Các bài suy niệm Chúa Nhật 30 Thường niên Năm B
CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN – B
Lời Chúa: Gr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52
----------------------------------
Mục lục
1. Xin thương xót tôi (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)
2. Con đường vui (Jorathe Nắng Tím)
3. Câu hỏi của Chúa (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)
4. Một lệnh truyền (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)
5. Quyền van xin (Trầm Thiên Thu)
6. Sáng mắt, sáng cuộc đời (Lm. Nguyễn Xuân Trường)
.
XIN THƯƠNG XÓT TÔI
Lm. Jos DĐH.
Trên mạng xã hội, người ta kể câu chuyện vắn gọn, không kém phần sâu sắc như sau: một ông đại gia tới thăm anh bạn nhà giầu nhất vùng. Vừa bước vào cổng, con chó sủa ầm ĩ vụt nhanh về phía ông đại gia, ông ta vô cùng hoảng sợ trước sự can thiệp kịp thời của ông chủ nhà giầu. Ông nhà giầu trấn an người bạn bằng một câu thành ngữ quen thuộc: chó sủa là chó không cắn, hãy an tâm ông bạn quý của tôi. Nhưng ở đâu đó có tiếng nói rõ to: không phải tất cả mọi chú chó đều hiểu, và nhớ câu thành ngữ đó đâu ạ. Thật tình mà nói, người sống có tình có nghĩa, đi đến đâu cũng có bạn hiền. Con chó khôn ở chỗ biết nghe theo sự điều khiển của chủ, nhưng không có nghĩa là không biết tấn công kẻ xấu. Ông nhà giầu có thể sẽ không còn bạn đến thăm, nếu tình trạng chó nhà ông làm khách hoảng sợ. Không biết bạn là người tốt, hay xấu, nhưng nếu đi trong đêm tối, bạn không thể ngăn cản chó đừng sủa.
Không ai nghĩ truyền giáo là sứ mạng của các linh mục tu sĩ tài giỏi, cũng chẳng ai nói truyền giáo là bổn phận, của các đại gia giầu có. Tất cả những ai ý thức mình là kitô hữu, đều có thể nghe, hiểu, biết, và sống ơn gọi của mình cách đúng và đẹp nhất. Nhà giầu hay nhà nghèo, mắt tinh tai thính, mắt kém tai lùng bùng, đều có thể gặp nguy hiểm, nếu họ lầm tưởng, tôi tự đi đến thành công bằng thực lực của tôi. Người mù ngồi ăn xin ở vệ đường, tưởng không có gì để nói, vậy mà anh đã trở thành công, chỉ đơn giản, khi anh mở miệng nói lời “xin thương xót tôi”, hỡi Thầy Giêsu. Cứ tưởng truyền giáo là của các đấng có chuyên môn, cứ tưởng tuyên xưng Đức Giêsu là con vua Đavít, phải phát xuất từ hành động đẹp nơi các luật sĩ biệt phái ? Nhưng lạ thay, từ môi miệng anh mù, từ các hoạt động bác ái âm thầm ở khắp đó đây.
Cứ bình thường, kẻ đói khát, cần được ăn uống, người ăn xin, muốn được tiền, được gạo, người đau khổ tinh thần, cần được an ủi, cảm thông, kẻ túng thiếu vật chất tiền của, họ cần sức khoẻ, việc làm ổn định. Anh Bartimê ngồi ăn xin ở vệ đường, mù loà mà anh ta nghe được, hiểu được, Đấng sắp đi qua chỗ anh là Ông Giêsu con vua Đavít, thật lạ lùng. Anh Bartimê không xin tiền, không xin thực phẩm, cũng không xin địa vị, anh ta xin được sáng mắt, đúng hơn, là xin Ông Giêsu cho anh được tình yêu thương của Chúa. Khách quan mà nói, anh Bartimê có trăm ngàn nỗi khổ đau vì đôi mắt không nhìn thấy, nhưng anh vẫn đủ nghị lực để sống và trình bày với Đấng anh tin yêu.
