CHUYÊN ĐỀ

Sứ Điệp Phục Sinh

Hôm nay
97
Dù ngôn từ nhân loại có khéo léo đan dệt sâu sắc tới đâu cũng thật khó khăn để diễn tả cho phải cho thấu niềm vui Phục Sinh...

Sứ Điệp Phục Sinh

Cha Karl Rahner

Lts. Truyền thống các Tông đồ không ngừng xác tín Chúa Giêsu Kitô mang trọn thân phận con người vào mình, ‘Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá…’(1Pr 2: 24), để cứu tất cả…

Các Giáo Phụ tiếp lời, ‘Đức Kitô đã nhận lấy bản tính con người để có thể hy sinh chịu chết vì chúng ta…Khi chịu chết, Người ở dưới lề luật của âm phủ, nhưng khi trỗi dậy, Người đập tan chúng…’ (Thánh Lêô Cả, Kinh Sách, thứ Ba, Tuần V, Mùa Chay)

Giáo huấn Thánh Công đồng Vaticanô II: ‘Đức Giêsu là con người hoàn hảo đã đi vào lịch sử thế giới bằng cách đón nhận lấy lịch sử ấy và quy kết nó nơi Người’ (Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, Kinh Sách, thứ Bảy, Tuần IV, Mùa Chay)

Và cha Karl Rahner giúp chúng ta suy tư đến ngọn nguồn…hai chiều kích Thiên Chúa và mặt đất…góp phần soi sáng thế nào là ‘Sứ điệp Phục sinh’…

 

Dù ngôn từ nhân loại có khéo léo đan dệt sâu sắc tới đâu cũng thật khó khăn để diễn tả cho phải cho thấu niềm vui Phục Sinh. Không chỉ đơn giản vì các mầu nhiệm của Tin Mừng mang sẵn tầm vóc khó mà đi vào những giới hạn nhỏ hẹp của hữu thể người và còn khó khăn hơn nữa vì ngôn từ của chúng ta không thể mang nổi. Sứ điệp Phục Sinh là Tin Mừng thiết thân nhất cho con người mà Kitô giáo mang lại. Đó là lý do chúng ta gặp khó khăn để hiểu sứ điệp ấy. Khó khăn nhất là sống được cái hiện sinh, là làm được các sự việc và tin vào những thực tại chân thực nhất, thiết thân nhất và dễ dàng nhất. Chúng ta thuộc thế hệ hiện đại sống trong những định kiến đã ngấm ngầm hình thành và do đó hiển nhiên chúng ta cho rằng cái gì thuộc tôn giáo chỉ là vấn đề hết sức tư riêng trong lòng và ở tầm trí tuệ cao, chỉ là chuyện chúng ta phải sống cho riêng chúng ta, nên nó khó hiểu và là cái không thực, trước tư tưởng và những hình thái của con tim.

Tuy nhiên biến cố Phục Sinh nhủ bảo ta rằng Thiên Chúa đã thực hiện một số sự việc. Chính Thiên Chúa chứ không phải ai khác. Hành động của Người không phải chỉ đơn giản chạm đến một cách nhẹ nhàng con tim của một số người đây đó, làm con người rúng động trước Đấng không thể tả và không thể gọi tên. Thiên Chúa đã nâng Con mình lên khỏi cái chết. Thiên Chúa đã ‘gọi’ xác phàm trở nên sống động. Thiên Chúa đã chinh phục cái chết. Thiên Chúa đã thực hiện một số biến cố và khải hoàn trước những thực tại, không hề chỉ đơn giàn là vấn đề thuộc cảm nhận nội tâm nhưng, dù với biết bao ân huệ Thánh Thần, chúng ta vẫn thực sự là mình, trong cái thực của mặt đất, rất thực, cách biệt xa trước những nghĩ tưởng và cảm nhận thuần túy. Nơi mặt đất chúng ta học biết mình là ai, là con cái sẽ phải chết của mặt đất.

