Lịch Sử Giáo Hội dưới ánh sáng các Vị Thánh (phần 01)

Chương I: Thánh Phêrô, vị Đại Diện Đức Kitô (ĐGH) đầu tiên.
Thánh Phêrô và Thế Kỷ Thứ Nhất
Miền Đất Đức Giêsu yêu mến
Biển hồ Galilê xuất hiện không bằng một cái vảy trên bản đồ quân sự của đế quốc. Luôn tự hào về các miền đất chiếm được, Roma xem biển này chỉ như một giọt nước trong cái lò nóng đó: một tỉnh Đông phương. Cho dù vậy, vùng nước biển hồ vẫn sinh động với đông đảo thuyền buồm, trên các bờ biển nối tiếp nhau là các phố xá, các bến tàu và các nhà máy. Các đường lộ được xây đắp cẩn thận chạy dọc theo vùng duyên hải được tuần tra bởi các Đạo quân, hỗ trợ việc canh phòng các thành phố và áp đặt nền hòa bình Roma theo tiêu chuẩn gây khiếp đảm của Nghị Viện và Nhân Dân thành Roma. Tất cả các người Do thái yêu nước hận thù sâu đậm việc hiện diện của guồng máy đàn áp đó; và mặc dù bị kìm kẹp bởi ngoại bang ngay trong cánh cổng nhà mình, họ thường mơ về một ngày khi quốc gia bị dày đạp của họ lấy lại được sức sống và tự do. Trong số những người dân yêu tự do này, Anrê và Simon, những người con trai vạm vỡ của Giôna người Galilê, không phải hạng thường. Sinh tại Bethsaida, được nuôi dưỡng bởi bậc cha mẹ tử tế theo tinh thần Lề Luật, các ông ngày càng yêu mến bờ biển xứ sở và chọn cuộc sống ngư phủ nhọc nhằn. Người anh lớn Anrê rất phương phi và mạnh mẽ, Simon thực dạn dĩ, dữ dội và lanh lẹ. Vùng nước hung dữ chẳng gây được sợ hãi cho những người dân biển rắn rỏi này, thuyền đánh cá của họ xẻ ngang làn nước xanh biếc của biển hồ Genesaret luôn cuộn sóng và chính họ dường như đã thủ đắc được một số tính cách của đáy sâu biển hồ được hình thành do miệng núi lửa. Ngày qua ngày họ đi ra xa ngoài khơi sâu, tung những dải lưới nặng và mang về những mẻ cá. Nhưng tâm hồn họ chỉ vướng bận một nửa vào công việc này, vì họ đang mong chờ Đấng Messia trong niềm hy vọng thầm lặng, Đấng mà họ chắc rằng sẽ trợ giúp họ dứt bỏ ách độ hộ của Rôma.
Rồi vào một ngày trong năm 26 tin tức chấn động lan tới tai những người Galilê trung thành này. Gioan Tẩy Giả, một vị tiên tri vĩ đại, đang rao giảng cuộc giải thoát! Xuôi theo rìa sa mạc, chỉ cách khoảng sáu mươi dặm, họ nhất định phải đi tìm ông ấy, “tiếng hô trong hoang mạc, hãy chuẩn bị đường cho Chúa”. Tất cả những điều mà các sứ giả đang nao nức này có thể thuật lại là vị ẩn sĩ kỳ lạ này bỗng đâu xuất hiện và đứng trên các tảng đá bên đường công bố Nước Trời đã đến gần. Ngay khi những đoàn thương nhân đem tin tức về những đả kích mạnh mẽ của vị Tẩy Giả vừa tới các đám đông đã tuốn ra khỏi Giêrusalem để đến nghe sứ điệp đầy hy vọng và kêu gọi sám hối của ngài. Ngay khi tin đồn lan ra, nhiều Kinh sư và Biệt phái chất vấn về những lời dạn dĩ của ngài: “Ngay bây giờ cái rìu đã kề gốc cây. Vì thế cây nào không sinh trái sẽ bị chặt xuống và ném vào lửa”. (Lc 3, 9). Anrê và Simon đồng ý rằng không còn phải là lúc vướng mắc với đống lưới của họ nữa; quả thực họ biết rằng Đấng muôn dân nước mong đợi hẳn thực sự đang ở giữa họ. Vì thế, mang ước mơ trong lòng, hai anh em tiến về vùng hoang mạc bên sông Giordan. Cuối cùng họ cũng tận mắt thấy được vị ẩn sĩ vĩ đại – con người toàn tâm toàn ý trung thành với Đức Kitô cho tới chết. Nhưng khoảnh khắc quý báu đã đến khi Anrê nghe lời vị Tẩy Giả nói: “Đây Chiên Thiên Chúa!” và bắt gặp ánh mắt của Chúa Giêsu Nazareth. Người ngư phủ bộc trực miền Galilêa hỏi Chúa Giêsu rằng Ngài đang ở đâu. “Hãy đến mà xem” là lời đáp dịu dàng, và như vậy Anrê đã có được đặc ân ở lại với Thầy suốt ngày hôm ấy. Vội vàng nói thẳng với Simon những lời mừng rỡ này: “Chúng tôi đã gặp được Đấng Messia!” ông đưa em mình tới với Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu, đưa mắt nhìn chàng trai ngư phủ trẻ trung đầy nhiệt huyết, nói rằng “Anh là Simon, con ông Giôna: Anh sẽ được gọi là Cephas, nghĩa là Đá Tảng.” (Ga 1, 41-42) Định mệnh thần thiêng nào đang chờ đợi Tảng Đá này – Simon Phêrô!