Tục ngữ có câu: cú xấu mà cú lắm lông, có phải ý muốn nói rằng, đừng khinh thường ai cả, vì mỗi người đều có những điểm tốt. Cha ông ta thì nói: xanh vỏ đỏ lòng. Người trẻ thì dùng từ ngữ đặc thù hơn: nhỏ mà có võ. Các vị đạo đức lại nói, đôi mắt anh Bartimê không nhìn thấy, ấy vậy, trí lòng anh ta thì sáng hơn bình thường. Chúng ta có thể tự tin, nhưng đừng tự cao tự đại. Chúng ta khoẻ mạnh, tiếng tốt hơn anh Bartimê, thiết thực hơn một chút, chúng ta có tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa quyền năng bằng lời nói việc làm không ? Nếu anh Bartimê sinh ra trong tối tăm mù mịt, không phải do lỗi của anh, tuy nhiên, ở bên Thầy Giêsu quyền năng, anh không biết mở trí, mở lòng, thân thưa với Thầy: xin cho con được xem thấy, quả là thiếu sót.
Hãy chân thành và mạnh dạn lên: sự táo bạo làm tăng thêm can đảm, do dự lại kéo dài sợ hãi. Đức Giêsu chữa được các dị tật, thay đổi được đường đi nước bước của ta, như Ngài đã biến đổi biết bao tâm hồn tội lỗi trở nên xứng hợp với tình yêu của Thiên Chúa. Anh mù không nhìn thấy, thế mà trí lòng anh sáng lạ kỳ, trong khi đó nhiều người học cao hiểu rộng, nhìn mà không thấy, biết nhưng biết không đúng về tình yêu của Thầy Giêsu. Trong niềm tin có cả khiêm tốn cần thiết, chúng ta đủ khả năng để tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa, đủ sự nhạy bén để mở miệng xin lòng thương xót của Chúa. Vâng, Đức Giêsu đã hỏi anh Bartimê, Ngài cũng sẽ hỏi chúng ta: các bạn muốn Tôi làm gì cho các bạn ? Bệnh nhân gặp Thầy thuốc giỏi, quả là hạnh phúc, Thầy thuốc thấy “tội nhân” thật lòng thật tình sám hối, Thầy sẽ vui biết bao …
Nếu chỉ nói: lạy Đức Giêsu, xin thương xót con, hẳn không khó tí nào, nếu truyền giáo là mang tiền của dư thừa, cho những nơi đói nghèo, có lẽ chỉ các đại gia mới truyền giáo được. Khó khăn của người kitô hữu hôm nay không phải là tìm kiếm thầy thuốc tài giỏi, trở ngại lớn của các hoạt động truyền giáo là người ta cậy dựa vào khả năng của mình, hơn là cậy trông vào Chúa. Đối tượng mà Đức Giêsu hằng quan tâm xưa nay: dù tội lỗi hay thánh thiện, cuộc sống sung túc hay hoàn cảnh hẩm hiu, Thiên Chúa vẫn muốn ta tự trả lời: bạn muốn tôi làm gì cho bạn ? Chúng ta không mù loà thể lý, nhưng không vì thế mà ta bỏ qua cơ hội tuyên xưng niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể gọi là sáng mắt, sáng tâm hồn, khi biết khiêm tốn để tình yêu Chúa, biến đổi ta nên cùng một nhịp đập yêu thương. Amen.
CON ĐƯỜNG VUI
Jorathe Nắng Tím
Nhiều người lầm tưởng: con đường đến với Chúa, đi với Chúa là con đường sầu thảm, buồn thương, nặng lo âu, phiền não.
Tin Mừng hôm nay làm chứng ngược lại: con đường ấy là con đường vui, con đường tràn đầy niềm hoan lạc, phấn khởi, vì là đường của Thiên Chúa, và trên đường có Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ cùng đi với con người.
Là đường của Thiên Chúa đưa dân Người “trở về” từ miền đất lưu đầy, như ngôn sứ Giêrêmia đã tuyên sấm: “Ta quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo. Chúng trở về nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Ítraen, Ta là một người Cha” (Gr 31,8-9).
Là đường có Thiên Chúa, như đoàn tù nhân Xion trên đường trở về cứ tưởng mình “như giữa giấc mơ. Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng”. Họ như người “nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, reo vui hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 125, 1-2. 5-6).
Là đường Đức Giêsu đã bước đi: con đường Thánh Giá đau khổ và chết chóc đã dẫn đến buổi sáng Phục Sinh khải hoàn khi Sự Sống chiến thắng thần chết, và Thập Giá chiến thắng địa ngục; con đường khiêm hạ, vâng phục của Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng đã không tự gán cho mình vinh quang, vinh dự, cũng không tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Chúa Cha,“Đấng đã nói với Ngài: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Dt 5, 6).
