Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Tuần 18 Thường Niên

 Vua Salomon đã hiểu ý nghĩa cuộc đời là phù vân, nên ông đã thốt lên rằng: “Phù vân rất mực phù vân, khó nhọc vất vả thế rồi phải trao lại cho kẻ không vất vả hưởng”. 

  Tích trữ kho tàng trên trời

Chúa nhật 18 thường niên (Luca 12,13-21)
Có một vị lãnh chúa rất giàu có, gia sản ruộng vườn bao la. Gần nơi ông đang ở có một người nông dân nghèo nhưng lòng đầy tham lam. Ngày nọ, vị lãnh chúa nói với người nông dân: “Tôi sẽ cho anh tất cả những phần đất nào mà anh có thể chạy bao quanh, tính từ khi mặt trời bắt đầu mọc cho đến khi mặt trời lặn. Nếu anh trở về đến điểm xuất phát trước khi mặt trời chìm khuất sau đồi, thì anh sẽ làm chủ tất cả những vùng đất anh đã chạy bao quanh. Nếu không, anh chẳng được gì.”
Người nông dân nghe lời hứa đó mà tưởng như mơ! Đúng là một cơ hội ngàn vàng. Thế là đến sáng hôm sau, khi mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng núi, anh bắt đầu cắm đầu cắm cổ chạy trối chết. Trước hết, anh chạy bao quanh một khu rừng già đầy gỗ quý. Thế là chỉ trong buổi sáng, anh đã trở thành một chủ nhân của hàng trăm mẫu rừng.
Mặt trời lên cao, nắng như đổ lửa, mồ hôi đầm đìa, nhưng anh vẫn tiếp tục chạy phăng phăng bao quanh đồng lúa phì nhiêu bao la bát ngát. Thế là đến trưa, anh đã là người điền chủ giàu có nhất vùng.
Mặt trời sắp lặn, chỉ cách ngọn đồi chỉ chừng một con sào, anh lại thấy một con suối lớn nước chảy lênh láng tràn bờ. Anh tự nhủ lòng: Nếu ta không làm chủ được con suối nầy thì toàn bộ cánh đồng mà ta vừa thu tóm được phải đành bỏ khô. Thế là anh dồn hết hơi tàn lực kiệt, quyết chạy bao quanh con suối.
Cuối cùng, lồng ngực như muốn vỡ tung ra, anh thở hồng hộc như con bò bị thọc tiết… Mặt trời bắt đầu lặn, chỉ còn là một vầng bán nguyệt đỏ ối sắp chìm xuống đỉnh đồi. Anh phải cố chạy nhanh cho tới nơi xuất phát, nếu không kịp thì chỉ còn là hư không.
Và rồi khi chỉ còn mươi bước nữa là tới đích, anh ngã gục xuống. Vỡ tim!
Thế là cuối cùng, anh chỉ còn được hưởng vài thước đất để chôn vùi thân xác!
(phỏng theo câu chuyện nhan đề: “Chỉ cần ba tấc đất” của Văn Hào Leon Tolstoi)
***
Người phú hộ trong Tin Mừng hôm nay cũng học theo sách đó.
Khi ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, ông “mới nghĩ bụng rằng : 'Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu !' Rồi ông ta tự bảo : 'Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !' Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta : 'Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?' Rồi Chúa Giê-su kết luận: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó."
Xét cho cùng, trong thế giới hôm nay, những hạng người ngốc nghếch như vậy không hề thiếu.
Trong tôi vẫn có lòng tham của người nông dân ngu dại trên đây, hằng thúc đẩy tôi thu tóm, ky cóp cho thật nhiều, không bao giờ thấy đủ.

Trong tôi cũng có một gã phú hộ dại khờ, tìm cách cơi nới thêm kho lẫm để chất cho đầy của cải chóng qua.
Nếu chỉ biết thu gom, ki cóp của cải vật chất đời nầy, chỉ biết lo cho nhu cầu vật chất mà lãng quên linh hồn thì chúng ta cũng đang đi vào vết xe của người phú hộ đáng thương kia.
Tất nhiên là mỗi người cũng cần phải tạo thêm nhiều của cải để bảo đảm cho đời sống phần xác, cho mình và cho xã hội, nhưng nếu chưa tạo được kho báu thiêng liêng thì khác gì “dã tràng xe cát biển đông”!
Trái lại, nếu hôm nay chúng ta tích trữ thật nhiều của cải thiêng liêng, trở nên người giàu có trước mặt Thiên Chúa, thì chúng ta có thể an tâm tự nhủ lòng mình: Hồn ta ơi, hãy hoan lạc và mừng vui, vì ngươi đã có một kho báu trên trời. Mai đây tha hồ vui hưởng!

