01/04/2022
1153

CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY_C

Lời Chúa:  Is 43,16-21;  Pl 3,8-14;  Ga 8,1-11
 

Mục lục

1. Tội lỗi và Lòng thương xót  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

2. Lòng thương xót của Thiên Chúa  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Phiên tòa của lòng thương xót  (Lm. GB. Văn Hào, SDB)

4. Vợ chồng phải tha thứ (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

5. Lòng thương xót không kết án  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Tình thương và tha thứ (Trầm Thiên Thu)

7. Thiên Chúa đang làm điều mới  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ)

8. Tôi không lên án chị đâu (P. Trần Đình Phan Tiến)

9. Khiết tịnh và lòng nhân ái (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

10. Chuyện người đàn bà 2000 năm trước (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

11. Thiên Chúa là vị thẩm phán nhân từ  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

12. Đổi mới (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

13. Chúa Nhật 5 Mùa Chay_C  (Lm. Antôn, giáo xứ Giuse, Tulsa)

14. Khuất tất trong một vụ án bất thường (Jos. Vinc. Ngọc Biển)

15. Từ nay đừng phạm tội  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

16. Tình thương tha thứ và biến đổi (Lm. Đan Vinh)

17. Thẩm phán siêu phàm (AM. Trần Bình An)

18. Ai vô tội?  (Nam Phong)

19. Cảm nếm tình Cha! (Huệ Minh)

20. Tôi không lên án Chị đâu!  (Dã Quỳ)

21. Can đảm nhìn vào mình, đừng lên án người (Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh)

 

TỘI LỖI VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh Gioan là tác giả duy nhất ghi lại câu chuyện người phụ nữ ngoại tình. Câu chuyện này được trình bày như một vụ án. Người bị cáo là một phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bắt quả tang (nhưng không có tòng phạm bị tố cáo), người tố cáo là các kinh sư và biệt phái, thẩm phán là Chúa Giêsu. Vụ án được trình bày như một vở kịch, nhân vật trung tâm là Chúa Giêsu. Trong vụ này, các kinh sư và biệt phái muốn gài bẫy thử Chúa. Bởi lẽ nếu Chúa nói đừng ném đá, họ sẽ kết án Chúa bãi bỏ Lề Luật Môisen (x.Lv 20,10;Dnl 22,23-24); nếu Chúa đồng ý cho họ ném đá, Chúa sẽ mâu thuẫn với lời Người rao giảng về đức bác ái yêu thương.
 
Chúa Giêsu đã ứng xử rất khôn ngoan, không mắc bẫy và không rơi vào hai tình huống trên. Người không phủ nhận Luật Môisen, cũng không làm trái với lời giáo huấn của Người. Với câu trả lời: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”, Chúa đã lưu ý những người đang tố cáo hãy nhìn lại mình. Chính vì vậy, mà không ai dám cầm đá ném người phụ nữ. Và, kết quả là, những người tố cáo dần dần rút lui, chỉ còn lại Chúa Giêsu và người phụ nữ. Khi những lời tố cáo ồn ào đã lắng xuống, chỉ còn lại một bên là tội nhân đáng thương, một bên là lòng thương xót. Lòng thương xót đã chiến thắng. Người phụ nữ đã thoát chết. Chị được phục hồi và còn có một tương lai để làm lại cuộc đời. Lòng nhân từ của Chúa đã cứu sống chị. Những người tố cáo không còn có lý do để bắt bẻ Chúa. Họ cũng không hằn học coi khinh một người đã phạm tội, vì họ nhìn lại chính bản thân mình và nhận ra thân phận tội lỗi của họ. Chúa Giêsu được tác giả Tin Mừng trình bày như một vị tôn sư khôn ngoan, đầy lòng nhân hậu.
 
Đức Thánh Cha Phanxicô, khi giảng về câu chuyện người phụ nữ ngoại tình, đã nói: “Chúa Giêsu không để cho người đàn bà ngoại tình bị sỉ nhục. Người không nói với chị: “Con đã làm gì? Tại sao? Vì sao con làm như vậy? Con phạm tội với ai? Ngược lại, Người nói: “Con hãy đi và đừng phạm tội nữa. Lòng Thương xót của Chúa thật lớn lao và lòng thương xót của Chúa Giêsu cũng thật lớn lao. Chúng ta được tha thứ và được vuốt ve” (Trích trong cuốn Danh Ngài là Thương Xót, tr. 18).
 
Câu chuyện người phụ nữ ngoại tình được đọc trong Chúa nhật hôm nay, khi chúng ta đã đi gần hết chặng đường của Mùa Chay. Chúng ta hãy nhìn lại mình, xem mình là nhân vật nào trong vở kịch được kể trên. Có thể chúng ta đang là những kinh sư và biệt phái, chuyên săm soi và kết án người khác mà không nhận ra tội lỗi của mình để ăn năn sám hối.
 
Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, câu chuyện người phụ nữ ngoại tình mang ý nghĩa đặc biệt. Đây cũng là lời lưu ý nhắc nhở chúng ta hãy thận trọng trong cách nhận định xét đoán người khác, bởi lẽ hết thảy chúng ta đều là tội nhân đang cần được lòng thương xót của Chúa bao bọc che chở. Ngôn sứ Isaia đã ca ngợi lòng thương xót của Chúa đối với nhân loại. Ngài quên quá khứ đen tối của con người, mở ra trước mặt họ một con đường tương lai. Hoang mạc khô cằn sẽ vọt lên dòng suối mát, làm nước uống cho dân được tuyển chọn (Bài đọc I). Tình thương của Chúa sẽ như đại dương, tẩy sạch mọi tội lỗi của con người.
 
“Con hãy về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”. Lời tuyên bố của Chúa Giêsu đã giúp người phụ nữ tìm được hy vọng vào tương lai. Chị vẫn còn có một ngày mai tươi sáng, sau những tháng ngày ảm đạm chìm sâu trong tội lỗi. Đây cũng là lời chúng ta được nghe, mỗi nghi lãnh nhận Bí tích Hoà giải. Cha giải tội, sau khi đọc lời tha tội, cũng tuyên bố với chúng ta: “Chúa đã tha tội cho Ông (Bà), Ông (Bà) hãy ra về bình an”. Còn lời nào đẹp hơn là lời tuyên bố được tha thứ? Đây cũng giống như lời của vị quan toà nói với bị cáo là người đó được tha bổng, không còn bị kết án. Lòng thương xót của Chúa thật kỳ diệu, làm cho chúng ta được bình an và niềm vui trong tâm hồn.
 
Thiên Chúa không lên án chúng ta. Ngài luôn yêu thương và rộng lượng thứ tha mọi tội lỗi ta đã phạm, miễn là chúng ta thành tâm trở về với Ngài. Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định một danh xưng của Thiên Chúa: “Danh Ngài là Thương Xót”.

Về mục lục

.

LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Tgm. Ngô Quang Kiệt

Càng đi sâu vào mùa Chay, ta càng đi sâu vào tình yêu của Thiên Chúa. Tuần trước ta đã được tắm gội trong tình yêu tràn trề của người cha nhân hậu. Tuần này ta lại được hưởng nếm lòng khoan dung nhân hậu của Chúa Giêsu.

Bài Tin Mừng hôm nay trình bày một phiên toà. Bị cáo là người phụ nữ. Nguyên cáo là các Kinh sư và những người Pharisêu. Tội phạm là tội ngoại tình. Bản án là tử hình bằng cách ném đá. Thực ra họ không cần đến Chúa Giêsu làm quan toà. Họ có thể căn cứ vào luật Môsê để thi hành án. Họ đến hỏi ý kiến Chúa Giêsu không phải với thiện ý nhưng nhằm gài bẫy Người. Tha cho người phụ nữ là Người chống lại luật Môsê. Kết án người phụ nữ là Người mâu thuẫn với chính mình vì Người vẫn giảng dậy về lòng nhân từ thương xót. Cái bẫy thật hiểm độc. Đằng sau bản án của người phụ nữ chính là bản án dành cho Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu im lặng, cúi xuống viết trên đất. Người im lặng vì không đồng tình với thái độ của họ. Người im lặng để mọi người có thời gian lắng đọng tâm hồn. Người không trả lời vì câu hỏi họ đặt chưa đúng chỗ. Người không trả lời câu hỏi của họ để đưa ra cho họ một câu hỏi khác cơ bản hơn.

Người cúi xuống để người phụ nữ khỏi xấu hổ. Người cúi xuống để những Kinh sư và những người Pharisêu biết nhìn vào tâm hồn mình. Người cúi xuống buồn phiền vì sự độc ác của con người.

Vì họ cứ hỏi mãi nên Người đành ngẩng lên. Họ chờ đợi Người lên tiếng thì Người lên tiếng. Nhưng lời Người khiến họ chới với. “Ai trong các ông sạch tội, cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Họ mời Chúa Giêsu làm quan toà xét xử người phụ nữ, không ngờ Chúa Giêsu lại trở thành quan toà xét xử họ. Họ đợi chờ Chúa Giêsu kết án người phụ nữ, không ngờ Chúa Giêsu lại kết án họ. Họ mang đá đến để ném vào người phụ nữ, không ngờ Chúa Giêsu lại ném một hòn đá vào lương tâm họ.

Có điều, họ muốn Chúa Giêsu làm quan toà giết chết, nhưng Chúa Giêsu lại là quan toà cứu sống. Hòn đá họ mang đến với mục đích ném chết người phụ nữ. Hòn đá Chúa Giêsu ném vào lương tâm giúp lương tâm họ sống lại, bừng tỉnh khỏi mê muội, nhận biết mình tội lỗi, nên họ đã lần lượt rút lui không dám kết án người phụ nữ nữa.

Xét xử các Kinh sư và những người Pharisêu rồi, Chúa Giêsu mới xét xử người phụ nữ. Với ánh mắt dịu dàng, lời lẽ hiền từ, Người đã đưa ra lời phán xét: “Tôi không kết án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Thật là một lời phán xét lạ lùng. Lời phán xét của Chúa không tàn nhẫn độc đoán nhưng dịu dàng nhân hậu. Lời phán xét của Chúa không soi mói xét nét nhưng đại lượng bao dung. Lời phán xét của Chúa không cay đắng trách móc nhưng ân cần vỗ về. Lời phán xét của Chúa không sỉ nhục con người tội lỗi nhưng phục hồi nhân phẩm cho ta. Lời phán xét của Chúa không giam cầm tội nhân trong quá khứ, nhưng mở ra cho ta một tương lai. Chúa đã dứt bỏ và quên hết quá khứ lầm lỗi của ta. Chúa không nghi ngờ ta vốn hay phản bội. Chúa hoàn toàn tin tưởng khi trao tương lai vào tay người phụ nữ: “Hãy về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”.

Với lời tha thứ của Chúa Giêsu tôi hiểu rằng tình yêu và sự tha thứ của Chúa là vô điều kiện. Với lời tha thứ của Chúa Giêsu tôi hiểu rằng con đáng quý trọng không phải ở quá khứ nhưng ở tương lai, không phải ở cái họ đã là nhưng ở cái họ sẽ là. Với lời tha thứ của Chúa Giêsu tôi yên tâm đóng lại quá khứ để bắt đầu một tương lai mới, bước đi trong tình yêu thương và niềm tin tưởng của Thiên Chúa. Với lời tha thứ của Chúa Giêsu tôi hiểu rằng lòng thương xót của Chúa là vô biên. Người không lên án người phụ nữ phạm tội, cũng không lên án những người tố cáo chị.

Lạy Chúa, con cảm tạ lòng thương xót vô biên của Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Lên án và tha thứ, bạn làm điều nào nhiều hơn?
  2. Mỗi khi xét người, bạn có xét mình trước không?
  3. Bạn có cảm nhận được lòng thương xót của Chúa trong đời sống của bạn không?
  4. Khi đã tha thứ cho ai, bạn có hoàn toàn tin tưởng vào thiện chí của người đó không?

Về mục lục

.

PHIÊN TÒA CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

Lm. GB Văn Hào

Ông Nietzche, một triết gia vô thần đã từng ngạo mạn tuyên bố : “Thiên Chúa đã chết rồi”. Trong xã hội hiện nay, nhiều người ngay cả những kẻ mang danh Kitô hữu cũng đang dần khai tử Thiên Chúa bằng chính cuộc sống vô thần trong thực hành của họ. Chính lối sống mang sắc thái duy vật như thế sẽ làm mất đi cảm thức về tội lỗi. Nhiều bạn trẻ buông mình vào một lối sống hưởng thụ, sơ cứng lương tâm và đang dần đào thải Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống mình. Ông Nietzche còn khuyên lớp thanh niên :“ Các bạn đừng tin có tội lỗi, các bạn hãy mạnh dạn tống khứ ý niệm tội lỗi ra khỏi đầu óc của các bạn”.

Nhưng chúng ta hãy lắng nghe sứ điệp trọng tâm mà các bài đọc trong phụng vụ hôm nay gợi nhắc để nhớ rằng tất cả chúng ta đều là tội nhân. Hãy can đảm nhìn thẳng vào nội tâm của lòng mình để khám phá ra biết bao những bẩn thỉu và xấu xa mà chúng ta không thể nào che giấu khi đến trình diện trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta đừng vội vã kết án người này người nọ, giống như đám đông vây quanh người phụ nữ. Chúa nói với họ, đồng thời Chúa cũng đang nói với chúng ta hôm nay: “Ai trong các ông vô tội, cứ việc ném đá chị ấy đi”.

Phiên tòa thứ nhất: Xét xử người đàn bà tội lỗi

Người phụ nữ này bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Không biết chị ta phạm tội cách cố ý hay chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc phải bán trôn nuôi miệng. Thánh Luca không quan tâm đến điều đó. Thánh ký chỉ mô tả lại phiên tòa như một truyền thống theo tập tục Do thái. Một đám đông bao quanh người phụ nữ, trên tay mỗi người lăm lăm vài cục đá để chờ ném vào tên tội phạm cho hả dạ. Tình cờ, Chúa Giêsu cũng được mời đến tham dự. Có lẽ các đầu mục Do Thái đã mời Chúa đến để thử xem Ngài xử trí ra sao. Họ đặt ra một tình huống rất khó xử. Nếu Chúa Giêsu hành xử theo luật, thì có khác gì họ. Còn nếu không, thì Chúa lại không tôn trọng luật lệ của tiền nhân, thứ luật mà người Pharisiêu rất trọng thị và tuân giữ tỉ mẩn. Nhưng, Chúa Giêsu hoàn toàn thinh lặng. Ngài không nói một lời và lặng lẽ cúi xuống viết trên đất. Dường như động thái của Chúa nhằm nhắc nhở mọi người, hãy nhớ thân phận bụi đất và đầy tội lỗi nơi mình, đừng kết án kẻ khác. Cuối cùng, khi mọi người từ già đến trẻ tuần tự ‘biến’ một cách có trật tự, Chúa mới nhẹ nhàng nói với chị ta: “ Tôi không kết án chị đâu, hãy về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”.

Phiên tòa thứ 2: Tòa án của Philatô

Phiên tòa mà Thánh Luca thuật lại hôm nay khởi dẫn chúng ta đến với phiên tòa thứ 2 : tòa án của Philatô. Trong phiên tòa thứ nhất, Chúa được mời thủ vai chánh án, còn nơi phiên tòa thứ 2, Chúa đứng trước vành móng ngựa như một tên tội đồ. Ở phiên tòa đầu tiên, phạm nhân bị bắt quả tang đang phạm tội với nhân chứng vật chứng rõ ràng. Còn nơi phiên tòa sau, Chúa bị điệu đến như một can phạm, cho dù Ngài hoàn toàn vô tội. Trong cả 2 phiên tòa Chúa đều im lặng tuyệt đối. Sự thinh lặng mà Chúa biểu tỏ là một loại hình ngôn ngữ phong phú nhất diễn bày lòng thương xót vô hạn đối với các tội nhân. Đồng thời, đó cũng là sự im lặng trong vâng phục sâu thẳm để Thánh ý Chúa Cha được nên trọn. “Ngài hiền lành như một con chiên bị đem đi xén lông mà không kêu ca mở miệng” (Is 53,7). Con chiên vô tội ấy gánh lấy tội lỗi của cả trần gian và đã bị phân thây, hầu khai mở kỷ nguyên ơn cứu độ. Cả 2 phiên tòa này hoàn toàn tương phản nhau, nhưng có một mẫu số chung. Đó là những phiên tòa bày tỏ lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa đối với con người tội lỗi, là chính chúng ta.

Phiên tòa thứ 3: Tòa cáo giải

Đây là phiên tòa do chính Đức Giêsu thiết định. Ngài đã tham dự phiên tòa thứ nhất để nói với đám đông : “Ai trong các ông vô tội cứ việc ném đá đi”. Ngài đã bị xét xử cách oan ức trong phiên tòa thứ 2 để đồng phận với con người tội lỗi và mở toang một chân trời mới, đem lại ơn công chính hóa và sự giải án tuyên công cho những tội nhân. Ơn cứu độ ấy được diễn bày cách cụ thể nơi phiên tòa thứ 3 là chính tòa giải tội. Đây là phương thức tuyệt hảo để tái diễn lòng thương xót của Thiên Chúa. Trong phiên tòa này, chúng ta được mời đến như những phạm nhân, còn chính Chúa Giêsu sẽ đóng vai thẩm phán để xét xử. Phán quyết cuối cùng trong phiên tòa này luôn là sự tha bổng, tha một cách tuyệt đối và vô điều kiện. Việc đền tội được đưa ra không phải là một hình thức đái tội lập công do công sức của con người, nhưng chính là tâm tình hoan vui và cảm tạ vì chúng ta đã được tha thứ. Không phải chúng ta đọc một vài kinh chiếu lệ để ‘đền tội’ theo ý niệm thông thường, nhưng đúng hơn chúng ta dâng lên Thiên Chúa những tâm tình tạ ơn vì tội lỗi chúng ta được xóa sạch do lòng yêu thương và tha thứ vô điều kiện của Ngài.

