30/08/2021
210


1. “Mùa Xuân đã về trên cây lá, còn Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”.(tr. 208)

Đó là câu văn kết thúc tác phẩm. Đóa hồng thứ 40 có dáng dấp một truyện ký, ghi chép lại khá chân thực ba mùa xuân Thanh Hiền sống và làm việc trên đất Nhật. Thanh Hiền 25 tuổi, là Sinh viên trường Đại học sư phạm nghệ thuật Trung ương, chuyên ngành âm nhạc và dương cầm. Thanh Hiền đẹp, cô cao tới 1,7m. Khuôn mặt ưa nhìn và làn da trắng muốt. Cô xuất khẩu lao động sang Nhật, làm việc trong công ty đóng hộp cơm. 5 chương đầu kể chuyện chỗ ở, việc thực tập và làm việc hết sức vất vả. Ở công ty, Hiền bị Thu Cúc dụ dỗ đóng phim vợ chồng (phim JAV), nhưng cô tránh được. Những chương sau là hồi tưởng của Hiền về mối tình đầu với Chiến Thắng, cuộc tình thứ 2 với Apolong, cuộc tình thứ ba với Đình Trọng. Cả ba người đều bỏ cô để theo Chúa sống đời dâng hiến. Hiền cũng hồi tưởng chuyện tình của bố mẹ (Bà Hà-ông Minh), chuyện tình của người chị là Hoài Hương và việc Hương đi xuất khẩu lao động ở Angola, về thảm cảnh nợ nần, tai họa liên tiếp của gia đình. Để kiếm thêm tiền gửi về nhà trả nợ vay nóng,  Hiền đã nhận đàn cho ca đoàn ở nhà thờ Tin Lành, dạy nhạc cho học sinh lớp ba ở trường Tiểu học trong vùng với mức lương gấp đôi làm ở công ty cơm hộp. Cô có ước mơ sang Anh để kiếm nhiều tiền hơn. Hiền được Huy môi giới sang Anh “trồng cỏ”. Do bận công việc, Hiền phải lùi thời gian đi chuyến sau. May cho cô không đi chuyến ấy. Huyền My, một người bạn của Hiền đã trở thành nạn nhân của chiếc xe container chở 39 xác chết khi vào nước Anh. Người bạn ấy là đóa hồng thứ 39, và Hiền là đóa hồng thứ 40.

            Sau cùng, gia đình Hiền được đền bù tiền đất do quy hoạch, Hoài Hương đã trả được nợ và mở thêm một tiệm bán và sửa chữa ngư cụ cho bố (ông Minh). Hương được chị Mai là một đồng nghiệp giúp cho đi dạy lại. Thằng Cò (con của Hương) được đi học. Cuộc đời của cả gia đình Thanh Hiền như đã sang trang (tr.20). Hiền suy gẫm: “Chẳng phải Chúa đã cho cô một cơ hội được sống sót, đóa hồng thứ 40 này phải sống sao cho xứng đáng, sống sao cho có ích, sống cho cả 39 đóa hồng kia, đặc biệt là cho đóa Huyền My” (tr.187)

2. Truyện tập trung miêu tả tình cảnh của người xuất khẩu lao động và thái độ sống đức tin của người trẻ xa quê trong một môi trường văn hoá xã hội có nhiều khác biệt Kitô giáo. Chẳng hạn, Hiền trọ ở nhà ông Tokieda người Tin Lành với kỷ luật nghiêm nhặt, cô phải ứng xử thế nào để không xảy ra mâu thuẫn tôn giáo với ông bà; hoặc để có thêm tiền cô đã nhận chơi đàn cho ca đoàn nhà thờ Tin Lành, tập hát thánh ca Tin Lành, nghe Mục sư Tin Lành giảng mà không phai nhạt hoặc “rối đạo” so với tín lý Công giáo; hoặc chịu sự khinh miệt của bà Fuji. Hiền cảm thấy xấu hổ khi thấy có một em bé Nhật làm dấu khi ăn cơm trong khi lâu rồi cô đã không làm dấu trước mặt thiên hạ…

Nhưng chủ đề bao trùm là những ảo tưởng về kiếm tiền của người lao động xuất khẩu (hai chị em Hoài Hương và Thanh Hiền). Họ bị nợ chồng chất, nhất là khoản tiền vay nóng 250 triệu để được đi lao động. Ở Nhật, Thanh Hiền làm việc hết sức vất vả, và nếu không “làm thêm” thì chỉ đủ sống và dư chút đỉnh. Mơ ước trả nợ và đổi đời vẫn mù mịt.“Hiền băn khoăn tự hỏi, mình tới đây để làm gì? Đã gần hai năm trôi qua vẫn chưa trả hết số tiền đã nợ để đến được xứ sở này. Đâu là Thiên Đường, đâu là Địa Ngục? (tr.189).

