Hồi ký Đồ Gốm - Chương 3 :TÔI ĐÃ GẶP NHỮNG VỊ THÁNH
Chương III
TÔI ĐÃ GẶP NHỮNG VỊ THÁNH
“Tôi đã gặp những vị thánh”. Tôi gọi các ngài là những vị thánh, không phải vì các ngài đã được Giáo hội tuyên phong, cũng không phải vì các ngài đã hoàn toàn tinh tuyền không còn khuyết điểm nào, nhưng vì các ngài đã được thấm nhuần tình yêu Chúa Giêsu và đã trở thành những hình ảnh sống động của Chúa trong những hoàn cảnh rất thực của đời thường. Qua đời sống của các ngài, người ta sẽ nhận ra rằng ai cũng có thể sống thánh thiện trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc đời và sự thánh thiện rất hấp dẫn, rất lôi cuốn. Tin Mừng của Chúa đúng là nguồn sức mạnh và bí quyết của cuộc đời hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh.
Những vị có đời sống thánh thiện tôi đã từng gặp thì rất nhiều, ở mọi hoàn cảnh của cuộc sống và thuộc đủ các thành phần: nam nữ, già trẻ, linh mục, tu sĩ, giáo dân, có vị là cha mẹ, có vị là tông đồ giáo dân trong Ban Hành giáo (Hội Đồng Mục Vụ), Ban Trị sự các Giới, các Phong trào, Hội đoàn Tông đồ, cũng có những vị không có chức vụ gì trong cộng đoàn, người giầu, kẻ nghèo, người khỏe mạnh, kẻ đau yếu, có người gặp hoàn cảnh rất khó khăn, nhưng đa số có gia cảnh và cuộc sống rất ư bình thường…
Dưới đây tôi chỉ ghi lại một số vị tiêu biểu là những vị tôi đã trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc, nhưng cũng có vị tôi chỉ được nghe kể lại, nhưng tất cả đã đánh động tâm hồn tôi và đã trở thành tấm gương cho tôi trong hành trình theo Chúa Giêsu, nên thánh và sống Tin Mừng.
1. Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Tôi được diễm phúc sống ở Rôma cùng thời với Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Nhiều lần được gặp gỡ và trao đổi với ngài, tôi cảm nghiệm được sự thánh thiện, lòng yêu mến Giáo hội và Quê hương của ngài rất sâu sắc và rất đáng học hỏi.
a) Tình yêu tha thứ
Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận bị cầm tù 13 năm khổ ải, trong đó nhiều năm ngài bị biệt giam. Cuộc đời của một tù nhân, nhất là tù nhân bị biệt giam chắc chắn gây cho ngài nhiều đau khổ.
Sau những năm lao tù, Đức cố Hồng y sang Rôma, rồi được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình. Trong chức vụ này, ngài được trao một căn hộ trong đó có nhiều phòng. Khi tôi có dịp đến thăm, ngài mời tôi: “Đức ông lại đây, tôi chỉ cho Đức ông xem chỗ này”, rồi ngài dẫn tôi đến xem một phòng trong căn hộ. Điều đặc biệt của phòng này là không có cửa sổ, rất bí vì thiếu không khí và tối tăm vì không có ánh sáng. Ngài chia sẻ: “Khi mới về đây, mở cửa phòng này ra, tôi giật bắn người và cảm thấy ớn lạnh. Nó làm tôi nhớ lại căn phòng biệt giam ngày xưa cũng tựa như căn phòng này”. Ngó vào căn phòng có vẻ ẩm thấp và ngột ngạt, tôi cảm thấy thương ngài vô cùng và tôi cũng cảm nhận được phần nào những năm tù tội của ngài cơ cực đến mức nào.
Suy nghĩ thêm, tôi thấy cảm phục Đức cố Hồng y, vì trong những năm tháng được tiếp xúc với ngài, tôi không hề nghe ngài than trách những người đã cầm tù ngài, những người đã là căn cớ cho muôn vàn đắng cay ngài phải gánh chịu. Ngài cũng không oán trách những người đã làm ngơ mà đáng lẽ ra phải bênh vực ngài hay ít nữa phải tỏ ra cảm thông và an ủi ngài.
Nơi Đức cố Hồng y, tôi thấy phảng phất hương thơm tình yêu tha thứ của Chúa Giêsu, khi bị treo lơ lửng giữa đất và trời. Trong nhục nhã và đau đớn tột cùng, Chúa đã cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không hiểu việc họ làm” (Lc 23,34).
Có đôi lần tôi đi thăm một vài gia đình cùng với Đức cố Hồng y, cùng với ngài ngắm mấy con cá trong bình thủy tinh, ngài nói với tôi: “Tôi đi tù về, khi thấy mấy con cá người ta nuôi trong bình hay mấy con chim người ta nhốt trong lồng, tôi thương tụi nó!” Tôi nghe và cảm thấu được phần nào tâm tình của ngài vì chính tôi cũng có lòng thương cảm như thế đối với những con chim bị nhốt trong lồng và những con cá được nuôi trong bình. Ngày nay đi trên đường, đôi khi tôi thấy có người đi mua chó về làm thịt, họ chở chúng, nằm chồng chất lên nhau trong một cái cũi hoặc thấy những con gà, vịt bị cột chặt hai chân và bị treo lủng lẳng và chổng ngược trên xe hai bánh, tôi thương những con vật ấy vô cùng. Trước khi chết còn bị hành hạ đau đớn! .
Xét cho cùng, những kinh nghiệm đau thương đó lại là ơn Chúa ban, vì nhờ những kinh nghiệm này, tôi trở nên nhạy cảm với nỗi khổ đau của những con người tôi gặp trong sứ vụ Mục tử sau này.
b) Thương yêu người nghèo
Khi Đức Cố Hồng y Phanxicô Xaviê được chọn làm Hồng y, tôi trong tư cách là Giám đốc Văn phòng phối kết việc mục vụ cho người Công giáo Việt Nam ở hải ngoại, tôi đã đến thăm và hỏi ngài: “Con sẽ thông báo tin vui này cho Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam tại hải ngoại. Đức Hồng y có muốn con nói gì với Cộng đồng về quà mừng cho Đức Hồng y không? Vì có thể người ta sẽ biếu Đức Hồng y những đồ vật không thiết thực, hoặc sẽ trùng nhau.”
Đức cố Hồng y suy nghĩ một chút rồi trả lời: “Xin Đức ông hãy nói: ai muốn tặng tôi vật gì trong dịp này, xin dùng số tiền đó giúp đỡ người nghèo”. Với câu trả lời rất đơn sơ này, tôi cảm được nơi Đức cố Hồng y lòng thương yêu người nghèo thật sâu đậm.
