đổi, giống như hạt lúa mì trong Tin Mừng, tích hợp các chiều kích nhân bản và thiêng liêng cách hiệu quả.
Sự trung tín tạo nên tương lai là điều mà các linh mục được mời gọi ngày nay. Việc trân trọng giá trị của sự bền bỉ trong sứ vụ tông đồ đưa ta vào căn tính của Giáo hội là dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp nhất cho mọi dân tộc. Giáo hội ý thức cần canh tân trong sự trung thành và thích nghi. Việc canh tân toàn thể Giáo hội mong đợi tùy thuộc phần lớn vào thừa tác vụ linh mục vốn được sinh động nhờ Thánh Thần của Đức Kitô.
Sự trung tín vừa là ân ban của Thiên Chúa vừa là hành trình hoán cải liên lỉ. Mọi ơn gọi trong Giáo hội đều khởi đi từ sự gặp gỡ cá vị với Đức Kitô, một sự gặp gỡ đem đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định. Sự trung tín với ơn gọi, đặc biệt trong những lúc thử thách và cám dỗ, được củng cố khi chúng ta không quên tiếng gọi ấy, khi chúng ta ghi nhớ hết lòng tiếng gọi của Chúa là Đấng yêu thương, tuyển chọn… và khi chúng ta phó thác chính mình cho sự đồng hành của những người có kinh nghiệm… ta đạt sự hiệp nhất nội tâm và trung tín với Chúa Giêsu Kitô.
Sự trung tín của tình hiệp thông giữa linh mục và tín hữu. ‘Mặc dù các linh mục của Giao ước mới, nhờ Bí tích Truyền chức, thi hành chức năng cao cả và bản chất của người Cha và người Thầy nơi dân Chúa và thay mặt cho dân, nhưng các linh mục vẫn là môn đệ của Chúa cùng với mọi tín hữu và đã được tham dự vào Nước Chúa, Đấng đã kêu gọi họ bằng ân sủng của Người. Các linh mục, cùng với tất cả những người được tái sinh trong Phép Rửa, là anh em giữa các anh chị em như những chi thể của cùng một Thân Thể Chúa Kitô, mà tất cả được truyền lệnh phải xây nên’ (PO. 9).
Sự trung tín của tình huynh đệ giữa các linh mục qua Bí tích Rửa tội và Truyền chức đưa họ vượt thắng chủ nghĩa cá nhân: ‘Tất cả các linh mục được phong phú nhờ Bí tích Truyền chức, được liên kết với nhau bằng một tình huynh đệ Bí tích mật thiết. Nhưng theo một cách thức đặc biệt, họ tạo nên linh mục đoàn trong Giáo phận mà họ thuộc về, dưới quyền Giám mục của mình…’ (PO. 8). Công đồng khi nói về linh mục hầu như luôn ở số nhiều vì không có linh mục nào tồn tại một mình. Do đó, tình huynh đệ linh mục không chỉ như một ý tưởng hay khẩu hiệu nhưng là yếu tố cấu thành căn tính của thừa tác viên. Thánh Inhaxiô Antiokia, trong thư gởi tín hữu Ephêsô: ‘Anh em cùng sống với nhau trong sự hòa hợp với tinh thần của Giám mục là điều phải lẽ, giống như anh em thực sự đang làm. Linh mục đoàn chỉ xứng đáng với tên gọi và với Chúa khi hòa điệu với Giám mục như dây với cây đàn…’
Sự trung tín và hiệp hành, đây là một điểm đặc biệt ‘gần gũi với con tim tôi’ (Đức Lêô XIV). Khi nói về căn tính của linh mục, sắc lệnh Presbyterorum Ordinis nhấn mạnh mối liên kết giữa chức linh mục và sứ vụ của Chúa Kitô, sau đó chỉ ra ba chiều kích nền tảng: tương quan với Giám mục như những người trợ giúp và cố vấn; thứ đến là sự hiệp thông bí tích và tình huynh đệ với các linh mục khác để thi hành một tác vụ linh mục duy nhất hướng về một mục tiêu; sau cùng là mối quan hệ với giáo dân, nhận ân sủng kinh nghiệm và năng lực của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động con người.