LM Inhaxiô Trần Ngà

Phù vân

CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN – NĂM C
Bài đọc 1: Gv 1, 2; 2, 21-23
Bài đọc 2: Cl 3, 1-5. 9-11
Tin mừng: Lc 12, 13-21
Trong một dịp hành hương về La Vang, tôi có dịp ghé thăm một số lăng tẩm của các vua triều Nguyễn tại cố đô Huế. Theo các nhà chuyên môn về văn hoá nghệ thuật, thì các lăng tẩm tại Huế là “một thành tựu rực rỡ nhất của nền kiến trúc cổ Việt Nam” (Phan Thuận An, Lăng tẩm Huế, một kỳ quan, NXB. Thuận Hoá, 2003, trang 5). Các lăng tẩm này chiếm một vùng đất thật rộng lớn, chẳng hạn như lăng Gia Long rộng đến 20 ha, lăng vua Minh Mạng rộng 15 ha, hay nhỏ nhất là lăng vua Khải Định cũng chiếm tới 0,5 ha (Sđd, Bảng đối chiếu các lăng tẩm triều Nguyễn ở Huế). Đó là chưa nói đến hàng chục héc-ta trong một tổng thể chung quanh với biết bao khe suối, sông ngòi, núi non cùng hướng về các lăng tẩm này.
Vậy mà khi đến nơi tham quan, tôi thấy tất cả đều nhuốm một vẻ hoang tàn, tất cả chỉ còn lại như là một di tích lịch sử. Thậm chí nơi lăng vua Minh Mạng, người ta cũng chẳng biết chính xác mộ của nhà vua ở đâu. Chính vua Tự Đức trong bài thơ “Ngẫm sự đời” cũng đã viết: “Sự đời ngẫm nghĩ nghĩ mà ghê, sống gởi rồi ra lại thác về. Khôn dại cùng chung ba thước đất. Giàu sang chưa chín một nồi kê. Tranh giành trước mắt, mây tan tác. Đày đoạ sau thân, núi nặng nề. Muốn đến hỏi tiên, tiên chẳng bảo, gượng làm chút nữa để mà nghe” (Sđd, trang 13).
“Khôn dại cùng chung ba thước đất”. Vâng, với kinh nghiệm của mình, chắc hẳn quý OBACE. cũng thấy rằng: cho dù khi còn sống người đó là ai, làm gì đi chăng nữa, thì đến khi từ giã cõi đời cũng chỉ còn lại “ba thước đất”. Cũng chính vì thấy rõ sự giới hạn của thế giới vật chất mà tác giả sách Giảng Viên đã nói: “Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều hư không”. Và tác giả đã nêu lên lý do tại sao ông cho rằng tất cả là hư không, đó là “vì kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng, rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không”.
Ngay giờ phút này, nếu bình tâm nhìn lại, chúng ta cũng sẽ thấy không chỉ là các vua triều Nguyễn, hay những người đương thời với tác giả sách Giảng Viên, nhưng ai trong chúng ta cũng thường bị cám dỗ lo tìm kiếm, thu gom và tích trữ tài sản cho mình. Lời anh thanh niên hỏi xin Chúa : “xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi” chính là tiếng nói thầm kín nằm sâu trong lòng mọi người, đó là dư âm của cuộc cám dỗ đầu tiên khi Satan dụ dỗ người ta muốn bằng Thiên Chúa, qua việc chiếm hữu tài sản: bởi lẽ, tài sản làm cho người ta thấy mình có sức mạnh, vì nếu Chúa là Đấng làm được mọi điều Ngài muốn (x. Tv 115,3), thì chúng ta vẫn nghĩ rằng: người có tiền “mua tiên cũng được”.
Sức mạnh của tài sản còn làm cho chúng ta tưởng mình được tự do, có thể làm được mọi sự mình muốn. Sức mạnh của tiền bạc làm cho người ta thấy mình không còn lệ thuộc ai, ngay cả Chúa, như lời tác giả Thánh vịnh: “Nó đích thị là người chẳng lấy Chúa làm nơi ẩn náu, nhưng chỉ tin cậy vào đống tiền đống của” (Tv 52,9).
Nhưng chẳng ai ngờ chính người tham lam lại là người phải chịu nô lệ cho một ông chủ thật ác nghiệt. Cả cuộc sống của họ là một cái vòng luẩn quẩn mà tác giả câu truyện ngắn “Cuộc phỏng vấn Chúa” đã khéo léo trình bày qua câu trả lời của Chúa về điều mà Chúa thấy ngạc nhiên nhất nơi con người : “...Họ chịu mất sức khoẻ để kiếm tiền rồi lại chịu mất tiền để phục hồi sức khoẻ; họ lo âu về tương lai đến nỗi quên mất hiện tại để rồi không được sống trong cả hiện tại lẫn tương lai...”. Đúng là một vòng luẩn quẩn không có lối ra. Khi chưa có của thì mất ăn mất ngủ để tìm cho có, nhưng khi có rồi thì lại lo giữ của, ăn ngủ không yên đúng như lời tác giả sách Giảng Viên trong bài đọc một: “Suốt ngày của họ đầy sự đau khổ gian truân, và ban đêm lại không được yên lòng”. Thật, chẳng còn ông chủ nào tàn ác hơn là tiền của, bởi vì nó bắt người ta phải làm đến kiệt sức để mua lấy của phù vân, để rồi đến khi từ giã cuộc đời, họ chẳng mang theo được điều gì: “Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết, kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong, bỏ lại tài sản mình cho người khác (Tv 49,11)
Chính vì thấy rõ sự giới hạn, chóng qua của tiền bạc và của cải, nên khi thấy người thanh niên đến xin mình làm trọng tài để chia tài sản, Đức Giêsu đã bảo với anh ta rằng: “Các ngươi hãy coi chừng giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải đảm bảo cho đâu”. Xác tín được sự giới hạn của cuộc sống trần thế và sự vĩnh cửu của đời sống mai hậu, thánh Phaolô cũng mời gọi chúng ta: “Nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chớ đừng nghĩ đến những sự dưới đất”. Khi bảo chúng ta “đừng nghĩ đến những sự dưới đất”, thánh nhân không muốn chúng ta chỉ suốt ngày đọc kinh, mà không lo làm việc để nuôi sống thân xác, nhưng thánh nhân muốn chúng ta đừng để cho tiền bạc làm chủ cuộc sống của chúng ta, vì “tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng lại là một ông chủ tồi”. Cách cụ thể hơn, thánh Phaolô nhắc bảo chúng ta: “Còn sống trên địa cầu, anh em hãy kiềm chế các chi thể anh em, là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là sự thờ phượng thần tượng. Anh em chớ nói dối với nhau, anh em hãy lột bỏ người cũ cùng các việc làm của nó”.
Sống trong hiện tại, làm công việc thường ngày cách chu đáo, nhưng không quá lệ thuộc vào nó, đó chính là điều mà các thánh tử đạo Việt Nam, cha ông chúng ta đã làm, đã sống. Trong chuyến hành hương về La vang đó, tôi cũng có dịp đến kính viếng quê hương của hai thánh tử đạo Việt Nam là thánh Anrê Nguyễn Kim Thông ở Gò Thị – Quy Nhơn, và thánh Anrê Phú Yên tại Mằng Lăng – Phú Yên. Các thánh chính là những người sống đồng thời với các vua triều Nguyễn và cũng là những nạn nhân của các cuộc bách hại trong thời gian này. Thế nhưng giờ đây, cho dù không có những lăng tẩm lớn lao như các vua, các thánh vẫn để lại cho chúng ta là con cháu các ngài những di sản thật lớn lao, đó là một gương mẫu bất khuất về niềm tin. Các ngài đã không để mình bị lôi kéo, mua chuộc bởi tiền tài, danh vọng, bởi lẽ các ngài biết rõ “mọi sự đều là hư không”, và chẳng là gì so với cuộc sống vĩnh cửu. Các ngài đã sẵn sàng đánh đổi mọi sự, kể cả mạng sống mình để bày tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, và làm chứng cho mọi người biết về một đời sống vĩnh cửu mai ngày.

