Tâm Tình Mục Tử tháng 10 năm 2026: Linh mục xây dựng giáo xứ bằng tác vụ Tư Tế
Tâm Tình Mục Tử tháng 10 năm 2026
Linh mục xây dựng giáo xứ bằng tác vụ Tư Tế

Quý Cha và Quý Tu sĩ thân mến,
Tâm tư ‘Nhân loại’ in đậm khát mong vươn lên bên trên thân phận ‘người’ và cõi đời nhiễu nhương. Vẫn thế đó vang lên tự ‘cổ thời’ và sẽ còn mãi ‘chí kim’ nội hàm của chữ ‘Độ’. Độ là vượt qua, là cứu giúp, là từ bờ này con sông sang bờ bên kia, là cứu rỗi.
Bí tích Truyền chức biến đổi tầm vóc ‘hữu thể’ ứng viên nên linh mục, trong tác vụ, có chức năng ‘tư tế’. Ta quen hiểu một linh mục với chức năng tư tế là thánh hóa con người. Tuy nhiên liệu ta đã nắm bắt ý nghĩa ‘thánh hóa’ là thế nào và tới mức nào không…? Là đi vào cả một mầu nhiệm vượt tầm… và vốn là thực tại Thiên Chúa thực hiện bền bỉ suốt dòng thời gian, cho đến vĩnh cửu…
Một
Đã trở thành ‘câu thơ chung nhân loại’, câu thơ của thi hào Nguyễn Du, như dấu ấn muôn đời:
‘Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng’…
Ai ‘trông thấy’, ai ‘đau đớn’ giữa bao kẻ như sỏi đá ‘vô cảm’…
Ký ức lịch sử nhân loại, phước thay, còn lưu giữ những hiền nhân, khi thiên hạ càng ‘điên đảo’, lại càng đau đáu tấm lòng đớn đau thương người… lập thuyết cứu đời.
Kitô hữu Việt Nam từ lâu chung sống bên anh em Phật tử. Có thể ta từng quen lời Đức Phật nói về một ‘vị’ duy nhất trong giáo pháp: ‘Cũng như nước trong biển chỉ có một vị là vị mặn, giáo pháp của Ta chỉ có một vị là vị giải thoát’… về cốt lõi giáo huấn hoằng pháp suốt đời: ‘Xưa nay Ta chỉ dạy có một điều, là khổ và con đường diệt khổ’… về sự tự lập trên đường tu tập: ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy tự nương tựa chính mình, đừng nương tựa vào ai khác’.
… Nỗ lực qua sông mê, vượt bể khổ… buông bỏ thân phận ‘người’: ‘sắc, sắc – không, không’ (có, có – không, không), có đó mà lại không đó vì chỉ là giả hợp ‘ngũ uẩn’, chỉ là duyên khởi, trong biện chứng ‘phi hữu, phi không – diệc hữu, diệc không’ (chẳng phải có, chẳng phải không/ cũng có, cũng không) (x. Thầy Mã Minh, Đại Thừa Khởi Tín Luận), hoặc ‘bất sinh diệc bất diệt/ bất thường diệc bất đoạn/ bất nhất diệc bất dị/ bất lai diệc bất khứ’ (chẳng sinh cũng chẳng diệt/ chẳng thường cũng chẳng đoạn/ chẳng một cũng chẳng khác/ chẳng đến cũng chẳng đi) (x. Thầy Long Thọ, Trung Luận, phẩm Nhân Duyên, bài kệ 1). Tất cả đều ‘Không tánh’.
Thầy Thích Tuệ Sỹ (1945–2023) thế danh Phạm Văn Thương, sinh tại Lào và nguyên quán ở Quảng Bình. Thầy sống thanh cao và viên tịch vào ngày 24.11.2023, để lại như một di chúc:
‘Con chim ẩn sĩ qua vườn, Làm rơi chiếc bóng bên sườn nước trong
Hỡi ai lẳng lặng giữa dòng, Mà nghe nửa có nửa không bàng hoàng’.