Nhiều người trong chúng ta từng tham dự các phiên tòa ngoài xã hội. Có những tội rất nặng, nhưng con người dễ luồn lách dựa vào kẽ hở của luật pháp. Hoặc có không ít các vị quan tòa bẩn thỉu đã nhận ăn hối lộ trắng trợn để giảm án hoặc tha bổng cho phạm nhân. Nhưng, cả 3 phiên tòa chúng ta vừa nêu trên không hề có những trò mánh khóe hay bịp bợp giống như vậy. Nơi các phiên tòa ấy đều có sự hiện diện của Đức Giêsu. Dung mạo của Ngài lúc nào cũng phản chiếu lòng thương xót của Chúa Cha. Điều quan trọng nhất, là chúng ta phải nhìn ra thân phận tội lỗi xấu xa nơi mình và tín thác tuyệt đối vào tình yêu tha thứ của Thiên Chúa. Chúng ta đừng vội kết án người khác giống như đám người Do Thái đang toan tính ném đá chị phụ nữ cho đến chết. Chúng ta cũng đừng hèn hạ và nhu nhược như Philatô, đã kết án một con người hoàn toàn vô tội chỉ vì sợ đám đông. Chúng ta vẫn thường đeo nơi mình 2 cái bị, một cái phía trước đựng những lỗi lầm của người khác và cái bị phía sau chất đầy tội lỗi to đùng của chính mình. Chúng ta cứ thích bới tìm nơi cái bị trước mặt để bới móc tha nhân và ít khi chịu ngoái cổ lại phía sau để lục soát những tội lỗi tầy đình của chính chúng ta. Chúng ta nhớ lại lời nhắc nhở của Thánh Giacôbê tông đồ: “Chỉ có một Đấng ra lề luật và xét xử, đó là Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn bạn là ai mà dám xét đoán tha nhân (Gia 4,12).

Kết luận

Mỗi lần tham dự thánh lễ, việc đầu tiên mà Giáo hội mời gọi mọi người là hãy biểu tỏ tâm thức sám hối. Chúng ta vẫn đấm ngực thình thịch và đọc thật to: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Nhưng, nhiều khi vừa bước chân ra khỏi nhà thờ chúng ta lại vội ‘đấm nhầm’ qua ngực người khác, bằng việc chỉ trích, nói hành nói xấu và kết án anh em. Trong mùa chay, chúng ta hãy mạnh dạn lục soát lương tâm, bới tìm những rác rưởi và bẩn thỉu nơi nội tâm của cõi lòng. Có khiêm tốn tín thác tuyệt đối vào Chúa, chúng ta mới hưởng được Lòng Thương xót và ơn tha thứ nơi Ngài.

Về mục lục

.

VỢ CHỒNG PHẢI THA THỨ

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Gia đình là một xã hội thu nhỏ. Gia đình là tập hợp những phần tử sống chung với nhau thành một gia đình. Thế nên, chấp nhận kết hôn là chấp nhận chung sống lứa đôi. Một cuộc sống không phải lúc nào cũng là màu hồng mà có khi là màu đỏ của giận hờn, màu đen của lạnh lùng. Chén bát bên nhau theo năm tháng cũng va đập sứt mẻ huống chi đời sống chung vợ chồng tránh sao những lúc mà cha ông ta bảo rằng “cơm chẳng lành canh chẳng ngọt”? Vì :

Ngọc nhìn lâu sẽ tìm thấy vết,
Hoa để gần sẽ hết mùi hương.

Có một người vợ khoe rằng: Vợ chồng em ly hôn nhau cả chục lần rồi, toàn em khởi xướng. To còi mà, cứ cãi nhau phát là em gào: Ly hôn đi, tôi không muốn sống với anh nữa. Và thường thì những lúc ấy lão chồng em không trả lời lại. Còn nếu ở trước mặt nhau nói câu ấy thì kiểu gì lão cũng vênh mặt: Cô viết đi tôi ký.
Nhớ có lần cãi nhau to lắm nhưng qua điện thoại, cách mặt nên em rất khẳng khái: Ly hôn mẹ nó đi, sống thêm làm gì , tôi mệt mỏi lắm rồi.
Ấn send phát nằm run và nghĩ bụng: Chết dở, lỡ lão nhắn ok phát thì xong.
Mãi chả thấy trả lời. Cũng đành im lặng . Tận tối thấy lão nhắn: Bình tĩnh chưa con điên.
Em mở cờ trong bụng: May quá. Ai điên, tôi đang rất tỉnh táo, anh cứ đợi đấy, tôi viết đơn rồi.
Lão đáp: Đồ điên, đụng cái đòi ly hôn. Ly hôn xong tao ở với ai, sao ngu thế…
Thế là hết cơn. Nằm cười một mình. (ST)
Thực tế cho thấy cuộc sống Hôn nhân không luôn phẳng lặng như mặt nước hồ ao. Bao nhiêu sóng gió nổi lên vì cá tính dị biệt, anh thì chậm rãi nghiêm trang, chị lại mau chân lẹ miệng. Hoặc chồng thì hào hoa phong nhã, vợ thì kín đáo, keo kiệt; anh mê tân nhạc, chị thích cải lương . . . Đấy là chưa kể đến vấn đề bất đồng quan điểm trong việc làm ăn, sống theo tôn giáo, dạy bảo con cái…
Thế nên, để sống chung với nhau dài lâu nhất thiết phải có một chữ nhịn và một lòng yêu thương tha thứ. Chính lòng yêu thương tha thứ mới có thể ở bên nhau suốt đời cho dù vẫn còn đó những hiểu lầm, nghi kỵ và kể cả sự khó thương.
Phúc âm hôm nay kể rằng người ta bắt được một phụ nữ phạm tội ngoại tình. Ngoại tình theo luật Do Thái là ném đá. Thế mà Chúa Giê-su đã cứu người phụ nữ bằng tình yêu và lòng cảm thông. Chúa nói với đám đông: Ai trong sạch thì ném đá người đàn bà này đi. Chẳng ai trong sạch. Ai cũng có tội. Ai cũng yếu đuối nên đành từng người một rút lui ra về.
Ở đây chúng ta thấy khi Chúa nói người phụ nữ chị hãy về từ nay đừng phạm tội nữa. Nhưng chị về đâu nếu chồng không tha thứ cho mình. Về đâu khi mình đã quá nhục nhã ê chề. Chắc chắn với trái tim đầy tình yêu thì Chúa Giê-su đã đích thân hòa giải cho gia đình. Chúa đã đưa chị về nhà với tình yêu tha thứ của chồng.
Hay có thể nói nếu người chồng không tha thứ thì cho dù Chúa Giê-su có tha thứ nhiều lần thì chị cũng chẳng có cơ hội làm lại từ đầu. Chị cần tình thương tha thứ của chồng. Chị cần chồng bao dung và đón nhận để chị hoàn lương. Chị cần Chúa Giê-su là Đấng hòa giải cho chị và gia đình.
Xem ra đời sống gia đình cũng rất cần lòng thương tha thứ của nhau. Có tha thứ thì vợ chồng mới sống gắn bó suốt đời bên nhau.
Ước mong cho các gia đình luôn học lấy lòng bao dung tha thứ của Đức Ky-tô để có thể quên đi những lỗi lẫm của nhau. Xin cho chúng ta luôn vì Đức Ky-tô mà đón nhận nhau trong yêu thương tha thứ để vợ chồng mãi sum vầy bên nhau trăm năm tình viên mãn. Amen.

Về mục lục

.

LÒNG THƯƠNG XÓT KHÔNG KẾT ÁN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Sau khi đã đi được nửa đường với lời mời gọi “Mừng Vui Lên” của Chúa nhật IV Mùa Chay. Nay bước vào tuần thứ I của giai đoạn II, thời gian mà toàn bộ nhà thờ sẽ chuẩn bị cho việc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, nên việc cải đổi đời sống, ăn chay, cầu nguyện và tập luyện các nhân đức càng khẩn thiết hơn. Vì Trước cuộc cải tổ phụng vụ của Công đồng Vaticanô II, Chúa nhật V Mùa Chay được gọi là Chúa nhật thứ I mùa Thương khó, kéo dài 2 tuần cho đến lễ Phục sinh. Sau Công đồng Vaticanô II, lịch phụng vụ chỉ còn một tuần Thương khó, trùng với Tuần thánh, và Chúa nhật thứ V Mùa Chay là giai đoạn tiếp tục các đề tài huấn giáo theo chu kỳ. Nếu các Chúa nhật Mùa Chay năm A, B trình bày Chúa Giêsu là Nước Hằng Sống, là Anh Sáng, là Sự Sống dựa theo Tin mừng thánh Gioan. Thì các Chúa nhật Mùa Chay năm C đề cao lòng thương xót của Thiên Chúa và kêu gọi con người đáp trả.

Chúa Giêsu là hiện thân của Lòng Thương Xót. Khi mạc khải cho nhân loại biết Thiên Chúa là Cha, Đấng Giầu Lòng Xót Thương, dẫn chứng của Gioan đầy sức thuyết phục “Con Một, Ðấng ở nơi cung lòng Cha, chính Ngài đã thông tri” (Ga 1,18). Chân lý về Thiên Chúa được cụ thể hóa nơi Chúa Giêsu Kitô “Cha đầy tình thương xót” (2Cr 1,3), Đấng ghét tội và yêu thương kẻ có tội, không dung túng tội lỗi, nhưng khoan nhân với tội nhân, vì Thiên Chúa không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn hối cải và được sống (x. Ez 33,11). Đoạn Tin Mừng (Ga 8,1-11) là bằng chứng hùng hồn về lòng xót thương của Thiên Chúa đối với tội nhân. Thánh Gioan kể lại việc người ta đem đến cho Chúa Giêsu một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Chúa Giêsu không kết án chị, nhưng cứu chị khỏi bị ném đá. Chúa không nói với người phụ nữ: chị không có tội, nhưng nói : “Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa” ( Ga 8,11). Thật vậy, chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể cứu rỗi con người, vì chính Người mang lấy tội lỗi thế nhân và cho con người cơ hội để thay đổi đời sống.

Ðoạn Tin Mừng cho thấy, sự tha thứ của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự dung túng thường tình, tha thứ có kèm theo điều kiện. Không có nghĩa là bỏ qua sự dữ, hay tệ hơn nữa là chối bỏ sự dữ. Thiên Chúa không tha thứ sự dữ, nhưng tha thứ cho con người, và dạy người ta biết phân biệt giữa một bên là hành động xấu đáng bị kết án, và bên kia là con người cụ thể phạm lấy lỗi lầm đó, và là người mà Chúa muốn ban cho cơ may để thay đổi đời sống, làm lại cuộc đời. Trong lúc con người có khuynh hướng đồng nhất hóa người phạm tội với tội lỗi, và như thế là đẩy người có tội vào ngõ cụt, không có lối thoát. Lòng Chúa cao cả hơn lòng chúng ta, Thiên Chúa Cha lại hành động cách khác, Ngài đã sai Con Một mình xuống trần gian, để mở ra cho cả và nhân loại con đường cứu thoát. Chúa Giêsu chính là con đường này: khi chết trên thập giá, Người đã cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Chúa Giêsu lặp lại với con người ở mọi nơi, mọi thời đại rằng: “Ta cũng thế, Ta không kết tội. Vậy hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa“.

Khi nghe những lời trên trong đoạn Tin Mừng hôm nay, làm sao chúng ta không cảm nghiệm được một niềm tín thác trào dâng trong tâm hồn chúng ta? Sao không nhìn thấy nơi đó một “Tin Vui” cho cả và nhân loại ở thời đại chúng ta, những con người đang mong ước khám phá lại ý nghĩa đích thật của lòng nhân từ và sự tha thứ.

Thời đại chúng ta đang cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa, một sự tha thứ làm phát sinh niềm hy vọng và phó thác, mà không làm yếu đi cuộc chiến chống lại sự dữ. Cần trao ban và lãnh nhận sự tha thứ. Nhưng chúng ta không trở nên có khả năng tha thứ, nếu trước đó chúng ta không để cho mình được Thiên Chúa thứ tha, vừa nhìn nhận mình là đối tượng của lòng nhân từ của Thiên Chúa. Chúng ta cũng sẽ trở nên kẻ sẵn sàng tha nợ cho người khác, chỉ khi nào chúng ta ý thức về mòn nợ to lớn mà chúng ta đã được tha cho. Chúng ta hãy cố khám phá ra tình thương của Thiên Chúa qua bí tích Hòa Giải, và hãy tỏ ra nghiêm khắc đối với tội lỗi nhưng khoan nhượng đối với con người tội lỗi.

Chúng ta hãy nhìn lên Ðức Trinh Nữ Maria và khẩn cầu Mẹ là Mẹ của Lòng Thương Xót. Nơi Mẹ, tình thương nhân từ của Thiên Chúa được nhập thể, và tâm hồn vô nhiễm của Mẹ là nơi trú ẩn an toàn cho người tội lỗi. Ðược Mẹ dẫn lối chỉ đường, chúng ta hăng hái tiến bước, và nhớ lại lời Chúa Giêsu nói với người phụ nữ ngoại tình, nay Người nói với mỗi người chúng ta rằng: “Hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11).

Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con đón nhận với niềm vui đã được canh tân, tiếp nhận hồng ân cứu rỗi, ngõ hầu chúng con gặp lại được sự tin tưởng và niềm hy vọng để bước đi trên con đường mới. Amen.

Về mục lục

.

TÌNH THƯƠNG VÀ THA THỨ

Trầm Thiên Thu

Tình thương và lòng tha thứ luôn có mối liên quan lẫn nhau. Tình Thương (và) Tha Thứ gồm 4 mẫu tự T, nhưng phải đạt tiêu chí của 4 mẫu tự T khác: Thương Tha Thật Tình. Nghĩa là không thể giả hình, mà giả hình thì không thương thật.

Có tình thương, người ta có thể làm được tất cả, tử thần cũng không thể làm cho họ hoang mang, sợ hãi.

Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4:8 và 16). Nhưng nhà hóa học Orlando Aloysius Battista (1917-1995, người Mỹ gốc Canada, một tín hữu Công giáo ngoan đạo), lại có nhận xét: “Đim yếu nht ca hu hết người ta là do d nói li yêu thương người khác khi h còn sng”. Một nhận xét chính xác, nhưng thật đáng buồn cho nhân loại!

Rainer Maria Rilke (1875-1926, người Áo, một nhà thơ lớn của thế kỷ XX), nói: “Có điu kỳ diu xy đến vi nhng người thc s biết yêu thương: h càng cho nhiu thì h càng có nhiu”. Có nhiều thứ gì cũng là “giàu”, nhưng cái “có” theo tỷ lệ thuận với cái “cho” ở đây không nên chỉ hiểu về lĩnh vực vật chất. Những người thực dụng và ưa hình thức thì chắc chắn sẽ không thích “kiểu giàu” này. Đối với Thiên Chúa, cái giàu là cái nghèo, và ngược lại. Đó là triết-lý-sống của Nước Trời, được đề cập trong Hiến Chương Nước Trời (Bát Phúc, Tám Mối Phúc – Mt 5:3-12).

Ngôn sứ Isaia nói: “Đây là li Đc Chúa, Đng đã vch mt con đường gia đi dương, mt li đi gia sóng nước oai hùng, Đng đã cho xut trn nào chiến xa chiến mã, nào tướng mnh binh hùng: tt c đã nm xung, và không còn tri dy, đã b dp đi, tt ngm như tim đèn (Is 43:16-17). Đó là hậu quả bi thảm của những người có ý định ngăn cản đường lồi của Thiên Chúa, muốn hại những người theo Ngài.

Thiên Chúa tiếp tục tuyên phán: “Các ngươđng nh li nhng chuyn ngày xưa, ch quan tâm v nhng vic thu trước. Này Ta sp làm mt vic mi, vic đó manh nha ri, các ngươi không nhn thy hay sao? Phi, Ta s m mt con đường gia sa mc, khơi nhng dòng sông ti vùng đt khô cn. Loài dã thú, chó rng và đà điu, đu s tôn vinh Ta; vì Ta cho nước chy ngay gia sa mc, khơi nhng dòng sông ti vùng đt khô cn, cho dân Ta tuyn chn được gii khát. Ta đã gy dng cho Ta dân này, chúng s lên tiếng ngi khen Ta. Ít-ra-en bi nghĩa vong ân” (Is 43:18-21).

Thiên Chúa toàn năng, có thể làm mọi sự, từ không sẽ biến thành có, từ có sẽ hóa ra không. Ngài là Đấng xót thương, “mau quên” lỗi lầm của tội nhân, nhưng Ngài nhớ mãi những gì tội nhân thực hiện với ý tốt – dù là điều nhỏ nhoi mà thôi. Quả thật, Ngài quá đỗi đại lượng chỉ vì thương xót chúng ta. Vâng, chính sự khốn nạn của chúng ta đã khiến Thiên Chúa chạnh lòng trắc ẩn. Một sự thật mà đôi khi chúng ta không thể ngờ được, chắc chắn có mơ cũng không thấy ở cõi trần gian này, cũng chẳng có vị thần nào khác nhân từ như Thiên Chúa của chúng ta.