Chúng ta là con cái của mặt đất này. Có ngày sinh và ngày tử, thân thể và bụi đất, bánh ăn và rượu uống…cuộc sống là thế đó. Mặt đất là nhà ta ở. Đã hẳn, đối với mọi người, cuộc sống có phần như thế và có phần cao cả, thực tại tinh thần hòa trộn với nó giống như một yếu tính ngầm, một tinh thần tế nhị, mẫn cảm, biết nhận thức chăm chú vào thực tại vô biên, và linh hồn làm cho mọi sự sống động và rọi sáng. Tinh thần và linh hồn phải ở trong cái chúng ta là, trên mặt đất và nơi thân xác. Tinh thần và linh hồn phải ở trong ta như sự tỏa sáng vĩnh cửu của những hũu thể trên mặt đất, chứ không như kẻ đi đường chẳng được cảm thông, và chính mình như người xa lạ, lang thang từ xưa như bóng hình đi qua giai đoạn trần thế trong thời gian vắn vỏi. Chúng ta quả là con cái của mặt đất này, đang muốn ngày kia di cư vĩnh viễn khỏi mặt đất. Và mặc dù trời cao ban chính mình cho mặt đất để được bền vững, chính trời cao phải bước xuống và bao bọc mặt đất đầy dân cư như luồng sáng ban phúc lành và luồng sáng này bừng tỏa từ đáy cùng tăm tối của mặt đất.

Chúng ta được cột vào đây. Ta không thể trở nên bất tín vào mặt đất, ta không thể theo ý riêng độc đoán, không phù hợp thực tại là con cái của ‘mẹ đất’ khiêm tốn và nghiêm chỉnh, vì chúng ta buộc phải là cái chúng ta là. Chúng ta trăn trở trước nỗi buồn sầu sâu thẳm phải chết nằm ở gốc gác của bản chất thuộc về mặt đất của chúng ta. Chính ‘mẹ - đất’ vĩ đại của chúng ta cũng trăn trở. Mặt đất than thở trong tình trạng chuyển tiếp của mình. Những lễ hội tưng bừng nhất của ‘mẹ - đất’ bỗng dưng giống như khúc dạo đầu của nghi thức tang chế, và khi ta nghe ‘mẹ - đất’ cất tiếng cười, chúng ta rùng mình vì trong chốc lát, tiếng cười sẽ hòa trộn nước mắt. Mặt đất cưu mang những người con phải chết, những người con quá yếu đuối để có thể sống mãi và lại có quá nhiều tinh thần để không thể hoàn toàn từ chối niềm hân hoan vĩnh cửu. Không giống muông thú trên mặt đất, con người nhận thức được cái cùng tận trước khi nó tới, và không thể được cảm thông mà miễn trừ kinh nghiệm ý thức cái tận cùng đó.

Mặt đất cưu mang những người con mà trái tim biết mở rộng vô hạn, và cái gì mặt đất ban tặng con cái thì quá đẹp để không thể khinh thường và lại quá nghèo nàn để có thể làm giàu cho con cái, những người ‘lòng không đáy’. Bởi vì mặt đất là bức tranh của sự bất hòa giữa lời hứa cao cả khôn nguôi trong lòng người mà cũng là món quà nghèo nàn không làm con người thỏa mãn, mặt đất trở thành nguyên cớ thuận tiện cho con cái phạm tội, vì người ta than phiền mặt đất hơn là nó có thể cung ứng cho vừa, người ta có thể thở than thế giới trở nên xáo trộn do tội ban đầu của người nam, người nữ đầu tiên chúng ta gọi là Ađam, Evà.

Những điều đó cho thấy sự kiện mặt đất hiện vẫn là ‘mẹ - bất hạnh’, quá khao khát sống và quá tốt lành mà lại không thể gởi con cái mình đi, dù để chinh phục một ngôi nhà mới mang lại sự sống đời đời trong một thế giới khác, và lại quá nghèo nàn để có thể làm đầy lòng họ điều mà ‘mẹ - đất’ đã góp phần như niềm khát khao cho họ. Bởi vì mặt đất luôn luôn ôm ấp cả sống lẫn chết, do sự hòa trộn ‘sầu buồn’ sống chết, mặt đất hầu như chẳng mang lại cả sự đáng khen và sự than phiền, chẳng mang lại cả hành động tạo tác lẫn sự nô lệ buồn tẻ mà ta vẫn gọi là cuộc sống thường ngày. Và như thế ta đang ở đây trên mặt đất, ngôi nhà của ta, nhưng nơi ở này không thỏa. Cuộc phiêu lưu thoát khỏi những gì thuộc mặt đất không thể thực hiện, không phải vì hèn nhát nhưng vì sự tín trung gắn bó với mặt đất do chính bản chất của mỗi chúng ta đòi buộc.