Thách đố của hiệp hành không loại bỏ sự khác biệt nhưng trân trọng chúng. Cần vượt bỏ khuôn mẫu lãnh đạo độc quyền để thực hiện sự hiệp hành, vốn là hoa trái của của các đặc sủng đa dạng của Chúa Thánh Thần: ‘Sự đồng hình của linh mục với Đức Kitô là đầu, nghĩa là nguồn mạch chính yếu của ân sủng, không hàm ý một sự tôn vinh đặt linh mục lên trên những người khác’ (EG 104).
Sự trung tín và sứ vụ. Một phương diện của căn tính linh mục là ‘hiện hữu cho người khác’, là hiện hữu cho ‘sứ vụ’: Đức Thánh Cha Phanxicô, dịp lễ Truyền Dầu 2014 diễn giải: ‘Hãy ra đi khỏi chính mình, hãy ra đi tìm kiếm Thiên Chúa trong việc thờ phượng, hãy ra đi và trao ban cho dân của bạn điều đã được ủy thác cho bạn vì chính dân của bạn sẽ làm cho bạn cảm nghiệm và nếm trải bạn là ai… Nếu bạn không ‘ra đi’ khỏi chính mình, dầu Thánh trở nên bốc mùi và việc xức dầu sẽ không còn sinh hoa trái’.
Thánh Gioan - Phaolô II đã dạy: ‘Trong Giáo hội và nhân danh Giáo hội, các linh mục là đại diện mang tính bí tích của Chúa Giêsu Kitô, thủ lãnh và mục tử, công bố Lời Người với thẩm quyền, lặp lại các hành vi tha thứ và trao ban ơn cứu độ của Người, đặc biệt trong bí tích Rửa tội, Hòa giải và Thánh Thể, và biểu lộ sự quan tâm yêu thương của Người đến mức hiến trao trọn vẹn bản thân vì đoàn chiên, nhằm quy tụ họ trong sự hiệp nhất và dẫn đưa họ đến với Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần’ (Pastores Dabo Vobis 15).
Hai cám dỗ làm suy yếu sự trung tín: Cám đỗ thứ nhất là não trạng duy hiệu quả, theo đó giá trị của mỗi người được đo bằng số lượng hoạt động và dự án được hoàn thành. Theo lối nghĩ này, ‘điều bạn làm được’ đến trước ‘điều bạn là’ và đảo lộn trật tự đích thực của căn tính thiêng liêng. Cám dỗ thứ hai biểu lộ một thứ duy an phận. Bị sợ hãi trước hoàn cảnh đối diện, chúng ta thu mình lại, dung túng thái độ lười biếng bi quan và từ chối thách đố loan truyền Tin Mừng.
Thánh Gioan – Phaolô II truyền lại kinh nghiệm: Đức ái mục tử là nguyên lý hiệp nhất và sinh động đời sống linh mục. Đó là sự hài hòa giữa chiêm niệm và hoạt động nhờ đặt chiều kích Vượt Qua vào trung tâm sứ vụ, biết di chuyển sang bên cạnh để Chúa Kitô có thể ở lại, biết làm cho mình nhỏ bé để Chúa Kitô được nhận biết và tôn vinh, biết hiến mình đến cùng để mọi người có cơ hội nhận biết và yêu mến Chúa…’
Sự trung tín làm sáng tỏ ‘Chức linh mục là tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu’ (T. Gioan M. Vianney).
Ba
Tâm tình mục tử khởi đầu nghiền ngẫm cái đẹp, cái thiện trong phẩm hạnh thủy chung hôn nhân như một trải nghiệm ‘bước khởi đầu’ để bước tiếp vào phẩm hạnh đưa tới ‘cái hậu’ của một đời dâng hiến trong ơn được thánh hiến: Sự trung tín. Nhưng ngần ấy vẫn còn thiếu, chúng ta còn phải bước tiếp theo vào ‘cõi bao la’ của tấm tình Thiên Chúa yêu loài người, bất chấp ‘lý lịch’, bất chấp ‘người’ là ai, bất chấp ‘người’ thế nào…
Ta ca ngợi ‘Tình trăm năm, tình muôn thuở’. Cô phụ thủy chung ôm con chờ chinh phu…
Ta ca ngợi ‘Tình trung tín, yêu là ‘thuộc về’ tất cả và trọn đời’. Bậc sống đời thánh hiến…
Lại còn đây tấm tình tín trung dành cho cả kẻ phản bội… Muôn ngàn đời, Đức Chúa vẫn trọn tình thương…
Tiên tri Hôsê quê ở vương quốc phía Bắc, đương thời với tiên tri Amos. Quê hương rơi vào giai đoạn đen tối. Bên ngoài giặc xâm lăng, bên trong tôn giáo suy thoái và luân lý sa đọa. Tiên tri Hôsê làm chứng… bằng cả cuộc đời: Dù người vợ yêu quý đã bỏ đi, đã ngoại tình nhưng tiên tri vẫn một mực yêu thương và đã tha thứ nhận nàng trở về… Kinh nghiệm bi thương này soi sáng cách thức Thiên Chúa yêu thương dân Người. Israel đã được Đức Chúa cưới lấy, nhưng Israel đã ăn ở như người vợ bất trung ‘như màn sương sớm tan’ (6:4), như một con điếm: ‘cuộc rượu tàn, chúng lại bê tha đĩ điếm’ (4:18), nhưng Đức Chúa vẫn thương mến, Người sửa trị để đưa Israel về lại với Người và ban lại niềm vui ban đầu ‘Ta dụ dỗ nó, đem nó vào sa mạc, và kề lòng, Ta nói khó với nó…’ (2:14).