…
Chỉ hai sự kiện trên cũng đủ để diễn tả tinh thần và tâm tình thiêng liêng sáng ngời của Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê. Tuy nhiên, đó mới chỉ là hoa trái, là cái ngọn, cần phải nhận ra cái gốc, cái rễ. Vậy, đâu là gốc rễ căn cốt của cuộc đời Đức cố Hồng y?
c) Lòng say mến Thánh Thể
Trong
những tháng cuối đời, vì bệnh tình trở nên trầm trọng, Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê
không còn đi lại được, mà phải nằm giường ở nhà thương.
Những lần đến thăm ngài, tôi thường thấy ngài dán mắt vào chiếc Tivi ở góc tường, ở đó trình chiếu suốt ngày Mặt Nhật Mình Thánh Chúa. Ngài nói chuyện với tôi, nhưng chốc chốc lại liếc mắt nhìn lên Chúa Giêsu Thánh Thể trong Mặt Nhật. Cử chỉ đơn thường này làm tôi nhớ đến cuốn sách “Năm chiếc bánh và hai con cá”, trong đó Đức cố Hồng y đã cho biết làm thế nào để có thể dâng Thánh Lễ trong tù ngục. Tất cả động thái của Đức cố Hồng y biểu lộ lòng say mến Chúa Giêsu Thánh Thể rất mãnh liệt.
Tuy nhiên, ngài không chỉ có lòng say mến mà còn bắt chước sống như Chúa Giêsu Thánh Thể, biến cuộc đời của ngài trở thành hy lễ, thành quà tặng. Nhờ vậy, Đức cố Hồng y đã cảm hóa được những người tù cùng phòng, những người lính canh tù, thậm chí cả những chú công an được sai đến để kiểm soát và theo dõi ngài. Từ những người cai tù, canh gác, họ cảm phục Đức cố Hồng y, trở thành bạn hữu và đồ đệ của ngài, rồi họ giúp đỡ và che chở ngài…
Qua cuộc đời của Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê, tôi nghiệm thấy sức mạnh của tình yêu dâng hiến nơi Chúa Giêsu Thánh Thể, tuy rất êm đềm và âm thầm, nhưng có sức cảm hóa, lay động và biến đổi lòng người.
d) Lòng kính mến Đức Mẹ
Ngoài lòng sùng kính và say mến Chúa Giêsu Thánh Thể, Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê còn có lòng mến yêu Mẹ Maria cách đặc biệt. Có lần tôi tổ chức tuần Tu đức Hành hương cho giáo dân tại trung tâm CIAM và xin Đức cố Hồng y đến thăm, chia sẻ với họ đôi lời. Ngài hỏi tôi muốn ngài nói điều gì, tôi thưa: “Đức Hồng y nói gì cũng được. Bất cứ điều gì Đức Hồng y nói, anh chị em giáo dân cũng rất quý và trân trọng lắng nghe”.
Hôm đó, Đức cố Hồng y đã nói về Đức Mẹ La Vang. Ngài không chia sẻ về Đức Mẹ như một nhà nghiên cứu uyên bác hay một nhà giáo. Ngài nói về Đức Mẹ như một người con nói về mẹ của mình, lời nói giản dị đơn sơ nhưng rất thân thương gần gũi và đi vào lòng người. Những lời ngài chia sẻ biểu tỏ một lòng yêu mến Đức Mẹ thật sâu đậm, rõ nét và đã trở thành nguồn sức mạnh và niềm ủi an cho ngài trong những năm tháng tù tội.
2. Đức ông Juan Esquerda Bifet
Đức ông Juan Esquerda Bifet là người Tây Ban Nha, Giám đốc tiên khởi của trung tâm CIAM. Tôi được Đức Hồng y Agnelo Rossi, Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng cho các Dân Tộc sai đến trung tâm CIAM năm 1976 để cộng tác với Đức ông Juan Esquerda Bifet trong chức vụ Phó Giám đốc. Tôi cộng tác với ngài suốt 26 năm cho đến khi ngài nghỉ hưu vào năm 2002.
Suốt 26 năm cộng tác với Đức ông Juan Esquerda Bifet tại trung tâm CIAM và cả khi ngài nghỉ hưu cho đến nay, chúng tôi vẫn luôn quý mến và trân trọng nhau. Mỗi lần trở lại Rôma, không bao giờ tôi bỏ qua việc đến thăm ngài đang nghỉ hưu tại một Dòng gốc Mêxicô, còn Đức ông, ngài cũng không để lỡ dịp kỷ niệm nào của tôi mà không viết email chúc mừng và tỏ lòng quý mến.
Từng ấy năm chung sống, cùng hoạt động và cọ sát với nhau trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong các sinh hoạt và quyết định, nhất là khi ngài và tôi khác nhau về văn hóa, về kinh nghiệm sống, chức vị và tuổi tác, mà vẫn quý mến và trân trọng nhau, tôi nghĩ không phải là chuyện đơn giản thường có. Tôi khám phá ra Đức ông có được tâm thái sống như thế trong công việc và tương quan là nhờ ngài có đời sống thánh thiện, có nhiều nhân đức và kiến thức uyên bác. Về phần tôi, tôi cộng tác với ngài trong tâm tình tin tưởng, cảm phục và yêu mến.
a) Người của Chúa
Nếu được hỏi về dấu ấn nổi bật nơi Đức ông Juan Esquerda Bifet, thì hình ảnh đầu tiên nơi ngài hiện lên trong tâm trí tôi là“Người của Chúa”.
Chiều sâu cõi lòng của một người thường được biểu lộ qua cách ứng xử và lựa chọn nho nhỏ trong cuộc sống thường ngày và trong những hoàn cảnh khó khăn của cuộc đời. Tôi đã ở bên cạnh Đức ông cả trong cuộc sống an bình lẫn trong nghịch cảnh. Trong mọi hoàn cảnh, tôi cảm nhận được nơi Đức ông lý do nền tảng trở thành động lực tối hậu của cuộc sống và các lựa chọn luôn là Chúa Giêsu.
Nơi Đức ông Juan Esquerda Bifet, “chất Giêsu” toát ra rất rõ nét. Ngài viết rất nhiều sách và trong các sách ngài viết, có cuốn “Sức mạnh của sự yếu đuối. Linh đạo Thánh Giá” (La forza della debolezza. Spiritualità della Croce[1]). Đề tài “Sức mạnh của sự yếu đuối” được nhiều tác giả biên soạn, nhưng trong khi nội dung sách của các tác giả khác đi “vòng vo”, chẳng hạn như trình bày các triết thuyết, các danh nhân, các định luật tâm lý, các giáo huấn và gương sống trong các sách Cựu Ước, Đức ông Juan Esquerda Bifet đi thẳng vào Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, với đề tài cuốn sách “Sức mạnh của sự yếu đuối. Linh đạo Thánh Giá”. Nơi Đức ông, điều thánh Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Côrintô đã trở thành một hình ảnh cụ thể: “Trong khi người Do thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.” (1Cr 1,22-24).