Hai
Thiền Tông thời Lý – Trần cho thấy ba cửa đốn ngộ pháp ấn Vô thường, Vô ngã, Không tánh. Khi trước mắt và bên tai hiển lộ minh bạch lý duyên khởi, lý giả hợp ngũ uẩn, người tu tập tự nhiên không còn bận tâm chuyện Có với Không, chuyện Hữu với Vô, chuyện Sắc với Không. Cảm nghiệm Vô thường chảy xiết qua thân tâm mình thì đồng thời sẽ thấy Vô ngã, sẽ thấy không có cái ngã nào hết. Cái bất động tâm ‘Không tánh’ là nền của mọi pháp Vô thường Vô ngã. Giác ngộ tánh Không đó, ta trở thành biển mà không còn là sóng nữa.
Tổ Sư Ni Diệu Nhân truyền lại bài kệ:
Thị Tịch Kệ Dịch: Bài Kệ đọc lúc mất
Sinh, lão, bệnh, tử Sinh, già, bệnh, chết
Tự cổ thường nhiên Tự cổ xưa là lẽ thường
Dục cầu xuất ly Muốn cầu thoát khỏi
Giải phược thiêm triền Càng cởi trói thì càng buộc thêm
Mê chi cầu Phật Vì mê nên cầu Phật
Hoặc chi cầu Thiền Vì lầm nên cầu Thiền
Thiền Phật bất cầu Thiền Phật chẳng cầu
Đỗ khẩu vô nghiên Mím miệng ngồi lặng im
Với người cảm nghiệm trận gió vô thường đang chảy xiết qua thân tâm mình thì sẽ thấy không có cái ngã nào bị trói để phải cầu xin cởi trói. Nhìn thấy thường trực pháp ấn vô thường thì sẽ thấy rằng không có Phật nào để phải cầu, không có Thiền nào để phải tìm… Vì khi sống với cái hiện tiền, với cái ở đây và bây giờ, thì sẽ thấy tất cả những cái ngày hôm qua chết đi, cho dù đó là Phật hay Tổ. Do vậy thấy thường trực vô thường tức là thấy tịch diệt tướng hiện tiền, tức là thấy Niết Bàn.
Ba
Đã hiện hữu cho đời, và cho ngàn đời, một con đường cứu độkhiến loài người luôn luôn ngỡ ngàng, một nhiệm mầu nâng nhân tính vào thần tính, biến đổi cái ‘vô thường’ thành ‘thường hằng’, giải trừ cái chết bằng ‘phục sinh’ để hạnh phúc vô tận…
Một người, sinh năm 354, đã sống sâu đậm ‘hiện sinh’ hiện hữu của mình, đã từng phát biểu: ‘Fallo, ergo sum’ (Tôi sai lầm, nên tôi hiện hữu). Người ấy còn nhớ thời ấu thơ, thời trai trẻ, với những sai lầm ‘chết người’. Người ấy rơi vào những cuốn hút tình dục, đi tìm danh vọng, tìm ‘chân lý’. Người ấy tìm tới mọi học thuyết đương thời, chọn làm môn đồ của Manikê, một tôn giáo do Manus (+276) người Ba Tư lập ra, trong đó nối kết minh triết của nhiều tôn giáo cổ thời. Người ấy từng là giáo sư La ngữ tại Thagaste, Karthago và Rôma. Mãi đến năm 387, người ấy mới được nhận ‘hạt mầm Thánh’ (chữ của Isaia) sự sống đời đời nhờ Đức cha Ambrôsiô tại Milanô. Người ấy đã được ơn đổi đời, trong nhiều năm với những cuộc tĩnh tâm, đã trần tình với Chúa, đã đem tâm tình viết tiểu sử bản thân, nói như Poujoulet, thành một ‘bức tranh bất tử về tâm hồn con người’. Cuộc đời người ấy minh họa thế nào là ơn cứu độ trong Ba Ngôi Thiên Chúa, người ấy là Aurelius Augustinô.
Tác phẩm ‘bức tranh bất tử về tâm hồn con người’ ấy được tổng lược ngay nơi chương đầu với câu đầu tiên:
‘Lạy Chúa, Chúa thật cao cả, Ngài xứng muôn lời ca tụng, uy lực của Chúa vô biên, trí tuệ của Chúa khôn lường. Và con người là một phần tử nhỏ bé giữa những thụ tạo của Ngài, một thân phận bất lực trước sự chết, đầy tội lỗi và kiêu căng. Dù thế, thân phận này cũng muốn tán dương Ngài. Chính Chúa tác động, để con người vui sướng chúc tụng Ngài. Bởi chúng con được tạo dựng để hướng về Chúa, nên tâm hồn chúng con sẽ mãi khắc khoải, cho đến khi nó được nghỉ an trong Chúa (Fecisti nos ad te et inquietum est cor nostrum, donec requiescat in te).