Con đường của Thiên Chúa, có những bước chân cứu độ của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người cũng là con đường Thiên Chúa mời gọi con người bước đi với Ngài, con đường con người tìm gặp Thiên Chúa, và Thiên Chúa đến gặp con người.
Trên con đường ấy, có “người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Batimê, con ông Timê” nài xin lòng thương xót của Đức Giêsu khi anh lớn tiếng kêu van Ngài, bất chấp “nhiều người qúat nạt, bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi!” (Mc 10, 46. 48); trên con đường ấy, anh mù Batimê, khi nghe Đức Giêsu gọi đã “vất bỏ áo choàng, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu” (Mc 10, 50); trên con đường ấy, anh mù đã xin Đức Giêsu cho mình được thấy, khi Ngài hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10, 51); và cũng chính trên con đường ấy, Đức Giêsu cho anh được nhìn thấy, khi nói với anh: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” (Mc 10, 52).
Thực vậy, con đường người môn đệ được mời gọi bước đi với Đức Giêsu là con đường vui vì chất ngất lòng thương xót và nguồn ơn cứu độ, trên đó Thiên Chúa biểu lộ tình Cha toàn năng và nhân hậu đối với con người.
Đường ấy vui, vì là đường tín thác, trên đó chúng ta như anh Batimê, người ăn xin mù loà phấn khởi trong niềm hy vọng được thương xót đã mạnh dạn đến gần Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ để xin Ngài cho sáng mắt.
Đường ấy vui vì là đường sứ vụ, trên đó, Đức Giêsu sai chúng ta lên đường loan báo cho muôn dân Tin Mừng “Thiên Chúa yêu thương họ”, bằng làm chứng: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui” (Tv 125,3), như Ngài đã sai anh mù Batimê: “Anh hãy đi!” và làm chứng cho mọi người: “Lòng tin của anh đã cứu anh!” (Mc 10, 62).
Và tuyệt vời trên cả tuyệt vời, vui trên mọi niềm vui, vì đường ấy là đường chúng ta được Đức Giêsu kêu gọi đi theo Ngài như anh mù, sau khi được nhìn thấy đã “đi theo Người trên con đường Người đi ” (Mc 10, 52).
CÂU HỎI CỦA CHÚA
Bông hồng nhỏ
Hôm nay, Thầy Giêsu cùng với các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Thầy trò ra khỏi thành thì có cả một đám đông cùng đi theo. Trong đám đông ồn ào ấy, có ai nhìn thấy một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường không? Họ là những người sống trong thành chắc hẳn phải biết anh mù Bartimê này. Họ biết anh nhưng chẳng ai quan tâm đến anh, không ai muốn biết anh cần gì. Chỉ có Thầy Giêsu để ý đến anh, nghe tiếng kêu của anh và muốn biết anh cần gì.
Đám đông vừa đi vừa bàn tán với nhau về Thầy Giêsu, vì thế, anh mù cũng nghe thấy. “Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10, 47). Anh đã nghe biết về Thầy, về những phép lạ Thầy đã làm, về cách Thầy yêu thương những người như anh. Đám đông đi theo Thầy, bị lôi cuốn bởi lời giảng dạy và các việc Thầy làm nhưng họ chưa để cho Thầy chạm vào cõi lòng mình. Vì thế, họ hờ hững với một người mù như anh Bartimê, trong khi Thầy Giêsu dừng chân để tìm kiếm anh. Chẳng ai quan tâm anh mù tội nghiệp Bartimê ấy. Cuộc đời đã đẩy anh vào lề đường làm kiếp ăn xin. Nghe anh kêu gào cầu cứu, nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10, 48). Anh mù lòa, không nhìn thấy nét mặt giận dữ của những người trách mắng anh nhưng anh hiểu những gì họ diễn tả qua giọng nói, qua sự quát nạt. Nhưng anh tin vào Đấng mà anh gửi gắm niềm hy vọng, gửi gắm số phận và cuộc đời, vì thế anh dám chống lại cả một đám đông đang bắt nạt mình, dám vượt qua nỗi sợ hãi và mặc cảm, vượt qua khỏi cái lề đường mà anh đã bị đẩy vào để tìm kiếm Chúa. Anh đã dám sống khác với đám đông, không phải vì anh bị mù nhưng vì anh dám nói lên điều con tim thúc đẩy, dám kêu gào để cầu xin Đấng sẽ ban cho anh điều anh khao khát.