Chúa Giêsu là lựa chọn tối hậu của Đức ông, vì Chúa Giêsu không chỉ là lý thuyết, nhưng là nguồn sống (x. Gl 2,20). Nhờ thế, Đức ông rất trung thực, bao dung và thanh thoát trong các hành xử của ngài.
b) Tinh thần trách nhiệm và lòng khoan dung
Một trong những tư cách lãnh đạo là dám nhận trách nhiệm và bênh đỡ người cộng tác dưới quyền mình, nhất là khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn.
Tôi đến trung tâm CIAM cộng tác với Đức ông Juan Esquerda Bifet khi vừa qua tuổi “tam thập nhi lập” và chưa bao giờ chịu trách nhiệm mục vụ, nên khó tránh khỏi thiếu sót và sai lầm. Chắc chắn có nhiều sai sót của tôi ngài biết và có những thái độ hay sai sót của tôi làm ngài buồn, nhưng trong suốt 26 năm làm việc và sống chung, rất ít lần ngài có “nhận xét” gì và khi phải nói, ngài nói đôi lời vắn gọn và nhỏ nhẹ thôi. Nơi Đức ông, tôi học được bài học về sự bao dung, đại lượng và nhân từ.
Trong việc điều hành trung tâm CIAM, Đức ông Juan Esquerda Bifet chỉ đạo, còn tôi là người thực hiện. Có lần vì một hành động, tôi gặp khó khăn với Bề trên. Khi biết hoàn cảnh, Đức ông lập tức lấy giấy bút viết thư cho Bề trên để trình bày là tôi đã hành động dưới sự chỉ đạo của ngài và ngài hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Người ta thường nói là sống với các Thánh rất khó vì các ngài hoàn hảo và đòi hỏi nhiều. Đối với tôi, sống với Đức ông Juan Esquerda Bifet, con người thánh thiện, tôi cảm thấy an tâm, vui tươi ngay cả trong những lỗi lầm và sai sót, tôi được khích lệ bởi chính sự thinh lặng đầy lòng nhân từ, kiên nhẫn và cảm thông của ngài. Từ kinh nghiệm sống này, trong trách nhiệm là Giám đốc Đại Chủng viện Xuân Lộc, tôi hay nói và khích lệ các chủng sinh luyện tập để “sống từ tâm và an bình với những bất toàn của những người xung quanh”.
c) Thanh thoát và tin tưởng
Trung tâm CIAM tuy do Bộ Loan Báo Tin Mừng cho các Dân tộc thành lập, nhưng ngân quỹ rất giới hạn. Có những lúc trung tâm CIAM gặp khó khăn về tài chánh trong việc tổ chức và điều hành các chương trình. Để giải quyết vấn đề này, Đức ông Juan Esquerda Bifet và tôi quyết định thành lập Quỹ “Canh tân Tinh thần Truyền giáo” (Fondo “Rinnovamento Spiritualità Missionaria”).
Quỹ này chúng tôi không quảng bá, cũng không quyên góp nên không ai biết, vì trong thực tế, Quỹ này chỉ là tiền lương giáo sư và tiền nhuận bút các sách Đức ông biên soạn, còn tôi chỉ đóng góp một phần rất nhỏ. Như vậy, Đức ông là người quyết định thành lập Quỹ và làm cho Quỹ thành sự, còn tôi là người quản lý điều hành. Nhờ có Quỹ này, chúng tôi điều hành các sinh hoạt của trung tâm CIAM cách suôn sẻ và thực hiện được các chương trình như dự tính.
Một điều rất quan trọng mà tôi ghi khắc trong lòng là Đức ông Juan Esquerda Bifet trao tiền cho tôi và tôi báo cáo cho ngài biết, nhưng ngài không bao giờ hỏi tôi về tiền bạc. Hơn nữa, khi ngài đã về hưu, còn tôi đã kết thúc trách nhiệm điều hành trung tâm CIAM và chuẩn bị về phục vụ tại giáo phận Xuân Lộc, ngài đã cho tôi quyền sử dụng tất cả số tiền Quỹ còn lại, mà trong thực tế là tiền của ngài, để đáp ứng các nhu cầu sứ mệnh mục vụ của tôi. Một số việc chung sau này tôi đã thực hiện được là nhờ vào số tiền trong Quỹ này.
Từ số tiền này, cùng với số tiền của gia đình, họ hàng và bạn hữu gửi tặng dịp tôi được tấn phong Giám mục, tôi đã thành lập Quỹ 3Đ để thực hiện trực tiếp, hoặc hỗ trợ cho các công việc bác ái và truyền giáo. Sau đó, tất cả số tiền nhận được, tôi đều bỏ vào Quỹ 3Đ.[2]
Thái độ của Đức ông Juan Esquerda Bifet liên quan đến Quỹ Canh tân Tinh thần Truyền giáo làm nổi bật nơi ngài sự thanh thoát khỏi của cải vật chất và lòng tin tưởng vô điều kiện vào người cộng tác. Những điều trên đây có cùng một nguồn gốc nơi tính cách của ngài là “Người của Chúa”.
Được sống và làm việc chung với Đức ông Juan Esquerda Bifet là niềm vui, niềm vinh dự và còn là niềm hy vọng, khích lệ tôi hoàn thiện bản thân để dấn thân phục vụ Chúa và Hội Thánh nhiệt thành hơn.
3. Cha Giám đốc khóa học tiếng Pháp
Học viện Urbano cho các chủng sinh được tự do xếp chương trình Hè. Khi còn là chủng sinh của Học viện, tôi thường làm ba việc trong các mùa Hè: bổ túc vốn liếng ngôn ngữ, làm công nhân vừa để có tiền trang trải các chi phí cho các nhu cầu cá nhân, đồng thời trải nghiệm sự cực nhọc của các công nhân và đi thăm các quốc gia châu Âu ngoài nước Ý để mở mang trí óc và tầm nhìn.
Một trong các mùa Hè, tôi sang Paris học tiếng Pháp. Vì lúc đó còn là chủng sinh, không có nhiều tiền nên tôi vào gặp cha Giám đốc khóa học để xin ngài giảm bớt cho một phần học phí. Sau khi nghe tôi trình bày, ngài lấy giấy bút viết cho tôi học bổng toàn phần. Tôi vui mừng đón nhận “món quà” này. Nhưng điều thực sự làm tôi cảm động và nhớ mãi là khi tôi đứng lên cám ơn ngài và rời văn phòng, ngài cũng đứng lên tiễn tôi ra tới cửa và bắt tay từ giã tôi.
Thái độ của ngài làm tôi ngỡ ngàng vì đó là thái độ đối với vị khách quý đáng kính trọng hay bạn thân, trong khi tôi chỉ là một chủng sinh trẻ và là người thụ ơn của ngài.
Tôi chỉ gặp ngài vỏn vẹn không tới 10 phút, nhưng khuôn mặt, thái độ và cử chỉ của ngài in sâu vào tâm trí và đến nay tôi vẫn còn nhớ. Tôi được đánh động vì thái độ của ngài hơn là vì số tiền học phí ngài cho tôi. Thái độ của ngài phải phát xuất từ một tình yêu tinh ròng, đã chất chứa trong lòng và được nối nguồn với Trái Tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu trên Thánh Giá mới có sức mạnh như thế. Tôi còn phải luyện tập lâu năm mới đạt tới được mức độ yêu thương như ngài.