Tác giả Thánh Vịnh đã phải thốt lên: “Khi Chúa dn tù nhân Sion tr v, ta tưởng mình như gia gic mơ. Vang vang ngoài ming câu cười nói, rn rã trên môi khúc nhc mng” (Tv 126:1-2a). Mơ mà thật. Quá bất ngờ, quá ngạc nhiên, và rồi dân ngoại cũng không thể lặng im, mà họ phải bàn tán: “Vic Chúa làm cho h, vĩ đi thay!” (Tv 126:2b).

Tác giả Thánh Vịnh tiếp tục minh định: “Vic Chúa làm cho ta, ôi vĩ đi! ta thy mình chan cha mt nim vui. Ly Chúa, xin dn tù nhân chúng con v, như mưa dn nước v sui cn min Nam” (Tv 126:3-4). Thế cờ cuộc đời của chúng ta ở thế bí vì bị triệt buộc, nhưng Thiên Chúa đã lật lại thế cờ, chuyển bại thành thắng, đổi buồn thành vui, chuyển nước mắt nên tiếng cười: “Ai nghn ngào ra đi gieo ging, mùa gt mai sau khp khi mng. H ra đi, đi mà nc n, mang ht ging vãi gieo; lúc tr v, v reo hn h, vai nng gánh lúa vàng” (Tv 126:5-6). Niềm hạnh phúc quá lớn, vượt ngoài ước mong, trên cả tuyệt vời. Xin tạ ơn Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

Có Chúa là có tất cả. Mất Chúa là mất tất cả. Một khi tin nhận và theo bước Chúa, người ta bất chấp mọi đau khổ, kể cả cái chết. Thánh Phaolô thổ lộ tâm sự: “Tôi coi tt c mi s là thit thòi, so vi mi li tuyt vi, là được biết Đc Kitô Giêsu, Chúa ca tôi. Vì Người, tôi đành mt hết, và tôi coi tt c như rác, đ được Đc Kitô và được kết hp vi Người” (Pl 3:8-9a). Đối với những người không có đức tin hoặc chưa hiểu được ý nghĩa của sự đau khổ, họ coi những người “cam chịu đau khổ” là những người “không bình thường”, có thể là “điên khùng” hoặc “có vấn đề” về tâm thần. Tuy nhiên, ai khoe mình khôn ngoan thì lại hóa điên rồ mà thôi (x. Rm 1:22).

Người chấp nhận đau khổ và dám chịu đau khổ là người can đảm và khiêm nhường. Thánh Phaolô chia sẻ: “Được như vy, không phi nh s công chính ca tôi, s công chính do lut Môsê đem li, nhưng nh s công chính do lòng tin vào Đc Kitô, tc là s công chính do Thiên Chúa ban, da trên lòng tin. Vn đ là được biết chính Đc Kitô, nht là biết Người quyn năng thế nào nh đã phc sinh, cùng được thông phn nhng đau kh ca Người, nh nên đng hình đng dng vi Người trong cái chết ca Người, vi hy vng có ngày cũng được sng li t trong cõi chết” (Pl 3:9b-11).

Xây dựng thì khó và lâu, nhưng phá bỏ thì rất mau. Con người vốn dễ ảo tưởng, dễ ngủ quên trong chiến thắng, thế nên phải luôn cảnh giác cao độ, vì tính kiêu ngạo lúc nào cũng chỉ rình “bật lên” mà thôi. Thói kiêu ngạo có thể len lỏi vào những công việc đạo đức, nó có thể làm mờ mắt của chúng ta, khiến chúng ta tưởng là mình tốt lành, nhưng có thể chỉ là giả hình. Kiêu ngạo là đốm lửa nhỏ nhưng lại rất mạnh, trong thoáng chốc nó có thể thiêu rụi hết những gì chúng ta đã khó nhọc tạo dựng.

Thánh Phaolô tâm sự như một lời khuyên nhủ: “Nói thế, không phi là tôi đã đot gii, hay đã nên hoàn thin đâu; nhưng tôđang c gng chy ti, mong chiếm đot, bi l chính tôi đã được Đc Kitô Giêsu chiếm đot. Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được ri. Tôi ch chú ý đến mt điu, là quên đi chng đường đã qua, đ lao mình v phía trước. Tôi chy thng ti đích, đ chiếm được phn thưởng t tri cao Thiên Chúa dành cho k được Người kêu gi trong Đc Kitô Giêsu” (Pl 3:12-14). Cầu mong mỗi chúng ta luôn sẵn sàng để cho Thiên Chúa chiếm hữu mình để chúng ta có thể thuộc trọn về Ngài.

Trình thuật Ga 8:1-11 là một tình khúc tha thứ chan chứa lòng thương xót của Thiên Chúa: Nữ tội nhân ngoại tình.

Thánh sử Gioan cho biết rằng, Chúa Giêsu trở lại Đền Thờ lúc trời vừa tảng sáng. Toàn dân đến với Ngài để lắng ngh Ngài giảng dạy họ. Ngay lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Ngài một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Ngài: “Thưa Thy, người đàn bà này b bt qu tang đang ngoi tình. Trong sách Lut, ông Môsê truyn cho chúng tôi phi ném đá hng đàn bà đó. Còn Thy, Thy nghĩ sao?”.

Họ nói thế nhằm thử Ngài, cố ý gài bẫy Ngài để có bằng cớ tố cáo Ngài. Nhưng Đức Giêsu không nói gì, rồi cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Ngài ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sch ti, thì c vic ly đá mà ném trước đi”. Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất.

Họ cứng họng! Chẳng ai bảo ai, lần lượt họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi.

Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ đứng ở giữa. Ngài ngẩng lên và hỏi: “Này ch, h đâu c ri? Không ai lên án ch sao?”. Chị khẽ đáp: “Thưông, không có ai c. Có lẽ lúc đó chị cũng run lắm. Chị run một phần vì sợ bị ném đá, một phần vì xấu hổ. Và có lẽ chị vẫn chưa heết run, dù chỉ còn chị đối diện với Chúa Giêsu. Chắc hẳn chị cũng đã nghe người ta bàn tán về Ông Giêsu nào đó, và hôm nay, chính con người đó đang đứng nhìn chị. Ánh mắt nhân từ của Đức Giêsu “soi” vào chị và chị nhận ra mình là kẻ tội lỗi khốn nạn.

Nhưng Chúa Giêsu ôn tồn nói với chị: “Tôi cũng vy, tôi không lên án ch đâu! Thôi ch c v đi, và t nay đng phm ti na!”. Lúc này chị lại run, nhưng chị không run vì sợ, mà chị run vì sung sướng, vì hạnh phúc: Chị được trắng án, thoát án tử, nghĩa là chị được tái sinh. Chắc chắn không còn niềm vui nào to lớn hơn và mãnh liệt hơn!

Tình Thương là Lòng Thương Xót. Tình Thương đó đã tỏa ánh sáng Tha Thứ. Tình Thương đó bao la và tròn đầy mãi mãi – từ hồng hoang tới đời đời. Phụ nữ ngoại tình kia là mỗi chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã tha thứ và giải án tuyên công. Chúng ta được Thiên Chúa cho trắng án thì không thể không xóa án cho người khác. Nghĩa là chúng ta cũng phải mau mắn tha thứ cho bất cứ ai, không chỉ tha thứ bảy lần mà phải tha thứ bảy mươi lần bảy (Mt 18:22), tha thứ hằng ngày và tha thứ mãi mãi. Tha thứ là dấu chỉ yêu thương, dấu chỉ sống lòng thương xót.

Ly Thiên Chúa, xin t ơn Ngài luôn thương xót và tha th dù con tái phm nhiu ln, xin giúp con biết th hin Tôn Nhan Thương Xót ca Ngài và nhân t vi mi người, hôm nay và mãi mãi. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA ĐANG LÀM ĐIỀU MỚI

Lm. Phạm Thanh Liêm

Tiên tri Isaia nói với dân Do Thái: không còn cần nhìn vào quá khứ để nhận biết Thiên Chúa nhưng có thể nhìn vào hiện tại, vì Thiên Chúa đang làm điều mới cho con người. Ngày đó Thiên Chúa đang giải phóng họ khỏi ách lưu đày ở Babylon; hôm nay, Đức Yêsu là điều mới Thiên Chúa đang làm cho con người.

Chị phụ nữ ngoại tình

Hãy nhìn chị phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Đây là lần đầu tiên chị phạm tội này, hay đã nhiều lần? Phải chăng người ta đã rình rập để bắt quả tang, và họ đã thành công, để chị không còn có thể chối cãi được?

Không còn nét kênh kiệu, không còn thái độ thách thức! Chị biết mình không thể thoát cái chết bởi bao người “đạo đức”, bao người “có trách nhiệm bảo vệ cương thường” đang vây quanh chị. Sợ hãi, hối hận hiện lên gương mặt và thái độ của chị.

Không ai có thể cứu chị trừ phi có một phép lạ, trừ phi chính Thiên Chúa ra tay! Nhưng liệu Thiên Chúa có còn thương người tội lỗi như chị, có nghe tiếng van xin của chị không?

Những kinh sư và biệt phái

Những kinh sư và biệt phái nghiêm khắc. Cứ theo luật thì chị ta phải chết. Phải ném đá chị ta, để bảo vệ sự công bằng của xã hội, để bảo vệ sự trong sáng của đạo giáo, và ai cũng phải làm như vậy thôi.

Họ giải chị ta tới với Đức Yêsu, người hay giảng dạy yêu thương tha thứ, người hay nói Thiên Chúa là Thiên Chúa của những tội nhân. Xem ông ta dạy gì? Đây cũng là dịp để cho thấy con người thực và những giáo huấn của ông ta. Có thể họ cũng chẳng muốn gài bẫy Đức Yêsu, nhưng để làm “cho ra lẽ” một giáo huấn “nhân từ” hay “Thiên Chúa thương xót” không thể có chỗ đứng trong xã hội.

Hãy chờ xem.

Đức Yêsu- Đấng thương cảm và tha thứ

Đức Yêsu cảm thấy khó giải quyết. Ngài cúi xuống và bắt đầu viết. Có người nói Ngài viết tội của từng người hiện diện. Có thể, nhưng cũng có thể giải thích: đó là thái độ bối rối không biết giải quyết ra sao.

Vì người ta tiếp tục ép Ngài phải trả lời, Ngài đứng lên và nói: “ai trong các ông vô tội, hãy là người đầu tiên ném đá chị ấy đi”, rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất. Ngài không thách thức ai. Ngài trách ánh mắt thách thức họ, để có thể vì tự ái họ “làm liều”. Có thể Ngài cầu nguyện cho họ được trung thực với chính mình. Vì chính khi trung thực với chính mình, thì họ không thể ném đá chị phụ nữ.

Tạ ơn Chúa. Không có ai ném đá chị phụ nữ. Đức Yêsu đã thành công. “Không có ai kết án chị ư?” Thưa thầy: “không”! Tôi cũng không kết án chị, hãy đi và đừng phạm tội nữa. Chỉ có mỗi một người có thể ném đá chị, mà người đó lại không muốn ném đá chị. Bởi vì người đó nhân từ, cảm thương con người tội lỗi hơn là lên án họ.

Hãy đi và đừng phạm tội nữa. Có lẽ từ đó trở đi, chị ta là con người mới vì chị ta đã cảm nhận được một tình yêu. Tình yêu tha thứ và tôn trọng. Tình yêu mời gọi chị làm lại cuộc đời. Thiên Chúa làm mới chị, và cũng là một phép lạ đối với những người kinh sư và biệt phái, vì hôm nay họ trung thực với chính họ, hôm nay họ gặp gỡ Thiên Chúa qua hành vi “nhận biết chính mình”.

Phaolô trở thành con người mới nhờ biết Đức Yêsu

Với Phaolô, mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Yêsu. Phaolô sẵn sàng mất tất cả, để được Đức Yêsu. Tương lai của Phaolô ở trong tay Chúa, sự công chính của Phaolô cũng tuỳ thuộc Chúa. Phaolô không cậy dựa vào sức riêng mình. Hiện tại Phaolô không cho mình là người thành toàn, nhưng Phaolô vẫn tiếp tục tiến bước trong niềm hy vọng vào Thiên Chúa, Đấng đã làm và sẽ làm những điều tốt nhất cho Phaolô.

Một điều rất quan trọng với Phaolô: quên phía sau và lao mình tới trước, nhắm đích Thiên Chúa kêu gọi ngài trong Đức Yêsu. Đức Yêsu đã là tất cả cho Phaolô.

Ngài là ai đối với tôi?

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

  1. Điều gì đánh động bạn nhất trong trình thuật “chị phụ nữ ngoại tình”?
  2. Theo bạn, tại sao Đức Yêsu chi phối đời Phaolô đến thế?
  3. Đức Yêsu có chi phối đời bạn không? Tại sao? Đến độ nào?

Về mục lục

.

TÔI KHÔNG LÊN ÁN CHỊ ĐÂU

P. Trần Đình Phan Tiến

Vâng, kính thưa quý vị, đoạn Tin Mừng Chúa Nhật V Mùa Chay (Ga 8, 1-11) hôm nay, là đoạn Tin Mừng không dài, nhưng được thánh sử Gioan ghi lại thật cụ thể và dễ hiểu, đồng thời nêu bật tính nhân văn rất cao nơi tinh thần Kitô giáo. Đó là sự tha thứ.    

 Nhưng, sự thâm độc của những người muốn hãm hại Chúa Giêsu thì quá rõ, họ tưởng mình cao siêu, nên gài bẫy Người. Nhưng, Chúa Giêsu thì cao siêu hơn họ, và vì vậy, Người không mắc bẫy họ.

Vâng, kính thưa quý vị, sự lầm lẫn của người Dothai đối với Chúa Giêsu là sự ”cố chấp” và sự “tha thứ”. Vì theo luật Dothai, thì tội ngọai tình phải xử ném đá cho tới chết. Thật dã man, vì khi “tội nhân” bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, thì dường như khó sống, như vậy, thân xác bị cho là tội lỗi đó, và linh hồn không trong sạch đó bị “vùi dập” bởi những cục đá , qua sự giận dữ của con người, thì trở nên một đống thịt nát, xương tan, máu me be bét, thì còn gì là nhân văn, nhân đạo nữa.

Như vậy, chúng ta thấy, một sự so sánh theo nghĩa đen cụ thể, thì Đấng Cứu Thế đến trần gian là để gánh lấy tội nhân loại đó sao ?! Vâng, Người đã chết thay cho kẻ tội lỗi, vì Người đã tha cho kẻ có tội, chứ Người không lên án họ, kể cả những kẻ giết Chúa Giêsu.

Vâng, những lời nói cay độc, sau lưng người khác, đó là những hòn đá ”ném “ vào họ mà mình cho là họ có tội. Vì, ngày nay luật pháp không cho phép tự xử như ngày xưa, nhưng, họ cũng lợi dụng người dân, cai gọi là “nhân dân”, của nhân dân, vì nhân dân, nhưng, thực chất là một bộ phận” ném đá giấu tay”, những chiêu bài thủ đoạn để hãm hại người khác mà họ cho là có tội. Vâng, từ đó hằng ngày, hằng giờ vẫn còn biết bao con người là nạn nhân của những vụ” ném đá giấu tay”.

Còn Chúa Giêsu thì không, Người dứt khoát “nói không” với tỗi lỗi và tội ác. Vâng, Chúa Giêsu mới chính là Vị Quan Tòa công chính, trên cả cái gọi là ”thanh liêm” của con người mọi thời. Bởi vì, Người là Chân Lý và Tình Yêu. Vâng, công lý và hòa bình phải dựa vào chân lý và tình yêu. Chân lý là cái đúng của sự thật, tình yêu là “lòng thương xót” của Thiên Chúa, là bác ái Kitô giáo.

Vâng, chính Chúa Giêsu, Đấng đã đến thế gian, thay vì để xét xử thế gian, nhưng, lại chịu thế gian xét xử, Đấng đến thế gian để lên án thế gian, nhưng, lại tha thứ cho thế gian. Vì, Con Người đến không phải để luận phạt thế gian, nhưng để “CỨU” thế gian. Vì , để thế gian nhờ Người mà được sống sung mãn.

Tại sao vậy, thưa quý vị ? thưa, vì tội lỗi thế gian không tài nào kể xiết. tội lỗi thế gian chỉ có một cách là bỏ vào”hỏa lò” vĩ đại đó là Hỏa Ngục một lần để đốt hết, chứ không tài nào kể xiết. Như thế, chúng ta mới thấy rõ Chương Trình cứu độ của Thiên Chúa qua Đấng Cứu Thế Giêsu- Kitô. Sự tha thứ bởi Thiên Chúa không phải khơi khơi, mà được trả bằng Máu của Người vô tội.

Vâng , Gía Máu Cứu Chuộc của Đấng Cứu Thế mới có quyền tha thứ, đủ sức tha thứ hơn hết, trên cả “hỏa lò” của Hỏa Ngục. Gía Máu của Chúa Giêsu là một Gía Máu của sự cứu chuộc, vì Người tuyên bố “tha tội”, thì Người sẵn sáng gánh tội cho người khác.

 Chúng ta thấy, đoạn Tin Mừng của thánh Gioan ( Ga 8, 1-11) hôm nay không phải là một câu chuyện để đọc chơi cho vui, hay là mười một câu nhắc lại chuyện xưa, tích cũ mà là một “Lời” nhắc nhớ muôn đời bởi tội lỗi nhân loại.

Thiên Chúa biết, loài người không thể thánh thiện, nhưng, Thiên Chúa muốn cho loài người thánh thiện, vì sự thánh thiện chính là Thiên Chúa. phàm nhân muốn trở nên thánh thiện, thì phàm nhân phải trả giá. Nhưng, chúng ta có một Đấng đã trả giá cho chúng ta, đó là Đức Kitô.