Chính vì thế, mãi cho đến hôm nay, vẫn còn đó từng đoàn người hành hương đến kính viếng nơi các ngài đã sống lúc còn sinh tiền, để mong nhờ lời chuyển cầu của các ngài, họ cũng nhận được sức mạnh để đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống hiện tại, thẳng bước về tương lai. Chớ gì nhờ lời bầu cử của các thánh Tử đạo ViệtNam, từng người, từng gia đình trong giáo xứ chúng ta tuy vẫn cố gắng làm việc hàng ngày, nhưng không quá lệ thuộc vào của cải đời này, và sẵn sàng chia sẻ với anh chị em mình. Nhờ đó, chúng ta có thể dẫn đưa ngày càng nhiều người về với Chúa là Nguồn Chân Lý và là Nguồn Sống thật. Amen.

Lm Phêrô Trần Thanh Sơn

TÌNH CA CHO NGƯỜI ĐƯỢC YÊU

NGÀY XỬA NGÀY XƯA

Sau một thời gian dài chỉ được xem phim Hàn Quốc và Trung Quốc, khán giả truyền hình Việt-Nam được “đổi món” bằng bộ phim truyền hình Nhật Bản “Gia tộc bão tố”. Bản sắc của các bộ phim Nhật là diễn xuất của diễn viên nhẹ nhàng mà trầm tĩnh, lời thoại sâu sắc, các khung hình tĩnh lặng nhưng đẹp như tranh nhờ màu sắc và góc máy tinh tế. Bộ phim “Gia tộc bão tố” còn có ý nghĩa xã hội không biên giới khi xoay quanh mâu thuẫn giữa ước muốn giữ gìn nề nếp gia đình và tham vọng chiếm hữu tài sản. Bộ phim cuốn người xem vào những cảm xúc dồn dập của các nhân vật: Từ sự tham lam, giận dữ, ghen tuông ban đầu của các nhân vật chính, phim dần dần đưa người xem đến cảm giác bẽ bàng, cay đắng, chua xót của các thành viên nhà Yajima khi cuộc tranh giành đi đến hồi kết, để rồi nhận ra điều họ đánh mất không chỉ là tài sản, mà còn là một mái ấm, một gia đình và tình cảm thương yêu, kính trọng nhau.