Quay trở về với công việc của mình, các con trai của ông Giôna lại tung lưới ngoài khơi sâu và lại vá lưới bên bờ biển. Nhưng họ đã cảm thấy nôn nóng lạ kỳ; trong lòng đầy tràn niềm hy vọng họ đếm từng ngày từ bữa họ lưu lại trong miền quê Giordan. Hãy nhớ rằng trong suốt thời gian này mục tiêu của họ đã được thiên định, chính họ tự cam kết trung thành cách vững bền. Giờ đã điểm khi Chúa Giêsu xuất hiện, đưa tay vẫy gọi họ. Ngài hô lớn “Hãy đến mà theo Ta.” “Hãy đến mà theo Ta và Ta sẽ làm cho các con thành những ngư phủ lưới người ta.” Họ mãi đang chờ đợi nên vội vã đáp lời; “bỏ lại mọi sự họ đi theo Ngài.” (Mt 4, 19) Lòng nhiệt thành của họ không mang tính bất chợt, nhưng hành động ấy nảy sinh từ đức tin và tình yêu sống động. Lúc này bộc phát thành sứ vụ năng động, họ trở nên thân thiết với Thầy, quyết tâm của họ là không bao giờ lìa bỏ Ngài. Và trong khi họ đi lại dọc theo bờ biển Galilê những người khác cũng được gọi – Giacôbê và Gioan, Philiphê và Nathanael. Nhóm nhỏ này trở nên gắn bó theo tinh thần đơn sơ, dấn thân hết mình. Một sáng nọ họ đồng hành cùng Chúa Giêsu và Mẹ Maria tới tiệc cưới ở Cana trong miền Galilê. Tình mến hơn bất kỳ nỗi ngạc nhiên nào khác trở nên sâu sắc trong những trái tim trung thành khi họ chứng kiến Thầy mình thực hiện phép lạ công khai đầu tiên bằng việc hóa nước thành rượu ngon! “Sau đó, Chúa Giêsu đi xuống miền Carphanaum. Ngài và Mẹ Ngài cùng các anh em Ngài với các môn để của Ngài; và họ ở lại đó ít ngày.” (Ga 2, 12).
Sứ Vụ Công Khai
Sau cùng Sứ Vụ Nước Trời cũng được khởi xướng cách tốt đẹp, và nhiều người đi theo Chúa Giêsu, tin vào Ngài là Đấng Messia mong đợi bấy lâu. Nhóm Mười Hai-tất cả đều là người Galilê ngoại trừ Giuđa người Kerioth ở Giuđêa, lúc này được chọn ra trong số những môn đệ thân tín. Hãy nghĩ về các đặc quyền của họ; hàng ngày họ được sống trong tình đồng bạn với Chúa chúng ta; hàng giờ họ được chiêm ngắm những hoạt động của Ngài, được nghe Lời Ngài, từ đó phát sinh ánh sáng và quyền năng. Nhưng liệu số đông có ở lại với Ngài hoặc họ cho thấy họ chỉ là những môn đệ nhất thời – “Ai không ở về cùng phía với Ta là chống đối Ta, và ai không thu gom cùng Ta là phân tán!” (Lc 11, 23) Cuộc thử thách đến liền sau đó; Đã đến ngày Chúa Giêsu hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi dưỡng năm ngàn người. Sau đó là bài giảng quan trọng trong đó Ngài tuyên bố chính Ngài là Bánh Hằng Sống từ trời xuống: “Quả thật, quả thật Ta nói với các con: Nếu các con không ăn thịt Con Loài Người và uống máu Ngài các con loài người sẽ không có sự sống nơi các con” (Ga 6, 54-59). Mọi người dường như rất đỗi ngạc nhiên trước những lời này. Thực vậy, nhiều người đã ngỡ ngàng, nhiều người khác lầm bầm với nhau, và rồi một số đã bỏ đi không theo Chúa Giêsu nữa. Lòng buồn phiền, Người Thầy nói với nhóm Mười Hai: “Các con cũng sẽ bỏ Thầy chứ?” Phêrô đã bật miệng thốt lên từ tấm lòng trung thành nồng nhiệt: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy có lời ban sự sống đời đời. Còn chúng con đã tin và nhận biết rằng Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.” (Ga 6, 68-69) Thực là một niềm tín thác sống động (vital), niềm hy vọng bất tử, lòng nhiệt thành tràn tình mến! Vị thủ lãnh các môn đệ hẳn, đúng hơn, có lẽ sẽ nhụt chí trong hoàn cảnh bất ngờ của cuộc thử thách, tuy nhiên, chưa bao giờ có vấn đề về lòng trung tín trong tâm hồn ngài.
Lịch sử thế giới đang chuyển biến về mặt thần thiêng trong suốt những ngày này khi Chúa Giêsu đến trong thế giới và đi vào giữa lòng nhân loại. Thần chiến tranh và thần ái tình vẫn còn đang giằng co, trong khi hoàng đế Tiberius trên ngai Caesar đang quan sát tất cả các quan lộ đón chờ những sứ giả trở về với những trình tấu về các thành công trong lĩnh vực chính trị và quân sự. Các viên chức lanh lợi hàng ngày vẫn đến báo cáo những tin tức về Anh quốc, Tân Ban Nha, xứ Gaul, Ai Cập; cũng có cả những sứ giả đến từ phương Đông. Tại Palestine, có Pontius Pilate được đặt lên làm Tổng Trấn Rôma cai quản Giuđêa; Hêrôđê, quận vương, thu thập các khoản thuế gây bực tức vùng Galilê; Các miền Ituria và Abilina được trị vì bởi Philip và Lysanius. Thỉnh thoảng các môn đệ nghe Thầy của mình đề cập tới tình hình chính trị hiện tại: “Các con biết rằng các thủ lãnh dân ngoại thống trị trên họ và áp đặt quyền bính trên họ.” (Mt 20, 26). “Hãy trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, còn cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.” (Mt 22, 21) “Con Loài Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ, và để hiến mạng sống mình cứu chuộc nhiều người.” (Mt 20, 28) Mặc Dù Ngôi Lời Thiên Chúa đã nói như thế nhưng các thứ bậc và phẩm vị trong dân Do thái vẫn còn đầy hoài nghi, những suy đồi luân lý vẫn còn đó trong tâm hồn họ. Còn vị hoàng đế đã mơ thấy rằng ở nơi một góc xa xăm của miền phía Đông trong vương quốc của ông đang có rục rịch cuộc cách mạng thần thánh nào đó, một vương triều được tiền định sẽ tồn tại lâu hơn cả chính đế quốc này, một Nước Trời trong tâm hồn con người.
Ba năm Thiên Chúa dùng để loan báo Nước này! Dọc theo các con lộ miền Giuđêa và Samaria, trong các thị trấn và các thành phố Galilê, các môn đệ rảo bước trên hành trình được chúc phúc. Họ đã chứng kiến Thầy mình chữa lành, chúc phúc và cầu nguyện; họ ngỡ ngàng trước cách thức Ngài thổi sinh khí vào cuộc sống con người và lấp tràn chúng trong hạnh phúc.