Vâng, câu chuyện Tin Mừng ( Ga 8, 1 -11) hôm nay là một câu chuyện đầy éo le, nghịch cảnh, cho chúng điều gì?

  • Một là : Lòng thương Xót vô tận của Thiên Chúa qua Đấng Cứu Thế.
  • Hai là: Cho con người mọi thời biết rằng : Đừng kết án người khác. Vì Thiên Chúa không kết án con người.
  • Ba là: Thiên Chúa minh chứng sự tha thứ cho con người qua cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô là một điều duy nhất và hiển nhiên. Vì , không còn luật lệ hay quy định nào lớn hơn Gía Máu Cứu Độ của Đức Kitô.

  Trang Tin Mừng hôm nay luôn đặt ra cho mọi thời đại giữa cái thiện và cái ác, giữa công lý và tình yêu, giữa thù hận và tha thứ. Thiên Chúa luôn đong đầy, nhưng con người muốn đón nhận nhiều ít, thấp , cao, nông ,sâu, là tùy thuộc vào con người.

Như vậy, tha thứ để “CỨU” tha nhân cả hồn và xác, tha thứ minh chứng Lòng Thương Xót bởi Thiên Chúa. Vì, sự tha thứ bởi Đức Kitô là một sự tha thứ thiết thực, sự tha thứ  mà Người có quyền ban phát là một sự tha thứ được “mua lấy” bởi Thiên Chúa, tức sự tự nguyện “nộp mình” chịu chết, trở nên hy Tế, chứ không phải “chiếm đoạt” cách phi lý, dù là Con Thiên Chúa.

Khởi đi từ bài đọc I ( Is 43, 16 -21) hôm nay cho thấy sự việc ra khỏi Ai-cập của dân Israel là do bởi Thiên Chúa, chính Ngài yêu thương, tuyển chọn, dẫn dắt, qua những thời kỳ nguy hiểm. Nhưng, rồi cuối cùng họ cũng phản nghịch.

Qua bài đọc II ( Pl 3, 8 -14) thánh phao-lô cho chúng ta biết “Tin” vào Đức Kitô, thì được trở nên công chính, chứ không phải do cậy dựa vào thế lực nào khác. Chính ngài là người Dothai thuần chủng, bách hại Kitô giáo như một “ dũng sĩ ” xuất sắc, như một kẻ cuồng tín, cuồng si một đảng phái trong mơ tưởng,vô vọng, không biết cái đảng ấy đưa ta về đâu. Nhưng, tất cả đều vô nghĩa và một ngày đẹp trời, chính Chúa Giêsu dẫn dắt ngài.

Lạy Chúa là Cha toàn năng, Cha đã biểu lộ Lòng Thương Xót qua sự tha thứ tội lỗi cho nhân loại qua Đức Kitô. Xin cho con người mọi thời biết ăn năn sám hối và Tin vào Tin Mừng Cứu Độ, để họ đáng lãnh nhận ơn cứu chuộc của Cha qua Đức Kitô , Chúa Chúa con ./. Amen.

Về mục lục

.

KHIẾT TỊNH VÀ LÒNG NHÂN ÁI

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Tôi biết là bài Tin Mừng không nói gì về đức khiết tịnh, ngược lại là đàng khác, nó đang thuật lại câu chuyện về người đàn bà ngoại tình, tức là người lỗi phạm một điều nghịch với sự khiết tịnh ngay trong bậc vợ chồng. Các kinh sư và Pha-ri-sêu rõ ràng đang nhân danh luật Mô-sê để bắt mọi người Do Thái phải sống trung thủy. Nhân danh luật lệ khắt khẽ thì, bất cứ ai không trung thủy nhất là phụ nữ, sẽ lập tức bị lên án; và trong trường hợp bị bắt quả tang có thể lãnh án phạt nặng nề là ném đá cho tới chết. Tạo nên một xã hội lành mạnh có nền luân lý vững chắc là mục tiêu của luật Do Thái, cũng như của luật pháp mọi tôn giáo hay quốc gia. Riêng về diện này thì luật Mô-sê rõ ràng rất cao đẹp, vượt trội so với luật pháp của các dân tộc cùng thời; và đã từng là niềm kiêu hãnh của Do Thái trước các dân tộc khác (xem Đệ Nhị Luật 26:16-19). Khiết tịnh trong đời sống vợ chồng quả là một giá trị lớn cần được bảo vệ trong bất cứ xã hội lành mạnh nào!

Nhưng đối với Tin Mừng mà Đức Giê-su đến để rao giảng, và còn minh chứng bằng chính mạng sống mình, thì giá trị của sự trung thủy vợ chồng, cũng như bất kỳ một giá trị luân lý nào, đều không thể nào sánh được với lòng nhân ái và xót thương. Sự khác biệt chính (thậm chí đối đầu) giữa Đức Giê-su và các kinh sư Pha-ri-sêu, giữa Cựu Ước và Tân Ước chính là hệ tại ở việc đặt giá trị nào lên trên, lòng nhân ái hay luân lý (khiết tịnh hôn nhân trong trường hợp cụ thể này)? Các kinh sư và Pha-ri-sêu thì đã dứt khoát: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó.” Đức Giê-su cũng dứt khoát không kém: “Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ này đừng phạm tội nữa!”

Cựu Ước chọn giá trị luân lý và đặt nó lên hàng đầu, ngược lại Tân Ước thì đặt lòng nhân ái thương xót lên hàng đầu; sự khác biệt đối chọi như vải mới / áo cũ, rượu mới / bầu da cũ!

Đức Giê-su không hề có ý muốn phế bỏ các giá trị luân lý! Không đời nào! Người đã chẳng long trọng tuyên bố: “Thầy đến không phải là để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ… nhưng là để kiện toàn” (Mt 5:17-18) là gì? Điều duy nhất mà Người muốn loan truyền và khắc ghi vào tâm khảm các môn đệ chính là: ‘sự vĩ đại tuyệt đối của lòng nhân ái’, “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9:13). Đúng thế, sự chết và phục sinh của Người đâu có mục đích bảo vệ một giá trị luân lý nào, nhưng là tiếng nói tuyệt đối của tình yêu nhân ái của Thiên Chúa!

Như vậy chúng ta mới nghiệm ra rằng: bao lâu mình còn đặt các giá trị luân lý lên thế thượng phong thì mình vẫn cứ luẩn quẩn trong Cựu Ước. Cựu Ước tất nhiên là không xấu, rất tốt nữa là đàng khác, có điều Ki-tô hữu phải là Tân ước của Tin Mừng Đức Ki-tô Giê-su; mà đã là Tân Ước thì giá trị của lòng nhân ái phải được đặt lên hàng đầu. Trước hết là đối với Thiên Chúa: nắm giữ các giới răn Chúa truyền là điều quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn gấp bội khám phá và đi sâu vào lòng từ bi – thương xót của Người trong Đức Giê-su Ki-tô. Còn trong việc mục vụ (trong tư cách linh mục), tôi dành nhiều thời giờ và sức lực cho việc giáo huấn luân lý là điều cần thiết, nhưng còn quan trọng hơn nhiều, nỗ lực ghi khắc vào tâm khảm các tín hữu (nhất là người trẻ) nhận biết lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, và cũng đối sử như thế đối với tha nhân; nếu không làm điều này, ta sẽ không phải là một Ki-tô hữu đích thực, một môn đệ đích thực của Đức Ki-tô Giê-su. Riêng Linh Mục, trong tư cách là một ‘Ki-tô thứ hai’ – alter Christus, chứ không phải là ‘alter Mosis’, nếu tôi không trở thành ‘dấu chỉ và người mang tình yêu Chúa đến cho mọi người’ (như Don Bosco vẫn nhắc nhở các tu sĩ Sa-lê-diêng của người như thế) thì quả là một phản bội đấy: dạy dỗ và sửa bảo luân lý là điều cần làm… nhưng tỏ lòng nhân ái là điều còn cần thiết hơn. Giai thoại về người đàn bà ngoại tình cho thấy: theo gương Đức Giê-su, điều cần làm hơn hết khi phải giáp mặt với một lỗi phạm luân lý (đặc biệt trong lãnh vực khiết tịnh) là hãy tỏ lòng thương xót, từ nhân. Chắc chắn đó không phải là thái độ xuề xòa dễ dãi cho qua, vì phải là “từ nay đừng phạm tội nữa”, nhưng còn đi xa hơn thế, là thái độ thương cảm của chính Thiên Chúa được Đức Giê-su diễn tả: “Tôi không lên án chị đâu!” Bởi vì xét cho cùng, ai trong chúng ta cũng cần được Thiên Chúa xót thương và tha thứ cả, có lẽ mình cần hơn bất cứ ai khác: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ lấy đá mà ném trước đi.”

Tất cả chúng ta đều cần tới ơn cứu độ của Thập Giá và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa!

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin cho con biết, mỗi khi giáp mặt với lỗi phạm nơi bản thân mình cũng như nơi tha nhân, quyết tâm không ngừng vun trồng nơi mình và nơi những người con phục vụ không những các giá trị luân lý cao đẹp, nhưng còn biết quyết liệt hơn sống lòng nhân ái và xót thương của Chúa. Xin giúp con không bao giờ kết án bất cứ ai chỉ vì các lỗi phạm của họ, nhưng luôn biết xót thương như Chúa hằng thương xót. A-men.

Về mục lục

.

CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ 2000 NĂM TRƯỚC

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Nhạc sĩ Song Ngọc viết ca khúc “Chuyện người đàn bà 2000 năm trước” từ trang Tin Mừng hôm nay.

Chuyện người đàn bà 2000 năm trước. Áo rách tả tơi, xác thân mệt nhoài. Chuyện người đàn bà nơi thành cổ đó. Dấu tích hành thân. Vì đâu? Vì đâu? Vì đâu? Nên tội tình mang nhục hình. Vì yêu, tội yêu, tội tình yêu.

Đoàn người cổ thành vây chặt khu phố. Thế giới hiền lương ánh mắt cuồng căm. Nhìn người đàn bà đang chịu tội chết. Đống đá ngổn ngang. Chờ ai? Chờ tay người ném chết một người không hận thù. Người ơi vì đâu đọa đầy nhau.

Ai người vô tội. Ai người không tội. Hãy mạnh tay ném đá ném đá ném trước đi. Còn, còn đợi gì? Ai, người vẹn toàn. Ai người trong sạch. Còn chờ chi? Ném chết ném chết. Ném chết tội đồ nhân gian.  

Chuyện người đàn bà 2000 năm trước. Sách cổ đã nghi, đống đá còn nguyên. Vì người vô tội hay đời giả dối. Thế giới giả nhân, chào thua. Người ơi, tình ơi… Ai tội đồ, ai tỉnh ngộ. Người ơi, đời ơi, cũng vậy thôi…

Nhạc sĩ khéo léo dùng những chữ tương phản như “Thế giới hiền lương, ánh mắt cuồng căm” và đặt câu hỏi, có phải vì người đời giả dối, sợ phải đối mặt với tòa án lương tri với tội của chính mình nên đã lẵng lặng bỏ đi: “Vì người vô tội hay đời giả dối? Thế giới giả nhân? Chào thua! Người ơi, Tình ơi! Ai tội đồ? Ai tỉnh ngộ?…” Nhưng dù sao thì “cũng vậy thôi”, ca khúc có kết thúc tốt đẹp và câu hỏi dành riêng cho lương tâm mỗi người.

Với giai điệu chậm buồn, nhạc phẩm kể về một câu chuyện thật lạ lùng, xảy ra hơn hai ngàn năm về trước tại xứ Do thái. Một phụ nữ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Các kinh sư và những biệt phái dẫn người đàn bà ấy đến trước mặt Chúa Giêsu, rồi bắt đầu phiên xử. “Trong sách Luật, ông Môsê truyền chúng tôi phải ném đá hạng người này, còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”. Một câu hỏi bất ngờ, nham hiểm và lịch sự. Có lẽ sau khi hỏi Chúa như thế, họ hí hửng với những nụ cười hóm hỉnh ranh mãnh. Họ thì thầm với nhau cách thích thú: lần này thì đừng hòng mà thoát. Họ nắm chắc phần thắng trong tay. Bắn một mũi tên trúng hai con chim. Người đàn bà đã nắm chắc bàn thua trông thấy. Chỉ còn Chúa Giêsu. Ngài đang nghĩ gì và Ngài sẽ làm gì trong cái thế gọng kìm này? Người phụ nữ tuyệt vọng chờ chết với tội danh rành rành. Thật may mắn cho chị khi gặp được Đấng được mệnh danh là “Chiên Thiên Chúa”, là “Đấng xóa tội trần gian”. Ngài xót thương cho số phận bi đát của chị. Ngài muốn cứu chị khỏi án chết trước mắt, nhất là Ngài muốn cứu chị khỏi án chết đời đời. Ngài sẽ cứu chị, đồng thời Ngài cũng sẽ cho những kẻ muốn ám hại Ngài một cơ hội để họ nhìn lại bản thân họ: Chị ta xấu thiệt đó. Nhưng không chừng các ông lại còn xấu xa hơn chị ta bội phần! Tội của chị thì nhiều người biết lắm, vì chị ta không khéo che đậy. Còn tội của các ông thì thiên hạ ít người nhận ra, bởi các ông khéo che giấu, tô son trét phấn. Đã đến lúc các ông phải nhìn lại chính con người mình rồi đấy! Thái độ Chúa Giêsu thật trầm tĩnh “cúi xuống lặng lẽ vẽ trên đất”. Họ cứ hỏi mãi. Chúa ngẫng lên nói với họ một đề nghị nhỏ nhẹ ôn hòa nhưng ngầm chứa một thách thức sinh tử quyết liệt “ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Phiên tòa xét xử lưu động bổng chốc thay đổi cục diện. Từ chỗ nắm dao đằng cán, bây giờ họ lại phải nắm lấy chuôi, không khéo sẽ bị đứt tay. Họ lặng lẽ rút lui, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Công bằng mà nói, những người đàn ông có mặt hôm ấy, ngoài Chúa Giêsu ra, đều là những kẻ còn có liêm sỉ và tự trọng. Chúa Giêsu bị đẩy vào thế làm quan tòa bất đắc dĩ, buộc phải ra một bản án xét xử thật nặng, bỗng nhiên trở thành Trạng sư với một bài biện hộ vỏn vẹn có mỗi một câu rất ngắn. Chỉ một câu nói mà Chúa đã hoá giải bẫy giăng sẵn. Hoá giải, bởi lẽ Chúa mời gọi họ hãy nhìn vào bên trong tâm hồn.

Hiện trường xử án lúc này chỉ còn lại hai người. Chúa Giêsu và người phụ nữ. Đấng có quyền tha tội và người đã lỡ lầm phạm tội. Ánh nắng buổi sáng đang lung linh nhảy múa trên bậc thềm.Với giọng nói ấm áp, Chúa hỏi: “Họ đâu hết rồi? Không ai lên án chị nữa hay sao?”. Lần đầu tiên từ lúc bị lôi tới đây, người phụ nữ ngẩng mặt lên. Chị nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu, Ngài có đôi mắt chứa chan tình người, long lanh ánh sáng thiên đàng, đôi mắt hiền dịu sáng lên niềm cảm thông. Chị bưng mặt, giọng nghẹn ngào: “Thưa Thầy, không còn ai nữa. Họ bỏ đi hết rồi”. Bình minh chiếu sáng rạng ngời khuôn mặt, Chúa nói thật nhẹ nhàng: “Tôi không lên án chị đâu! chị về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Tội nhân bị luận tội trước tòa, rõ ràng nằm trong khung án tử hình, nay ngơ ngác thấy mình được tha bổng, kèm một lời dặn dò: từ nay thôi đừng phạm tội nữa! Chúa Giêsu không kết án nhưng là mở cho chị một con đường đi về phía tương lai, về phía trước.

Hai câu nói của Chúa Giêsu với hai hạng người đều nhẹ nhàng mà sâu xa thấm thía. Với các người kết án, Chúa mời họ nhìn vào phía bên trong. Với người bị kết án, Chúa mở ngõ về phía tương lai.

  1. Nhìn về phía bên trong

Một phiên tòa lạ lùng, xử lưu động theo kiểu nói ngày nay. Phe công tố nhao nhao buộc tội và hằm hè chất vấn, không ngờ sau đó lại lần lượt cúi đầu lặng lẽ rút lui. Chỉ vài phút trước đó, họ hung hãn tố cáo đòi ném đá, và bây giờ họ âm thầm ra về. Một sự chuyển biến bất ngờ phát sinh từ lời mời gọi của Chúa Giêsu: “ai trong các ông sạch tội hãy ném đá người phụ nữ này đi”. Khi người ta đòi ném đá tha nhân, người ta tự cho mình là kẻ sạch tội và có quyền lên án kẻ có tội. Nhưng khi người ta khám phá ra mình cũng là tội nhân, người ta không dám lên án nữa vì như thế cũng là tự lên án chính mình. Sự khám phá có được là do cái nhìn về phía bên trong chính mình. Chi tiết mà Thánh Gioan ghi nhận “bắt đầu từ những người lớn tuổi” rất ý nghĩa. Vì càng lớn tuổi càng có bề dày cuộc sống, càng dễ nhận ra bề dày tội lỗi. Càng lớn tuổi càng có cái nhìn nội tâm nhiều hơn.