4. Một linh mục thừa sai
Trong một khóa thường huấn dành cho các linh mục và nữ tu thừa sai được tổ chức tại trung tâm CIAM, một linh mục thừa sai đến gặp tôi bàn hỏi và ngài chia sẻ cho biết mới được Bề trên sai đến một vùng truyền giáo mà đối với ngài, đây là sứ vụ rất khó khăn, nguy hiểm. Ngài nói: “Nghĩ đến viễn tượng của vùng truyền giáo đó, con sợ”.
Mặc dù tôi đã được nghe nhiều người nói hai tiếng “Con sợ”, nhưng tôi chưa bao giờ nhận thấy nỗi sợ hãi thật nơi những người nói hai tiếng đó. Còn cha thừa sai này, khi nói “Con sợ”, tôi cảm được ngài đang sợ hãi thực sự trước sứ vụ truyền giáo được trao phó. Sau đó, ngài hỏi tôi nên có thái độ thế nào?
Mặc dù tôi thấu cảm được ngài thực sự sợ hãi, nhưng trong
thâm tâm, tôi lại cảm thấy có sự gì thúc đẩy, nên tôi khuyên ngài đừng dựa vào
những cảm xúc nhân loại, nhưng dựa vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Tôi nói với
Ngài: “Nếu tôi ở trong hoàn cảnh của cha, tôi cũng sợ như cha đang sợ và có thể
tôi sẽ từ chối sứ vụ. Tuy nhiên, với ơn gọi thừa sai truyền giáo, chúng ta được
Chúa qua Bề trên, sai chúng ta đến nơi mà Chúa cần. Có thể điều mà Chúa cần ở
nơi đó là sự đau khổ hay cái chết của chúng ta, nhưng cái chết trong sự vâng phục
dâng hiến và vì sứ vụ sẽ đem lại an bình cho nhiều người ở nơi đó, sẽ là hạt giống
của sự tha thứ và hòa giải, giúp những người đối kháng nhau trở thành anh em, bạn
hữu.
Tôi cũng chia sẻ với linh mục thừa sai ấy là khi tôi nghe tin có vị thừa sai bị giết trong cánh đồng truyền giáo, phản ứng tự nhiên của tôi là thương cảm, xót xa và đôi khi còn khơi lên trong lòng sự cay đắng. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của Tin Mừng, tôi lại cảm tạ Chúa vì tôi tin cái chết ấy là của lễ hy sinh đẹp lòng Chúa nhất và sẽ đem lại nhiều ân phúc cho muôn người ở vùng mà vị thừa sai đó đã hy sinh dâng hiến cuộc đời. Tôi dâng lời chúc tụng Chúa vì đã có một môn đệ dám theo chân Chúa, can đảm sống chứng nhân “hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Tôi cũng cầu xin Chúa dùng cái chết của các vị thừa sai để hòa giải các tâm hồn, soi sáng cho những người đang chất chứa trong lòng sự oán thù, đang khước từ Chúa được mở lòng để đón nhận tình yêu và ơn phúc của Ngài.
Sau khi nghe tôi chia sẻ, cha thừa sai đó đã trở về cộng đoàn, chuẩn bị hành trang và một tuần sau an bình lên đường đến nơi Bề trên sai ngài đến... Tôi xác tín có rất nhiều vị thừa sai thánh thiện đang âm thầm vâng phục và thực thi thánh ý Chúa, dấn thân theo con đường mà Chúa quan phòng hướng dẫn qua sự sắp xếp của Bề trên. Nhờ đó, Tin Mừng của Chúa như vết dầu loang, cứ từ từ lan tỏa khắp thế giới và thấm vào những mảnh đất khô cằn là tâm hồn con người.
Thái độ của cha thừa sai này làm tôi nhớ tới một nữ tu thừa sai mà tôi đã gặp trong một buổi tĩnh tâm khác, cũng tại trung tâm CIAM. Nữ tu này đến chia sẻ là muốn đi truyền giáo, nhưng có người cha tuổi đã cao và sức khỏe không được dồi dào. Nữ tu này muốn chờ đến khi người cha hoàn toàn bình phục rồi sẽ đi. Nữ tu hỏi tôi:
- Cha nghĩ thế nào?
- Chị có muốn đi truyền giáo không?
- Thưa, con muốn.
- Vậy, chị cứ đi. Nếu ông cố của chị hiện đang đau nặng và có thể không qua khỏi thì chị nên chờ xem sao, nhưng nếu chỉ là yếu đau của tuổi già, chị cứ đi và khi cần chị có thể trở về; ngày nay phương tiện di chuyển dễ dàng. Nếu chị chờ đến khi ông cố khỏe hẳn, chị sẽ không bao giờ đi truyền giáo được. Đàng khác, nếu chị quảng đại lo việc của Chúa, Chúa sẽ lo việc của chị.
Nữ tu này nghe vậy, nét mặt tỏ ra buồn sầu, không nói gì. Sau đó tôi được nghe biết là chị đã không lên đường truyền giáo. Nghĩ về chuyện của nữ tu này, tôi nhớ lại trường hợp chàng trai giàu có trong Tin Mừng thánh Marcô. Đây là một chàng trai rất tốt, giữ mọi giới răn từ khi còn nhỏ. “Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: ‘Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.’ Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.” (Mc 10,21-22).
5. Sơ Gaeta, nữ tu người Ý
Khi còn ở bên Rôma, tôi được mời giảng Tĩnh tâm cho một dòng ở miền Nam nước Ý. Ngày thứ hai trong tuần Tĩnh tâm, Sơ phụ trách cộng đoàn nơi tổ chức tuần Tĩnh tâm nói với tôi là có sơ Gaeta đang nằm ở nhà thương muốn gặp tôi. Tôi không nhớ đã quen nữ tu nào tên là Gaeta và cũng chẳng biết nữ tu đang nằm trong bệnh viện muốn gặp tôi có chuyện chi. Sang ngày thứ tư của tuần Tĩnh tâm, nhớ lại lời xin gặp của sơ Gaeta, tôi nhờ Sơ phụ trách cộng đoàn cho xe đưa tôi đến bệnh viện để thăm sơ Gaeta.