Chúng ta làm được gì đây? Hãy đón nghe sứ điệp Phục Sinh của Chúa. Chúa Kitô phục sinh từ cõi chết hay không? Chúng ta tin vào cuộc phục sinh của Chúa nên tuyên xưng: ‘Người đã chết, đã xuống ngục tổ tông và ngày thứ ba đã sống lại’. Lời tuyên xưng này nghĩa lý gì? Tại sao lòng tin này thành ân phúc cho con cái của ‘mẹ - đất’?

Đấng là Con của Cha đã chết, cũng là Con trong nhân loại. Người là Thiên Chúa muôn thuở sung mãn, tự mình sung mãn, vô hạn và tràn đầy phúc đức, được mạc khải là Lời của Cha tự trước muôn đời, và đồng thời Người cũng là Con của mặt đất này, trong tư cách người Con của người mẹ diễm phúc của Người. Người là Đấng vừa là Con của Thiên Chúa sung mãn, vừa là Con với những nhu cầu trần thế, Người đã chết. Tuy nhiên sự kiện Người chết không có nghĩa (như cách nghĩ thiển cận bên ngoài Kitô giáo, ta là ‘tinh thần’) là tinh thần và linh hồn của Người, mang tính chất Thiên Chúa hằng hữu, được tự do tách khỏi thế giới và mặt đất, và như vậy, đi vào trong vinh quang bao la của Thiên Chúa bên ngoài thế giới này, vì thân thể là yếu tố đã giữ chúng thuộc về mặt đất, nay bị tan nát trong cái chết, và vì mặt đất sát nhân này cho thấy người con của ánh sáng vĩnh cửu không tìm đâu ra nơi hiện diện trong cõi tối tăm của mặt đất. Chúng ta nói ‘chết’ và lập tức thêm ‘xuống ngục tổ tông và đã sống lại’. Điều này mang đến cho ‘người đã chết’ ý nghĩa hoàn toàn khác, không như ý nghĩa bị lãng quên khỏi thế giới như ta thường gán cho cái chết.  

Chính Chúa Giêsu đã nói Người sẽ đi vào lòng đất (Mt 12 ; 40), nghĩa là, vào trong nội thể của mọi thực tại của mặt đất mà mọi vật được liên kết vào thành một, và cũng tại chính mặt đất, cái chết và sự mong manh làm một. Người đã đi vào cái chết. Bởi mưu lược thánh của sự sống vĩnh cửu, Người chấp nhận chính Người bị thất bại bởi cái chết, chấp nhận cái chết nuốt trửng vào tận cõi sâu nhất của mặt đất, đến nỗi sau khi đi đến tận gốc gác quyền lực và nên một tận căn cội với mặt đất, Người có quyền lực thiết lập sức sống Thiên Chúa của Người trong thế giới vĩnh cửu.

Bởi vì Người đã chết, Người thuộc trọn về mặt đất đúng nghĩa. Do đó dầu mỗi người, cùng linh hồn, như ta thường nói, đi vào cái chết  để đi vào mối tương quan trực tiếp với Thiên Chúa. Chỉ khi thân thể con người được đặt trong lòng đất, con người đi vào mối hiệp nhất chung cuộc với nền tảng độc đáo nhiệm mầu trong đó mọi sự mang chiều kích không gian-thời gian được nối kết và trong đó, con người bắt vào gốc cội sự sống của mình.