“Đẹp
thay bước chân người rảo khắp núi đồi
Người mang tin vui
Người mang đến sự lành
Rằng hãy nói với Sion: này đây Chúa ngươi sẽ ngự đến” (Is 52, 7)
Nhóm nhỏ này, liên kết với nhau trong tình mến và lòng đạo đức, bước đi bên cạnh Chúa Giêsu. Nhưng lần này lại là chính Phêrô, vượt trên tất cả những người khác, là người đã chứng tỏ tính bền bỉ của lòng tin bất diệt của mình. Trên cuộc hành trình cuối cùng của họ cùng với nhau lên Giêrusalem, Thầy đã đặt ra hai câu hỏi: “Người ta bảo Thầy là ai? Các con bảo Thầy là ai?” Phêrô trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Vì vậy Chúa Giêsu khen thưởng ông: “Simon con ông Giôna, con có phúc vì không phải xác thịt hay khí huyết mạc khải cho con nhưng là Cha Thầy Đấng ngự trên Trời. Và Thầy nói với các con: Con là Phêrô; và trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa hỏa ngục sẽ không thắng được. Và Ta sẽ ban cho con Chìa Khóa Nước Trời; điều gì con cầm buộc dưới đất, trên trời sẽ cầm buộc; điều gì con cởi mở dưới đất, trên trời sẽ cởi mở.” (Mt 16, 13-19) Hãy lưu ý điều này, đây là lần duy nhất ngoại trừ trường hợp của Gioan Tẩy Giả, Chúa chúng ta đã công bố lời chúc phúc trên một cá nhân. Người ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng Phêrô được tách riêng khỏi những người khác, được thiên định trở thành thủ lãnh của họ.
Đá Tảng – Cephas!
Đâu là tính cách của con người Đức Kitô đã chọn làm Đá Tảng-đá móng của Giáo Hội Ngài? Một thủ lãnh bẩm sinh, Phêrô nhiệt thành nhưng nóng nảy; can đảm tuy nhiên không ít lần chao đảo; rắn rỏi và sẵn lòng, luôn chân thành, toàn tâm toàn ý, tâm hồn trong sáng. Thừa hưởng một truyền thống đầy can trường, những khiếm khuyết về phẩm chất của ông phải được sửa chữa. Thật tốt cho Phêrô vì ông có được vị Thầy Thần Linh Đấng có thể dạy ông biết vâng phục, huấn luyện tính khí nóng vội của ông, truyền phải khiêm tốn lãnh nhận ách lên vai. Thực vậy, không người môn đệ nào phải chịu trách mắng nhiều như con người Đá tảng này mà trên đó Chúa Giêsu dự tính xây dựng Hội Thánh Người. Như vậy thật là quan trọng việc tìm hiểu công cuộc đào tạo người phát ngôn của nhóm Mười Hai này; Quan sát cách Chúa Kitô tiến hành việc kiểm tra những lầm lỗi nghiêm trọng của người Tông Đồ đang được huấn luyện này thật ích lợi biết bao. Xảy ra là một ngày nọ vào buổi đầu sứ vụ công khai các môn đệ đang ở trên thuyền của Phêrô gặp nguy hiểm khốn khổ khi rớt vào trong cơn bão trên biển Galilê. Và kìa! Thầy xuất hiện, đi bộ trên mặt nước, và Phêrô huyênh hoang thách thức, còn hơn nữa, liều lĩnh thử bước đi trên các con sóng. Nhưng hãy xem nỗi sợ hãi bất ngờ của ông khi ông chìm xuống, hãy nghe tiếng kêu cứu não nề của ông, và hãy để ý lời trách mắng nhẹ nhàng của Thầy: “Này, Con thật yếu tin, tại sao lại nghi ngờ?” (Mt 14, 31) Một lần nữa, khi Thầy nói về cuộc thương khó và tử nạn sắp tới của Ngài, người môn đệ này nhanh miệng lên tiếng can ngăn: “Thưa Thầy, xin cho Thầy khỏi điều ấy, điều ấy sẽ không xảy đến với Thầy.” Và lần này ông đã lãnh một lời quở trách thậm tệ: “Hãy lui ra đàng sau Thầy, hỡi satan, ngươi cản trở Ta; bởi vì ngươi ưa thích những sự không thuộc về Thiên Chúa nhưng là những sự thuộc về con người.” (Mt 16, 22-23)
Đã bao lần Phêrô để cho tình cảm vượt lên trên lý trí. Bao lần ông đã phải vật lộn với “cái tôi”, chịu khổ vì cuộc chiến không ngừng trong lòng ông. Dường như ông không thể nắm bắt được những điều thiêng liêng lớn lao hơn và đã chắn chắn phải chịu đưa tới bờ những suy sụp. Mau lẹ đưa ra những phán quyết vội vã, ông nhanh nhảu kết luận, phát ngôn những nhận xét sai lầm của mình. Không phải một lần, nhưng nhiều lần ông thắc mắc với Đức Kitô như đối với việc đón nhận lời Ngài cách thực tế: “Thưa Thầy, Thầy kể dụ ngôn này cho riêng chúng con hay cho cả với hết mọi người?” “Thưa Thầy, chúng con phải tha thứ cho những xúc phạm của người anh em của chúng con đến mấy lần? Có phải đến bẩy lần không?” (Mt 18, 21) “Thưa Thầy này chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy: vậy chúng con sẽ được những gì?” (Mt 19, 27) Quá bạo gan, ông nhắc nhở Thầy mình đóng thuế Đền thờ, và trong khi Chúa chúng ta thực tế đã chấp nhận thi hành bổn phận này, đồng thời Ngài dạy người môn đệ trực tính này một bài học hợp lúc. (Mt 17, 24) Tính cứng rắn thô ráp của con người này, tính quả quyết dễ nhân nhượng của ông, thêm vào với tính giầu nghị lực đáng ngờ của ông thể hiện trong sức mạnh cộng hưởng. Người ta chỉ cần đọc về việc từ chối được rửa chân trong bữa Tiệc Ly: tình trạng yếu đuối đáng thương của ông đến nỗi không thể canh thức một giờ ở vườn Giệtsimani; việc ông mau lẹ rút kiếm trước đám đông đang giận dữ; và đáng buồn nhất, ba lời chối Chúa của ông. Không lạ gì khi Phêrô trốn khỏi dinh thượng tế Caiphas trong cơn hoảng sợ đầy tủi hổ, chịu thiêu đốt vì nỗi bứt rứt của một tâm hồn đau khổ. Những giọt nước mắt, nước mắt cay đắng, chứng tỏ người môn đệ khánh tận này buộc phải mặt đối mặt với thực tại trần trụi nghèo hèn là chính bản thân ông. Nhưng lòng thống hối đã thức tỉnh trong tâm hồn ông, lòng thống hối kéo xuống ơn tha thứ của Thiên Chúa. Lòng thương xót lóe sáng trong ánh mắt của Đấng Cứu Thế đang bị bắt giữ sẽ phục hồi niềm vui trong trái tim người môn đệ của Ngài, lúc này đã vững mạnh hơn, khi ông bước đi trong nỗi đau khổ, tuy nhiên vẫn còn sống động trong ánh sáng của Ngài mà bởi đó ông nhìn thấy các luồng sáng khác…