Thầy Giêsu đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10,49). Nghe lời yêu cầu của Thầy, người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” (Mc 10, 49). Phải chăng, chỉ đến khi nghe được mong muốn của Thầy, người ta mới biết sự hiện diện của anh mù, mới tỏ lòng quan tâm anh, mới trao cho anh sự tử tế. Nghe lời Người gọi, anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Thầy Giêsu gọi anh, vì Người thực sự quan tâm đến điều anh mong muốn: Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Chúa biết rõ điều anh đang cần nhưng vẫn muốn anh nói lên niềm tin tưởng của mình. Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” (Mc 10, 51-52). Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. Bao năm ngồi bên vệ đường ăn xin, anh đã nhận của bố thí từ đủ hạng người: có kẻ ném cho anh mấy đồng xu vì thương hại, có người đặt vào tay anh mẩu bánh vì lòng cảm thương, và cũng có kẻ cho anh những đồng dư bạc thừa vì muốn tỏ ra mình là người tốt, … Chỉ đến hôm nay, khi nghe được tiếng gọi của Thầy, cuộc đời anh mới được đổi khác. Anh không còn phải bám trụ vào lề đường đầy rác rưởi và bụi bặm, không còn phải chịu nắng nôi thiêu đốt hay những cơn mưa chợt đến. Anh sẽ đi trên đôi chân của mình, không phải là những bước chân mò mẫm, quờ quạng nhưng là những bước chân vững vàng trong ánh sáng của đôi mắt, và hơn thế nữa, anh bước đi trong hân hoan khi đi theo Người trên con đường Người đi.
Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã cho con nhận ra tình thương yêu của Chúa dành cho con. Con như người mù lòa ngồi ăn xin bên vệ đường, từng bước đi trong đêm tối của đức tin. Con đã tìm kiếm tình thương nơi những người đã bước qua cuộc đời con. Cuộc đời dạy con nhiều bài học về giá trị của cuộc sống, nhưng chỉ đến khi được Chúa chạm vào cõi lòng mình, con mới nhận thấy khuôn mặt tràn đầy tình yêu của Chúa nơi những người anh chị em con. Chỉ đến khi con dám bỏ lại đằng sau tấm áo choàng là những an toàn con đã cậy dựa để chạy đến với Chúa, lắng nghe câu hỏi của Chúa và đáp lại bằng cả lòng khao khát, con mới nhận ra được đâu là điều Chúa muốn dành cho con. Từ nay, con xin cất bước theo Chúa để làm môn đệ, xin Chúa lấy tình thương mà dạy dỗ con theo như ý Người muốn. Amen.
MỘT LỆNH TRUYỀN
Thiên San
Là Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng có sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đó là lệnh truyền Đức Giêsu đã ban cho chúng ta, khởi đi từ các Tông đồ đầu tiên. Trước khi lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha, Đức Giêsu đã ban cho các Tông đồ lệnh truyền này: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).
Chúng ta biết rằng, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta được tha tội nguyên tổ và mọi tội riêng ta phạm trước khi rửa tội, cùng mọi hình phạt do tội gây ra; được sinh lại vào đời sống mới, trở thành con cái Thiên Chúa; được gia nhập vào Hội Thánh là thân thể Chúa Kitô; được ghi vào trong linh hồn một dấu ấn thiêng liêng vĩnh viễn, để dự phần vào chức tư tế của Chúa Kitô. Vậy chúng ta hãy cùng nhau đến với muôn dân, để họ cũng được trở thành môn đệ của Người. Để họ cũng được hưởng các đặc ân kể trên. Nhưng chúng ta đến với muôn dân bằng cách nào?
Tin mừng thánh Mátthêu kể lại, Đức Giêsu đã từng cảnh cáo các Pharisêu về thái độ sống của họ khi nói: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình ! Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo ; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người” (Mt 23, 15). Sở dĩ Đức Giêsu lên án những người Pharisêu như thế là vì họ sống giả hình, lời giảng dạy không đi đôi với việc làm. Chúng ta được mời gọi rút chân ra khỏi “vũng lầy” của các kinh sư. Mỗi người sẽ là một lời rao giảng chân thật, sống động về sự hiện diện của Thiên Chúa khi chúng ta biết thống nhất giữa hành động và lời rao giảng. Chỉ cần người khác nhìn thấy chúng ta có một đời sống bác ái, yêu thương cụ thể cũng đủ để dẫn họ đến với Thiên Chúa.