Hiển lộ qua bức tranh này, một nhận thức hiện sinh về Đấng Tạo Thành tuyệt đối. Có một phần tử bé nhỏ đầy ‘lộn xộn’ khắc khoải… nhưng lại mang nỗi nhớ ‘khắc khoải’ rất ‘định mệnh’ vì ‘Fecisti nos ad te’. Một hiện hữu, theo B. Pascal mong manh, không cần cả một quả núi đè lên mới chết, nhưng, chỉ một ‘hạt nước’… nhận thức được xuất xứ của mình, nhận thức mình chịu bó tay trước tội lỗi và sự chết, nhưng biết nhớ nhung ‘nguồn cội’ đích thực của mình.
Bốn
Một đặc tính nổi bật nơi các tôn giáo là con người nỗ lực tìm Đấng Chí Tôn, trái lại, Đức Tin của Hội Thánh Công giáo đặt bước khởi đầu lòng tin của tín hữu nơi chính Thiên Chúa. Thiên Chúa tìm kiếm con người. ‘Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x. Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần. và được thông phần bản tính Thiên Chúa’ (MK 2).
Thiên Chúa đã đi bước trước phá vỡ sự thinh lặng, đã mở tấm màn của mầu nhiệm. Thiên Chúa làm nên lịch sử cứu độ, theo nghĩa bài giảng 169, giải thích ân sủng và tự do của Thánh A. Augustinô ‘Thiên Chúa dựng nên bạn không cần bạn nhưng không công chính hóa bạn được nếu bạn không cộng tác’ (Qui fecit te sine te, non justificat te sine te).
Thư Hipri 1, 1.2 trình bày thánh sử cứu độ với hai giai đoạn:
‘Đã lắm phen cùng nhiều cách, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri…’ Thiên Chúa ân cần trù liệu và chuẩn bị việc cứu độ toàn thể nhân loại theo một kế hoạch lạ lùng. Người đã tuyển chọn một dân tộc để ủy thác những lời ước hẹn. Ngày qua ngày Người phán dạy qua các tiên tri để họ nghiệm biết Người là Thiên Chúa duy nhất, chân thật và hằng sống, để đi theo Người và loan truyền cho các dân tộc…
‘Vào thời sau hết, tức là những ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con…’ Khi đến thời viên mãn, Ngôi Lời đầy tràn ân sủng và chân lý đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Người đã thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian. Người mạc khải Cha Người và chính Mình qua lời nói, việc làm và hoàn tất công trình khi Người chết, sống lại, lên trời và ban Chúa Thánh Thần cho Hội Thánh.
Năm
Ơn cứu độ không hệ tại chỉ ý thức (giác ngộ) về mình và căn tính thần linh của mình, dù được khôi phục bởi Đấng từ trên cao mà đến. Ơn cứu độ chính là sự can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử, mỗi cá nhân và toàn nhân loại, nhằm thiết lập tương quan mới ‘đối thoại’ với con người. Bước vào cuộc đối thoại này, con người vẫn trọn vẹn là mình trước Đấng là Thiên Chúa ngàn trùng siêu việt.
Đối với dân ‘xưa’, Thiên Chúa cứu, nghĩa là Thiên Chúa ‘nhìn’ thẳng vào đời người và môi trường con người sống. Thiên Chúa biết đau khi dân bị áp bức, bách hại, nô lệ. Người đi vào thân phận người, chữa lành những bệnh tật, những giới hạn, tội lỗi và ngay cả chết chóc. Hơn nữa, ơn cứu độ còn hướng về thực tại thiên linh dựa trên tình yêu không suy suyển của Thiên Chúa. Do đó vang lên những tiếng gọi cấp thiết hoán cải để trở về cùng Thiên Chúa. Những yếu tố thể chất, tinh thần và thiên linh của ơn cứu độ hội lại trong nhãn quan cánh chung của ‘Trời mới Đất mới’ cùng với thân xác kẻ chết sống lại (Dn 12; Is 26,19) nhờ đã được tái tạo với ‘trái tim và tinh thần mới’ (x. Jer; Ez). Thiên Chúa là Đấng cứu độ duy nhất. Không có Đấng cứu độ nào khác ngoài Thiên Chúa.