Đức Kitô đã sống lại! Những biểu hiệu của tình yêu ân cần của Ngài dành cho người môn đệ đang thống hối này được nhân gấp bội. Thiên thần nơi mộ thánh truyền cho các phụ nữ thánh thiện rằng “Hãy đi, báo cho các môn đệ của Ngài và Phêrô nữa.” (Ga 20, 2) Sự Thực về việc vị Thủ Lãnh của nhóm Mười Hai là người đầu tiên trong số họ nhìn thấy Chúa đã được minh chứng cách rõ ràng không nghi ngờ gì nữa. Không còn chối cãi gì nữa, cũng như tầm quan trọng của Phêrô ngày càng được chính Thầy nhìn nhận, Đấng từ lâu đã tách biệt ông vượt khỏi tất cả các môn đệ của Ngài. Về phần mình, người môn đệ này cố gắng trở lại với tất cả tình mến và lòng tín thác. Cao điểm của cảm xúc trào dâng của ông đến vào ngày Đức Kitô hiện ra trên bờ hồ Genesareth. “Và khi trời sáng, Chúa Giêsu đứng trên bờ… vì thế, người môn đệ được Chúa yêu nói với Phêrô: Thầy đó! Simon Phêrô khi nghe được rằng Thầy đó, khoác áo vào… và lao mình xuống biển. Nhưng các môn đệ khác thì đi vào bằng thuyền…” (Ga 21, 7-8) Trong hoàn cảnh này lòng sốt sắng của người môn đệ lanh lẹ này lần nữa được tưởng thưởng: “Simon, con ông Giôna, con có yêu mến Thầy hơn những người này không? Ông nói với Ngài: Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mên Thầy. Ngài lại nói với ông: “Hãy chăn dắt chiên mẹ của Thầy… Hãy chăn dắt các chiên con của Thầy.” (Ga 21, 15-17) Bây giờ Cephas được khuyên hãy chăm sóc và nuôi dưỡng đoàn chiên của Đức Kitô, không bao giờ hình ảnh người mục tử đó bị quên trong tâm trí ông, ngay cả cho tới cuối đời sứ mạng lớn lao đó được lưu giữ trong tâm hồn ông. (1Pr 2, 25; 5, 2)
Giáo Hội Sơ Khai
Đức Kitô vinh quang lên trời, đã hứa chuẩn bị chỗ cho các môn đệ trung tín của Ngài. Mười ngày trôi qua trong khi những người bị bỏ lại sống trong nỗi tiếc thương, luôn tưởng nhớ tới cuộc thương khó và khổ nạn thập giá. Mười ngày dài dằng dặc, và rồi Chúa Thánh Thần ngự đến cách nhiệm mầu trong tâm hồn họ ngay nơi phòng tiệc ly ở Giêrusalem. Và này! Một điều làm thay đổi thế giới đã xảy đến, việc kiện toàn lời Chúa Giêsu đã hứa trong bữa Tiệc Ly: “Thầy sẽ xin Cha và Ngài sẽ ban cho các con Đấng phù trợ khác, Đấng ấy sẽ ở cùng các con luôn mãi. Thầy sẽ không để các con mồ côi, Thầy sẽ đến cùng các con. Trong ngày đó các con sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con.” (Ga 14, 16.18.20) Đó là ngày lễ Ngũ Tuần, ngày sinh nhật của Giáo Hội Công Giáo. Là người lính, các Tông Đồ tiến quân hướng tới các cuộc chinh phục vĩnh cửu, những cuộc chinh phục cho đời đời; Bây giờ, tất cả họ đã trở thành các vị thánh, tràn đầy Lửa, tình Mến, Ánh sáng từ trời. Họ đã đối mặt với thế gian, xác thịt và ác quỷ; họ đã chiến đấu với tiếng ầm ĩ của các trường phái triết học ngoại giáo, với một rừng những nền văn học dâm ô, các thần dữ trên các tế đàn. Thật tồi tệ đến nỗi các ông đã bị bắt, bị giam tù, bị đánh đòn, bị cấm rao giảng: “Với quyền năng mạnh mẽ họ đã làm chứng cho cuộc Phục Sinh của Chúa chúng ta, Đức Kitô Giêsu, và ơn Chúa hoạt động mạnh mẽ giữa các tín hữu.” (Cv 4, 33) Và kìa Thánh Phêrô, sứ giả dạn dĩ của Đức Kitô, đứng đầu theo thứ bậc và đầu tiên trong danh sách các ông. (Mt 10, 2-4; Cv 1, 13; Mt. 16, 18; Lc 22, 32; Ga 21, 15-18) Ông đứng lên giữa một trăm hai mươi môn đệ tất cả đều nhìn nhận quyền lãnh đạo của ông. (Cv 1, 15) Ông đi lại không hề sợ hãi trên các đường phố Giêrusalem; ông không chỉ thực hiện những phép lạ cả thể, hơn nữa còn ý thức rằng quyền lực thần linh đã được tín thác cho ông. Khi đưa rất nhiều người vào đạo, ông bị chống đối, bị bắt, bị ném vào ngục tối, nhưng một thiên thần đã giải thoát ông. (Cv 4; 7) Không sợ hãi, ông lên đường rao giảng và làm phép rửa dọc theo các con đường quen thuộc ở Giuđêa, băng qua các vùng sa mạc Samaria. Một truyền thống cổ xưa phát hiện ra ông ở lại lâu tại Antioch, giám mục đầu tiên của thành phố lớn đó; và sau đó ông hoạt động ở Pontus, Galatia, Cappadocia, Bithynia…