Khi tôi bước vào phòng dành cho một bệnh nhân, sơ Gaeta đang nằm liền ngồi nhổm dậy quỳ trên giường và chào tôi bằng cái hôn theo phong tục người Ý. Tôi cảm thấy ngượng ngùng và ngỡ ngàng, không phải vì cái hôn theo phong tục người Ý mà tôi đã quen, nhưng vì tôi không quen biết Sơ. Sơ Gaeta ngồi xuống và nói: “Cha có nhớ con không? Con là Sơ năm xưa đã tĩnh tâm tại trung tâm CIAM, nơi cha phụ trách điều hành và giảng tuần Tĩnh tâm. Sau bài giảng về mầu nhiệm Thập Giá, con đã đến bàn hỏi với cha…”
Những lời của Sơ gợi lại trong tâm trí tôi hình ảnh của một nữ tu đã đến tham dự tuần Tĩnh tâm tôi hướng dẫn tại trung tâm CIAM khoảng hai năm trước. Sau bài suy niệm về mầu nhiệm Thập giá, có một nữ tu đến bàn hỏi với tôi vì đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Nữ tu đó dáng người mảnh khảnh, sức khỏe yếu kém vì đã trải qua ba lần phẫu thuật. Nữ tu này cũng đang gặp nhiều khó khăn trong cộng đoàn, do bệnh tật, không thể làm được nhiều việc nên các chị em trong cộng đoàn không hài lòng và không muốn chấp nhận. Nữ tu này đã hẹn ngày gặp Bề trên Tổng quyền và có ý xin thay đổi cộng đoàn. Khi nghe bài suy gẫm về mầu nhiệm Thập giá, Sơ cảm thấy băn khoăn và được đánh động nên đến gặp tôi để bàn hỏi và xin ý kiến.
Nghe Sơ trình bày hoàn cảnh của mình, tôi cảm thấy rất thương và trộm nghĩ, nếu tôi ở vị thế của Bề trên Tổng quyền, chẳng cần Sơ này xin chuyển cộng đoàn, chỉ cần nghe hoàn cảnh của Sơ thôi, chắc chắn tôi sẽ đổi Sơ đi nơi khác.
Mặc dù lòng tôi rất thương Sơ trong hoàn cảnh khó khăn đó, nhưng vì tôi cảm nhận nơi Sơ đã biết đón nhận đau khổ cách nhẹ nhàng, êm dịu, không dáng vẻ chua cay hay oán hận và nhất là vì được mầu nhiệm Thập giá soi sáng và thúc đẩy, nên tôi đã khuyên Sơ: “Sơ cứ đi gặp Bề trên Tổng quyền, nhưng tôi nghĩ Sơ chỉ nên chân thành trình bày hoàn cảnh của Sơ, mà không nên xin đổi cộng đoàn; hãy để tùy Bề trên quyết định. Nhờ vậy, hy vọng Sơ sẽ nhận biết và thực hiện thánh ý Chúa. Phần Sơ, xin nhìn lên Thánh Giá và chiêm ngắm Chúa Kitô chịu đóng đinh, để Chúa nói vào lòng Sơ và cho Sơ biết điều Chúa muốn thực hiện nơi Sơ.”
Sau tuần Tĩnh tâm, Sơ đi gặp Bề trên Tổng quyền theo lịch hẹn. Đi gặp Bề trên về, Sơ đến gặp tôi với nét mặt nhu mì, giọng nói hiền dịu có trộn lẫn nỗi buồn và Sơ cho biết: “Thưa cha, con đã làm như cha khuyên dạy. Dẫu vậy, Bề trên đã chuyển con đi cộng đoàn khác”.
Hôm nay gặp lại, tôi thấy Sơ là một “người khác”: đầy nhiệt huyết, vui vẻ và quả cảm. Sơ cho biết Sơ bị bệnh ung thư và bác sĩ bảo chỉ còn sống khoảng chừng 6-7 tháng nữa thôi. Sơ nói: “Con nghe biết cha đến cộng đoàn của con, con muốn về cộng đoàn để gặp cha, nhưng con không đi được, nên con thầm nguyện xin Chúa đưa cha đến đây”. Im lặng giây lát, Sơ nói tiếp: “Chúa đã chiều con”; sau đó, Sơ chỉ vào giường bệnh của mình và nói: “Đây là bàn thờ của con và lễ vật là chính con, con hợp với Chúa Giêsu trên Thánh Giá để dâng lên Thiên Chúa Cha”.
Qua tâm thái và những
lời chia sẻ của sơ Gaeta, tôi được chứng kiến tận mắt sức mạnh của mầu nhiệm Thập
giá Chúa có sức biến đổi con người: cho dù đau đớn vì ung thư và đứng trước cái
chết không xa, lòng vẫn an bình, hạnh phúc và đầy sức sống vì đau khổ đã được
đón nhận với tinh thần mầu nhiệm Thánh Giá. Đó là tình yêu dâng hiến, lòng cậy trông
và phó thác.
Cuộc gặp gỡ nữ tu Gaeta lại hướng tâm trí tôi về Lộ Đức… Nếu Đức Mẹ đã hiện ra nhiều nơi và hễ nơi đâu có hình bóng Đức Mẹ là ở đó có người đau khổ đến tìm kiếm sự an ủi và che chở của Mẹ hiền. Xét về điểm này, Lộ Đức chiếm vị trí hàng đầu và đã trở thành trung tâm của các bệnh nhân. Hằng ngày đông đảo những người đau khổ, bệnh tật đến Lộ Đức tìm sự an ủi và xin ơn chữa lành của Đức Mẹ.
Với tình mẫu tử, Đức Mẹ Lộ Đức mời gọi và đón nhận những người con đau khổ tìm đến nương bóng Mẹ để được an ủi, vỗ về. Một khi những người con đau khổ đã được chuẩn bị, Đức Mẹ lại mời gọi tiến thêm một bước, đó là sẵn sàng đón nhận đau khổ, bệnh tật với tình yêu dâng hiến để kết hiệp với Chúa Kitô trên Thánh Giá, biến đau khổ thành nguồn ơn cứu độ cho chính mình và cho nhân loại. Tại Lộ Đức, Đức Mẹ đã xin thánh Bernadette: “Mẹ hứa cho con được hạnh phúc, nhưng không ở đời này, mà ở đời sau. Ở đời này, con có chấp nhận chịu đau khổ để cầu nguyện cho các kẻ có tội được ơn ăn năn trở lại không?”
Khi được đón nhận với đức tin và tình yêu, đau khổ, bệnh tật không còn là một gánh nặng nhưng trở thành một sứ mệnh, một kho tàng quý báu, đem ơn ích cho Giáo hội và thế giới. Chính vì vậy, thánh Phaolô đã nói với giáo đoàn Côlôsê: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh.” (Cl 1,24).
Trong tinh thần đó, nhiều bệnh nhân đến Lộ Đức trước tiên là để xin ơn chữa lành, nhưng sau khi được Đức Mẹ cảm hóa, họ lại không xin được khỏi bệnh nữa, mà sẵn sàng tiếp tục đón nhận bệnh tật để hợp với mầu nhiệm khổ đau của Chúa Kitô trên Thánh Giá, đem ơn cứu độ cho nhân loại. Các bệnh nhân đó về nhà, mang theo mình bệnh tật trước đây, nhưng với tinh thần mới, đem an bình và vui tươi vào cuộc sống và gia đình.