Để chăm sóc, và một nghĩa nào đó, để cứu dân, trong tình trạng ‘sau địa đàng’, Thiên Chúa đã sai đến những người đặc biệt. Chân dung Abraham nổi bật trung thành đi theo ‘tiếng gọi’, trong sự tin tưởng khẩn cầu lòng Chúa thương xót, tiêu biểu khẩn cầu cho Sôđôm. Môsê được chọn làm người trung gian giữa Đức Chúa và Israel, làm người cứu dân khỏi nô lệ và thiết lập lề luật đưa dân về đất hứa. Đavit là nhân vật nổi bật của lịch sử thánh. Dẫu nhiều bất toàn nhưng nơi nhà Vua, Thiên Chúa đã tiên báo Đấng Messiah (Đấng được xức dầu). Đặc biệt nhất chính là ‘Con Người’ nhiệm mầu của Đệ nhị Isaia: ‘Người Tôi Trung của Đức Chúa’. Người được tuyển chọn từ lòng mẹ, mang sứ vụ rất ‘tiên tri’: Tự hiến cứu chuộc muôn dân, đỡ nâng kẻ yếu nhược, mang vào thân nỗi đau nhân loại, chịu thương tích để nhân loại được chữa lành, dẫn đưa muôn dân về cùng Đức Chúa…Hình tượng ‘Người Tôi Trung’ hướng về Đấng của thời viên mãn, là Con của loài người, là ánh sáng và hy vọng của các tâm hồn, là ‘Đấng Messiah’ tư tế (Đấng được xức dầu), mở cửa thiên đàng mà Nguyên tổ đã khép lại, và dẫn vào lối cây sự sống (St 3,24).
Sáu
Có một ‘Người’, dong duổi đường dài, giữa nắng nôi, khát nước…, bên bờ giếng Giacop, chờ ‘nhân loại ‘đang khát’, ‘đi bước trước’chờ thiếu phụ Samari để khải đạo cho chị…:
‘Các ngươi thờ sự các ngươi không biết, còn chúng ta, chúng ta thờ sự chúng ta biết, vì ơn giải thoát khơi nguồn từ Do Thái’.
Trên bình diện lịch sử cũng như giáo lý, có một truyền thống liền mạch Cựu Ước và Tân Ước. Chúa Giêsu Kitô là Đấng nối kết, thực hiện tròn đầy những lời hứa ‘thuở xưa’ của Israel và qua Hội Thánh thấm nhuần Chúa Thánh Thần, đem hiệu quả sự sống mới từ thập giá và phục sinh cho nhân loại. Danh hiệu chỉ dành cho Thiên Chúa: ‘Thiên Chúa Đấng cứu độ con’ (Lc 1,47) bây giờ đặc biệt dành riêng cho Chúa Giêsu Kitô. Lịch sử cứu độ đang diễn ra ba thời kỳ trong mối liên hệ thiết yếu của một bản thể thực hữu: thời kỳ Chúa Cha, thời kỳ Chúa Kitô với Giáo hội phẩm trật và thời kỳ Chúa Thánh Thần.
Ơn cứu độ đến từ Chúa Giêsu Kitô biểu thị trước trong quyền năng chữa lành. Trong ơn chữa lành còn hàm ẩn ‘ơn cứu’, ‘tìm cứu sự đã hư đi’ (Lc 19,10). Hiệu quả cứu độ được hoàn thành trong cái chết trên thập giá: ‘Đấng Thiên Chúa đã bày ra trước mặt thiên hạ như phương xá tội, nhờ bởi lòng tin, trong máu Ngài’ (Rm 3,25), ‘Trong Ngài ta được cứu chuộc, nhờ máu Ngài’ (Ep 1, 7), hiệp làm một với cuộc phục sinh của Ngài (x. 1Co 15, 17). Chúa Giêsu Kitô đón lấy cái chết để cứu chúng ta. Cái chết này thiết yếu là lòng yêu thương vừa của Chúa Giêsu Kitô ‘, Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và phó nộp mình vì tôi’ (Gal 2, 20), vừa của Thiên Chúa ‘Nếu Thiên Chúa phò ta, ai sẽ chống lại được ta?’ (Rm 8, 31).