Thật cảm kích tấm tình Đức Chúa trong tâm thức Tiên tri Ezechiel, diễn tả bằng bút pháp ẩn dụ lịch sử… Israel như một ‘dâm phụ’… Tông tích Israel đáng thương. Sinh ra không ai cắt rốn, không ai tắm sạch… muối không xát, tã không bọc… không ai rớm mắt… gọi là có chút thương tình trên ngươi, ngươi đã bị quăng ngoài đồng, mạng ngươi không ai đếm xỉa. Bấy giờ Ta ngang qua bên ngươi và thấy ngươi bê bết trong máu me và Ta đã nói với ‘ngươi đầy những máu me’: Hãy sống. Hãy nảy nở như chồi mọc trong đồng. Và ngươi đã nẩy nở… nhưng ngươi vẫn tô hô trần truồng… Ta đã xòa vạt áo trên ngươi mà che đi cái trần truồng của ngươi… Ta lấy dầu mà xức cho người, mặc cho ngươi áo thêu sặc sỡ, xỏ cho ngươi giày da mềm, chít cho ngươi khăn trúc bâu, phủ trên ngươi hàng mịn… Ta đã lấy đồ trang sức trau dồi ngươi, ban xuyến đeo tay, kiềng đao cổ, kim hoàn xỏ mũi, khuyên vàng đeo tai và triều thiên đội đầu… Ngươi đã nổi danh trong các dân tộc, vì sắc đẹp, sắc đẹp tuyệt trần nhờ bởi huy hoàng Ta chiếu trên ngươi… Vậy mà, hỡi ôi… ngươi cậy có sắc đẹp, và ỷ vào danh tiếng mà sinh đàng điếm, trút thói đĩ thõa trên mọi kẻ đi đàng và đèo queo lấy nó…’
Nhưng Sấm của Đức Chúa: ‘Ta sẽ nhớ Giao ước Ta đã kết với ngươi vào những ngày thơ bé của ngươi: Ta sẽ giữ vững cho ngươi Giao ước muôn đời. Ta sẽ giữ vững Giao ước của Ta với ngươi, và ngươi sẽ biết Ta là Đức Chúa… khi Ta ân xá cho ngươi tất cả những gì ngươi đã từng làm, sấm của Đức Chúa’.
Quả thật, Tình yêu Thiên Chúa không bờ, không đáy: ‘Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở’ (Jer 31:3), muôn thuở ‘về trước’ và muôn thuở ‘về sau’ nghĩa là ‘vượt thời gian’, là ‘đời đời’… Và nồng độ tình yêu: ‘Mẹ nào lại quên con đẻ của mình, cạn lòng thương đối với con dạ nó đã cưu mang? Cho dù chúng quên được nữa, thì phần Ta, Ta sẽ không hề quên ngươi’ (Is 49:15).
Bốn
‘Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Đá mòn nhưng dạ vẫn còn… giấc mơ…’
‘Đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri. Vào thời sau hết, tức là những ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con…’ (Hr 1:1.2). ‘Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến đỗi đã ban Người Con Một…’ (Ga 3:16), ‘Lời đã thành xác phàm’. ‘Lời là Thiên Chúa’, ‘là sự sống’, ‘là sự sáng’, ‘lưu trú nơi chúng ta’, là sự sung mãn’, tràn đầy ơn nghĩa và sự thật’… ‘Thiên Chúa không ai thấy bao giờ, Con Một, Đấng ở nơi cung lòng Cha, chính Ngài đã thông tri’ …(x Ga 1:1-18).