Chúa đã đi vào cõi chết, vào tầng thấp nhất và sâu nhất của mọi thọ tạo hữu hình. Người ở đó thật, nhưng không trong mong manh và chết chóc. Ở trong cái chết Người trở thành con tim của thế giới mặt đất, con tim Thiên Chúa trong chính con tim và trung tâm của thế giới, nơi đây, Người là khôi nguyên ngay cả trong sự khai mở cho mặt đất về không gian và thời gian, nhận nhập gốc rễ thế gian vào quyền toàn năng của Thiên Chúa. Chính từ ‘một con tim’ này của mọi sự trên mặt đất, trong đó, sự hiệp nhất đầy tràn và cái hư vô không còn phân chia nữa và qua đó vận mạng toàn diện của loài người phát sinh, nghĩa là Chúa phục sinh.

Chúa trỗi dậy không phải để cuối cùng xuất phát từ đây, cũng không phải để hoạt động của cái chết là chính yếu tố sinh ra Người một cách mới mẻ, có thể làm Người biến chuyển vào sự sống và vào ánh sáng của Thiên Chúa, và Người có thể để lại phía sau cái đáy cùng đen tối của mặt đất trống rỗng và vô vọng. Bởi lẽ Người phục sinh trong chính thân thể của Người. Sự kiện này có nghĩa Người đã bắt đầu biến đổi thế giới này trong Người. Người đã đón nhận và đón nhận thế giới này mãi mãi. Người đã được sinh lại như một người con của mặt đất, nhưng của mặt đất đã được biến đổi và đã được giải thoát, mặt đất, trong Người được củng cố muôn đời và được cứu chuộc muôn đời khỏi cái mong manh và cái chết.

Người đã trỗi dậy không phải để cho thấy Người đã rời bỏ ngôi mộ của mặt đất, một lần và mãi mãi, nhưng nhằm chứng minh một cách tỏ tường rằng mộ chết, thân thể và mặt đất, cuối cùng được biến đổi thành ngôi nhà vinh quang và vô biên của Thiên Chúa hằng sống và của linh hồn chứa chan Thiên Chúa của Đấng là Con. Người không lên đường từ nơi ở thuộc mặt đất bằng cuộc trỗi dậy từ cõi chết. Bởi lẽ, dĩ nhiên, Người vẫn sở hữu vĩnh viễn thân thể đã được biến đổi của Người, thân thể này là một mảnh của mặt đất, một mảnh vẫn thuộc mặt đất như một phần của thực tại và vận mệnh của mặt đất. Người trỗi dậy để mạc khải rằng qua cái chết của Người, sự sống tự do và hạnh phúc được thiết lập muôn đời ngay bên trong cái hạn hẹp và cái sầu buồn của mặt đất, tận thâm sâu của con tim mặt đất.

Điều chúng ta gọi là cuộc phục sinh của Chúa và cái nhìn quá sức suy tưởng, như vận mệnh cá nhân Chúa, đơn giản, trên bình diện thực tại xét như toàn bộ, là dấu hiệu tiên khởi trong kinh nghiệm về sự kiện  đàng sau cái gọi là kinh nghiệm (chúng ta nói rất nghiêm chỉnh), mọi sự đã trở nên khác trong chiều sâu chung cuộc thực sự của mọi sự. Cuộc phục sinh của Chúa giống như hiện tượng phun lần đầu của núi lửa, cho thấy trong nội thể của thế gian, ngọn lửa của Thiên Chúa đã bùng dậy, và mang theo mọi sự vào ánh quang phúc đức của ánh sáng Thiên Chúa. Chúa đã sống lại cho thấy Chúa đã bắt đầu lại. Đã bắt đầu lại từ con tim thế giới mà Chúa đã đi vào bằng cái chết, là sức mạnh mới cho một mặt đất được biến đổi nhập cuộc. Người đã bắt đầu tự chính thâm cung mọi thực tại…cái mong manh, tội lỗi, và cái chết bị tiêu diệt. Tất cả những việc trên cần đến là cần một khoảng thời gian ngắn ta gọi là lịch sử sau Chúa Kitô giáng sinh, trải đến khắp nơi chứ không chỉ nơi thân thể Chúa Giêsu, điều đã được bắt đầu sẽ được biểu lộ.