Thiên Chúa không trực tiếp muốn cái chết của Con, nhưng muốn Chúa con tận tâm với con người cứng lòng, những người nhân danh lề luật kết án Chúa. Chúa Kitô đáp trả bạo lực và dối trá bằng tình yêu như chiên chịu hiến tế. Người đã biến đổi sự dữ thành điều lành.
Phụng vụ thánh và giáo huấn tông truyền nhấn mạnh cái chết của Chúa là một hy tế. Thư gởi tín hữu Do Thái diễn giải tác vụ tư tế và ‘Máu Chúa Kitô’, Người tiến mình làm hi sinh vô tì tích dâng lên Thiên Chúa (x. Dt 9,14). Tội ác xét như cái ác, chẳng có giá trị cứu độ và cái chết xét như là cái chết chẳng chút nào là đối tượng của ý định Thiên Chúa (Sesboué). Thánh Athanase dạy
‘Ngôi Lời mang vào mình trong hy tế những gì thuộc chúng ta và qua đó giải trừ những gì của chúng ta để mặc cho chúng ta những gì thuộc về Người’ và ‘Thiên Chúa làm người để chúng ta được ‘làm thành’ Chúa’ (‘Dieu s’est lui-même fait homme, pour que nous soyons faits Dieu’)
Thiên Chúa, trong Đức Kitô chịu hiến tế làm ‘Chiên vượt qua mới’,
‘Thiên Chúa giàu lòng thương xót, bởi lòng yêu mến lớn lao Người đã yêu mến ta, Người đã cho chúng ta, những kẻ đã chết bởi sa ngã phạm tội, được cùng hồi sinh với Đức Kitô, chính bởi ân huệ mà anh em đã được cứu, và được cùng sống lại…trong Đức Kitô Giêsu’ (Ep 2, 4-6). ‘Tiên vàn mọi sự, tôi đã truyền lại cho anh em, điều mà chính tôi cũng đã chịu lấy là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi ta, theo lời Kinh Thánh, là Ngài đã bị chôn cất, là Ngài đã sống lại, ngày thứ ba, theo lời Kinh Thánh, là Ngài đã hiện ra cho Kepha, đoạn cho nhóm mười hai. Rồi Ngài hiện ra cho năm trăm anh em một lần, trong số đó phần đông đến nay vẫn còn sống…Cuối hết Người đã hiện ra cho cả tôi nữa’ (1Cor 15,3-8).
Bảy
Hiệu quả cứu độ đến các tâm hồn nhờ việc họ đón nhận ‘Tin Mừng’, đón nhận ‘Lời giảng Thập giá’. Tin Mừng là ‘quyền năng của Thiên Chúa’, ‘Tôi không hổ thẹn rao giảng Tin Mừng, vì đó là quyền năng của Thiên Chúa để cứu thoát mọi kẻ tin’ (Rm 1,16). Tin Mừng mang lại niềm vui, bình an, sự sống, sự giải thoát, sự cứu chuộc, được nên thụ tạo mới trong Đức Kitô.
Hiệu quả cứu độ đến các tâm hồn còn nhờ việc các tâm hồn đón nhận các nhiệm tích. Chúa Giêsu Kitô phục sinh đã ban Thánh Thần cho các tông đồ, nền móng của Hội Thánh và truyền dạy Hội Thánh lên đường rao giảng Tin Mừng và cử hành các nhiệm tích.
‘Các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần’ (Mt 28, 19). ‘Hãy đi khắp cả thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin cùng chịu thanh tẩy thì sẽ được cứu’ (Mc 16,15-16).
Giáo huấn tông truyền dạy sẽ không có ơn cứu độ trọn vẹn, trong Chúa Giêsu Kitô chết và sống lại, nếu không bao hàm toàn bộ căn tính thụ tạo của con người, là kẻ đã được tạo dựng không nguyên chỉ có hồn mà còn thân xác cùng mối tương quan với vũ trụ nữa. ‘Chính tạo thành cũng sẽ được tự do khỏi cảnh làm tôi mục nát’ (Rm 8,21). ‘Chiếu theo lời hứa của Người, ta ngóng đợi trời mới đất mới, nơi đức công chính sẽ lưu lại’ (2Pr 3,13).