Trong thời Tây Sơn (1771-1802), hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ xuýt đánh nhau để tranh quyền. Nguyễn Nhạc yếu thế, phải khóc nói với em: Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?(nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ?). Đời nhà Nguyễn (1802-1945), vua Tự Đức giết anh là Hồng Bảo để củng cố địa vị ngai vàng của mình. Cụ Nguyễn Hàm Ninh đã làm mấy câu thơ về “răng” và “lưỡi”, được nhà vua khen hay, thưởng một chữ một nén vàng; nhưng vì cho bài có ý "móc", nên phạt mỗi chữ đánh một roi. Ở hai trường hợp nầy, cũng là về tranh chấp “tài sản”, nhưng có thêm yếu tố quyền lực, vì thế mà gắt gao, độc ác và thâm hiểm hơn giữa huynh đệ.

Ngày xửa ngày xưa,người anh tham lam giành tất cả về mình, chỉ chia cho người em cây khế  Chim không cần vàng bạc, nhà cửa, ruộng vườn. Chim chỉ cần có khế ăn và sẵn sàng đổi một trái với việc chở người em đi lấy vàng đầy túi ba gang. Lòng tham của người anh đã hủy diệt tình huynh đệ máu mủ, nay lại khiến y chết vì cái túi to lớn nặng lòng tham còn hơn cả nặng bạc vàng. Khi con người coi tình nghĩa nhẹ hơn vật chất, đang tâm hành động sai trái vì tham sân si, thì con người cũng sẽ bị chính vật chất hủy diệt . Đây không phải là chuyện cổ tích hiếm gặp, mà là những chuyện đau lòng, xảy đến như cơm bửa, đặc biệt trong xã hội ngày nay.

Ngày xửa ngày xưa, ở Việt-Nam những thửa đất trước đây để mặc cỏ dại mọc, dễ dàng biếu không cho nhau, nay nhờ kinh tế thị trường mà giá cả tăng vùn vụt từng ngày và tấc đất bỗng nhiên thành tấc vàng, theo nghĩa đen. Từ đó tình làng nghĩa xóm đổi thay, nảy sinh bao nhiêu cuộc tranh kiện giữa những người máu mủ ruột rà, muối mặt đưa nhau ra tòa và không ít trường hợp dẫn đến chém giết lẫn nhau và để hận thù truyền kiếp cho cháu con. Ngày xửa ngày xưa, Chúa Giêsu – như chuyện kể lại trong Tin Mừng hôm nay - đã được mời làm trọng tài phân xử một vụ “nồi da xáo thịt”, “răng cắn lưỡi” như thế! Có thể nói ngay là anh chàng nầy đã “gõ nhầm cửa”, vì Chúa Giêsu không bao giờ muốn nghe những tranh chấp kiện tụng về tài sản, thừa kế, mà Người còn rất nghiêm khắc đối với những ai tỏ ra gắn bó với vật chất, tiền tài.  Trong Bài Giảng Trên Núi, “phúc” được kể đầu tiên trong Bát Phúc, là “tinh thần khó nghèo” và lời khẳng định đánh động nhất, trong đó Chúa Giêsu không chút ngại ngùng sử dụng lối nói “ngoa ngữ” của người Do Thái : ”người giàu vào Nước Trời còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”, khi anh thanh niên nhà giàu tới hỏi ý Người ! Nhưng đây lại là một dịp tốt, để  Chúa Giêsu để Người dạy cho các môn đệ bài học về việc không được để lòng gắn bó với của cải đời nầy. Vì thế, dụ ngôn người phú hộ bủn xỉn, ích kỷ đã được Chúa Giêsu đưa ra, mổ xẻ và kết luận, một kết luận không cho phép hiểu sai, hiểu lệch lạc : ” Đồ ngốc! Nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì  những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12, 20 – 21). 

  Điều hiển nhiên có thể nhận thấy dễ dàng trong mọi cuộc tranh chấp, ấy là lòng dạ của ít nhất là một phía: tham lam, ích kỷ và cứng đầu cứng cổ, những con người mà lý lẽ khôn ngoan khó lòng thẩm thấu, khó được nghe theo; đơn thuần bởi nếu là người “biết điều”, biết nhường nhịn, sợ tiếng xấu “nồi da xáo thịt”, thì đã biết “đóng cửa bảo nhau”.  Còn một khi đã  “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”, thì lời bàn phải trái, hòa giải, sẽ như “đàn  gãy tai trâu”.  Nếu nói những người “mời linh mục giúp phân xử” việc nhà về tranh chấp tài sản, là “gõ nhầm cửa”, thì hãy cẩn thận vì linh mục cũng có khả năng bước nhầm.. .ngõ! Lúc ấy, bài học qúy giá cho Kitô-hữu nói chung và cho những người “trong cuộc” nói riêng, chính là nghe, suy gẫm lời Chúa Giêsu trong dụ ngôn người phú hộ hôm nay. Giáo Hội Việt-Nam đang tìm mọi cách để đòi lại tài sản hợp pháp trước năm 1975 của mình.  Nếu không cẩn thận, cũng sẽ bị cuốn vào kiện tụng, tranh chấp như từng (và đang) xảy đến với cơ sở của một số Dòng Tu.  Mọi đơn thư khiếu nại đều khó tránh khỏi giọng điệu khó chịu, chua chát, thách thức, nhất là khi “đối tác” sử dụng chiêu “nhất lì, nhì im lặng”, cộng với ô dù quyền lực che chở.  Còn với những tranh chấp tinh thần, những vụ đặt điều nói không, vội vàng kết luận hoặc làm mất danh dự người khác, mà không tìm hiểu tường tận ngọn nguồn, xuất xứ chính xác,…cũng gây ra những đau khổ, chia rẽ, nghi kỵ to lớn, như vụ một linh mục đã phải lên tiềng tự thanh minh trong những ngày vừa qua.  Những kẻ trong cuộc sử dụng các phương tiện truyền thông không lo “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, vì lợi ích cho anh em, mà chỉ “thu tích của cải” ( nói cho đả cơn nư, nói cho người khác bẻ mặt, chẳng khác nào những tay viết trên thế giới tha hồ “tấn công” Hội Thánh Công-giáo mà chẳng lo sợ điều gì, như là khi mở miệng về Hồi giáo ), “thì số phận cũng như thế đó”.  Đối với những hạng người cố chấp và tham lam trong những tranh chấp vật chất hay tinh thần, thì cũng chỉ có thể dùng dụ ngôn của Chúa Giêsu hôm nay mà…nín lặng, mà cầu nguyện cho họ.  Cha ông ta đã chẳng nói : “làm tớ người khôn, hơn làm thầy thằng dại” đó sao?