Từng bước chân dong duổi, từng mỗi lần gặp gỡ những mảnh đời, từng dấu lạ biểu lộ uy lực Thiên Chúa cứu chữa, trước niềm vui nhân thế, trước nỗi đau và cái chết… cho đến ‘Trước lễ Vượt qua, Đức Giêsu biết rằng đã đến giờ Ngài qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha, đã mến yêu các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian, thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng…’ (Ga 13:1).
Tình yêu Giêsu vĩ đại lại ẩn ngụ nơi những mối quan tâm ‘nho nhỏ’, ‘nhỏ’ nhưng lại ‘rất to’... Thầy gọi ‘Hãy theo Thầy’ nên Thầy đi trước trong mọi sự… ‘Nếu Ta là Thầy, là Chúa, mà đã rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương ngõ hầu như Thầy đã làm cho các con thế nào, các con cũng làm như vậy’ (Ga 13:14.15)…
‘Khi giờ đã đến, thì Ngài đã lên giường tiệc làm một với các tông đồ và Ngài nói cùng họ: ‘Thầy ước ao khao khát ăn lễ Vượt qua này với các con trước khi Thầy chịu khổ nạn’… ‘Cầm lấy chén rượu, Ngài tạ ơn và nói: ‘Các con hãy cầm lấy chén này mà chia với nhau… Đoạn cầm lấy bánh và tạ ơn, Ngài bẻ ra và ban cho họ mà rằng: ‘Này là Mình Thầy phải thí ban vì các con…’
Thánh Phaolô nhận thức một ân huệ cao trọng mà Người xưng ra đầu tiên giữa các danh hiệu khi ngỏ lời chào giáo đoàn Rôma: ‘Phaolô, nô lệ của Đức Kitô Giêsu, được kêu gọi làm Tông đồ, được tách riêng để giảng Tin Mừng của Thiên Chúa’. Phaolô ngưỡng mộ ‘Bậc Thầy - Nô lệ’ trong phong cách ‘kenosis’ hủy mình ‘ra không’ để biểu lộ tình yêu cứu độ của Chúa Cha:
‘Ngài phận là phận của một vì Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa. Song Ngài đã hủy mình ra không, là lĩnh lấy thân phận nô lệ, trở thành giống hẳn người ta… Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá! Bởi vậy Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài! Và ban cho Ngài Danh hiệu vượt quá mọi danh hiệu, hầu trước Danh hiệu của Đức Giêsu, mọi gối đều phải quỳ xuống bái lạy, chốn hoằng thiên, trên địa cầu, dưới gầm đất, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng: Giêsu Kitô là Chúa mà làm vinh quang cho Thiên Chúa Cha’... Giêsu Kitô phục sinh vinh hiển…
Loài người mọi thời mọi nơi…con người dù ‘lún sâu tha hóa’ tới đâu chăng nữa, vẫn luôn kịp thời còn niềm hy vọng: ‘Quả thật, Thầy bảo anh: hôm nay anh sẽ ở trên Thiên đàng làm một với Thầy’ (Lc 23:43)… Thiên Chúa yêu con người bất chấp ‘lý lịch’, bất chấp ‘người’ là ai, bất chấp ‘người’ thế nào…
Anh chị em rất thân mến,
‘Đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri. Vào thời sau hết, tức là những ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con…’ (Hr 1:1.2)… Và còn mãi thiết tha trải dài trong lịch sử, nơi Giáo hội, Người ngỏ lời ân ái…‘cor ad cor’ (lòng kề bên lòng)…, như ánh sáng dịu êm ‘kind light…’ (T. John Henri Newman 1801 – 1890, được tuyên Thánh năm 2019)… soi từng bậc từng bước cuộc đời tín hữu hành hương…
Chúng ta xin ơn biết ‘động lòng’ trước nỗi ‘trắc ẩn’ của ‘Người’… mà thường xuyên ‘trở về biển hồ Galilê’ để nghe lại và đáp lời Thầy hỏi môn đệ Phêrô ‘Con có thương mến Thầy không?…’
‘Sự trung tín tạo nên tương lai’… (ĐTC Lêô XIV)
‘Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Đá mòn nhưng dạ vẫn còn… giấc mơ…’
† Gioan Đỗ Văn Ngân
Giám mục hiệp hành với anh chị em