Bởi vì Chúa không bắt đầu cứu chuộc và biến đổi thế giới bằng những dấu hiệu hời hợt nhưng Người đã bắt đầu bằng cội rễ thâm sâu của Người, chúng ta là những tạo vật ‘hời hợt’ nghĩ rằng chẳng có gì xẩy ra. Vì ‘dòng nước’ khổ đau và tội lỗi vẫn đang chảy nơi chúng ta sống, chúng ta nghĩ nguồn suối sâu xa phát nguyên của dòng nước sẽ chưa cạn kiệt. Vì sự yếu đuối còn biểu lộ trong sự hoang tàn đổ nát trên mặt đất, chúng ta kết luận trong thâm cung của thực tại, tình thương đã tắt ngúm. Tuy nhiên, tất cả chỉ thuần túy bề mặt, mà ta lại coi cái bề mặt làm thực tại cuộc sống.

Chúa đã sống lại vì trong cái chết, Chúa đã chinh phục và cứu chuộc mãi mãi trung tâm sâu thẳm của mọi thực tại mặt đất. Sau khi trỗi dậy, Người mau mắn ôm trọn mọi sự vào mình. Và Người tồn tại theo cách như thế. Khi chúng ta tuyên xưng Người đã lên thiên đàng, đó chỉ là một cách diễn tả khác cho sự kiện, trong chốc lát, Người cất khỏi chúng ta sự biểu lộ sờ đụng vào được của nhân tính vinh hiển của Người, và trên hết, tất cả không còn một vực thẳm phân cách nào giữa Thiên Chúa và thế giới.

Chúa Kitô đã hiện diện giữa mọi nghèo hèn của mặt đất, mà ta không thể rời ra vì đây là ‘mẹ’ chúng ta. Chúa là sự kỳ vọng khôn tả của mọi tạo vật, mà dù không hay biết điều này, tạo vật đang đợi chờ chia sẻ vinh quang của thân thể Chúa. Chúa nằm trong lịch sử của mặt đất, một dòng chảy mù quáng, nơi đó, trong tất cả vinh quang và trong tất cả những đột phá, đang biến đổi, với sự sáng tỏ kỳ lạ hướng về ngày của Chúa, ngày mà khi đó vinh quang của Người, biến đổi mọi sự, sẽ bừng dậy từ cõi sâu thẳm nhất của mặt đất. Chúa hiện diện trong mọi dòng lệ và trong mọi cái chết như một niềm hân hoan ẩn tàng và như sức sống sẽ toàn thắng bằng cách tỏ ra phải chết. Người hiện diện trong kẻ ăn xin để ta bố thí cho Người, như của cải giàu sang âm thầm đổ về người cho. Người hiện diện trong những thất bại đáng thương nơi các tôi tớ, như sức mạnh toàn thắng của một mình Thiên Chúa. Người hiện diện trong sự bất lực của chúng ta như quyền năng chấp thuận cho chính mình xem ra yếu đuối vì không có sức nào địch lại nổi. Ngài còn hiện diện ngay cả giữa tội lỗi như lòng thương xót của tình yêu muôn thuở, kiên nhẫn và tích cực đến cùng. Người hiện diện nơi đây như quy luật lặng lẽ nhất và là yếu tính cốt lõi của mọi sự còn đang vươn lên và vượt thắng, cả khi mọi trật tự và cấu trúc có vẻ đang rã tan.

Chúa hiện diện với chúng ta như ánh sáng ban ngày và như khí thở mà ta không ý thức, như quy luật ẩn tàng của sức hoạt động ta không thể thâu tóm trong tay vì cái phần ta trải nghiệm quá ngắn ngủi để ta có thể phân biệt những thể thức của hoạt động. Và Người hiện diện nơi đây, trong cốt lõi của thế giới mặt đất và là dấu ấn lặng lẽ của sự thành hiệu muôn đời.

Do đó, chúng ta là những con cái của mặt đất có thể yêu quý mặt đất này, chúng ta phải thương mặt đất. Ngay cả khi mặt đất gây hãi sợ và xung đột với chúng ta giữa sự căng thẳng của nó và vận mạng phải chết của chúng ta. Bởi vì Chúa đã đi vào mặt đất mãi mãi bằng cái chết và cuộc phục sinh, nỗi bất hạnh của mặt đất chỉ đơn thuần nhất thời và chỉ là cuộc trắc nghiệm lòng tin của chúng ta vào mầu nhiệm sâu xa của mặt đất, đó là chính Chúa Kitô phục sinh. Đó là ý nghĩa sâu xa của sự căng thẳng mà ta chưa trải nghiệm. Chung cuộc căng thẳng chẳng còn nhưng còn lòng ta tin. Lòng tin đầy ân phúc thách đố mọi kinh nghiệm. Lòng tin đưa đến khả năng yêu thương mặt đất vì ‘đất’ là ‘thân mình’ của Chúa Kitô phục sinh hay đang trở thành ‘phục sinh’.