6. Sơ Ester, nữ tu người Tây Ban Nha
Hằng năm, trung tâm CIAM tổ chức nhiều khóa bồi dưỡng cho các linh mục, tu sĩ và giáo dân thừa sai truyền giáo. Trong một khóa bồi dưỡng dành cho các nữ tu, có sơ Ester, người Tây Ban Nha, thuộc Dòng Thừa sai thánh Augustinô, đã được sai đi phục vụ tại Algeria, một quốc gia mà những người Hồi giáo chiếm 98% dân số.
Kết thúc khóa bồi dưỡng, sơ Ester trở lại Algeria và tiếp tục phục vụ trong trách nhiệm một y tá. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, những người Hồi giáo quá khích, thù nghịch với Kitô giáo, bắt đầu nổi lên và giết nhiều kitô hữu, trong đó có một số sư huynh Lasan và 7 tu sĩ trong Đan viện Trappist Atlas Abbey tại Tibhirine.
Nghe biết tình hình bất an ở Algeria, đặc biệt tại nơi mà sơ Ester và cộng đoàn đang phục vụ, Bề trên Tổng quyền Dòng Thừa sai thánh Augustinô đã đích thân sang Algeria thăm cộng đoàn và nhận định tình hình để đưa ra những quyết định thích hợp. Sau một tuần xem xét tình hình và trao đổi với các nữ tu trong cộng đoàn, Bề trên Tổng quyền ngỏ lời với tất cả các chị em trong đó có sơ Ester: “Chị thấy tình hình ở đây rất nguy hiểm, các chị em có thể trở về Rôma hay về thăm gia đình để nghỉ ngơi một thời gian. Sau này, khi tình hình ở đây ổn định và an bình hơn, chị em có thể trở lại để tiếp tục phục vụ”.
Sau khi đã trao đổi thêm với Bề trên Tổng quyền và được biết những lời của Bề trên không phải là lệnh truyền đòi buộc vâng phục, nhưng là những lời khuyên và cho phép, sơ Ester và các chị em trong cộng đoàn đã thưa với Bề trên: “Xin Bề trên cho chúng em ở lại đây, vì đây là đoàn dân Chúa đã trao cho chúng em phục vụ”. Bề trên Tổng quyền không khỏi ngạc nhiên, vì thường tình, khi có chút khó khăn, nhất là khi gặp hoàn cảnh nguy hiểm đến mạng sống, ai ai cũng sợ và cũng muốn chuyển đi nơi khác an toàn hơn. Đàng này, mặc dù được khuyến khích, tất cả các Sơ trong cộng đoàn lại xin được ở lại chính nơi có thể nguy hiểm đến tính mạng. Lý do chính yếu không chỉ đơn thuần là tình cảm lưu luyến hay sự thương hại đối với đoàn dân mà các nữ tu đang phục vụ, nhưng vì ý thức được “đây là đoàn dân Chúa đã trao cho chúng em phục vụ”. Bề trên Tổng quyền chắc chắn rất cảm phục và hạnh phúc vì thấy đức tin và tinh thần dâng hiến của các chị em mình thật vững mạnh.
Từ giã các chị em trong cộng đoàn, Bề trên Tổng quyền trở về Rôma. Sau đúng một tuần, Bề trên nghe hung tin: sơ Ester, trên đường đi tham dự Thánh Lễ, đã bị một người Hồi giáo quá khích bắn chết. Khi nghe tin sơ Ester bị bắn chết, tôi nhớ tới Sơ với hình ảnh của một nữ tu có giọng nói nhẹ nhàng, có thái độ từ tốn, cởi mở, thân thiện và từ tâm hồn toát ra sự an bình, hạnh phúc, thanh thoát như không muốn níu kéo gì cho mình. Ngoài ra, cái chết của sơ Ester đúng là một sự dâng hiến, vì không phải là một sự rủi ro hay tình cờ, nhưng đã được đón nhận và chuẩn bị sẵn sàng từ trước khi xin phép Bề trên được ở lại nơi có nguy hiểm đang rình rập.
7. Một bệnh nhân ở bệnh viện Thánh Tâm
Một lần tôi có dịp đến bệnh viện Thánh Tâm[3], vào thăm một phòng có 5 người bệnh, trong đó có 4 người Công giáo và một thanh niên là Phật tử. Tôi vào thăm và nói chuyện với từng người, tất cả đều tỏ ra vui vẻ, niềm nở và kể cho tôi biết về hoàn cảnh gia đình, về nguyên do bệnh tật và thời gian nằm bệnh viện của mỗi người.
Trong 4 người Công giáo, có một ông mới nhập viện khoảng 2-3 ngày; ông bị gãy chân, nguyên do ông đi lễ sớm khi trời còn nhá nhem tối, có một thanh niên đi xe xô vào ông nên ông bị gãy chân...
Sau khi đã nói chuyện và thăm hỏi từng người, tôi chào ra về và không quên tặng mỗi người một cỗ tràng hạt nho nhỏ mà tôi thường tặng cho các em chịu bí tích Thêm Sức. Khi ông gãy chân nhận được món quà nhỏ này, ông hô lên thật to: “Lạy Chúa tôi, chẳng có cái may nào bằng cái may này, nếu con không gãy chân, làm sao con gặp được Đức cha, nếu con không gãy chân làm sao con nhận được món quà này”.
Nghe lời ông nói, tôi suy nghĩ: Đức cha cũng chỉ là một người như mọi người, nhưng trong con mắt đức tin, ông còn nhìn Đức cha như một người của Chúa. Món quà nhỏ chẳng đáng giá bao nhiêu, ai cũng có thể mua được, nhưng ông đã trân trọng và xem đó như là món quà quý giá đến từ Chúa qua sự trao tặng của Đức cha.
Đức cha cũng như cỗ tràng hạt chỉ là những dấu chứng rất đơn thường, nhưng với con mắt đức tin, ông nhìn xuyên qua sự đơn thường để nhận ra sự hiện diện của Chúa. Chính vì thế, mặc dù chân vẫn còn gẫy, thân xác vẫn còn đau đớn, nhưng ông tỏ ra rất an bình và vui sướng, vì ông đã gặp được Chúa.
Ông có được cảm nhận thiêng liêng này, chắc chắn vì ông đã để cho Chúa chiếu soi cuộc đời của ông, nhờ đó ông mới có thể nhận ra Chúa qua những dấu chỉ đơn thường và nghèo hèn mà Chúa dùng, để nói lên sự hiện diện và tình yêu của Ngài dành cho ông.
Hình ảnh bệnh nhân này thỉnh thoảng trở lại trong ký ức của tôi, thúc đẩy tôi dấn thân sống hết mình với căn tính và sứ mệnh, để trong mọi hoàn cảnh, tôi có thể trở thành dụng cụ qua đó, sự hiện diện của Chúa có thể trở thành sống động trước mắt tha nhân.