Hiến Chương của các Hội dòng Mến Thánh Giá có viết: “Hình thức tông đồ căn bản nhất của chị em là sống đời thánh hiến trong cộng đoàn” (HC 71). Nếu như hình thức tông đồ căn bản nhất của các nữ tu Mến Thánh Giá là sống đời thánh hiến trong cộng đoàn thì hình thức tông đồ căn bản của các linh mục, tu sĩ hay giáo dân là gì? Thiết nghĩ, mỗi chúng ta có một ơn gọi và bậc sống riêng, mỗi người hãy dùng chính ơn gọi và bậc sống của mình để có thể thực thi lệnh truyền của Chúa. Người sống bậc vợ chồng hãy sống hòa thuận, thương yêu nhau, cùng nhau chăm sóc, dạy dỗ con cái. Người sống tu trì hãy sống theo tinh thần và đặc sủng của Dòng… Chung quy lại, chúng ta đều được mời gọi cùng nhau sống giới răn yêu thương mà Thầy Giêsu đã dạy, yêu như Thầy yêu.
Lệnh truyền của Thầy Giêsu là anh em hãy ra đi, làm cho họ trở thành môn đệ, dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em (x. Mt 28, ). Sau khi ra đi, làm phép rửa cho họ, chúng ta cần lưu ý đến việc dạy bảo họ tuân giữ mọi giới răn. Bởi nếu chúng ta cố gắng thuyết phục ai đó theo đạo và khi họ đã theo rồi, chúng ta lại không hướng dẫn họ cẩn thận thì họ sẽ bị rơi vào hỏa ngục như lời Thầy Giêsu đã nói với các kinh sư. Đọc các thư của thánh Phaolô tông đồ, chúng ta thấy rõ hành trình rao giảng Tin Mừng của ngài. Ngài là mẫu gương và là người thầy cho chúng ta trong việc rao giảng Tin Mừng. Khi đến một vùng đất mới, ngài mạnh dạn rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu và thiết lập các cộng đoàn tín hữu. Sau khi thiết lập các cộng đoàn và ngay cả khi đang ở trong cảnh tù đầy, ngài vẫn thao thức, lo lắng cho những người con tinh thần của ngài. Quả thực, không chỉ trở lại thăm hỏi các cộng đoàn mình đã thiết lập, ngài còn viết thư thăm hỏi, khích lệ, dạy dỗ họ về Tin Mừng Đức Kitô.
Mỗi ngày sống mở ra là một ngày để chúng ta thực thi lệnh truyền của Thầy Giêsu. Chúng ta hãy cùng nhau lên đường để mở mang và xây dựng nước Chúa để không chỉ chúng ta mà ngày càng có thêm nhiều người tin yêu Chúa. Hãy cùng nhau sống lệnh truyền ấy như lời Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng kêu gọi trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng là “đi ra vùng ngoại biên”. Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta có lửa nhiệt huyết, tin yêu để hăng say trên cánh đồng truyền giáo. Cách đặc biệt, chúng ta cũng nhớ đến các nhà truyền giáo đang gặp khó khăn, thử thách. Xin Chúa đồng hành cùng mỗi ngời chúng ta.
QUYỀN VAN XIN
Trầm Thiên Thu
Thiên Chúa yêu thương con người và ban cho nhiều loại quyền. Trước tiên là quyền sống – quyền làm người, gọi là nhân quyền. Trong đó mặc nhiên có những hệ lụy khác là nhân vị và nhân phẩm.
Ngài Thomas Jefferson (1743-1826) là tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1801-1809, khi đó ông mới 38 tuổi. Ông không chỉ là chính khách mà còn là nhà ngoại giao, kiến trúc sư, luật sư, nhạc sĩ, triết gia, đặc biệt là cha đẻ của bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ – United States Declaration of Independence.
Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, ông đề cập BA QUYỀN CƠ BẢN KHÔNG THỂ BỊ TƯỚC ĐOẠT của con người là Quyền Sống, Quyền Tự Do và Quyền Sở Hữu. Trong bản tuyên ngôn, quyền sở hữu gọi là “quyền được mưu cầu hạnh phúc.” Bản tuyên ngôn này được cả thế giới phỏng theo, thậm chí có kẻ còn mạo nhận là của mình. Ngài Thomas Jefferson xác định: “Nếu pháp luật bất công, người ta không chỉ phải bất tuân mà còn bắt buộc phải làm như vậy. Khi chính phủ sợ người dân, khi đó có tự do; khi người dân sợ chính phủ, khi đó có bạo quyền.” Như vậy không là phản động mà là thi hành quyền sống làm người chân chính và lương thiện đúng nghĩa.