  Lạy Chúa, thế thì lấy quyền gì mà chúng con có thể “đắp tai nhắm mắt làm ngơ; rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây!” (Mẹ Mốc, Nguyễn-Khuyến)? Làm sao mà người tín hữu Công-giáo lại có thể dững dưng trước những bất hoà, tranh chấp dẫn tới những hậu quả có thể rất  xấu như thế? Trong Kinh Hoà Bình, Thánh Phanxicô đã chẳng dạy: “đem yêu thương vào nơi oán thù; đem thứ tha vào nơi lăng nhục; đem an hoà vào nơi tranh chấp” đó sao?  Đừng vội hiểu sai linh đạo của Ngài, bởi vì điều kiện ưu tiên số một để cho và nhận những điều trên đây, chính là sự từ bỏ giàu sang vật chất và tinh thần. Cái mà  những kẻ tranh chấp tài sản chạy đến cậy nhờ chúng ta, không phải là chân lý, sự nhường nhịn, sống tinh thần bác ái, bao dung, vị tha và không để lòng bị đóng đinh vào của cải trần thế, song chỉ là hiếu thắng, muốn tìm (thêm) những…đồng minh!  Đừng để cho mình từ sứ giả hoà bình trở thành “khí cụ chiến tranh”.  Tiền bạc (và những người, những vật liên quan ) là tên đầy tớ tốt; nhưng luôn là ông chủ tồi!  Chúa khắt khe với chúng con, vì Chúa đã xác định: không ai có thể làm tôi hai chủ…Không ai có thể thờ một lúc cả Thiên Chúa và thần Mammôn! Những chuyện ấy không bao giờ là truyện cổ tích  ngày xửa ngày xưa!

MÌNH CHỈ MƠ HOÀI CHUYỆN VIỄN VÔNG

Người ta đi kiếm giàu sang cả

Mình chỉ mơ hoài chuyện viển vông

Em biết giàu sang đâu đến lượt

Nợ đời nặng quá gỡ sao xong.

( Thơ Nguyễn Bính )

        Mơ hoài giàu sang, đâu có là chuyện viển vông ! Viển vông đời thường, là thái độ loanh quanh với ý nghĩ thường tình: “Người ta đi kiếm giàu sang cả”, hoặc: “nợ đời nặng quá, gỡ sao xong”. Nợ đời, giàu sang, còn là chuyện Chúa nói, qua Tin Mừng Thánh Lu-ca hôm nay.

        Tin Mừng hôm nay, Thánh Lu-ca đề cập đến chủ đề giầu sang, được Chúa dẫn giải bằng một dụ ngôn, rất tinh tế. Dụ ngôn Chúa kể, là về những điều quan trọng, trong cuộc đời. Quan trọng, khi Ngài nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa “ta là ai ?” với “ta có gì ?”

        Mở đầu trình thuật, là một bức xúc về sự phân chia gia tài mà người Do Thái thường hay trình lên vị tư tế, chánh thẩm. Nhưng vị Tư Tế hôm nay, không muốn dự phần vào các tranh giành, cãi vã có tính cách thế tục. Ngài nhắn nhủ: “Hãy coi chừng ! Mạng sống con người không được bảo đảm nhờ của cải đâu.” Chính vì lòng tham lam của cải, mà nhiều gia đình đã đổ vỡ. Vì, mải lo tranh chấp gia tài, mà nhiều anh em cùng nhà cứ xâu xé nhau. Xâu xé, là để giàu sang.