Có những cái gần mình nhất mà mình lại khó thấy nhất. Đó là bản thân mình. Có những sự thật người ta tìm cách trốn chạy nhiều nhất là sự thật về chính mình. Sự thật ấy chỉ khám phá ra được khi nhìn vào phía bên trong. Nhìn vào bên trong là đi vào nội tâm để nhìn lại chính mình, soi gương tâm hồn. Nhìn lại cuộc sống, lời nói, việc làm mình đã làm, đã sống. Giáo hội luôn khuyên con cái mình xét mình mỗi ngày. Các linh mục, tu sĩ, giáo dân đều có thời gian tĩnh tâm, linh thao để biết mình mà sửa mình. Biết mình là đầu mối của sự khôn ngoan.

Nhìn vào phía bên trong là một đòi hỏi cần thiết giữa cuộc sống xô bồ, ồn ào với quá nhiều tranh đấu vất vả mưu sinh. Có khi chúng ta ngại vì sợ phải đối diện với chính mình, đối diện với sự thật về mình. Cần có thời gian tĩnh lặng để dâng lễ, cầu nguyện, viếng Chúa. Khi có thời gian nhìn lại chính mình, chúng ta có gương soi và một khoảng cách ngắm nhìn. Tấm gương tốt nhất là Chúa Giêsu. Ngài là mẫu mực. Nơi Ngài và nhờ Ngài mà chúng ta nhận ra những lỗ hổng cuộc đời, nhận ra lý tưởng cần vươn tới.

  1. Nhìn về phía trước

Người ta đòi ném đá người phụ nữ, đóng khung cuộc đời chị trong quá khứ. Quá khứ được đóng dấu bằng tội lỗi. Người ta đánh giá, phán đoán, hành động trên quá khứ đó. Chúa Giêsu không chấp nhận lối nhìn và cách đánh giá ấy. Ngài không đồng loã với tội lỗi. Ngài nhìn nhận người phụ nữ có tội. Nhưng Ngài mở ra một tương lai, gieo vào lòng chị niềm tin tưởng rằng chị có khả năng xây dựng một tương lai mới, một cuộc đời mới,một con người mới: “Chị hãy về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Chúa Giêsu không kết án cũng như không giảm án, không ân xá cho tội nhân. Chúa mở cho chị một con đường hướng về tương lai, làm lại cuộc đời. Đó là con đường sám hối trở về với tình yêu, trở về với đời sống là con cái Thiên Chúa, trở về với tâm hồn bình an. Người phụ nữ ra về lòng tràn ngập niềm vui hoán cải, quyết tâm làm lại cuộc đời.

Thiên Chúa, Đấng mở ngõ cho tương lai. Ngài không khoá chặt cuộc đời một con người cũng như lịch sử nhân loại vào quá khứ, cho dẫu quá khứ ấy có bi thảm và tàn tạ đến đâu chăng nữa. Thiên Chúa luôn luôn mở ngõ và vạch lối cho tương lai.

Vẫn biết tội lỗi trái với đạo giáo, trái với luân thường đạo lý, nhưng đâu chỉ căn cứ vào đạo giáo luân lý để khinh khi, coi thường, kỳ thị sự sống con người được. Đạo giáo luân lý giúp con người sống thăng tiến về mặt tinh thần chứ không bao giờ là bước cản trở nhận chìm con người xuống bùn đen. Đã là người, ai cũng có những khuyết điểm, ai cũng có lúc làm điều lầm lỗi. Nhưng ai cũng có khả năng ý chí ước muốn làm điều lành thánh thiện tốt đẹp. Thiên Chúa dựng nên con người với khả năng như thế.

Chúa Giêsu đã sống và đã nêu gương. Ngài không kết án, không giảm án, nhưng là mở ra con đường hướng về tương lai cho con người tội lỗi làm lại cuộc đời. Lêvi, Giakêu, Mađalêna, Augustinô…và còn biết bao con người đã được Chúa mở ngõ tương lai tươi sáng. Niềm tin đó tạo nên nơi người tín hữu một lối nhìn mới. Đó là nhìn về phía trước, băng mình về phía trước như thánh Phaolô diễn tả: “Tôi chỉ chú ý tới một điều là quên đi chặng đường đã qua để lao mình về phía trước” (Pl 3,13). Đối với Phaolô quên đi chặng đường đã qua là qua khứ bắt bớ Giáo hội Chúa để lao mình về phía trước, phía tương lai mà Chúa Giêsu đã mở ra, đặt ngài làm khí cụ, làm tông đồ dân ngoại. Và Phaolô đã sống hết mình cho tương lai mới.

Trong cách nhìn về tha nhân, có khi người ta khoá chặt người khác trong quá khứ lỗi lầm của họ. Đã một thời “chủ nghĩa lý lịch” khoá chặt con người trong quá khứ, cái quá khứ đâu có do họ!!! Vì lẽ đó mà nhiều nhiều người trẻ tài năng không có cửa cho tương lai, họ bị loại trừ. Con người vốn vẫn hay nhìn phía đàng sau hơn là nhìn về phía đàng trước. Trong khi niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng mở ngõ cho tương lai lại luôn thúc bách chúng ta nhìn về phía trước.

Nhìn vào phía bên trong để khám phá sự thật về chính mình. Người Hylạp đã từng gắn trên cổng Đền Thờ Deiphes câu châm ngôn “Bạn hãy biết chính mình” và coi sự biết mình như là khởi điểm của khôn ngoan.

Nhìn về phía đàng trước để luôn hy vọng và tin tưởng. Tin vào chính mình, vào con người, vào cuộc đời. Và trên hết là tin vào Thiên Chúa, Đấng mở ngõ cho tương lai chúng ta.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA LÀ VỊ THẨM PHÁN NHÂN TỪ

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Sau buổi đọc kinh Truyền Tin với khách hành hương tại Quảng trường Thánh Phêrô vào ngày 21 tháng Hai, Đức Thánh Cha đã kêu gọi thế giới tiến đến việc bỏ án tử hình. Ngài nói : “Ngay cả một phạm nhân, quyền được sống là một ân huệ của Chúa, không ai được xúc phạm tới”. Đánh dấu buổi khai mạc Hội nghị quốc tế về “Một thế giới không có án tử hình”, Đức Giáo Hoàng đã bày tỏ hy vọng Hội nghị sẽ tăng cường nỗ lực để loại bỏ hẳn án tử hình. Ngài nhấn mạnh rằng : “Tăng cường chống án tử hình trên toàn thế giới là một “khí cụ hợp pháp bảo vệ xã hội và là dấu chỉ của hy vọng. Vấn đề này phải được xem xét để nó ngày càng phù hợp với phẩm giá con người cũng như chương trình của Thiên Chúa dành cho nhân loại và xã hội”. Đức Giáo Hoàng kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới : Hãy làm một cử chỉ can đảm và nêu gương trong việc tìm cách ngưng thi hành những vụ hành quyết trong Năm Thánh của Lòng Thương Xót này. Không những chỉ nỗ lực loại bỏ án tử hình mà còn phải cải thiện điều kiện sinh sống trong nhà tù, tôn trọng phẩm giá của những người bị tước đoạt sự tự do.

Chúa nhật tuần trước, Tin Mừng trình bày cho chúng ta về Thiên Chúa là cha giàu lòng thương xót. Hôm nay, Lời Chúa muốn giới thiệu cho chúng ta Thiên Chúa là vị Thẩm phán khoan dung nhân từ. Ngài không chấp nhận tội lỗi, cũng không im lặng làm ngơ trước sự tội và không chấp nhận đồng loã với kẻ phạm tội, nhưng đối với tội nhân, khi thật lòng ăn năn, Thiên Chúa lại hết sức khoan dung, độ lượng. Thiên Chúa không bao giờ đóng kín tương lai của con người, nhưng luôn tạo cơ hội và cho con người một cánh cửa mở ra với hy vọng và tương lai mới. Đó chính là giáo lý tình thương và cũng là Tin Mừng mà Chúa Giêsu loan báo.

Tuy nhiên, những người Biệt phái đã không chấp nhận một Thiên Chúa quảng đại như thế. Họ chỉ muốn một Thiên Chúa công thẳng, bất khoan dung, một Thiên Chúa đặt lề luật trên phẩm giá con người. Câu chuyện Tin Mừng kể lại : Sáng sớm, lúc Ngài đang giảng dạy, các Kinh sư và các Biệt phái dẫn đến trước mặt Chúa Giêsu một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Theo luật Môse thì hạng đàn bà này phải bị ném đá. Con Thầy, Thầy nghĩ sao ? Hành động này của những người Biệt phái thể hiện sự bất công. Tội ngoại tình đáng lẽ phải kết án cả hai người. Nhưng ở đây, họ chỉ bắt người phụ nữ phải chịu tội. Họ còn đề nghị bản án ném đá trước khi bị can được xét xử. Không những thế, khi bắt một người phạm tội đưa ra công khai như vậy, không chỉ để làm nhục người phụ nữ, những người Biệt phái muốn thể hiện mình là người công chính, trong trắng và tự cho mình quyền lên án người khác.

 Những Biệt phái đã muốn giăng một cái bẫy để bắt bẻ Chúa Giêsu. Họ thấy Chúa Giêsu thường giao du tiếp xúc, ăn uống với những người bị cho là tội lỗi như người thu thuế. Họ cũng thấy Chúa Giêsu tuyên bố tha thứ cho những kẻ có tội, nhất là Chúa tiếp xúc cả với các cô gái xấu. Đặt người phụ nữ trước mặt Chúa, họ lên tiếng hỏi : Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ? Đây là một cái bẫy rất nguy hiểm. Nếu Chúa Giêsu tuyên bố tha thứ, cho chị ra về, thì sẽ bị những người này buộc tội không tuân giữ luật Môsê. Nếu Chúa Giêsu nói phải kết án chị theo luật Môsê, thì chứng tỏ giáo lý của Chúa cũng không có gì đặc biệt hoặc mới mẻ.

Chúa Giêsu đã biết ý định của họ. Ngài đã không trả lời trực tiếp câu hỏi. Ngài cúi xuống vạch vẽ trên đất. Vì họ hỏi mãi, nên Chúa Giêsu bảo họ : Ai trong các ông sạch tội, thì cứ lấy đá ném trước đi. Việc Chúa im lặng không trả lời câu hỏi, là lúc Chúa đã tạo ra một khoảng thinh lặng, giúp cho những con người đang hằm hằm giận dữ kia có thời giờ bình tâm nhìn lại chính mình. Câu trả lời : Ai trong các ông sạch tội, thì cứ lấy đá mà ném trước đi, khiến cho họ phải xét lại bản thân. Vì trước mặt Thiên Chúa, có lương tâm làm chứng, không ai là người vô tội, chỉ có điều người ta khéo léo chối tội hoặc che đậy tội mà thôi. Câu trả lời của Chúa cũng ngầm nhắc cho họ biết : Đừng vội kết án anh em, đừng chỉ nhìn một vài hành động bên ngoài của một người mà đã vội kết án họ. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng đủ thẩm quyền để xét xử và kết án về mọi hành vi của con người mà thôi.

Câu trả lời của Chúa Giêsu như mũi tên đã bắn trúng đích. Những con người đang hằm hằm giận dữ, đang lăm le trong tay hòn đá để trút xuống trên đầu anh chị em, thì giờ đây, họ âm thầm buông hòn đá xuống và rút lui, bắt đầu từ những người lới tuổi. Càng lớn tuổi, càng sống lâu lại càng nhận ra mình rất nhiều lầm lỡ, sai lỗi, nhiều lần đáng bị lên án và đáng phải chết, nhưng đã được tha thứ.

Cuối cùng chỉ còn lại Chúa Giêsu và người phụ nữ vẫn đứng đó. Chúa Giêsu ngẩng lên và nói : Họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ? Người phụ nữa đáp : Thưa không có ai. Chúa Giêsu nói tiếp : Tôi cũng không kết án chị đâu ! Chị hãy về đi và từ nay đừng phạm tội nữa. Khác với các Biệt phái, họ đứng từ phía trên để lên án người khác, Chúa Giêsu, vì mang thân phận con người yếu đuối, Ngài không đứng từ xa để kết án con người, nhưng đã trở nên đồng hàng với con người, đã cúi xuống thật sâu để nâng con người chỗi dậy và ngẩng lên để tuyên bố tha thứ cho con người.

Khi nói : Tôi không kết án chị. Chúa Giêsu cho thấy, nói như thế không có nghĩa là chị vô tội. Tội của chi thật đáng trách, nhưng chị được thông cảm và thứ tha. Thiên Chúa không ném đá, cũng không loại trừ chị. Chúa Giêsu còn mở ra cho chị một con đường tương lai : Chị đi về và từ nay đừng phạn tội nữa. Được thông cảm và tha thứ không phải để người ta ỷ nại hoặc nằm lỳ trong tình trạng tội, nhưng là để có cơ hội sửa chữa những sai lầm thiếu sót và phải có quyết tâm từ nay không phạm tội nữa.

Thiên Chúa của chúng ta vẫn mãi là một Thiên Chúa yêu thương và luôn tha thứ. Ngài công bằng không chấp nhận điều tội, nhưng lại khoan dung với những kẻ có tội. Tin vào lòng nhân từ khoan dung của Thiên Chúa để Mùa Chay này, chúng ta quyết tâm chỉnh sửa lại đời sống của mình. Để có thể điều chỉnh lại đời sống, chúng ta cần nhận ra mình đang trong tình trạng sai lỗi với Chúa và với anh em. Chỉ khi nhận ra tình trạng tội lỗi của mình, chúng ta mới có thể khắc phục được. Tòa giải tội là nơi chúng ta đón nhận được tình yêu thương và sự tha thứ của Chúa. Hãy thường xuyên đến với Bí tích Giải tội để được nghe những lời yêu thương của Chúa : Cha tha tội cho con, nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.

Chúa đang nói với ta : Ta không kết án con đâu, hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa. Tin vào sự tha thứ của Chúa để chúng ta không bao giờ thất vọng về tình trạng của mình. Dù cho tội lỗi của chúng ta có lớn đến mấy, Thiên Chúa không bao giờ chặn lối tương lai, trái lại, Ngài luôn mở ra một con đường hy vọng phía trước. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chúng ta, vì thế, chúng ta cũng đừng bao giờ thất vọng về bản thân mình. Tin vào sự tha thứ không để chúng ta ù lỳ cố chấp, vì Chúa vẫn cảnh báo chúng ta : Từ nay, đừng phạm tội nữa !

Thiên Chúa và vị Thẩm phán nhân từ với chúng ta, không lẽ gì chúng ta lại nghiêm khắc với anh em. Vì được yêu thương tha thứ, chúng ta cũng cần phải học nơi Chúa để quảng đại thứ tha. Xin cho chúng ta biết buông hòn đá trên tay xuống, đó là hòn đá che giấu tội mình và đang chực chờ để ném vào người khác. Hòn đá ấy có thể là những lời nói thâm độc ác ý, có thể là những vu khống đặt điều, khiến cho gia đình người khác bị đổ vỡ. Hòn đá ấy có thể là cái nhìn khinh thường, miệt thị, gây tổn thương cho anh em.

Xin Chúa giúp chúng ta. Amen.

Về mục lục

.

ĐỔI MỚI

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Con người được sinh ra hiện hữu trong thời gian và không gian. Cuộc sống con người được gắn kết với môi trường xã hội, văn hóa, chính trị và tôn giáo riêng biệt. Mỗi người mang một dòng máu, một quốc tịch và định mệnh khác nhau. Tiểu sử của mỗi người liên kết với lịch sử của một bộ lạc, một dân tộc và một quốc gia. Có một mối tương quan liên đới số phận chung của con người cùng thời đại. Vận nước kéo theo vận người. Vì thế mỗi người có trách nhiệm và bổn phận chung trong xã hội, cũng như riêng tư trong đời sống cá nhân gia đình. Trong chương trình cứu độ, dân Do-thái trở thành dân tộc trung gian và máng chuyển ân lộc của Thiên Chúa. Một dân tộc được tôi luyện đã trải qua nhiều gian nan thử thách. Thiên Chúa luôn hiện diện đồng hành để khuyến khích và thức tỉnh: Người phán như sau: “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước (Is 43, 18). Đây làmột lời khuyến khích yêu thương đổi đời. Cho dù dân từ bỏ Chúa chạy theo các thần dân ngoại và quay lưng lại với tình yêu của Thiên Chúa, Chúa vẫn giữ mối tình trung kiên.

Dân ngưỡng vọng về một tương lai tươi sáng, Thiên Chúa sẽ thực hiện những sự đổi mới và khơi nguồn những phúc lộc chan hòa. Tiên tri Isaia đã loan báo cho dân những dự phóng tương lai đầy hy vọng: Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao? Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn (Is 43, 19). Hy vọng chính là nguồn sống. Hy vọng ngày mai tươi sáng hơn, thành công hơn và sinh hoa kết qủa nhiều hơn. Mỗi ngày sống là mỗi cơ hội tốt để hoàn thành những ước mơ. Mong chờ Đấng Cứu Độ đến giải thoát khỏi vòng u mê tội lỗi và sự chết là mơ ước tuyệt đỉnh của dân người. Trong cuộc sống, chúng ta thường có những hy vọng nho nhỏ nối kết từng ngày giúp chúng ta sống vui. Sống là một cuộc lữ hành hoàn thành các ước mơ. Kết thúc dự tính này lại hy vọng ước tính khác. Đời chỉ đẹp khi còn dang dở.