        Truyện dài Đóa hồng thứ 40 còn đặt ra nhiều vấn đề “nóng” của xã hội Việt Nam đương đại. Đó là tuổi trẻ sống ảo, yêu ảo; vấn đề Formosa; việc xuất khẩu lao động chất chứa nhiều điều phạm pháp và hiểm nguy như vay nóng, bị dụ dỗ làm việc phạm pháp (như đóng phim JAV, trồng cần sa…); Vấn đề “đại kết” Công giáo và Tin Lành khi Hiền trọ nhà ông Tokieda người Tin Lành, và việc Hiền đàn cho ca đoàn nhà thờ Tin Lành, hát thánh ca Tin Lành (tr.23&tr.150). Ở Việt Nam sinh viên học xong ra trường, muốn xin được việc thì phải “chạy” tiền, hoặc phải bán thân cho giám đốc (chuyện của Huyền My, tr.140); Việt Nam đã không trọng dụng tài năng (tr.154), hoặc xu thế làm mẹ đơn thân không bị kỳ thị như hồi xưa (tr.201)… Vì tác phẩm thuộc dạng truyện ký nên những ghi chép về một số mặt đời sống và con người ở Nhật khá chi tiết và sống động. Nhân vật ông chủ nhà trọ Tokieda gây được ấn tượng về một người có lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ người lao động Việt Nam, nhưng ông yêu cầu người trọ phải giữ những nguyên tắc thờ phượng của đạo Tin Lành (chẳng hạn nếu người trọ là Công giáo thì chỉ được đặt cây thánh giá không có tượng Chúa). Tác giả ghi nhận rất chi tiết sự vất vả khi lao động ở Nhật (chương 4: Ngày công đầu tiên), miêu tả sinh động hình ảnh trẻ em Nhật ở trường tiểu học (Chương 15: Trường học); miêu tả nhiều trải nghiệm của người trẻ trong đời sống hiện đại (sống ảo, yêu ảo, chạy việc, giao lưu quốc tế…)

Trong khi thuật lại những sinh hoạt đời sống ở Nhật, tác giả không che giấu sự khâm phục và thái độ ca ngợi văn hóa, con người “xứ mặt trời mọc”:

“Nếu so sánh độ sạch của cơm hộp Việt với cơm hộp Nhật thì quả là “một trời một vực”. Hai chữ “cơm hộp” ở Việt Nam gắn liền với chữ “bẩn”, đặc biệt là hộp xốp đựng cơm còn có chứa chất độc hại cho hệ tiêu hóa, thậm chí chứa cả chất gây ung thư. Còn cơm hộp của Nhật Bản phải nói là còn sạch hơn cả cơm nhà”(tr.39). “Buổi chiều, sau ăn trưa và giờ chơi tự do là thời gian bọn trẻ tự dọn dẹp trường học, chúng thực hiện một cách nghiêm túc, chuẩn mực và thành thục cứ như dọn nhà mình vậy khiến Thanh Hiền rất vui thích và ngưỡng mộ, cô không hình dung nổi mấy chục hay mấy trăm năm nữa ý thức của học sinh tiểu học của Việt Nam mới theo kịp, và cả cơ sở vật chất trường học cũng thế”(tr. 164).

3.  Tác giả có cách viết trẻ trung, sinh động và hiện đại. Truyện được thuật với tốc độ nhanh. Văn trong sáng và gọn (ít chữ thừa). Tác giả không kể truyện theo tuyến thời gian mà mỗi chương chọn kể những một sự việc đặc biệt, hoặc một biến cố xảy ra cho nhân vật. Thí dụ: Chương 2, ông chủ nhà trọ. Chương 3: Cạm bẫy. Chương 4: Ngày công đầu tiên. Chương 5: Cuộc tình đầu. Chương 6: Cuộc tình thứ hai. Chương 7: Cuộc tình thứ ba…Vì thế người đọc dễ theo dõi, ngòi bút tác giả không bị trói trong tuyến tính thời gian.