        Giàu sang. Đó là mơ ước của nhiều người. Ở đời. Giàu sang, là chiếc đũa thần giúp người người tạo nên những thứ họ muốn. Nhưng khi đã giàu sang, vẫn không phải là hết chuyện để ưu tư. Đây là ngộ nhận lớn, nơi quan niệm của người đời. Người đời những tưởng: khi đã ổn định tài chánh, đã có nhà có cửa, có xe có tiền rồi, là có tất cả. Mọi sự coi như đã thành công. Thật sự, của cải tiền bạc tuy được coi là dấu hiệu của sự thành công; nhưng, đó vẫn chỉ là quan niệm của người đời. Ở đời thường. Quan niệm của nhà Đạo, khác hẳn.

Bài đọc thứ nhất hôm nay, sách Giảng viên quả quyết: “Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân !” ( Gv 1, 2 ). Ở bài đọc thứ hai, Thánh Phao-lô thêm: “Anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới: đam mê, ước muốn xấu và tham lam, thảy đều là ngẫu tượng”. ( Cl 3, 5 ).

Và, ở trình thuật Thánh Lu-ca, Đức Ki-tô khuyên: “Hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam; không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm, nhờ của cải đâu.” ( Lc 12, 15 ).

Quả thật, khi khẳng định chân lý ấy, Đức Ki-tô không bắt mọi người phải chịu đau khổ. Ngài chỉ muốn nhắc: mọi người hãy tìm phương thức tốt nhất để tạo an toàn, hạnh phúc cho nhau. An toàn, để có cuộc sống ổn định. Cuộc sống có ý nghĩa đích thực. Nơi đó, mọi người trao cho nhau tình yêu thương, an bình. Mọi người san sẻ với nhau cũng một hạnh phúc chung. Hạnh phúc, chỉ có chỗ đứng, khi mọi người đều cùng hưởng. Hạnh phúc, phải được sẻ san cho nhau.

        Với dụ ngôn hôm nay, ta lưu ý: truyện kể cho thấy có mỗi nhân vật chính, là nhà phú hộ. Ông cương quyết biến mình thành trung tâm của vũ trụ, nơi mình sống. Ông dồn tất cả tiền bạc của cải, gom lại để nuôi sống mỗi mình mình. Ông chỉ lo cho mình ông, thôi. Tất cả, chỉ để mình ông ung dung hưởng thụ. Chẳng bận tâm đến ai. Chẳng cho ai, dù một xu lẻ.

        Ở đây, Đức Ki-tô không phản đối chuyện ta có thể trở nên giàu sang, sung túc. Miễn là, sự giàu sang của ta không tạo bất công cho mọi người. Ở đây nữa, Đức Ki-tô muốn chứng minh cho con dân của Ngài thấy được, là: giàu sang sung túc đích thực mới tồn tại dài lâu. Và, sự sung mãn hạnh phúc không nằm nơi của cải, tiền bạc. Mà, ở nơi khác. Của cải tiền bạc, chỉ tạo được hạnh phúc tạm bợ, chóng qua. Những “nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã” ( Lc 12, 20 ). Còn hạnh phúc đích thật, lại nằm ở nơi khác

Nhìn vào thực tế, chắc mọi người vẫn còn nhớ nhà tỷ phú Howard Hughes, hôm trước. Ông chết đi, bỏ lại đằng sau đến hai tỷ Mỹ kim. Giàu sang sung mãn đấy. Nhưng vào cuối đời, ông vẫn sống trong hãi sợ. Hãi sợ, trộn lẫn với cô đơn. Dù chuẩn bị trước mọi thứ, ông vẫn chết trong quên lãng. Chết rất tủi hổ. Và khi chết, ông nào có khác người nghèo ? Có khi lại không bằng người nghèo đang chết ở Calcutta. Người nghèo ở Calcutta, họ cũng chết. Nhưng, được chết trong vòng tay yêu thương của Mẹ Tê-rê-xa. Và của các nữ tu hiền hoà, đầy yêu thương chăm sóc.

Mahatma Ghandi, một thời là luật sư trẻ nổi tiếng, có của. Nhưng ông không màng giàu sang, sung túc. Vẫn bỏ hết những gì mình có, chọn lựa cuộc sống giản đơn hơn, không vướng mắc những nào của cải vật chất. Vì thế khi chết đi, ông đã để lại cho hậu thế một di sản thật lớn. Di sản ấy, người giàu và sang như Howard Hughes không tìm thấy. Di sản ấy, chính là: tạo sự bình an hưng phấn cho nhiều người. Di sản ông để, là: biết quan tâm đến người cô thân, cô thế.

Hợp cùng trình thuật hôm nay, Thánh Phao-lô gợi lên một tư tưởng khác: “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới.” ( Cl 3, 2 ).