“Vậy các con hãy đi và dạy dỗ các quốc gia!” Xem thế giới như là cánh đồng tín hữu Chúa Kitô, hạt giống tin mừng phải được tung vãi, Giáo hội nhờ các hoạt động tông đồ mở rộng tới các xã hội rộng lớn hơn. Điều đó đủ để giải thích tại sao Cephas đã không lưu lại suốt đời nơi các tỉnh thành phương Đông hoặc ngay cả ở Hy Lạp. Hãy nhớ rằng đế quốc Rôma được chia thành những quận hạt xa xôi: những tỉnh thành phương Tây chiếm cứ đồng bằng phía Tây Địa Trung Hải trải xa tới Biển Adriatic: về phía Đông trải từ các tỉnh thành Hy Lạp xa tới Núi Taurus, và ở đó các ngôn ngữ và tính cách Hy Lạp được phổ biến: xa hơn về phía Đông các tỉnh thành Đông Phương với tính cách trộn lẫn của các nghi lễ và tiếng nói cổ xưa. Thánh Phêrô như được Trời tiền định lên đường tới chính thành phố Rôma, thủ đô của vương quốc mênh mông. Vị hoàng đế, con nhện dâm dật, sống ở đó, đã thu gom tất cả vào trong vòng quyền lực của ông. Và đã có rất nhiều đường lộ, những con đường Rôma, trên tám trăm con đường, dẫn mọi nơi tới những tỉnh thành xa xôi nhất; một mạng lưới tả tơi rộng lớn chúng khởi đầu từ cột mốc bằng vàng tại Quảng Trường và tỏa ra để nắm giữ ba lục địa. Giờ đây vì tất cả các quốc gia được bao gồm trong sự chăm sóc mục vụ của ông, Thánh Phêrô theo tính tự nhiên và siêu nhiên cần phải đi về trung tâm của chúng. Mệnh lệnh là của Chúa Kitô, hẳn là thế, nhưng vị Đại Diện của Ngài phải đáp ứng cách sáng suốt. Chưa từng có giải pháp nào chắc chắn hơn, chưa từng có bước đi nào quả quyết, chưa từng có cuộc phiêu lưu nào được tiền định rõ ràng hơn của vị Thủ lãnh các mục tử đi thăm viếng “các đàn chiên khác”, trình bày chân lý, đưa chúng về đàn đích thực. Hẳn không có lúc nào trong cuộc đời của vị tông đồ vĩ đại, ông xác tín về nhiệm vụ của mình trong việc chuyển tải chân lý mình đã lãnh nhận cho bằng ngày ông hướng những bước chân về phía hai triệu dân ngoại trong Hoàng thành. “Ôi rất thánh Tông Đồ Phêrô, đây là thành phố mà ngài đã không ngần ngại bước đến. Tông Đồ Phaolô, đồng bạn quang vinh của ngài, tuy đang bận rộn trong việc đặt nền móng các Giáo Hội, và dù ngài đã một mình tiến vào khu rừng đầy ác thú gầm thét dữ dội; dù chính ngài đã dấn thân vào đại dương giông bão cách dạn dĩ hơn khi ngài bước chân trên mặt nước để đến cùng Chúa Giêsu.”
Thánh Phêrô ở Rôma
Bước qua cánh Cửa của các cánh cửa, khoảng năm 42 sau CN, Thủ lãnh các Tông Đồ, đã đi qua các vùng đất và vùng biển. Không nghi ngờ gì việc đi tới trung tâm của thế giới dân ngoại đánh dấu một sự kiện quan trọng khôn lường. Một nhóm nhỏ những người mới gia nhập đạo hiện đang sống trong các khu tập trung chật chội trên bờ sông Tiber xa xôi. Họ bị xua đuổi khỏi Giêrusalem có lẽ trong suốt cuộc bách hại đầu tiên và đã đi tới Cửa thành Rôma. Những người Do thái theo luật Cựu Ước đã thực sự định cư trong thủ đô năm mươi năm trước; nhưng Aquila và Priscilla, những người Do thái gốc Syria, là những người đầu tiên hình thành nên hạt nhân của cộng đồng Kitô giáo. Thời gian trôi qua, Danh Chúa Giêsu được nghe biết trên những bến cảng tấp nập; Đức Tin, như “ngọn đèn chiếu sáng vào nơi u ám” bắt đầu chiếu tỏa những tia sáng của nó trong những khu nghèo nàn. Hoàng đế Claudius có mơ hồ thấy rằng nơi đâu đó tại chân của janiculum những nền tảng đang được thiết đặt cho một đế quốc sẽ tồn tại lâu hơn đế quốc Rôma bất diệt của các Caesars. Tuy nhiên, đó lại là sự thực. Nếu các bậc thức giả của thành phố có mạo hiểm đi xa tới bến tầu đầy người Do thái, họ có thể va chạm với nhà sáng lập Vương quốc của Chúa Kitô này. Đối với Thánh Phêrô, không khác gì bất kỳ đồng hương nghèo nào trong bộ áo rách rưới, luôn bận rộn với sứ vụ của Thầy mình. Cả ngày lẫn đêm ngài đi lại giữa đám các lều quán và các nhà trọ; ngài trải qua giờ này tới giờ kia gần khu bến cảng chất đầy những kiện hàng; quý báu hơn nữa là những phút ngày cử hành Thánh Thể cho đoàn chiên không ngừng lớn mạnh của ngài, và chào đón họ đến với Chúa Kitô, và được xây dựng trên Người như những tảng đá sống động đặt trên tảng đá góc. (1Pr 2, 5)
Tiếng đồn về những việc làm này cuối cùng cũng đi nhanh tới tai Claudius. Ông được các do thám cho biết gần cảng có những hoạt động mờ ám của một tôn giáo mới được phát hiện và nên được tường trình ngay cho nghị viện. Chúng xác quyết với Caesar rằng vì giáo phái của người Hán này là một “mê tín ngoại lai” nguy hiểm nhiều lần hơn bất kỳ hay tất cả các tôn giáo lôi cuốn đang cạnh tranh nhau trong hoàng thành này. Thực ra, lạ lùng thay mức phát triển và lan rộng của việc tôn thờ bí mật Đấng Chịu Đóng Đinh này! Còn Claudius chắc hẳn phải rất khó chịu khi biết đến việc trở lại của Philô, của Prudens, các nghị viên Rôma, và hai người con gái xinh đẹp của chính ông: Praxedes và Prudentiana. Còn nữa, Nếu thành phố không vì tò mò về số phận của một Simon vĩ đại, thầy pháp, người thất bại cách công khai trong việc phục sinh một người trẻ đã thực sự gây ngạc nhiên bởi một người Do Thái mới tới đã thực hiện chính phép lạ đó. Và khi tên lừa phỉnh láu lỉnh này cố gắng thêm để gạt gẫm dân chúng bằng cách tuyên bố ông sẽ bay lên trời, ông phải chịu một hậu quả tương xứng, vì do lời cầu nguyện của đấng được chọn, quỷ dữ đã xa rời ông và để ông rớt xuống đất đổ máu. Sự kiện này và những sự kiện lạ lùng khác không làm chứng cho điều gì khác hơn hoạt động bao quát của vị Thủ lãnh các Tông Đồ đang gieo vãi hạt giống Giáo Hội.