Mọi thứ đều bởi Thiên Chúa: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.” (Ga 3:27) Về quyền hành, Thánh Phaolô xác nhận: “Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập.” (Rm 13:1) Có quyền không phải để áp bức, đàn áp, đè nén người khác, mà là để yêu thương và nâng đỡ người khác. Biết tôn trọng Quyền Sống của người khác là biết thương xót họ – Mối Phúc thứ năm trong Bát Phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5:7)
Về quyền van xin, thần học gia vĩ đại là Thánh TS Tôma Aquinô cho biết: “Chúng ta không có quyền đòi hỏi, nhưng phải nài xin Thiên Chúa ban cho ơn bền đỗ.” Ngài cho biết phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình là “nhận ra những ai là người phải tránh.” Đúng như tiền nhân minh định: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào.”
Được quyền van xin cũng có nghĩa là có quyền tự do: “Từ nguyên thuỷ, chính Chúa đã làm nên con người, và để nó tự quyết định lấy.” (Hc 15:14) Sự tự do cần thiết và tốt cho con người, nhưng chính quyền tự do vẫn có thể tác hại con người, tùy người ta tự do làm điều tốt hay xấu. Sự tự do dễ dẫn tới thói kiêu căng, ngạo mạn. Ông bà Nguyên Tổ đã “dạy” chúng ta về điều đó. Ngược lại, ông Gióp cũng có quyền tự do, nhưng ông không phạm tội và trung tín với Thiên Chúa mặc dù ông chịu đau khổ đến tận cùng. (x. G 1:1-22; G 33:9; G 34:5-6)
Công tâm mà nói, chúng ta rất vui vì được Thiên Chúa ban quyền tự do và cầu xin Ngài. Ngôn sứ Giêrêmia loan báo: “Đức Chúa phán thế này: Reo vui lên mừng Giacóp, hãy hoan hô dân đứng đầu chư dân! Nào loan tin, ca ngợi và công bố: ĐỨC CHÚA ĐÃ CỨU DÂN NGƯỜI, số còn sót lại của Israel! Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo.” (Gr 31:7-8) Hành động của Thiên Chúa vô cùng kỳ diệu, hành động phát xuất từ lòng thương xót vô biên của Ngài. Điều này không là chế độ “xin – cho” kiểu ban phát, mà là hành động của sự động lòng trắc ẩn, cũng không phải là lòng thương hại mà là tình thương xót vô điều kiện mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Đầu óc “bã đậu” của chúng ta không thể nào suy thấu!
Trong thời gian đại dịch Cúm Tàu Cộng như sóng thần dâng cao, chắc hẳn mỗi chúng ta thực sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự tự do sau thời gian bị phong tỏa, cách ly, giãn cách. Đó cũng là bài học cho con người về việc lạm dụng quyền tự do, khiến chúng ta phải trả giá quá đắt về quyền sống. Loại coronavirus độc ác hơn các loại virus khác, vì nó “đánh” thẳng vào phổi – trung tâm sự sống. Thật tang thương vì hàng chục ngàn người mất quyền sống – chết oan nghiệt. Rồi hàng ngàn trẻ em phải mồ côi, bơ vơ giữa chợ đời.
Liên quan tự do, những ai đã từng bị tù rồi mới biết thế nào là hạnh phúc khi được ra tù, được trả lại quyền tự do. Niềm vui đó khó tả vì nó quá lớn lao. Dân Israel đã từng có cảm giác kỳ lạ đó, họ thực sự vui sướng đến nỗi phải bật khóc. Ngôn sứ Giêrêmia nói tiên tri: “Chúng trở về, nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Israel, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Épraim chính là con trưởng.” (Gr 31:9) Và tất nhiên, điều tiên báo đó cũng đã được ứng nghiệm chính xác.
Thánh Vịnh gia mô tả cảnh tượng kỳ diệu đó: “Khi Chúa dẫn tù nhân Sion trở về, ta tưởng mình như giữa giấc mơ. Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng. Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán: Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay!” (Tv 126:1-2) Chắc chắn không ai có thể trì hoãn niềm vui sướng như vậy, thế nên chính họ hân hoan thốt lên: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.” (Tv 126:3) Và Thánh Vịnh gia cầu xin: “Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về, như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam. Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng.” (Tv 126:4-6)
Luật công bằng có vẻ giống như luật nhân quả vậy: Ai cười rồi sẽ khóc, ai sướng trước sẽ khổ sau. Ngược lại, ai khóc trước sẽ cười sau, ai vất vả rồi sẽ được hưởng kết quả. Một trong Bát Phúc cũng đề cập vấn đề này: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.” (Mt 5:5) Thiên Chúa là Đấng chí minh, chí công, chí thiện, chí thánh!