8. Người mẹ thánh thiện của nữ tu Maria Giuse
Tôi chưa từng gặp “Người mẹ thánh thiện” của nữ tu Maria Giuse, nhưng đọc những điều nữ tu này viết về người mẹ của mình, tôi nhận ra hình ảnh của nhiều người phụ nữ thánh thiện tôi đã có phúc được gặp trên hành trình mục vụ đời Linh mục và Giám mục của tôi. Vì vậy, tôi ghi lại dưới đây những lời tâm sự của nữ tu Maria Giuse viết về bà mẹ thánh thiện của mình, như thể nói về những người phụ nữ thánh thiện tôi đã từng gặp.
Kính gởi Đức cha
Con ghi lại lịch sử đời mẹ con như một lời Tạ Ơn Chúa và tri ân mẹ vì một đời hy sinh cho chồng, cho con, cũng chỉ để được như lời kinh “Lạy Cha” mẹ dạy các con đọc mỗi ngày: cho Danh Cha Cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Con muốn âm thầm ôm trọn tất cả những gì người mẹ yêu quý để lại cho con khi ra đi. Đó là một gia tài cao quí. Mẹ không có một đồng để lại cho con, nhưng đã để lại cho con mẫu gương sống đức tin vững mạnh, kho báu không mối mọt, vững bền mãi mãi đem lại Nước Trời cho con cái ở đời sau… Con cũng muốn tôn vinh các bậc cha mẹ, nhất là những người mẹ nghèo, lam lũ nắng mưa vì con vì cháu nhưng vẫn can đảm sống đức tin, một lòng trung thành vâng giữ những Lời Chúa truyền dạy, qua lời dạy bảo của các cha xứ, các Đấng bậc trong Hội Thánh.
Con xin được ân huệ chia sẻ với cha kính yêu…
Sr. Maria Giuse
“Mẹ con mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, trong đợt tháng Ba đói, 1945 vì ở tại làng nhỏ bé, nơi đã xảy ra nạn đói như ở nhiều nơi tại Việt Nam, làm chết hơn 2 triệu người. Hiện giờ vẫn còn là xứ đạo nghèo khổ trong Địa hạt nghèo nhất của Địa phận Bùi Chu, Nam Định.
Chúa gắn bó cho cha mẹ con nên duyên vợ chồng với tâm tính rất khắc khẩu nhau. Cha là đứa con của người ngoại giáo ốm yếu nuôi không được, đem cho người có đạo trong làng Công giáo để được sống. Với vết thương lòng sâu kín là bị dứt vú mẹ đem cho người khác, ông luôn khó chịu, nóng nảy như Trương Phi. Mẹ lại hiền lành vì thuở bé có bố làm ông từ, nhang đèn trong nhà thờ, dạy bảo đạo nghĩa. Nhưng cả hai đều có một điểm chung để có thể sống đến đầu bạc răng long, cho đến khi chết vẫn muốn ở cùng nhau trong một nghĩa trang, cùng một nhà thờ với Thánh lễ cuối đời.
Điểm chung của hai cha mẹ con là: Sống đức tin vững mạnh bằng việc sống vì người khác. Mẹ không biết chữ nhưng cả đời mẹ đã học thuộc bài học đó mà Chúa Giêsu đã dạy trên cây Thánh Giá: một cuộc đời sống vì yêu Cha trên Trời và vì yêu thương nhân loại dưới đất đến cùng.
Xin tôn vinh các bà mẹ nghèo như mẹ của con, để nên lời chứng cho Lòng Thương Xót Chúa luôn nâng đỡ những kẻ hèn kém bần cùng. Bằng cả cuộc đời vất vả tần tảo, mẹ thức dậy từ 2 giờ sáng để nuôi con bằng thúng xôi, gánh nước mắm, gánh bún để nuôi dạy 11 người con: Chúa mang về 2 người, còn lại 9 anh chị em. Mẹ luôn sống một Lời Chúa dạy: ‘Trước tiên hãy lo việc Đức Chúa Trời, còn mọi sự Chúa sẽ ban cho sau’.
Cha mẹ con di cư từ Bắc vào Nam năm 1954 chỉ có hai bàn tay trắng, nhưng vì đặt Chúa lên trên hết trong mọi chọn lựa nên đã chọn nhà ở gần nhà thờ, để con cái giữ đạo cho ngoan. Nghe lời Chúa ở nhà thờ, về dạy lại con cái, nhắc bảo con cái sống điều Chúa dạy qua lời dạy của các Đấng bậc trong Hội Thánh, luôn yêu thương chăm sóc từng đứa con mà không sống văn hóa ‘loại trừ’.
Mẹ luyện cho con mình biết lắng nghe Lời Chúa ngay từ thuở bé với những câu hỏi hằng ngày: ‘Hôm nay cha giảng gì?’ để sau này lớn khôn con cũng biết ham học hỏi Lời Chúa, lắng nghe Lời Chúa để sống Lời Chúa dạy, và đem Lời Chúa cho những người nghèo của Giavê. Những người nghèo nhất là những người không có Chúa, người không được biết Chúa, như lời Mẹ Têrêsa Calcutta từng chia sẻ với lòng xác tín.
Mỗi lần đi ngang nhà thờ, mẹ đều dừng lại cúi đầu cầu nguyện: ‘Con không biết chữ, vì cha mẹ chết sớm không được học hành, nhưng xin cho con cái con đừng đứa nào thất học, thiếu chữ.’ Dù đến khi con cái lớn khôn một chút muốn đi làm để giúp đỡ gánh nặng của mẹ, mẹ vẫn một mực từ chối vì sợ con mất học, sợ con lây nhiễm bệnh tật hay bạn xấu. Và Chúa đã ban thưởng cho mẹ ngay ở đời này.
Dù đói khổ, buồn tủi từ bé phải cõng chị bị tật đi nương nhờ hàng xóm láng giềng, dù có lần bị chủ nhà đánh, đổ chén cơm đang ăn, nhưng vẫn luôn dạy con biết nhớ ơn tất cả những người đã làm ơn cho mình dù chỉ nắm cơm thừa canh cặn. Mẹ luôn nhớ ơn những người xa lạ chẳng biết mẹ là ai, nhưng thấy tình cảnh mẹ con màn trời chiếu đất không nơi nương tựa cho vào trú, với những lúc ngồi nhịn ăn, dành cơm cho con, đi chợ ít tiền cứ trả rẻ quá chẳng ai bán cho nên về nhà chỉ có chén cơm canh cua cho no lòng con trẻ.
Đến khi về già được hưởng phúc con cái nuôi dưỡng cũng vẫn chỉ nhớ tới những những đứa cháu xa quê, nghèo khổ. Dạy cho con biết sống đời hiến dâng ‘tất cả chỉ dành cho Chúa’. Từ bé, ai cho đồng xu nào thì góp lại xin lễ cho cha mẹ, tổ tiên, và cầu cho các linh hồn, dạy con biết thích sống khó nghèo, khiêm tốn, khi không cần thiết đừng thích tiện nghi, máy bay vi vút, du lịch đó đây, vì chính mẹ đã từng để dành tiền, thay vì đi máy bay cho an toàn đỡ mệt, thì đi xe đò về quê để có tiền chia sẻ cho người nghèo đói trong làng.