Thủ Lãnh các Tông Đồ
Ánh nhìn tiếp theo chúng ta hướng về Thánh Phêrô tại Công đồng Giêrusalem - khoảng năm 50 sau CN – một giám mục ở giữa và bên trên các giám mục, việc duy trì tính siêu vượt được Thiên Chúa ban cho. Tất cả các Tông Đồ, đang rao giảng Tin Mừng trên thế giới, hội tụ lại tại Thành Thánh; có quá nhiều điều cần sắp xếp lại, nhiều khó khăn cần giải quyết, nhiều vấn đề đòi hỏi quyết định thực hành. Một vấn đề nghiêm trọng nổi lên là liệu người dân ngoại vào đạo có phải giữ luật Cựu Ước hay phải chịu phép cắt bì hay không! Vấn đề được bàn thảo cặn kẽ, những lập luận được đưa ra từ hai phía. Và rồi Phêrô đứng lên nói một bài dài và đưa ra phán quyết đã được cân nhắc của ngài:
“Anh em thân mến, anh em biết rằng trong những ngày trước, Thiên Chúa đã chọn lựa giữa chúng ta, là qua miệng của tôi mà dân ngoại được nghe lời tin mừng và tin theo.
“Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, đã làm chứng, đã ban Thánh Thần cho họ cũng như cho chúng ta; không phân biệt giữa chúng ta và họ, thanh tẩy tâm hồn họ nhờ đức tin.
“Vì vậy giờ đây, tại sao anh em thử thách Thiên Chúa đặt gánh nặng trên cổ những môn đệ, điều mà cả cha ông chúng ta lẫn chúng ta không thể mang nổi? Nhưng bởi ân sủng Chúa Giêsu Kitô, chúng ta tin để được cứu thoát, theo cách thức họ cũng đã được.” (Cv 15, 7-11)
Sau đó các tông đồ khác giữ thinh lặng cho đến khi Thánh Phaolô và Thánh Barnabas tán thành tất cả những điều vị Thủ lãnh Giáo Hội đã nói. Và rồi Thánh Giacôbê, giám mục sở tại, gồm tóm lập luận trong những lời sau: “Anh em thân mến, Simon đã vừa công bố!” Có điều nào diễn tả rõ ràng hơn điều này là Thánh Phêrô được nhìn nhận là Đại Diện Chúa Kitô…
Rời bỏ cổ thành của vua Đavít, vị tông đồ có quá trời công việc phải làm. Thực sự nặng nề biết bao bổn phận được trao phó qua ơn gọi nuôi dưỡng chiên mẹ và chiên con của ngài. Đoàn chiên của ngài bị phát lưu khắp đó đây xa khỏi thành Giêrusalem Thiên Quốc, (1Pr 4, 10) bao gồm các Kitô hữu Á châu cũng như Phi châu và Tây phương. Và có vẻ như vị phát ngôn của Đức Kitô có thể đã thăm viếng những cộng đoàn đông đảo những người bị phân tán, từ Parthians, Mêđia, Elamites và những người sống trong vùng Lưỡng hà địa hẳn đã có mặt trong đám đông nghe ngài giảng trong ngày lễ Hiện Xuống. Hãy thử hình dung Thánh Phêrô trên các cuộc hành trình truyền giáo này! Năng lực bốc lửa ngày xưa được điều chỉnh bởi chất giọng mang phẩm chất tông đồ, một âm hưởng có thể còn được nghe thấy đó đây trong Tân Ước. Không người nào sống trong thời đó đứng trên bình diện cao như vị Đại Diện Đức Kitô không biết sợ hãi này; không có sự kiện lịch sử nào của những ngày xa xưa này nổi bật như tính kiên vững không suy xuyển của Giám mục thành Roma Thánh Phêrô thực sự lướt qua những trang cuối của Sách Thánh như người du khách đi vượt trên các đỉnh núi. Các bạn nhìn thấy ngài lúc này, nhưng rồi ngài lại khuất sau đường chân trời, biến mất giữa bóng tối đen sẫm và u tịch. Và kìa ngài lại xuất hiện mạnh mẽ, không mỏi mệt, tiếp tục nỗ lực cách bền bỉ. Tất cả những điều đó cung cấp cho chúng ta nhật ký truyền giáo mà hai lá thư của ngài, thay vì đưa ra những địa danh, lại cung cấp một câu chuyện đứt quãng về cuộc phiêu lưu dạn dĩ vì Chúa Kitô. Tuy nhiên tất cả những ai chạy nhanh cũng có thể hiểu ra hình ảnh một vị mục tử vĩ đại, không ngủ, chịu đựng nắng mưa, canh gác đoàn chiên tản mác của mình, từng con một đều cận kề trái tim ngài.