Chính sự dở dang tạo nên uẩn khúc cuộc đời. Bài Phúc âm hôm nay kể truyện người phụ nữ không may bị người ta bắt gặp đang khi có những liên hệ tình dục bất chính. Một hành động trái đạo lý luân lý, không đúng lúc và không đúng nơi. Chị ta bị phát hiện khi sự kiện còn dang dở. Chị ta không thể chối cãi và chỉ biết cúi mặt xấu hổ. Một phút giây lầm lỡ đã hủy phá danh dự cả một đời. Chị biết lỗi mình. Đứng đó, không có nơi nương tựa để giấu mặt hay trốn lánh. Sự thể đã rồi, biết làm sao bây giờ. Chúng ta cũng biết chị ta đâu phạm tội gì đến danh dự của các luật sĩ, biệt phái hay ai khác. Họ tố cáo chị với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?(Ga 8, 4-5). Họ hiểu biết Luật của Môisen, nhưng vẫn muốn thử sự xét đoán của Chúa Giêsu. Đá đã cầm sẵn trong tay và chỉ chờ lời phán quyết kết tội của Chúa là họ ném đá người phụ nữ cho chết. Họ giữ luật vị luật và thiếu lòng nhân ái. Chúa đã cứu chị ta với một câu hỏi tuyệt vời: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.”(Ga 8, 7). Ai là người vô tội. Bằng một lời, Chúa Giêsu dẫn mọi người trở về với lòng mình.

Những người tố cáo chị vẫn còn chút lương tâm nhậy cảm. Họ nhận ra ý nghĩa lời chỉ dậy của Chúa Giêsu ngay. Tâm phục khẩu phục. Qua vài câu đối thoại với Chúa Giêsu, mọi người đã thức tỉnh và những cục đá thù ghét rơi xuống khỏi lòng bàn tay. Họ đã bỏ đi từ kẻ già đến người trẻ. Có lẽ tâm hồn của họ cũng cảm thấy vơi bớt nỗi hờn ghen. Cuối cùng, Chúa Giêsu đầy lòng thương xót đã lên tiếng: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! “(Ga 8, 11). Một lời nhắn nhủ rất nhẹ nhàng và thuyết phục. Về đi. Như vậy Chúa đã tha thứ rồi. Chúa có uy quyền trên cả Luật Môisen. Chúa đã cất nỗi tủi hổ và nhục nhã cho người phụ nữ phạm tội. Chúa đã cứu sống người phụ nữ cả thân xác lẫn linh hồn.

Khi cầm đất hay đá ném người khác thì tay chúng ta đã dơ và lòng đã bẩn. Tâm chúng ta đã thuận theo để kết án người khác. Có biết bao lần chúng ta đã xét đoán và kết tội người khác, trong khi chúng ta chỉ nghe có một chiều và biết một phần rất nhỏ của câu truyện. Vấn đề này xảy ra thường ngày như cơm bữa. Chúng ta nghe truyện xấu và rồi thêm mắm thêm muối cho câu truyện thêm đậm đà ý vị. Truyện xấu giật gân lây lan nhanh chóng như một thứ vi khuẩn xâm nhập. Cục đá kết án đã nằm sẵn trong tay chỉ chờ cơ hội là ném. Ném mạnh, ném nhanh và ném cho chết, thế là hả dạ. Chúng ta chẳng muốn tìm hiểu nguyên nhân, lý do hay hoàn cảnh xung quanh ảnh hưởng thế nào. Chúng ta biết rằng ai cũng có nhiều tâm tư nỗi khổ cần được thông cảm và giãi bầy chia sẻ. Hãy học lời khuyên của Chúa Giêsu trong mọi hoàn cảnh, ai trong anh chị em sạch tội, thì ném đá trước đi.

Chúng ta không nên nghi ngờ và đổ lỗi vội vàng. Có khi sẽ bị bé cái lầm. Truyện kể: Có người mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa. Nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn cắp búa. Mọi cử động của nó, tỏ rõ là tên đạo tặc. Ông bị yên trí. Sau khi ông tìm thấy búa, thì từ đó lại thấy thằng bé hiền lành, không có vẻ chi là ăn cắp, ăn trộm nữa. Ở đời không nên vội nghi ngờ, kẻo gây chia rẽ hay làm mất thanh danh người khác. Càng nghi kỵ thì càng nhen nhúm sự dữ trong lòng. Sự đời dối trá dễ lôi kéo chúng ta vào cuộc. Giống như câu truyện của chị phụ nữ, có thể chúng ta không dám ném đá người khác trước đâu. Một mình tôi thì chẳng dám ném, nhưng có vài người vào hùa, tôi sẽ hùa theo. Và cuối cùng chúng ta lại đổ lỗi cho người khác, tôi thấy người ta nói và làm như vậy. Kiểu ném đá giấu tay. Người ta là ai chứ! Dùng chữ ‘người ta’ làm hỏa mù để dấu tội mình và trốn tránh trách nhiệm. Như thế, truyện của người khác mà lại làm cho chúng ta trở nên dơ tay, bẩn lưỡi và xấu lòng. Thật là không đáng!

Thánh Phaolô đã có Chúa Kitô làm gia nghiệp. Ngài có thể hy sinh và từ bỏ tất cả vì danh Chúa. Mối lợi của ngài là chính Chúa Kitô. Đôi khi chỉ vì cái tôi kiêu ngạo và vì tự ái, nhiều người lấy danh nghĩa Chúa Kitô để kết án và loại trừ lẫn nhau. Lịch sử Giáo Hội đã minh chứng qua sự ly khai của các giáo phái và các nhóm trong lòng giáo hội. Niềm tin của chúng ta là chỉ có một Chúa, một phép rửa và niềm hy vọng. Thánh Phaolô đã xác tín: Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô(Phil 3, 8). Dù sống đạo hay hành đạo cách nào, nếu chúng ta chưa kết hợp được với Chúa Kitô, chúng ta vẫn còn lang thang chưa có đích điểm.

Sau khi gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh, Phaolô đã trở thành một con người hoàn toàn mới. Một sự đổi mới đức tin kỳ diệu: Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước (Phil 8, 13). Saulôthay đổi từ một người hăng say bắt bớ và giam tù các Kitô hữu, đã trở thành tông đồ Phaolô rao giảng tin mừng nhiệt tình cho Nước Chúa. Ngài đã cam chịu cực khổ trăm bề để làm cho danh Chúa Kitô cả sáng. Mùa Chay là cơ hội cho mỗi người chúng ta thay đổi cách sống. Học hỏi, lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành. Gắn bó kết hợp với Chúa qua các Bí tích và việc cử hành phụng vụ. Chúa Kitô là trung tâm của tất cả các sinh hoạt sống đạo.

Lạy Chúa, chúng con đang còn lữ hành dưới trần thế để hướng về quê thật. Xin cho chúng con biết chuẩn bị những hành trang cao quí xứng hợp với cõi thiêng. Niềm hy vọng chính là ánh sao soi đường dẫn chúng con đạt tới sự sống bên Chúa đời đời. Amen.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY_C

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Chúa nhật thứ 5 hôm nay là Chúa nhật chót của cuộc hành trình 40 ngày mùa chay thánh, chuẩn bị đưa chúng ta đi vào mầu nhiệm tử nạn Phục sinh của Chúa Ki-tô. Chúa nhật tới là Chúa nhật Thương Khó hay Lễ Lá, bắt đầu tuần thánh cử hành những mầu nhiệm biểu lộ tình yêu cao cả và hồng ơn cứu độ quan trọng nhất trong cuộc đời của Chúa. 

Bài Tin mừng hôm nay là một phiên tòa kỳ thú về người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang, bị các người Pha-ri-sêu và biệt phái truy tố đem đến trước mặt quan tòa là Chúa Giê-su để xét xử.  Câu chuyện này rất hay và rất quen thuộc với chúng ta.  Chúng ta cũng đã được nghe nhiều bài giảng của các linh mục về ý nghĩa rất phong phú của câu chuyện.  Ở đây tôi xin được chia sẻ với ông bà anh chị em 2 điểm để giúp ông bà anh chị em chuẩn bị tâm hồn cho tuần tĩnh tâm và Bí tích Hòa giải sắp tới.

Điểm quan trọng thứ nhất là bài Tin mừng kêu gọi và khuyến khích chúng ta có một cái nhìn trung thực và chân thành vào tâm hồn của chính mình. Sau khi đã cầu nguyện trong vườn cây dầu, Chúa Giê-su vào đền thờ để giảng dạy, và hôm đó, những người biệt phái và luật sĩ dẫn đến cho Ngài một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, để cố tình gài bẫy và tố cáo Ngài. Chúa Giê-su nói với họ: “Ai trong các người sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi.”  Thật vậy, qua lời này, Chúa kêu gọi người ta hãy chân thành nhìn vào tâm hồn của mình, và khi người ta nhìn sâu vào tâm hồn, họ nhận ra mình cũng không được tốt lành, không sạch tội, và cuộc sống của mình cũng không đạo đức hơn ai, mình cũng đầy tội lỗi.  Chính vì thế không ai dám ném đá người phụ nữ ngoại tình nữa, và từ từ bỏ đi, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất rút lui trước.     Trong mùa chay thánh này, Giáo hội và Tin mừng lời Chúa kêu gọi mọi người chúng ta hãy hy sinh thời giờ thành tâm nhìn sâu vào tâm hồn mình, nhìn vào đời sống gia đình của mình, và nhìn vào đời sống cộng đoàn của mình, để chúng ta đến với Chúa, trong Bí tích Hòa giải, để được biến đổi, thánh hóa, đưa chúng ta đi vào mầu nhiệm tình yêu và ơn cứu độ một cách tốt đẹp hơn, vui mừng hơn và đầy ơn sủng.

Điểm quan trọng thứ hai mà tôi muốn chia sẻ với ông bà anh chị em là qua câu chuyện trong bài Tin mừng hôm nay chúng ta nhận ra dung mạo tình yêu và lòng thương xót của Chúa.  Chúa ban cho chúng ta nhiều cơ hội và Chúa luôn luôn mở ra một cánh cửa để chúng ta đi về phía trước, đi về phía tương lai, để chúng ta có một đời sống mới trong ơn sủng, trong vui mừng và hy vọng. Để khám phá ra tình yêu và lòng thương xót của Chúa, chúng ta phải trở về với lời Chúa nói qua miệng của tiên tri I-sa-i-a trong bài đọc 1 hôm nay, và đặt mình vào đời sống của người Do thái lúc đó đang sống trong cảnh nô lệ, đau khổ, mất tự do và sống trong tuyệt vọng ở Ba-bi-lon. Trong bối cảnh đó, chúng ta nghe Chúa nhắc nhở họ về biến cố lòng thương xót của Ngài trong thời Mô-sê, dùng quyền năng giúp cho cha ông của họ vượt qua Biển Đỏ về Đất Hứa. Chúng ta nghe Chúa nói: “Ta là Ðấng mở đường dưới biển, mở lối đi dưới dòng nước; là Ðấng dẫn dắt xe, ngựa, quân binh và dũng sĩ. Tất cả đều ngủ và không chỗi dậy nữa; chúng bị ngộp thở và tắt đi như tim đèn.”  Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng đã giải thoát họ, mở cho họ một cánh cửa và cho họ một cơ hội tiến về tương lai.  Chưa hết, Chúa còn bảo họ: “Các ngươi đừng nhớ đến dĩ vãng, và đừng để ý đến việc thời xưa nữa.” Hay nói một cách khác, Chúa cho họ biết đó là biến cố ngày xưa, nhưng hôm nay, Chúa muốn họ chú ý đến một việc trọng đại và lạ lùng mà Chúa sắp làm cho họ, đó là mở ra một con đường, dẫn đưa họ thoát ra khỏi cảnh lưu đày, nô lệ, đau khổ và tuyệt vọng trở về quê hương.  Thiên Chúa không muốn con người sống trong đau khổ, tù đày và tuyệt vọng, nhưng luôn mở ra một cánh cửa, ban cho con người một cơ hội tiến về tương lai trong ơn sủng, vui mừng và hy vọng.

Ông bà anh chị em thân mến. Trong ánh sáng của bài đọc 1, chúng ta nhận ra dung mạo tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa qua Chúa Giê-su trong câu chuyện người người phụ nữ ngoại tình trong bài Tin mừng hôm nay.  Chúa Giê-su không muốn người phụ nữ này sống và chết trong tù đày và tội lỗi bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, vì người ta đang đòi ném đá giết chết chị. Người ta muốn khóa chị trong tù và chôn chị trong đời sống tội lỗi. Chúa Giê-su đã giải thoát chị khỏi cái chết trong tội lỗi, ban cho chị một cơ hội, và mở ra cho chị một cánh cửa, một con đường tiến về tương lai. Chúa nói: “Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.”  Tôi tin rằng người phụ này sau khi đã được Chúa tha thứ tội lỗi sẽ có một đời sống mới trong ân sủng, vui mừng và tràn đầy hy vọng.

Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta tin và nhận ra dung mạo tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa cho chúng ta.  Nếu chúng ta thật sự tin và nhận ra dung mạo của Thiên Chúa, thì chúng ta không thể giam hãm chúng ta trong quá khứ, trong đau khổ thất vọng và trong tội lỗi. Chúa không muốn chúng ta sống trong nô lệ, giam hãm mình trong tội lỗi và thấy vọng.  Chúa là Đấng đầy lòng thương xót luôn mở ra một cánh cửa, và ban cho chúng ta một cơ hội để chúng ta tiến về tương lai.  Thánh Phao-lô trong bài đọc 2 hôm nay chia sẻ với chúng ta về cuộc sống của ngài.  Ngài nói: “Chính tôi cũng đã được Ðức Giêsu Kitô chiếm lấy. Anh em thân mến, tôi đinh ninh một điều là quên hẳn đàng sau, mà hướng về phía trước, tôi cứ nhắm đích đuổi theo để đoạt giải ơn kêu gọi Thiên Chúa đã ban từ trời cao trong Ðức Giêsu Kitô.”  Thánh Phao-lô muốn chúng ta biết tình yêu và lòng thương xót của Chúa đã chiếm lấy ngài, cho nên ngài đã từ bỏ, để lại chặng đường dĩ vãng là một kẻ sống trong tội lỗi, để tiến tới trước và có đời sống mới trong ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô.  Thánh Phao-lô là một người tin một cách mạnh mẽ vào lòng thương xót của Chúa, luôn mở một cánh cửa rộng để giải thoát chúng ta khỏi sự tù đày tội lỗi và thất vọng, và ban cho chúng ta một cơ hội để chúng ta tiến tới tương lai, sống đời sống mới. 

Vì vậy, ông bà anh chị em thân mến, nếu chúng ta tin và nhận ra dung mạo của Chúa, chúng ta cũng không thể giam hãm chúng ta trong tội lỗi và tuyệt vọng, và chúng ta cũng không được giam hãm người khác trong tội lỗi, để chúng ta trở thành sứ giả, khí cụ lòng thương xót của Chúa cho người khác.  Người Tôi tớ của Chúa là Đức cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận sau khi được thả ra sau 13 năm trong biệt giam đã nói rằng: “Nếu tôi không tha thứ cho người khác thì tôi vẫn tự giam hãm mình trong tù tội.”  Đức Hồng y đã hoàn toàn tha thứ cho những người bắt giam, bỏ tù và ngược đãi ngài, và ngài đã có cuộc sống mới trong vui mừng và hy vọng, trở thành khí cụ, sứ giả lòng thương xót của Chúa cho mọi người. Ngài là một người sống gần gũi với Tin mừng của Chúa và trở thành gương sáng cho chúng ta.

Tuần tới, chúng ta đến với Chúa trong Bí tích Hòa giải, và Chúa sẽ giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và tuyệt vọng, mở cho chúng ta một cánh cửa đi tới tương lai, và ban cho chúng ta một cơ hội sống trong ân sủng, niềm vui mừng và hy vọng.  Giả sử Chúa sẽ nói với chúng ta mọi tội lỗi của chúng ta được tha thứ, và có một cuộc sống mới trong Ngài.  Khi về nhà, vợ chồng cũng phải nói với nhau những tội lỗi, những sự bất bình, những cãi vã trong quá khứ, hãy bỏ qua cho nhau, hãy tha thứ cho nhau, để vợ chồng có một đời sống mới trong ân sủng, bình an và vui mừng của Chúa.  Và mọi người trong cộng đoàn chúng ta trở thành khí cụ, sứ giả tình yêu và lòng thương xót của Chúa, để làm sáng danh Chúa.

Về mục lục

.

KHUẤT TẤT TRONG MỘT VỤ ÁN BẤT THƯỜNG

Jos.Vinc. Ngọc Biển

Bài Tin Mừng Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay, trình thuật vụ án hy hữu và bất thường. Đó chính là phiên tòa xử người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình.

Các Kinh Sư và Pharisiêu mang đến cho Đức Giêsu để xin Ngài phân sử. Nếu đọc thoáng qua, chúng ta sẽ thấy họ tôn trọng Đức Giêsu và nhờ Ngài phán quyết một vụ án di động này. Thật bất ngờ, Đức Giêsu bỗng dưng trở thành thẩm phán. Bị cáo là người phụ nữ ngoại tình. Các người tố cáo chính là Kinh Sư và Pharisiêu.

Phiên tòa bắt đầu với lời tố cáo: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Họ hỏi câu hỏi đó không phải để chờ Đức Giêsu phán làm sao, mà đúng hơn, họ đã có sẵn bản án trong tay, bởi vì họ biết rõ luật!!! Nhưng điều đáng nói ở đây chính là cái tâm đen tối của họ, họ muốn gài bẫy Đức Giêsu. Nếu Đức Giêsu lên tiếng phán: “Phải ném đá”, thì ngay lập tức, Đức Giêsu không phải là một vị Thiên Chúa từ bi nhân hậu, bao dung với người nghèo và yêu thương người tội lỗi. Tất cả những gì Đức Giêsu rao giảng đều tự mâu thuẫn nội tại với Ngài. Bởi vì Ngài đã từng nói hãy tha thứ cho nhau không chỉ bảy lần mà đến bảy mươi lần bảy (x.Mt 18,21-22). Hơn thế nữa, Đức Giêsu phạm vào cái tội gọi là “tội khi quân” phản loạn và chống lại triều đình.