Còn chúng ta là phàm nhân yếu đuối, đầy tội lỗi, hứa lắm quên nhiều, cứ hối rồi phạm, đứng rồi lại ngã. Cứ thế và cứ thế,… Chu kỳ của chúng ta là những chuỗi ngày tháng sám hối và đền tội. Tuy nhiên, vì bất xứng nên Thiên Chúa tuyển chọn một số người thay chúng ta dâng của lễ đền tội. Người đó được chọn không phải vì xứng đáng, mà vì Thiên Chúa muốn hành động theo kế hoạch thương xót của Ngài. Thánh Phaolô cho biết: “Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người PHẢI dâng lễ đền tội cho dân thế nào thì cũng PHẢI dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy.” (Dt 5:1-5) Thiên Chúa quá nhân hậu.
Rất rõ ràng với lời giải thích của Thánh Phaolô: “Không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông Aharon đã được gọi. Cũng vậy, không phải Đức Kitô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: ‘Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con,’ như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: ‘Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê’.” (Dt 5:4-6) Được CHỌN thì cũng NHẬN trọng trách, vì không phải được chọn để ung dung sung sướng, tìm an nhàn cá nhân mà “vô tư” bỏ quên tha nhân, mà phải quên mình, dấn thân, hy sinh vì người khác. Đó là hệ lụy tất yếu về trọng trách.
Cách đây vài năm, trong một buổi tiếp kiến chung ngày thứ Tư, ĐGH Phanxicô nhắc nhở giáo sĩ phải cố gắng tránh xa cám dỗ để có thể trở nên mục tử hữu hiệu, và phải bảo vệ đàn chiên khỏi nguy hiểm. ĐGH Phanxicô dùng từ ngữ mạnh mẽ, ví von thực tế, thậm chí có thể gây “sốc” với một số người: “Nếu chúng ta ĐI VỚI NGƯỜI GIÀU, là chúng ta đang ĐI VỀ PHÍA HƯ VÔ, chúng ta sẽ trở thành CHÓ SÓI, chứ không phải người chăn chiên. Ngài cũng thúc giục tín hữu Công giáo cầu nguyện cho giám mục và linh mục.”
Thật Thà thì Thẳng Thắn, Giả Dối thì Cong Queo. Ngày xưa chính Chúa Giêsu đã thẳng thắn cảnh báo mà không sợ đụng chạm bất cứ ai: “Hãy coi chừng các NGÔN SỨ GIẢ, họ ĐỘI LỐT CHIÊN mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là SÓI DỮ THAM MỒI. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai làm gì có nho mà hái? Trên cây găng làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.” (Mt 7:15-17; Lc 6:43-45) Ngài cảnh báo để thức tỉnh những người “tai to, mặt lớn” – đại diện.
Chuyện anh mù Batimê ở Giêrikhô là vấn đề có liên quan quyền của con người, đực đề cập trong trình thuật Mc 10:46-52 (≈ Mt 20:29-34; Lc 18:35-43).
Khi Chúa Giêsu và các môn đệ cùng với một đám người khá đông ra khỏi thành Giêrikhô, có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường tên là Batimê. Vừa nghe nói đến Đức Giêsu Nadarét, anh ta liều kêu to: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Có thể anh đã quá khổ sở vì bị mù lòa, cuộc đời như bóng đêm dày đặc, nên anh khao khát được thoát khỏi cảnh tối tăm, nhưng anh không “cầu may” theo kiểu “vái tứ phương,” mà chắc chắn anh thực sự có lòng tin mạnh mẽ vào Chúa Giêsu. Chỉ nghe người khác nói về Ngài chứ anh không biết gì khác, vậy mà anh đã thực sự tin, không chút mơ hồ hoặc nghi ngờ.
Nghe anh kêu réo om sòm, dai như đỉa đói, nhiều người đã quát nạt bắt anh im, nhưng anh càng kêu lớn tiếng với điệp khúc van xin: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Có thể những người quát nạt anh là những người xấu bụng, không hề biết thương xót khi thấy người khác đau khổ. Đã không thương thì thôi, họ lại còn đâm bị thóc, chọc bị gạo. Chảnh chọe quá chừng!