Vì vậy, chúng ta không được rời bỏ mặt đất vì sự sống Thiên Chúa ở trong nó. Nếu ta tìm Thiên Chúa Đấng vô biên (và bởi cách nào ta thất bại trong cuộc tìm này?) và mặt đất thân thuộc như nó là và sẽ trở thành, như thể tìm ngôi nhà vĩnh cửu trong tự do, thì một con đường dẫn tới gặp cả hai. Trong cuộc phục sinh của Chúa, Thiên Chúa đã biểu lộ Người đã đón nhận mặt đất vào mình mãi mãi.

‘Caro cardo salutis’, một trong các Giáo phụ xưa đã chơi chữ mà nói: ‘xác thân ta là bản lề xoay liền với ơn cứu độ’. Thực tại vượt lên trên mọi sự căng thẳng của tội lỗi và chết chóc không còn dáng dấp đâu đó nữa. Chúng đã đi xuống và ở trong cõi sâu thẳm của xác thân. Cảm thức tôn giáo thuần túy về sự trốn chạy thế giới, không thể đem Chúa của cuộc đời ta và của ơn cứu độ cho mặt đất này, đến được…, từ chốn xa xôi của cõi vĩnh cửu của Thiên Chúa, và cũng không thể gặp Thiên Chúa trong thế giới xa cách đó của Người.

Chính Chúa đã đến cùng chúng ta. Người đã biến đổi cái chúng ta là, và cái bất chấp mọi sự, chúng ta còn vươn tới phần còn lại bụi đất đang trổ bông của bản tính linh thiêng của chúng ta: xác thân ta. Như vậy mặt đất chỉ hạ sinh những con cái đang được biến đổi. Cuộc phục sinh của Chúa khởi sự cuộc phục sinh của mọi xác thân.

Có một điều cần thiết, quả vậy, để Thiên Chúa hành động mà chúng ta không được cản trở, là để Người trở nên phúc lành cho ‘thực tại người’ của chúng ta. Chúa phải khai mở ngôi mộ của con tim chúng ta. Người phải trỗi dậy cũng từ tận thâm tâm hữu thể chúng ta, nơi, Người hiện diện như quyền năng và như lời hứa, nơi, Người còn đang tiếp tục làm cho ta biến chuyển, nơi ấy, còn là Thứ Bảy Thánh trải tới ngày cuối cùng sẽ là ‘Đại Lễ Phục Sinh phổ quát của hoàn vũ’. Và cuộc phục sinh này diễn ra dưới sự tự do lòng tin của chúng ta, mặc dù vậy, phục sinh vẫn là hành động của Thiên Chúa. Hành động của Thiên Chúa lại diễn ra như hành động của riêng ta, như hành động của lòng tin thấm nhuần yêu mến, đưa chúng ta vào tiến trình biến đổi ‘dễ sợ’ của mọi thực tại bụi đất đang hướng tới vinh quang của bản thân, vinh quang đã bắt đầu trong cuộc phục sinh của Chúa Kitô.

 

Giám mục Gioan chuyển ngữ

CHIA SẺ BÀI VIẾT
TIN LIÊN QUAN

THÔNG BÁO

VĂN KIỆN GIÁO HỘI

LIÊN KẾT NHANH

Đại Chủng Viện Thánh Giuse Xuân Lộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Cổng Thông Tin Điện Tử Giáo Phận Xuân Lộc
Thánh Lễ Trực Tuyến
Vatican News
Bài Ca Mới
Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu
Tin Vui Xuân Lộc
Ban Văn Hoá. Gp Xuân Lộc
Youtube Gp. Xuân Lộc