Còn nếu Đức Giêsu nói “không được ném đá”, thì ngay lập tức Ngài lãnh nhận án tử trong tay. Bởi vì luật Môsê truyền phải ném đá hạng người phụ nữ ngoại tình này. Những ai đi ngược lại với những điều khoản trong luật của Môsê thì kể như là vi phạm và phản bội với truyền thống của tiền nhân. Mặt khác, Đấng đã từng tuyên bố rằng “đến không phải để hủy bỏ lề luật và lời các ngôn sứ, nhưng để kiện toàn”(x.Mt 5,17) không lẽ giờ này lại phá luật?.

Quả thật họ đã quá nham hiểm, họ đã dùng phương pháp: nhất tiễn diệt song điêu. Một mũi tên giết hai con chim. Bầu không khí thật ngột ngạt ngay trong khoảng không trống trải giữa trời. Họ nín lặng chờ vị thẩm phán bất đắc dĩ tuyên án. Trong thinh lặng, thay vì nói lời tuyên án, Đức Giêsu đã âm thầm, tế nhị viết trên đất, hành động này theo một số nhà chú giải cho rằng Đức Giêsu viết tội của những người tố cáo chị phụ nữ trên đó. Sau đó Đức Giêsu lên tiếng:  “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Một câu nói tưởng chừng như êm đềm, trôi vào khoảng không vô tư của những người đang hung hăng tố cáo và thực hiện dã tâm… Không! Đức Giêsu đã lật ngược ván cờ. Bị cáo lại chính là những Kinh Sư và Pharisiêu, thẩm phám không phải là một ai hay một nhóm người hiện hữu nào, mà là một vị thẩm phán vượt lên trên thời gian và không gian, một vị thẩm phán có thể thấu suốt những những điều mà chỉ có họ biết họ. Vị thẩm phán đó là “Lương Tâm”. Chính vị thẩm phán “Lương Tâm” này đã lên tiếng kết tội của họ trong thinh lặng cõi lòng, đã xoáy sâu vào tận nội căn tâm hồn để vạch trần tội ác của họ. Quá bất ngờ, họ bị chưng hửng, không dám đứng đó, nên đã lần lượt ra về, bắt đầu từ những người lớn tuổi.

Khi mọi người đã ra về, chỉ còn lại mình Đức Giêsu và chị phụ nữ. Bấy giờ, Đức Giêsu mới hỏi: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”, và, giờ đã điểm, Đức Giêsu tuyên án: “Còn tôi, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”. Lời tuyên trắng án của Đức Giêsu đã phá tan màn đen của một vụ án khuất tất và những bất thường của nó.

Đây là một trong những câu nói tuyệt đẹp và rất nhân văn. Nhưng xét về chiều sâu đức tin, thì đây còn là một lời nói được phát xuất ra từ cung lòng Thiên Chúa, thể hiện một vị Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu từ bi và hay thương xót. Sẵn sàng tha thứ cho những người tội lỗi. Một vị Thiên Chúa luôn đứng về phía người nghèo, bị bỏ rơi và thấp cổ bé họng để yêu thương, nâng đỡ và phục hồi nhân phẩm cho họ. Quả thật, Lời Chúa trong sách Khôn Ngoan thật sâu xa để cho mỗi người chúng ta suy niệm: “Lạy Chúa, Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải.” (Kn 11,23).

Qua bài Tin Mừng hôm nay, sứ điệp Lời Chúa mời gọi mỗi người chúng ta hãy nắm lấy tay nhau để dìu nhau đứng dậy và ra khỏi vũng lầy êm ái của tội lỗi. Chứ không phải tìm cách nhấn chìm anh chị em chúng ta xuống tận bùn đen để làm bàn đạp cho ta tiến lên.

Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn cả, đó là: Lời Chúa hôm nay muốn đi sâu vào tận nội tâm mỗi người, để mời gọi đương sự hãy tự cật vấn lương tâm của chính mình, nhằm thấy được những lỗ hổng tốt lành, thánh thiện để lấp cho đầy những bác ái, yêu thương và bình an, lo sám hối và quay trở về với Chúa và với nhau; đồng thời phải nhận ra những ứ đầy tội lỗi của tham lam, ích kỷ, ghen tỵ nơi chính mình, để có được sự cảm thông thay vì kết án, để yêu thương thay hận thù.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con mặc lấy tâm tư, hành động của Chúa. Xin cho chúng con biết gớm ghét tội, nhưng không ghét những người có tội. Ước gì, trong những ngày này, mỗi người chúng con biết sám hối chân thành, biết nhìn vào trong sâu thẳm đời sống nội tâm, hầu thấy được khuôn mặt thật của mình, để trở về với Chúa và với nhau. Xin tha thứ những lỗi lầm mà thời niên thiếu chúng con vươn lên trong dại khờ.  Amen.

Về mục lục

.

TỪ NAY ĐỪNG PHẠM TỘI

Lm. Jos. DĐH

Lên án bất công, phản đối bạo lực, có phải là phản ứng của người sáng suốt, hành động theo lẽ phải, hay thuần túy vì những phần tử đau khổ trong xã hội cần được minh oan ? Suy nghĩ điều tốt, làm việc nghĩa hiệp, hẳn không phải chỉ là trách nhiệm của một vài đối tượng trong xã hội, mà vì bản chất “tình người” luôn liên đới với nhau. Bậc làm cha mẹ có sung sướng gì đâu khi “sửa phạt” con hư hỏng, hoặc giáo dục chúng theo biện pháp la mắng, sử dụng roi vọt ! Quy luật chung, ai biết đi, biết chạy, cũng phải qua giai đoạn biết bò. Ai lầm lỡ mà chẳng mong được thứ tha, nhưng đâu là phương thế hữu hiệu nhận ra mình cũng là tội nhân ?

Có những phi lý bất công xảy đến nơi gia đình xã hội, mà nạn nhân chẳng được phép để minh oan; có những luật lệ nghiêm minh đến độ người phạm tội không còn cơ may sửa chữa ! Các luật sĩ biệt phái trong Tin-mừng hôm nay, họ dẫn đến Chúa Giêsu một tội phạm, không phải mong giúp được minh oan, đúng hơn là để nhằm lấy cớ qui tội Đức Giêsu đã vi phạm lề luật. Điều không ổn trước hết là khi bắt được quả tang người thiếu phụ đang phạm tội, nhưng lại không nói gì đến kẻ đồng phạm là ai ? Bất hợp lý thứ hai là người ta nhân danh luật pháp để hành xử tội phạm, nhưng lại muốn Đức Giêsu người họ đang bất đồng quan điểm cùng tham gia vào cuộc ném đá phạm nhân.

Truyện phim “Bao Công xử án” khá thuyết phục con người trong thế kỷ 21, truyện phim nói lên tâm thức của “quần chúng” luôn hy vọng và mơ ước tới sự “thanh liêm”, “công bằng” về điều thiện ác. Kitô giáo không nhằm thỏa mãn sự minh bạch theo quan niệm kẻ phạm tội phải ra trước “công đường”, nhưng lại hướng tội nhân và 99 người khác phải biết rõ không ai là vô tội trước Thiên Chúa. Đức Giêsu không phải là quan tòa xử án những nghịch lý bất công, những tranh chấp hơn thiệt; bằng phương cách tự vấn lương tâm, Ngài đã cho đám đông đang “cầm đá” trong tay hiểu, tại sao ta không nên ném đá kẻ phạm tội này.

Đức Giêsu Ngài sẽ mãi là “thẩm phán chí công”, mỗi con người không thể chỉ dừng lại ở hy vọng hay mơ ước một sự công bình ở tương lai. Mỗi người đều được mời gọi tin tưởng tuyệt đối vào “Đấng Kitô”, hiện thân của Thiên Chúa giầu lòng thương xót, nhưng không thể thiếu tâm tình sám hối ăn năn. “Những người kết án chị đâu cả rồi ? Ta cũng không kết án chị, vậy chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa”. Lời công minh chính trực, hẳn không có ý trả lời riêng cho đám đông đang chuẩn bị hành quyết một tội nhân, mà gợi lên cho cả chúng ta hôm nay, ai cũng phải suy xét về đạo lý làm người, làm con Chúa của mình.

Cháy nhà mới ra mặt chuột, hay “tòa án lương tâm”, không đề cao việc truy xét “đúng người đúng tội”, mà hướng tới sự công bằng tha thứ, phải nghiêm minh trước hành vi của mình : “ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá người này trước đi”. Con người bao giờ cũng cay cú, bực tức với chuyện “thắng-thua”, “cao-thấp”, nên cũng có câu : quân tử trả thù 10 năm chưa muộn. Thắng thua với chính mình, hiểu sâu hiểu rộng về cách sống hiện tại của mình, đó mới cần thiết. Chúa Giêsu có ý kêu gọi mọi người hãy đón nhận “lòng bao dung” của Thiên Chúa, hầu cùng giúp nhau trở nên hoàn thiện trong tình yêu tha thứ.

Thua keo này bày keo khác, hay im lặng, thả lỏng hòn đá trong tay xuống và trở về, vẫn là tự do của đám đông xưa kia và chúng ta hôm nay. Ném đá giấu tay, là câu thành ngữ nói về kẻ tiểu nhân hành động mờ ám, lén lút. Chúa Giêsu hẳn không có ý thách thức chúng ta hãy trở nên người quân tử để ném đá kẻ tội lỗi cách quang minh chính trực. Bạn hãy về đi, “từ nay đừng phạm tội nữa”, đó chính là thông điệp gởi tới từng người trong các thời đại, đừng phạm tội để biết sống giới luật yêu thương : mến Chúa yêu người.

Đức Giêsu đã giải tỏa được đám đông, ai nấy trở về nhà mình, chỉ với lời nhẹ nhàng mà thật hiệu quả, ít là họ đã nhận họ không phải là người “vô tội”. Đức Giêsu không kết án người thiếu phụ ngoại tình, nhưng đã chỉ ra cho các tội nhân biết “niềm vui” trong tâm hồn mới thực ý nghĩa : “từ nay đừng phạm tội nữa”. Mùa chay không chỉ hướng tới sám hối, mà chúng ta còn phải hiểu biết giá trị thật của bao dung tha thứ; qua đó, mỗi người sẽ biết sống tha thứ và giúp nhau đạt tới nguồn ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Về mục lục

.

TÌNH THƯƠNG THA THỨ VÀ BIẾN ĐỔI

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Ga 8,1-11

 (1) Còn Đức Giêsu thì đến núi Ôliu. (2) Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. (3) Lúc đó, các Kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, (4) rồi nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. (5) Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? (6) Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. (7) Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. (8) Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. (9) Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu và người phụ nữ thì đứng ở giữa. (10) Người ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đi đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” (11) Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả”. Đức Giêsu nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.

  1. Ý CHÍNH: Tin mừng hôm nay trình bày tình thương bao dung của Thiên Chúa, thể hiện qua thái độ của Đức Giêsu đối với tội nhân phạm tội ngọai tình. Câu chuyện được trình bày như một màn kịch gồm 3 hồi như sau:

 – Hồi một (x Ga 8,1-5): Để có cớ tố cáo Đức Giêsu, các Kinh sư và người Pharisêu đã giải một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đến yêu cầu Người xử lý tội nhân.

 – Hồi hai (x Ga 8,6-9): Hiểu được ý đồ muốn gài bẫy của họ, Đức Giêsu đã im lặng ngồi xuống và lấy ngón tay viết trên đất. Khi họ gặng hỏi thì Người mới nói: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Câu trả lời của Đức Giêsu đã làm cho những kẻ tố cáo tội nhân phải lặng lẽ rút lui.

 – Hồi ba (x Ga 8,10-11): Chỉ còn lại mình Đức Giêsu là người duy nhất trong sạch và có quyền kết án tội nhân. Nhưng Người lại tỏ lòng khoan dung với kẻ có tội khi tuyên bố: “Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”.

  1. CHÚ THÍCH:

 – C 1-3: + Đến núi Ôliu: Núi Ôliu còn được gọi là vườn Ghếtsêmani, nằm về phía Đông gần thành Giêrusalem, (x. Lc 22,39). Đây là một nơi yên tĩnh thuận tiện cho việc cầu nguyện. Trở lại Đền thờĐền thờ nằm trong Thủ đô Giêrusalem. Đền thờ đầu tiên do vua Salomon xây dựng vào năm 970 trước Công nguyên. Sau đó nhiều lần được tái thiết. Đền thờ được đề cập trong Tin mừng hôm nay do vua Hêrôđê trùng tu và mở rộng thêm từ năm 20 trước CN, nhưng sau đó đã bị quân Rôma tàn phá bình địa vào năm 70 sau Công nguyên. + Người ngồi xuống giảng dạy họ: Các Thầy “rápbi” Do thái khi dạy Thánh kinh, thường ngồi trên một chiếc ghế hay một tảng đá, còn các thính giả thì đứng ngồi xung quanh. + Một người phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình: Đây là một thiếu phụ đã có chồng, nhưng đã quan hệ bất chính với một người khác không phải chồng mình.

 – C 4-6a: + Trong sách Luật, ông Môsê truyền phải ném đá hạng đàn bà đó: Luật Môsê quy định về hình phạt dành cho tội ngoại tình như sau: “Người đàn bà ngoại tình phải bị xử tử” (Lv 20,10). Luật cũng quy định xử tử cả hai kẻ phạm tội bằng hình phạt ném đá (x. Đnl 22,24). Nhưng thời Đức Giêsu, người Rôma đã cấm dân Do thái áp dụng luật này (x Ga 18,31). + Họ nhằm thử Người để có bằng cớ tố cáo Người: Các Kinh sư và người Pharisêu muốn đưa Đức Giêsu vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” để có cớ tố cáo Người. Theo họ nghĩ: Đức Giêsu trả lời đàng nào cũng không ổn: Nếu Người truyền kết án tử hình theo Luật Môsê thì họ sẽ tố Người chống lại nhà cầm quyền Rôma, vì người Do thái đã bị tước quyền xử tử tội nhân, và Người sẽ bị chính quyền Rôma coi là phản lọan. Còn nếu Người truyền tha bổng tội nhân, thì họ sẽ lại nói Người chống lại Luật pháp Môsê và truyền thống của cha ông.

 – C 6b-8: + Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay vẽ trên đất: Viết trên đất là để bày tỏ thái độ không quan tâm đến sự việc đang xảy ra. + “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”: Qua câu nói này, Đức Giêsu tuy theo Luật Môsê để cho phép ném đá tội nhân, nhưng Người cũng nhắc cho những kẻ tố cáo kia biết rằng: Chính họ cũng là kẻ tội lỗi đáng bị xử phạt! Họ cần tránh thái độ xét đoán ý trái và kết án kẻ khác cách bất công, để khỏi bị Thiên Chúa xét đóan và kết án sau này. Vì dưới cái nhìn của Thiên Chúa, thì mọi người đều là tội nhân và đều cần được xét xử khoan dung (x. Lc 6,36-38).

 – C 9-11: + Họ bỏ đi hết: Tất cả những kẻ tố cáo đều rút lui. Bắt đầu từ người lớn tuổi: Người lớn tuổi bỏ đi trước, phần vì càng sống lâu thì càng nhiều sai phạm! Phần khác cũng có thể do các người lớn tuổi khôn ngoan hơn, nên khi thấy không làm gì được Đức Giêsu thì áp dụng nguyên tắc “Tam thập lục kế: đào vi thượng sách!” để tránh khỏi bị liệt vào hạng “đạo đức giả” (x. Lc 11,37-54). + “Tôi không lên án chị đâu!”: Đức Giêsu không xét đoán ai vì Ngừơi đầy lòng từ ái khoan dung (x Ga 8,15). Sứ vụ của Người là đến để cứu độ thế gian (x Lc 9,10). + “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”: Tuy tha thứ cho tội nhân, nhưng để tránh lạm dụng, Đức Giêsu cũng đòi hối nhân phải thành tâm sám hối, bằng việc quyết tâm không tái phạm nữa. Trong thực tế, để tránh khỏi tái phạm tội thì hối nhân cần ăn năn dốc lòng chừa. Lòng ăn năn sám hối thực sự được biểu lộ qua việc khiêm tốn xin ơn Chúa trợ giúp, thành thật xưng thú tội lỗi, quyết tâm xa lánh dịp tội và làm việc đền tội cân xứng (x. Kinh Ăn năn tội).

  1. CÂU HỎI:

 1) Hãy cho biết Đền thờ Giêrusalem thời Chúa Giêsu do ai xây dựng và xây từ khi nào ? Số phận cuối cùng của Đền thờ này ra sao ? 2) Luật Môsê qui định hình phạt dành cho các kẻ phạm tội ngọai tình là gì ? 3) Các đầu mục Do thái có ý đồ gì khi bắt người đàn bà phạm tội ngọai tình đến yêu cầu Đức Giêsu xử lý ? 4) Đức Giêsu thể hiện lòng khoan dung đối với tội nhân qua câu nói nào ? 5) Lòng ăn năn thực sự phải được biểu lộ bằng những việc gì ? 6) Phải chăng khi tha thứ cho tội nhân là Đức Giêsu đã gián tiếp khuyến khích họ tiếp tục phạm tội ?

II.  SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”
  2. CÂU CHUYỆN:

1) VỀ CÂY THÁNH GIÁ KHOAN DUNG THƯƠNG XÓT:

Tại một nhà thờ bên Tây Ban Nha có một tượng Thánh Giá rất đặc biệt: Trên cây thập giá, Chúa Giêsu chỉ chịu đóng đinh có một tay trái và hai bàn chân, còn tay phải đã rời khỏi thập giá và giơ ra phía trước như đang ban phép lành cho hối nhân tại tòa giải tội bên dưới.