Nghe thánh Phao-lô đề nghị, hẳn có người cho rằng: lời khuyên của thánh nhân thiếu phần thực tế. Nhưng, thánh nhân đâu có đề nghị ta hãy nhắm mắt làm ngơ trước thực tại, của trần thế. Thánh Phao-lô chỉ khuyên: hãy hy vọng và hướng lòng vào Nước Trời. Hãy “cởi bỏ con người cũ, để mặc lấy người mới”. Con người được thay đổi theo hình ảnh Đấng Tối Cao. Hãy trỗi dậy với Đức Ki-tô. Để rồi, ta sẽ cùng Ngài hưởng phúc vinh quang, miên trường

Cởi bỏ con người cũ, là bỏ đi các hành vi mang tính hủy diệt. Những tính hư nét xầu, như: gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu xa và tham lam, vị kỷ. Bởi, những thứ đó là “ngẫu tượng”. Là phàm tục. Cởi bỏ con người cũ, là bỏ đi tính ích kỷ, chỉ muốn thu vén cho riêng mình. Cởi bỏ người cũ, không phải là tự sát/tự hủy, nhưng mặc lấy những gì là mới mẻ. Mới mẻ, với giá trị thăng tiến, hướng thượng. Mới mẻ, trong nhận thức biết rõ mà định hướng cuộc đời. Định hướng, bao gồm một đổi thay toàn bộ con người mình. Thay đổi, để nên giống Đức Ki-tô hơn. Định hướng và đổi thay, để rồi sẽ lớn mạnh trong Đức Ki-tô. Cùng với Đức Ki-tô vào với Nuớc Trời. Ở trần gian.

Với Nước trời đầy tình người này, ta chẳng cần đến những an toàn bằng tài sản. Hoặc kế thừa. Chẳng cần trúng độc đắc, số lô-tô. An toàn đích thực, chỉ có thể đạt được nếu ta chấp nhận là thành viên của cộng đoàn biết chăm nom, và đùm bọc. Chăm nom lẫn nhau. Đùm bọc bên nhau, thì Nước Trời chính là trạng thái sống đang diễn ra trong lòng Hội Thánh, ngay trước mắt.

Nước Trời hôm nay, bao gồm cuộc sống hòa mình với mọi người. Hòa mình với môi trường sinh sống, rất thân thương. Nước Trời đây, không có chỗ cho những kỳ thị, phân biệt. Nước Trời đây, không tách biệt Hy Lạp với Do Thái. Nước Trời đây, chẳng bao giờ rẽ chia giới cắt bì với phường ô uế, không chịu cắt. Nước Trời của Chúa, không ly cách kẻ man di, nô lệ với người tự do. Ở Nước Trời của Chúa, tất cả vẫn là chi thể cùng một Thân Mình, Đức Ki-tô yêu dấu ở với ta. Ngài là tất cả. Ngài ở trong mọi người.

Hiệp thông liên kết với Đức Ki-tô, ta có tất cả. Có an ninh, an toàn và sự bình an bên trong. An bình trong kết hợp với Chúa, đó là sự giàu sang sung túc, đáng được ta mơ ước. Ước mơ của tất cả mọi người. Giàu sang đích thực, chính là thế. Giàu sang sung mãn, không do của cải/vật chất cung cấp. Nhưng, có được là nhờ biết xác tín hiệp thông, trong Nước Trời.

Trong hân hoan xác tín sự bình an đang có ngay trước mắt, ta hân hoan hiệp thông với mọi người, hát lên lời ca sau đây:

Nhịp sống thắm thiết vui

Kìa ánh sáng thắm tươi.

Bốn phương lừng vang cung đàn khắp nơi.

( Xuân Lôi – Nhật Bằng, Ánh sáng Miền Nam )

        Vui thắm thiết. Sống hạnh phúc vang lừng khắp nơi. Nơi có Ánh sáng Nuớc trời đã và đang hòa nhịp, thắm thiếti. Vui, vì lâu nay ta vẫn giàu sang. Cứ sung túc. Chẳng cần của cải vật chất. Nhưng vẫn sang. Sang và giàu, không là “chuyện viễn vông”, hay “chưa đến lượt”. Nhưng, là sống đích thực Lời Ngài dặn dò. Giàu sang, là sống theo lời Đức Ki-tô dặn. Chính đó là giàu sang miên trường. Giàu sang không hư nát. Nhưng rất bền. Nhiều phấn khởi.

Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH ( Úc ), bản dịch của MAI TÁ

Cuộc đời là phù vân

Cuộc đời là phù vân. Đó là một chân lý mà mỗi người chúng ta đều nhìn nhận. Không có gì trong cuộc đời là bền vững, là vĩnh cửu.Tất cả đều tàn phai theo thời gian. Tiền tài, danh vọng và sắc đẹp rồi cũng sẽ có một ngày vuột ra khỏi tầm tay của chúng ta. Thế nhưng, mỗi người lại sống cuộc đời gọi là phù vân này rất khác nhau. Có người nghĩ cuộc đời quá ngắn nên tranh thủ hưởng thụ bằng cuộc sống ăn chơi sa đoạ. Có người lại “tối mày tối mặt” để tích lũy cho mình thật giầu có. Có người tìm công danh. Có người trau truốt cho sắc đẹp. Có người đi tìm tình bạn. Có bao nhiêu người là có bấy nhiêu cách  sống khác nhau.