Dù hơn một lần cháy nhà trắng tay, mẹ vẫn chẳng coi đồng tiền là trên hết, nhưng coi trọng tình nghĩa bà con, xóm giềng, luôn quảng đại sẻ chia cho cả xóm những gì mình dư, dạy con không để cho kẻ khó đến nhà ra đi tay không; nếu không có tiền, thì ít là nắm gạo. Mẹ dạy con làm điều tốt lành dù nhỏ như nhặt bỏ cọng gai ngoài đường cho người đi đường không đạp đau chân... Đã có lần mẹ chẳng sợ kẻ gian, vẫn rước khách nghèo ngoài bến xe về cho ăn ở để thực hiện lời dạy của Hội Thánh ‘cho khách đỗ nhà’. Dạy con biết liêm chính, giữ tiền bạc, của chung như giữ của “lửa” không thể làm trái mục đích vì người nghèo, hay làm chỉ để mua danh phận. Mẹ thường nói: ‘Của lửa đó có thể khi chết đón con về Thiên Đàng hay đem con xuống lửa đời đời nơi hỏa ngục’.
Vô vàn những câu chuyện kể về người mẹ của con. Xin cho con khắc ghi để sống trọn tình với Chúa và hết lòng với người xung quanh để noi gương khiêm nhường, nhịn nhục, sống ngay thẳng, không gian dối, biết tha thứ và mong cầu những điều tốt lành cho người khác. Còn mình, đã có Chúa, Mẹ Maria, Thánh cả Giuse lo liệu cho hết.
Và con tin rằng mẹ của con đã được Chúa Xót Thương ngay ở đời này. Mẹ con hấp hối dài để được Chúa đón về trong bàn tay phù trợ của Thánh Cả Giuse trong ngày thứ Tư đầu Tháng và được Thánh lễ An táng trong ngày thứ Bảy đầu Tháng dưới bàn tay che chở của Mẹ Maria. Xin Tôn Vinh Chúa, vì ‘muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương’.”
9. Đôi dòng suy tư
a) Mọi người được mời gọi nên thánh
Cuộc đời thánh thiện của các vị trên đây, thuộc nhiều bậc sống, hoàn cảnh và sứ vụ khác nhau, cho thấy mọi người đều có thể nên thánh. Nên thánh không cần tìm kiếm những gì cao siêu, xa xôi hay to tát, nhưng nên thánh ngay trong trách nhiệm và hoàn cảnh của đời sống thường ngày.
Ai cũng có thể nên thánh: “Ông kia bà nọ nên thánh được, tại sao tôi lại không?” (Thánh Augustinô). Như vậy, cả những người yếu đuối tàn tật, những người có những phận đời hẩm hiu, những người có cuộc sống rất đơn thường trong xã hội và trong cộng đoàn, không đau khổ đặc biệt, cũng chẳng thực hiện được những công trình lưu danh hậu thế,… tất cả đều có thể nên thánh. Điều kiện duy nhất để nên thánh là biết vươn lên khỏi cách suy nghĩ thường tình để đi vào nhãn giới của Thiên Chúa; trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, sống phó thác, cậy trông vào bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa để yêu thương mọi người, cả những người không đáng được yêu.
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cắt nghĩa điều trên đây như sau: “Sự thánh thiện, đối với các tín hữu, là sống cuộc sống bình thường hàng ngày với tình yêu, lòng tin, trung thực, hối lỗi và hiệp thông với Chúa và với tha nhân. Đời sống thánh thiện không hệ tại làm những việc khác thường, nhưng làm những việc bình thường với tình yêu ngoại thường.”[4]
Điều này cũng được phản ánh rõ ràng trong Thánh Thi Giờ Kinh Sách, Lễ Thánh Giuse Thợ: “Chúng con cần gương ngài, để thấy kho tàng trong giọt mồ hôi. Thấy nụ cười trong từng dòng nước mắt. Thấy Nước Trời trong lòng đất cằn khô. Thấy sáng tạo, đi lên, tình người, yêu thương và hiệp nhất. Thấy lớn lao trong từng nhỏ nhặt, thấy vinh quang trong khổ nhục, ngài ơi.”
b) Khao khát, nâng niu nguồn mạch sự thánh thiện
Sự thánh thiện, nhất là sự thánh thiện lan tỏa qua ơn gọi độc thân, có một sức mạnh lôi cuốn lạ thường, có khả năng lướt lên trên nhiều rào cản, thu hút mọi người, nhưng lại hết sức giòn mỏng, cần phải được nâng niu và bảo vệ.
Sự thánh thiện không phải là một vật quý hiếm giữ trong bảo tàng viện, sở hữu một lần là có được mãi mãi, nhưng là hoa trái của mối tình thân với Thiên Chúa, cần phải được gìn giữ, nuôi dưỡng và phát triển thêm mỗi ngày. Đời sống thánh thiện sẽ được gìn giữ và làm tăng triển nhờ ba hành động sau đây :
- Khao khát Thiên Chúa: nuôi dưỡng lòng khát khao Thiên Chúa trong tâm hồn để cho lòng khát khao đó trở thành suối nguồn và nền tảng cho mọi khát khao khác. Lúc đó người ta có thể dùng lời Thánh Vịnh như thể lời của chính mình: “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.” (Tv 62,2).
- Dám chịu thiệt thòi và từ bỏ tất cả vì Chúa Giêsu, kể cả những thú vui chính đáng nho nhỏ hằng ngày: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được… Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14,26-27.33).
Ngoài những Giờ kinh Phụng vụ và đạo đức chung, cần có giờ cầu nguyện riêng tư với Chúa, nhất là trước Chúa Giêsu Thánh Thể để nuôi dưỡng tình nghĩa với Chúa và để nghe Lời Chúa thủ thỉ vào hồn: “Cha yêu con”.
[1] Juan Esquerda Bifet, La Forza della Debolezza. Spiritualità della Croce, Ancora, 1997.
[2] Khi nói đến Quỹ 3Đ, nhiều người nghĩ đến danh xưng “Đức Cha 3Đ” như người ta dùng để chỉ “Đức cha Đinh Đức Đạo”, nhưng không hoàn toàn như vậy. 3Đ là chữ viết tắt của tên cha là ĐÔN (Đinh Đức ĐÔN), tên mẹ là ĐẢM (Đinh thị ĐẢM) và tên con là ĐẠO (Đinh Đức ĐẠO). Với Quỹ 3Đ, tôi muốn nói lên lòng kính yêu và hiếu thảo đối với cha mẹ của tôi, để cho cha mẹ, mặc dầu đã qua đời vẫn còn tham dự vào công việc bác ái, truyền giáo tôi thực hiện.
[3] Ngày nay là bệnh viện Đa Khoa Thống Nhất, Tỉnh Đồng Nai
[4] ĐGH. Phanxicô, Triều yết Chung, ngày 19/11/2015.