Thực ra đây là cách viết ký sự, phóng sự. Tác giả không dựng cảnh như tiểu thuyết mà chỉ “thuật” như tường thuật báo chí, kết hợp với suy nghĩ của nhân vật và những đoạn bình luận ngoại đề của tác giả. Đây là một đoạn bình luận ngoại đề: “Cái chết đau thương của bạn ấy và 38 người là bài học cảnh tỉnh cho biết bao người đang ôm ấp mộng tưởng tới Anh để làm giàu dù biết là nhập cư bất hợp pháp, làm giảm bớt nạn buôn người và có thể là cả sản lượng cần sa tại Anh nữa. Những cái chết thật đớn đau nhưng không vô ích…” (tr.185). Truyện thú vị là nhờ tác giả đem vào trang văn nhiều trải nghiệm, vốn sống giàu có và một vốn văn hóa có bề rộng và cả bề sâu. Những chương kể chuyện tình của người trẻ, hoặc Hiền kể lại truyện hài để trả lời câu hỏi Chúa ở đâu là những trang văn rất trẻ, văn chương của ngày hôm nay. Xin đọc đoạn tác giả bình luận về thánh ca Tin Lành: “Tiếp cận với ca đoàn Tin lành, Thanh Hiền cảm nhận thấy nhiều điều mới lạ, thú vị, ấy là việc thờ phượng thì người Công giáo chuộng tập thể (đọc nhiều kinh hạt, coi kinh lễ nhà thờ, kinh lễ gia đình là phút giây quan trọng mỗi ngày, nhưng nhiều lúc lại ê a thuộc lòng, dễ rơi vào hình thức trống rỗng), còn người Tin lành chú trọng thể hiện cá nhân (những lời cầu nguyện nhiệt tâm, tha thiết nhưng tự phát, dễ rơi vào chủ quan phiến diện). Dẫu vậy trong Thánh ca thì dường như hơi ngược lại: người Tin lành thích thể hiện bằng hợp xướng, người Công giáo thường chỉ hát những bài đồng ca có bè đồng giọng, nhiều nơi còn lạm dụng đơn ca, dễ rơi vào chỗ phô diễn tài năng hơn là thờ phượng Chúa. Thanh Hiền chợt nhớ hình ảnh mà nữ chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi đã dùng để suy niệm về mầu nhiệm Ba Ngôi một Chúa, rằng âm nhạc trong Kitô giáo tuy đi theo nhiều hướng sư phạm khác nhau, nhưng mỗi bên có cái hay riêng, đồng thời cũng có cái giới hạn riêng, tạo nên những mẫu người tín hữu khác nhau. Nếu biết đón nhận nhau, hai nền Thánh nhạc sẽ tạo thành một bản hòa âm, một sự hòa điệu sâu xa, một chân trời hiệp nhất cho các hệ phái Kitô giáo – một bản hợp xướng nhiều bè nhưng rất hòa hợp chứ không hề bị chênh phô”. (tr.112).

Tất nhiên, những ý kiến như thế còn có chỗ phải nghiên cứu sâu xa hơn, song tác giả tỏ ra mạnh dạn đề xuất một góc nhìn riêng của người trẻ. Đó là một cách nhập cuộc tích cực của văn chương.

Nếu có điều gì cần chia sẻ với tác giả thì đó là sự tô đậm “họa vô đơn chí” của gia đình Hiền, để có lúc cô đã nản lòng: “cô than trách Chúa, lúc con tàu của bố bị đắm thì Chúa đang ở đâu, đã bao lần Người nhắm mắt làm ngơ trước nỗi đau của gia đình cô như vậy? Người đã lấy đi em gái cô, đã lấy hết niềm vui của mẹ, biến mẹ thành một cỗ máy chỉ biết cày cuốc kiếm ăn để quên đi những nỗi đau, ấy vậy mà Người còn kéo mẹ đi sớm. Người đã để mặc cho chị gái của cô thân bại danh liệt, thằng Cò mất cha. Người thậm chí đã lấy đi cả ba chàng trai mà cô hết lòng yêu thương. Và giờ đây Người đã không cho bố cô và con cháu một cơ hội nào để được sống, thậm chí là để tồn tại như một con người có tự do và mưu cầu hạnh phúc…” (tr.123)Tình cảnh cùng cực của gia đình Thanh Hiền đã không được giải quyết bằng “sự quan phòng của Chúa”, hay bằng nỗ lực làm việc kiếm tiền của Thanh Hiền. Cô đã làm việc hết sức song nợ vẫn còn nợ. Vậy mà bỗng dưng, chị Mai, một đồng nghiệp của chị Hoài Hương, chỉ vẽ đường đi nước bước và cho Hương mượn tiền để đòi lại sổ đỏ ngân hàng, sau đó Hương được đền bù gần một tỷ, do đất quy hoạch. Hương đủ tiền trả nợ và mở tiệm cho bố (chương 20). Đó là cách lý giải tự nhiên chủ nghĩa.

Một phương diện khác, người đọc dễ nhận ra phẩm chất xã hội của truyện phong phú hơn đức tin tôn giáo, dù rằng sau cái chết của Huyền My, bông hồng thứ 39, thì Thanh Hiền có nhận ra sự quan phòng của Chúa: “Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”.(tr. 208)

{C}{C}{C}