Vua Salomon đã hiểu ý nghĩa cuộc đời là phù vân, nên ông đã thốt lên rằng: “Phù vân rất mực phù vân, khó nhọc vất vả thế rồi phải trao lại cho kẻ không vất vả hưởng”.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy hai nhân vật tiêu biểu cho hai hạng người: tham quyền và tham tiền. Kẻ tham quyền thì dùng quyền bính để ăn chận tài sản người khác. Kẻ tham tiền thì lo vun quén cho đầy kho. Mẫu số chung của cả hai loại người này là  ích kỷ, chỉ lo cho bản thân và không màng tới tha nhân, cho dù đó là người thân của mình. Người anh đã dùng quyền bính để khước từ việc chia gia sản cho người em. Người phú hộ vì tham tiền nên chỉ lo nghĩ đến việc tích góp của cải đến nỗi không còn thời giờ dành cho tha nhân. Xem ra cuộc đời của họ không có hạnh phúc vì họ không có tình bạn. Họ coi tha nhân là kẻ thù, là kẻ đang tranh giành địa vị và tiền tài với mình. Họ không cần tình bạn, họ chỉ cần tiền. Họ không cần người thân, họ chỉ cần lợi dụng người khác cho tham vọng của mình. Sống không có tình bạn như cây xanh thiếu lá, chỉ trơ trụi và khô cần. Cuộc đời của họ sẽ không có niềm vui và hạnh phúc. Cuộc đời của họ càng không có hậu. Vì họ không có gia sản để dành cho đời sau là những việc lành phúc đức trong cuộc đời hôm nay.

Nhưng tiếc thay, nhân loại hôm nay vẫn còn đó những con người như thế. Tiền và quyền luôn làm xa lìa tình người. Tiền và quyền luôn làm cho con người biến chất đến tha hoá không còn tính người. Xã hội vẫn đầy dẫy những bất công và bất nhân. Bất công vì kẻ đổ mồ hôi lao nhọc mà vẫn đói nghèo xác xơ trong khi đó lại có kẻ “ngồi nhà mát ăn bát vàng”. Các quan tham từ nông thôn đến thành thị đều rủng rỉnh bạc vàng còn dân lành lại lầm than cơ cực. Bất nhân vì thiếu tôn trọng lẫn nhau, đến nỗi coi mạng người như phương tiện để khai thác trục lợi. Xã hội hôm nay cho rằng sống là để tranh đấu. Tranh đấu nên có kẻ được người thua. Tranh đấu nên phải giành giựt lẫn nhau, nhanh thì được chậm thì mất. Cuộc sống trở nên một bãi chiến trường. Kẻ thắng thì cười. Người thua thì khóc. Tất cả như những con thiêu thân đang lao vào cuộc chơi mà không hề biết nguy hiểm đang chờ trước mắt, cái chết gần kề mà lời Chúa hôm nay nhắc nhở: “Hỡi kẻ dại khờ, nội trong đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi thì những gì ngươi sắm sẽ thuộc về ai?”.

Có ai đó đã ví von về cách tìm kiếm và sử dụng của cải đời này như sau:

“Người công nhân thì đổ mồ hôi để có được nó

Kẻ hoang phí thì đốt nó

Chủ ngân hàng đem nó đi vay

Đàn bà xài nó

Kẻ lưu manh làm giả nó

Nhân viên thuế vụ lấy nó

Người hấp hối lìa bỏ nó

Kẻ thừa kế tiếp thu nó

Người tiết kiệm thèm khát nó

Kẻ ăn trộm chộp lấy nó

Người giầu gia tăng nó

Người cờ bạc bị mất nó

Phần tôi thì dùng nó”.

Về phần tôi thì dùng nó, có lẽ đó là sự khôn ngoan mà Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Hãy làm giầu trước mặt Chúa”. Hãy sử dụng tiền bạc và quyền bính để mang lại lợi ích cho xã hội và cho con người. Đừng dùng nó cho bản thân của mình. Cũng đừng xem nó như cứu cánh đời mình. Của cải và danh vọng không thể sánh với con người nên đừng vì nó mà bán rẻ lương tri, đừng vì nó mà đánh mất tình người, đừng vì nó mà lãng quên tình Chúa. Tất cả chỉ là phù vân. Sự sống đời sau mới là vĩnh cửu. Và sự sống vĩnh hằng không thể mua bằng tiền bạc, càng không thể tìm kiếm bằng vũ lực mà bằng lòng nhân nghĩa. Lòng nhân nghĩa đối với đồng loại bao hàm tinh thần yêu thương và phục vụ.  Yêu thương nên sẵn lòng dấn thân và phục vụ vì lợi ích của tha nhân. Yêu thương nên sẵn lòng nhường nhịn và chia sẻ lẫn nhau. Yêu thương nên sẵn lòng hy sinh bản thân mình để tìm niềm vui trong phục vụ tha nhân.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết dùng gia sản là tài năng và khả năng của mình để mua lấy bạn hữu Nước Trời mai sau.Amen

Lm.Jos Tạ duy Tuyền

 

 

 

 

Đức Giám Mục Giáo Phận

Lời chủ chăn

Thống kê

08641553
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Từ ngày 27.05.2012
8970
8986
54413
8513872
290910
426513
8641553

Your IP: 54.196.196.62
Server Time: 15:35:20 23-07-2014

TÀI LIỆU NĂM 2014