Các tín hữu trong Hội Thánh đã được tái tạo vào ơn cứu độ, đã mang nơi hữu thể mình ‘cái hôm nay’của ơn cứu độ, và còn lớn lên trong ‘ơn cứu độ của hy vọng’ sẽ đến, ‘Mối hy vọng dành sẵn cho anh em trên trời’ (Col 1,5), ‘Ngóng đợi niềm hy vọng phúc lộc và cuộc hiển linh vinh quang của Thiên Chúa lớn lao và là Cứu Chúa của ta, Đức Giêsu Kitô’ (Tt 2,13).
Anh chị em thân mến,
Từ sớm tinh sương ‘ngày thứ nhất trong tuần’, từ bên ngôi mộ trống, từ bàn ăn chiều Emmaus, từ Giêrusalem, từ ven biển Tibêria…rộn rã vang lên Tin Mừng ‘Chúa đã sống lại thật’.
‘Tin Mừng có nghĩa là Thiên Chúa không còn im lặng, Thiên Chúa đã phán, Thiên Chúa hiện hữu. Chính sự kiện này tự nó đã là ơn cứu độ: Thiên Chúa biết chúng ta, Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ngài đã bước vào lịch sử: Chúa Giêsu là ‘Lời’, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thiên Chúa chỉ cho chúng ta biết Ngài yêu chúng ta. Ngài chịu đau khổ với chúng ta cho đến chết và sống lại. Đây là Tin Mừng. Thiên Chúa đã phán, Ngài không còn là Đấng Cao Cả không ai biết, nhưng đã tỏ mình ra và đó là ơn cứu độ’ (ĐTC Bênêđictô XVI).
Tháng 9 vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV thăm nước Pháp, trở về Rôma với ấn tượng sâu đậm trong lòng, được chính Ngài diễn tả trong một từ: ‘Tái sinh’. Nước Pháp nay đã được tái sinh. Đi từ sự kiện Nhà Thờ Đức Bà Paris bị hỏa hoạn vừa được tái phục như ban đầu, từ sự kiện những năm qua ngày càng tăng số những người trưởng thành xin nhận bí tích Thánh Tẩy…và dân chúng đông đảo vượt trên dự kiến trong các buổi nguyện cầu…Đức Thánh cha tâm sự Nước Pháp đã được tái sinh…
Mong sao hiệu quả cứu độ từ cái chết và sống lại của Con Một Thiên Chúa làm người thấm nhập hiện hữu và trọn cả hiện sinh của mỗi thế nhân, như đã từng là thực tại ‘nhiệm hiệp’ sống động nơi Thánh Phaolô, Thánh Gioan, và vô số những người thầm lặng…Trong ‘tâm lặng, tâm lắng’, ta trải nghiệm nội hàm giải đáp vấn nạn ‘Tại sao Thiên Chúa làm Người ?’ (Cur Deus Homo?) Tại sao ‘Bao lâu trần thế tồn tại, bấy lâu vấn đề ‘Cur Deus Homo’ vẫn luôn mang tính hiện sinh’ (V. Balthasar)…vì
‘Ngôi Lời mang vào mình trong hy tế những gì thuộc chúng ta và qua đó giải trừ những gì của chúng ta để mặc cho chúng ta những gì thuộc về Người’ và ‘Thiên Chúa làm người để chúng ta được ‘làm thành’ Chúa’ (‘Dieu s’est lui-même fait homme, pour que nous soyons faits Dieu’)
Tâm tình Đại lễ Cung Hiến Thánh Đường Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Núi Cúi, 14 tháng 10, mừng kỷ niệm 61 năm thành lập Giáo phận, đưa chúng ta đến cùng Mẹ. Chúng ta xin Mẹ dẫn dắt ta gặp gỡ và được diện đối diện, lòng kề bên lòng (cor ad cor), với tâm trạng ngất ngây ngỡ ngàng mãi ‘Cur Deus Homo ?’…..
† Gioan Đỗ Văn Ngân
Hiệp hành cùng anh chị em