Mặc kệ người ta. Anh vẫn vững tin và kiên trì van xin. Mắt anh mù nhưng hồn anh sáng. Còn chúng ta, mắt không chỉ sáng mà còn có thể đẹp nữa, thế mà hồn có thể lại đang mù lòa. Đã vậy thì chớ, đôi khi chúng ta cầu xin mà cứ như “ra lệnh” cho Chúa vậy. Thật thế, van hoài xin mãi không được thì nản lòng, bỏ cuộc, chứng tỏ đức tin chúng ta quá hời hợt, nông cạn. Đó là ích kỷ chứ không là cầu nguyện hoặc cầu xin.
Chúa Giêsu đứng lại và bảo gọi anh lại, vì Ngài không thể làm ngơ khi nghe lời van xin chân thành của anh. Có người ta gọi anh và động viên: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” Và chỉ chờ thế thôi, anh liền vất áo choàng, đứng dậy và đến gần Đức Giêsu. Ngài hỏi anh muốn Ngài làm gì cho anh thì anh nói: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Ngài nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Ngay lập tức, anh nhìn thấy được và đi theo Ngài trên con đường Ngài đi. Anh mù XIN và ĐƯỢC, Chúa Giêsu LẮNG NGHE và ĐÁP LẠI. Ngài và anh Ba-ti-mê đã cùng chung nhịp đập yêu thương. Chính đức tin của anh đã chạm vào Thánh Tâm thương xót của Đấng chữa lành. Thật tuyệt vời!
Bản chất Thiên Chúa là tình yêu. Ai càng yếu, Ngài càng thương. Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa thấy họ truân chuyên ngàn nỗi, nghe thấy lời cầu cứu van xin.” (Tv 106:44) Thiên Chúa là Đấng chạnh lòng thương xót và cũng động lòng trắc ẩn, chắc chắn Ngài luôn lắng nghe chúng ta van xin.
Lạy Thiên Chúa nhân hậu, xin chữa lành con mắt đức tin của chúng con để, xin ngăn chặn mọi bụi bặm trần tục bay vào mắt chúng con, để chúng con luôn sáng mắt nhận ra Ngài hiện hữu trong thiên nhiên, trong tha nhân, và trong mọi biến cố cuộc đời này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
SÁNG MẮT, SÁNG CUỘC ĐỜI
Lm. Nguyễn Xuân Trường
Các cụ thường bảo “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay.” Thế nên, đời buồn lắm khi mắt bị mù không nhìn thấy. Và đời vui biết bao khi được chữa lành sáng mắt, sáng cuộc đời.
1. Sáng mắt. Phúc Âm kể chuyện anh Ba-ti-mê bị mù phải ngồi ăn xin bên vệ đường. Khổ thật. Khi chúng ta mới bị đau mắt hay bị mất điện tối mù một chút thôi đã thấy khổ sở rồi, đằng này anh mù suốt đời mắt chẳng thấy gì, ngày này qua ngày khác chỉ thấy cả vũ trụ là một màu đen tối. Khổ ơi là khổ. May thay, Chúa Giêsu đã tới dủ lòng thương chữa lành cho anh sáng mắt, anh thấy đời tươi sáng.
2. Sáng cuộc đời. Nếu Chúa Giêsu chỉ chữa cho anh mù được sáng mắt thì Ngài cũng giống như một bác sĩ mà thôi. Nhưng Chúa là Đấng cứu độ, nên Tin Mừng ở chỗ: Chúa đã biến đổi cuộc đời, chứ không chỉ chữa lành 1 căn bệnh. Từ thân phận là một kẻ mù lòa ngồi lê lết bên vệ đường xin ăn, nay anh đã đứng phắt dậy và lập tức trở thành người môn đệ bước theo Chúa trên con đường Chúa đi.
Chúa đã làm cho anh mù sáng mắt, sáng cả cuộc đời, khiến anh phơi phới niềm vui. Và lời Đáp ca như muốn bật lên lời anh mù muốn nói: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.”
Xin mượn lời Thánh Thi của Giờ kinh Phụng vụ như lời nguyện cầu của mỗi chúng ta dâng lên Chúa:
Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt
Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi,
Con mù lòa, bên vệ đường hành khất,
Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài. – Amen.