Khổ nạn bởi Ngọn Lửa và Lưỡi Gươm
Những ngày thử thách cay đắng đối với Giáo Hội non trẻ vẫn tiếp diễn, dường như không dứt. Nêrô vị hoàng đế cuối cùng trong gia đình Caesar, lên ngôi năm 54 trước CN, và ác thú là từ ngữ phù hợp để diễn tả triều đại kéo dài hơn một thập kỷ của ông. Do lối sống quỷ quyệt của mình, ông vượt qua mọi giới hạn của tình yêu hay lòng thương xót, thực sự mọi tính nhân đạo. Có lần ông đã tuyên bố trong tâm trạng đen tối “Vua Priam đã may mắn được thấy cảnh tàn rụi của thành Troy”, và khi được kể cho biết rằng Gaius đã thường trích dẫn câu nói: “Khi tôi chết hãy nhấn chìm thế giới trong lửa,” vị hoàng đế tàn bạo này để lộ tâm hồn đen tối của ông khi đáp lại, “Nhưng khác hơn nữa là trong khi tôi đang sống”. Nửa điên nửa dại ông phóng lửa đốt thành phố lớn, và rồi tìm cách chạy tội bằng cách đổ lỗi cho những người Kitô hữu, chống lại những người này mà Hoàng hậu Popoea đĩ thõa của ông đã khơi lên âm mưu cá nhân của ông. Nỗi cuồng loạn hủy diệt xâm chiếm Nêrô, tất cả lòng căm ghét dân ngoại đang có ngập tràn trong tâm địa xấu xa của ông. Non licet Christianos esse! Là mệnh lệnh chết người được ban ra từ ngai vua của ông. Hết đợt bách hại này đến đợt bách hại khác, cuộc tàn sát này đến cuộc tàn sát khác, đám đông cuồng loạn được thúc đẩy và xúi bẩy bởi vị hoàng đế này. Hãy để các sử gia Rôma phác họa cảnh tồi tệ này: Tacitus viết “Một đám đông lớn bị kết án, không mấy liên quan đến cáo buộc gây nên hỏa hoạn, mà vì lòng căm ghét sắc dân này. Và khi chết họ chịu làm đối thủ trong trò thể thao, vì họ bị trùm trong những bộ lông thú dữ, và chết khiếp vì những con chó, hoặc bị đóng đinh lên các cây thập giá, hoặc bị thiêu cháy, rồi khi ngày tàn họ bị đốt làm đuốc sáng soi ban đêm. Nêrô đã dành chính khu vườn riêng của ông cho các màn trình diễn này, ông cũng còn trình diễn một trò xiếc nữa, đôi khi trà trộn vào đám đông trong bộ y phục người điều khiển xa mã, thỉnh thoảng đứng trên chiếc xa mã của ông.” (Annal. 15, 44) Tên bạo chúa đã làm thế để ghi dấu quyền lực của ông trong đất nước xấu xa này, và Rôma được gọi là thành phố “say máu các vị thánh và máu các vị chứng nhân (tử đạo) của Chúa Giêsu”. (Kh 17, 6)
Hãy nghĩ tới thánh Phêrô trong suốt những ngày kinh hoàng này, sống trong cơn thử thách khốc liệt, đi đây đó để củng cố đàn chiên. Vị Đại Diện Chúa Kitô được tiền định để “làm chứng” và trở nên nạn nhân trong lễ hội tàn bạo! Người Thầy Chí Thánh của ngài đã nói rõ về điều này - “Quả thật, quả thật, Ta nói với con rằng, khi con còn trẻ, con tự thắt lưng và muốn đi đâu tùy ý. Nhưng khi con đã về già, con sẽ giang tay ra cho người khác thắt lưng. (Ga 21, 18) Truyền thống cổ xưa mô tả những hiểm nguy ngặt nghèo mà thánh Phêrô phải đối mặt, cả vực sâu nguy hiểm đang há miệng bên dưới gót chân ngài. Đàn chiên nhỏ bé bị bách hại ở Rôma, sợ rằng Người Cha Thánh Thiện của họ có thể bị bắt và Giáo Hội bị chặt mất đầu, đã nghiêng mình xuống để bảo vệ ngài bằng mọi giá. Tại sao, ôi, tại sao vị mục tử lại phải bị giết, để chiên mẹ và chiên con của ngài sẽ tản mác? Liệu đó có phải là chương trình của Chúa? Bị giằng co giữa khao khát được chịu tử đạo và mong ước chăm sóc cho phúc lợi của đàn chiên, Thánh Phêrô cuối cùng đành chiều theo yêu cầu tha thiết nhất của họ mà trốn khỏi hoàng thành. Nhưng kìa, chỉ qua Cổng Capena vị tông đồ tỵ nạn gặp Chúa Giêsu đang vác thánh giá! Ngài hỏi “Thưa Thầy, thầy đi đâu?” Và Đấng Cứu Thể của ngài trả lời: “Ta đi vào thành Rôma để được đóng đinh lần nữa cho con.” Ngay khi đó, Thánh Phêrô xao động vội vàng quay gót trở lại Rôma, chẳng bao lâu sau ngài bị bắt vô tù và tống giam tại Tullianum.
Là người tù tự nguyện vì Chúa Kitô, ngài chinh phục được người cai tù chịu rửa tội từ dòng nước suối vọt lên cách lạ lùng từ sàn nhà khô ráo trong phòng giam. Cuối cùng vào tháng Bảy năm 64 sau CN, đã đến ngày chứng kiến tuyệt đỉnh lòng tin cậy mến của ngài, hành vi mạnh mẽ nhất trong suốt cuộc đời ngài. Simon con ông Giôna, con người đã cố gắng, đã thất bại và lại trỗi dậy, và tiếp tục cố gắng, đã tiến thẳng tới, không sợ hãi, giành lấy chiến thắng cuối cùng trên thập giá. Được dẫn tới đỉnh Janiculum, ngài nài xin những người hành quyết để ngài chết ngược đầu xuống đất, như muốn nói rằng ngài không xứng đáng được chết trong tư thế của Thầy mình. Một bản mô tả trong phòng áo Đền thờ Thánh Phêrô xác định địa điểm nơi vị thủ lãnh các Tông Đồ kết thúc hành trình của mình trong đau đớn ghê sợ trong khi đám đông cuồng loạn la ó và giễu cợt nạn nhân của họ. Những lời thường xuyên trên môi miệng ngài được hoàn tất trong lá thư: “Vì điều này con được kêu gọi: bởi vì Đức Kitô cũng đã chịu đau khổ cho chúng ta, để lại cho anh em một gương mẫu để anh em cất bước theo sát gót chân Người.” (1Pr 2, 21)
Hạt Giống Giáo Hội
Như đề cập tới các hoạt động của các tông đồ khác, thật đủ để nói rằng họ rất vâng phục lệnh truyền của Thầy, và mang Tin Mừng tới cho các sắc dân ngoại giáo xa xôi. Hãy nhìn trên bản đồ thế giới cổ xưa xem bạn có nhận thấy các dấu ấn máu không tẩy xóa được của các sứ giả Chúa Kitô này không. Thánh Phaolô đã bị chém đầu ở Rôma rất có thể cùng với ngày Thánh Phêrô chịu đóng đinh. Thánh Anrê chết trên thập giá tại Patrae ở Achaia, trong khi thánh Giacôbê, giám mục thành Giêrusalem chịu chết chém bởi binh lính Hêrôđê. Thánh Philiphê rao giảng ở Samaria, đổ máu làm chứng cho Thầy mình ở Hieropolis; Thánh Bartholomeo (Nathaniel) bị lột sống tại Albanopolis, ở Armenia; Thánh Tôma, vị tông đồ cho Ấn Độ, sau khi đổ máu vì đức tin được chôn cất ở Edessa; Thánh Giacôbê hậu được cho là đã chịu đóng đinh trong khi rao giảng Tin Mừng ở hạ Ai Cập; Thánh Simon nhiệt thành được đồn đoán khác nhau hoặc chịu đóng đinh tại Babylonia hoặc ở các hòn đảo Anh quốc. Thánh Giuđa, được thánh Tôma sai đi tới nhà vua Edessa, chịu tử đạo tại Berytus; và Thánh Matthêu rao giảng ở Parthia và Ethiopia chịu chết tại Naddaber trong nước Ethiopia. Tất cả trừ thánh Gioan đã hiến mạng sống mình vì danh Chúa Kitô; tuy nhiên cuộc đời trường thọ của vị thánh được Chúa yêu có là gì khác hơn một cuộc tử đạo từ từ. Từng người và tất cả họ đã giữ chứng từ về Thiên Chúa, bước theo Đấng đã nói: “Này Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa sói rừng. Đầy tớ thì không lớn hơn chủ mình. Nếu người ta đã bách hại Thầy, họ cũng sẽ bách hại các con. Nếu thế gian này thù ghét các con, các con hãy biết rằng chúng cũng đã ghét Thầy trước. Tuy nhiên, hãy vui mừng không phải vì quỷ dữ khuất phục các con; nhưng hãy vui mừng vì tên của các con đã được viết trên trời.” (Mt 10, 16; Ga 15, 20.18; Lc 10, 20)
Một cái nhìn bao quát từ bên trên sẽ cho thấy Vương quốc của Đức Kitô đã lớn mạnh như hạt cải trong dụ ngôn của Thầy. Phải nhìn nhận rằng ngay từ đầu triều đại của Nêrô cho tới của Galerius các tín hữu bị coi như là những người ngoài pháp luật, tuy nhiên con số của họ vẫn gia tăng đều đặn. Các Kitô hữu ở Rôma, theo các ghi chép của Tacitus hình thành lên những cộng đoàn đông đảo, và tiếng kêu la ở Thessalonica cho thấy rằng các Tông đồ đã đảo lộn thế giới. Các trung tâm lịch sử ngày xưa như Antioch, Athens, Corinth, Philippi, Ephesus, Caesarea trở nên sống động với niềm tin, đông đúc các đồ đệ Chúa Kitô. Thực vậy, toàn thể thế giới dường như bừng dậy trước tiếng gọi của Thiên Chúa, khi Giáo Hội, đáp ứng nhu cầu của thời đại, tiến tới trước cách sáng tạo và mạnh mẽ. Không bao lâu sau tôn giáo mới này liên tục chiêu nạp từ mọi tầng lớp, những người đáng kể thuộc hoàng gia nữa. Dĩ nhiên tất cả những điều này đưa tới cuộc đối đầu chí tử, nhưng ngay cả cửa Hỏa Ngục cũng không thắng được. Nêrô, kẻ tự tử, đã được kế vị bởi các vị hoàng đế hung bạo khủng khiếp khác những người đã thử dùng lửa và lưỡi gươm để nhổ tận rễ Kitô giáo. Chưa có một thập kỷ nào mà con cái Giáo hội không chịu bách hại trong thực tại hay trong mối đe dọa. Sự xấu xa trên các tế đàn không chỉ là quá hiển nhiên, đáng sợ biết bao quyền lực của con cái của các bậc tổ phụ gian trá. Nếu trái tim họ mở ra với bao nhiêu ý tưởng đen tối, những căm thù cay đắng, những nắm đấm thô bạo, những thúc bách tàn ác có thế nhận thấy được ở mọi phía. Người Do Thái chối bỏ tín đồ Chúa Kitô, người Rôma phán xét và gọi họ là giáo phái tồi tệ, đã thuê các thám tử cáo buộc họ những tội ác nặng nhất, trong khi những kẻ vô lại loan truyền những bức biếm họa xấu xa để cố bôi xấu tôn giáo thánh thiện của họ.
Trong việc đương đầu với cuộc bách hại tàn khốc như thế Linus kế vị thánh Phêrô làm Giám mục Rôma, và được tiếp nối bởi Anacletus, rồi tới Clement người thiết lập lề lối vững chắc hơn và kỷ luật tốt hơn trong toàn Giáo Hội. Tất cả những môn đệ đích thực của Chúa Kitô đề cập tới vị Đại Diện Chúa Kitô như là vị giám mục hoàn vũ, hoàn toàn nhận thức rằng Rôma nắm giữ truyền thống Kitô giáo. Các tín hữu chịu đựng các cuộc bách hại mới dưới triều bạo chúa Domitian chính ông đã chết dưới tay một kẻ ám sát. Nerva nắm giữ ngai vàng và xử tử Đức Giáo Hoàng Clement vì đã từ chối tuân phục lệnh hoàng đế tế hương cho các thần minh Rôma. Năm 97, Evaristus kế vị Thánh Clement và hướng dẫn Giáo Hội non trẻ trong tám năm; Thánh Gioan vẫn còn sống, đức tin trải rộng mau chóng, và các Kitô hữu đạo hạnh mong chờ cử hành một trăm năm ngày Sinh của Đức Kitô. Đúng như lời Thầy Chí Thánh báo trước, Đá Tảng Phêrô đứng vững, ngay cả khi những đợt sóng giận dữ đánh phá cách tàn bạo nhất. Như một vấn đề lịch sử các vị giáo hoàng của hai mươi lăm năm đầu hình thành nên một chiến tuyến không thể phá vỡ của các vị tử đạo và cho tới thánh Giáo Hoàng Denis người chết vào năm 272 chưa có một vị Giám Mục Rôma nào không đi theo con đường của Vị Cứu Thế chịu đau khổ của mình. Nhưng Thiên Chúa viết nên những vở kịch cho các thời đại và cho con người, ngay cả những người chống Kitô giáo, cũng chỉ là các diễn viên. Cuộc bách hại này tới, mang theo hoa trái phong nhiêu, sức mạnh của Giáo Hội Chúa Kitô, như quyền lực của Đấng Sáng lập, có thể lớn mãi không bao giờ già cỗi, và chúng ta sẽ sớm nhận ra cách máu các thánh tử đạo trở nên hạt giống tốt cho mùa gặt Nước Trời trên toàn thế giới.
(còn tiếp)
Lm. Joseph A. Dunney, Lịch Sử Giáo Hội dưới ánh sáng các Vị Thánh, New York, The Macmillan Company, 1944.
HÌNH ẢNH