Chuyện kể rằng: Một lần kia, khi một linh mục đang ngồi tòa thì một tội nhận vào xưng tội. Vị linh mục ngồi tòa nổi tiềng là nghiêm khắc đối với những tội nhân không chịu chừa cải. Anh chàng vào tòa xưng tội lần này đã nhiều lần phạm tội ngoại tình và cha giải tội cũng nhiều lần ngăm đe. Nhưng chứng nào tật đó, cứ ra khỏi tòa giải tội được ít ngày, anh ta lại tiếp tục sa ngã phạm tội mới xưng. Sau nhiều lần tha thứ, cuối cùng trong lần xưng tội mới đây cha giải tội đã phải nói với anh: “Đây là lần cuối cùng ta tha tội cho anh”. Chàng thanh niên ra khỏi tòa giải tội trong tâm trạng nặn trĩu u buồn. Được vài tháng sau, anh ta lại đến xưng tội và lần này anh ta lại vẫn xưng tội đã dốc lòng chừa như mấy lần trước. Nhưng lần này vị linh mục đã từ chối giải tội cho anh như sau: “Anh đừng có đùa với Chúa! Lần này ta không tha cho anh”. Nhưng một điều kỳ diệu đã xảy ra: Cha giải tội và hối nhân trong tòa đều nghe thấy có tiếng của Chúa Giêsu phán ra từ trên cây thập giá phía trên tòa giải tội: “Nhưng Ta tha tội cho hối nhân này!”. Rồi Chúa còn nói riêng với vị linh mục: “Chính Ta mới chịu đổ máu ra để rửa sạch mọi vết nhơ tội lỗi của loài người chứ không phải con!”

Cũng từ ngày đó, người ta thấy trên cây thánh giá tại tòa giải tội trong nhà thờ nói trên, cánh tay phải của Chúa Giêsu không còn gắn vào cây thập giá, nhưng bị bung ra trong tư thế đang cúi xuống ban phép lành cho hối nhân trong tòa giải tội, như một lời mời gọi mọi người mau ăn năn sám hối: “Hãy cứ trở về với Ta, thì các con sẽ được ơn tha thứ”.

2) VỀ CUỘC HÓAN CẢI CỦA MỘT TỘI NHÂN:

 TAXIANA là một văn sĩ người Mỹ gốc Liên Xô. Vào năm 1980, cô đã cho ra đời tác phẩm đầu tay tựa đề là “Về một cuộc đổi đời kỳ diệu”. Trong quyển sách đó, cô đã kể lại chi tiết cuộc đời đầy đam mê sóng gió của cô, mà cuối cùng đời cô đã được ơn biến đổi nên tốt hơn gấp bội! Câu chuyện của cô Taxiana được tóm gọn như sau:

 Ngay từ khi còn bé, Taxiana đã được chịu phép rửa tội. Nhưng khi lớn lên, cô ít đến nhà thờ dự lễ Chúa nhật vì cha mẹ của cô không mấy ngoan đạo. Do cứng đầu và hay gây gỗ nên cha mẹ và thầy dạy đều xếp cô vào loại trẻ em khó dạy. Ngay từ nhỏ, Taxiana đã tỏ ra căm thù tất cả những gì mang tính gò bó, ép cô vào trong khuôn khổ kỷ luật, vì nó làm cho cô cảm thấy mất tự do và không thể làm theo ý của mình. Lớn lên, nhờ có trí thông minh siêu hạng, Taxiana đã được cấp học bổng lên đại học. Nhưng tại môi trường trí thức này, thay vì kết thân với các sinh viên cùng khóa, thì cô lại thường xuyên giao du với đám macô, đầu trộm đuôi cướp, bợm nhậu, đĩ điếm và xã hội đen…! Trong khi sống buông thả như vậy, cô cũng thích nghiên cứu các môn thần bí phương Đông, đặc biệt là môn Yôga. Khi tập luyện Yôga, mỗi động tác đều đòi người ta phải đọc một câu trong một bài văn vần của môn phái. Có người biết cô là tín hữu nên đã đề nghị cô đọc Kinh Lạy Cha để thay cho bài văn vần kia. Taxiana đã làm theo lời khuyên này. Các câu trong kinh Lạy Cha đã dần dần thấm nhập vào tâm hồn cô. Rồi một ngày kia, một tư tưởng chợt lóe lên trong đầu Taxiana: “Tại sao ta lại không đọc thêm các bản kinh khác nữa, nhất là đọc Lời Chúa trong Thánh kinh?” Càng đọc Lời Chúa, cô càng cảm thấy thích thú về những tư tưởng cao siêu và thánh thiện của Đức Giêsu. Cuối cùng cô quyết định đến với một linh mục đạo đức để tìm hiểu thêm về giáo lý Thánh kinh. Sau đó cô đã cử hành lễ nghi tuyên tín. Cô dọn mình chịu bí tích giải tội và đã được ơn biến đổi hoàn toàn. Từ đây cô tình nguyện hiến thân phục vụ các công việc bác ái xã hội. Về sau cô đã thuật lại phép lạ đổi mới đã xảy ra với cô trong lúc cô đang xưng tội như sau: “Bấy giờ tôi lần lượt kể lại cho vị linh mục nghe các lỗi lầm tôi đã phạm, về những cơn say thâu đêm suốt sáng, các đam mê tình dục quá độ, về những cuộc hôn nhân bất hạnh mà tôi đã từng trải, những lần phải đi phá thai vì bị vỡ kế hoạch dẫn đến hậu quả tai hại là tôi bị mất khả năng sinh con. Cuộc sống đầy đam mê đã biến tôi trở thành một con người dửng dưng với mọi sự: Tôi chẳng còn có thể yêu ai được nữa!” Sau khi thú tội xong, tôi lắng nghe vị linh mục khuyên bảo. Lời của ngài tuy đơn sơ nhưng mỗi lời đều đánh động tận tâm can tôi. Sau cùng tôi rất xúc động khi đón nhận phép giải tội. Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy lòng mình thanh thản như vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân”.

 Sau lần xưng tội ấy, Taxiana đã cảm nghiệm mình đã gặp được chính Chúa Giêsu và được Người tha thứ mọi lỗi lầm quá khứ. Taxiana không những đã được tha tội, mà còn được Chúa chạm đến phần tâm linh sâu thẳm nhất để biến cô nên một tạo vật hòan tòan mới của Người.

  1. THẢO LUẬN:

 1) Trong mùa Chay này, mỗi người chúng ta cần làm gì để biểu lộ lòng tin vào tình thương bao dung của Thiên Chúa ? 2) Bạn sẽ trả lời ra sao khi có người nói: “Cần chi phải đi xưng tội với ông linh mục cũng phạm nhiều tội giống như mình? Hoặc xưng tội làm chi để rồi chỉ sau một thời gian ngắn sẽ lại tái phạm các tội mới xưng? Hãy đợi đến lúc liệt giường sắp chết sẽ xin xưng tội một lần cuối cũng đủ?”

  1. SUY NIỆM:

 1) Nội dung Tin Mừng hôm nay: thuật lại câu chuyện Đức Giêsu đã bênh vực và tha thứ tội cho một phụ nữ ngoại tình. Người còn biến đổi chị nên một con người mới. Mùa Chay nhằm giúp các tín hữu chúng ta nhận biết sự yếu hèn của mình để hồi tâm sám hối nhờ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích giải tội. Chắc chắn chúng ta cũng sẽ được Người ban ơn tha thứ và còn được ơn biến đổi nên một người mới.

2) Mấy điểm giáo lý về bí tích giải tội:

– Bí tích giải tội là bí tích do Chúa Giêsu thiết lập, để tha các tội riêng ta đã phạm từ khi lãnh nhận bí tích rửa tội về sau, cùng giao hòa ta với Chúa và Hội thánh. Bí tích giải tội còn được gọi là bí tích giao hòa, hòa giải hay bí tích sám hối. Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích này vào chiều ngày phục sinh, khi Người hiện đến với các tông đồ trong nhà tiệc ly, thổi hơi trên các ông và phán: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).

– Bí tích giải tội ban cho ta các ơn này: Một là tha tội ta đã phạm để giao hòa ta với Thiên Chúa và Hội Thánh. Hai là tha hình phạt muôn đời do các tội trọng gây ra và tha một phần các hình phạt tạm. Ba là ban sự bình an cho tâm hồn và gia tăng sức mạnh giúp ta chiến thắng ma quỷ cám dỗ.

– Bí tích giải tội rất cần cho người tín hữu, vì giúp họ nhận được ơn tha thứ các tội đã phạm đến Thiên Chúa, làm tổn thương phẩm giá con người và phá vỡ sự an bình thiêng liêng của Hội Thánh. Chỉ các giám mục và những linh mục có quyền giải tội mới được ban phép giải tội cho các hối nhân, nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Những ai đã phạm tội trọng thì muốn được tha tội cần phải biểu lộ lòng sám hối bằng việc thành thật xưng thú các tội đã phạm trong bí tích giải tội; còn ai chỉ mắc tội nhẹ thì không buộc phải xưng tội, nhưng nếu họ có lòng ăn năn mà xưng ra các tội nhẹ đã phạm thì sẽ nhận được nhiều ơn ích thiêng liêng.

– Muốn lãnh nhận bí tích giải tội ta cần làm bốn việc: Một là xét mình; Hai là ăn năn dốc lòng chừa; Ba là xưng tội; Bốn là đền tội. Trong bốn điều trên, ăn năn dốc lòng chừa là điều quan trọng nhất, thể hiện qua 3 việc sau như lời kinh Ăn năn tội: “Con dốc lòng chừa cải. Và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng”. Ngoài việc xưng tội, Hội Thánh dạy các tín hữu còn phải sám hối bằng một số việc lành là: ăn chay, cầu nguyện, làm việc chia sẻ bác ái và khiêm nhường phục vụ các người đau khổ bất hạnh hoặc bị bỏ rơi.

 3) Một số suy nghĩ lệch lạc của con người ngày nay về bí tích giải tội:

Ngày nay một số khá đông các tín hữu không muốn vào tòa xưng tội riêng dựa vào các lý do như sau:

Do gương xấu của một số vị chủ chăn: Những người này không muốn xưng tội vì cho rằng các chủ chăn cũng chỉ là những con người tầm thường với nhiều tội lỗi bất tòan.

 Tuy nhiên, chính Đức Giêsu đã không nghĩ như vậy khi trao quyền tha tội cho các tông đồ vào chiều ngày phục sinh, dù các ông chỉ là những con người đầy sai lỗi khuyết điểm. Khi ban bí tích giải tội, các ông “cầm buộc và tháo cởi” không với tư cách cá nhân nhưng là người đại diện cho Chúa Giêsu, giống như tại tòa án các vị quan tòa nhân danh luật pháp để tuyên án cho các phạm nhân. Đàng khác, các hối nhân được ơn hóan cải hay không là do quyền năng Thánh Thần mà các tông đồ đã được Chúa Giêsu phục sinh trao ban như Tin mừng Gioan đã ghi lại như sau: “Nói xong, Chúa Giêsu thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).

Do hiểu chưa đúng về hiệu quả của bí tích giải tội: Có người nói: “Tôi thường đi xưng tội vào mỗi đầu tháng và lần nào tôi cũng chỉ xưng thú một số tội đã xưng đi xưng lại nhiều lần trước đó, nhưng không sao chừa được. Do đó xưng tội là việc làm thiếu hiệu quả nếu không muốn nói là vô ích.

 Để nhìn rõ vấn đề, chúng ta hãy so sánh sức khỏe tâm linh với sức khỏe thể xác: Do di truyền, có lẽ ai trong chúng ta ít nhiều cũng mang một số bệnh khó chữa khỏi như: bệnh cao huyết áp đòi người bệnh phải uống thuốc hằng ngày, bệnh dị ứng nổi mề đay, bệnh “gút” gây đau nhức luôn phải uống thuốc giảm đau… Mỗi khi căn bệnh tái phát nặng hơn, chúng ta phải đến bác sĩ chuyên khoa điều trị và phải dùng một số loại thuốc giống nhau… Nhưng đâu có ai từ chối uống thuốc với lý do rồi bệnh sẽ tái lại?. Nếu ta không đi khám và không uống các thứ thuốc trị bệnh quen thuộc nói trên mới là điều sai lầm. Cũng như mỗi ngày chúng ta đều phải tắm rửa cho sạch, dù biết rằng đến mai cơ thể của mình sẽ lại bị dơ cần phải tắm lại… Về phạm vi tâm linh cũng vậy: Ai trong chúng ta cũng có một số thói hư rất khó chừa như: Dễ nổi nóng, hay nói xấu kẻ mình không ưa, ích kỷ tự ái cao, lười biếng làm việc đạo đức, uống rượu say sỉn, xem phim ảnh xấu rồi thủ dâm để tìm hưởng lạc bất chính… Dù biết sau một thời gian có thể ta sẽ tái phạm, nhưng ta vẫn cần đi xưng tội để đón nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa với hy vọng nhờ ý thức sự xấu xa của tội, quyết tâm xa lánh dịp tội, làm việc đền tội cân xứng… và nhất là nhờ ơn Chúa giúp, chúng ta sẽ có điều kiện để dứt bỏ thói hư và nên hoàn thiện hơn.

Do cách xét mình cẩu thả trước khi xưng tội: Có người chữa mình rằng: “Tôi xét mình mãi mà chẳng tìm ra tội gì mới cần xưng. Nhiều khi tôi phải cố tìm lại một “tội trọng cũ” để có tội mà xưng. Việc không tìm ra tội nào mới không chứng minh chúng ta là người thánh thiện, nhưng có thể do chúng ta đã hóa ra chai lỳ về mặt tâm linh, khi cho các việc làm sai trái của mình là không có tội. Thực ra mọi người chúng ta đều yếu hèn như thánh Phaolô đã phải thú nhận: “Điều tôi muốnthì tôi không làmnhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm”  (Rm 7,15). Những ai tưởng mình không có tội, thực ra là do họ đã xét mình cẩu thả và tự đánh lừa mình, như thánh Gioan đã viết: “Nếu chúng ta nói mình không có tội, là chúng ta đã tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,8).

Do chưa ý thức về tầm quan trọng của những điều thiếu sót: Kinh cáo mình có câu: “Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”. Tội chúng ta phạm có thể là tội cố tình vi phạm một điều luật cấm như dối trá, trộm cắp, ngọai tình, phá thai… hay tội bỏ không làm việc lẽ ra phải làm như: Bất hiếu với cha mẹ, làm ngơ trước người đau khổ cần trợ giúp…  Trong Tin mừng, Đức Giêsu đã đề cập đến tội thiếu sót này như dụ ngôn ông nhà giàu đã làm ngơ không giúp đỡ anh Ladarô, một người nghèo khổ nằm trước cửa nhà ông ta (x Lc 16,19-31). Đến ngày tận thế, Vua Thẩm Phán Giêsu cũng sẽ tuyên phạt những kẻ đã nhắm mắt bỏ qua các việc lành như sau: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên ác quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói các ngươi không cho ăn; Ta khát các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ các ngươi chẳng đón tiếp; Ta mình trần các ngươi không cho đồ mặc; Ta ở tù các ngươi đã không viếng thăm …” (Mt 25,41-45).

 Những tội thiếu sót này tưởng là tội nhẹ mà thực ra cũng có thể trở thành tội nặng nếu ta không có tình thương trong tâm hồn. Nó cũng đồng nghĩa với tội giết người như thánh Gioan viết: “Kẻ không yêu thương thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân. Và anh em biết: Không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó” (1 Ga 3,14b-15).

4) Phải sám hối cụ thể thế nào trong Mùa Chay này ? :

Ngoài việc tham dự các buổi tĩnh tâm Mùa Chay, mỗi người chúng ta cần dọn mình lãnh nhận bí tích hòa giải với Chúa. Nhưng điều quan trọng là cần xét mình để tìm ra mối tội đầu quan trọng nhất của mình để quyết tâm chừa cải, hơn là chỉ xưng các tội chung chung theo thói quen xưa nay. Nhất là cần ý thức về tình thương của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu, để sẵn lòng tha thứ lỗi lầm cho anh chị em đã xúc phạm đến mình. Cụ thể xét mình từ bản thân, đến quan hệ với người thân trong gia đình và đối với mọi người ta có dịp gặp gỡ tiếp xúc như sau:

– Đối với bản thân mỗi người: Để dễ dàng tha thứ, mỗi ngày cần dành ít phút xét mình trong giờ kinh tối gia đình, để ý thức về sự yếu đuối bất toàn của mình. Tại sao chúng ta lại đòi người khác phải hoàn hảo đang khi chính chúng ta còn nhiều sai sót? Hãy dọn mình xưng tội mỗi đầu tháng để thánh hóa bản thân và duy trì hạnh phúc gia đình. Hãy bỏ đi những đố kỵ ganh ghét, không chấp nhất những câu nói xúc phạm hay hành vi không tốt của người khác đối với mình, để tình mến Chúa yêu người luôn bùng cháy trong lòng mình.

– Đối với người thân trong gia đình: Một trong những lý do chính đưa đến đổ vỡ hạnh phúc và ly hôn nơi các gia đình hiện nay là nhiều đôi vợ chồng trẻ đã không dễ bỏ qua lỗi lầm cho nhau. Nên nhớ rằng chỉ sự tha thứ mới giúp hàn gắn tình cảm sứt mẻ và giúp gia đình sớm tìm lại bình an hạnh phúc. Đôi vợ chồng nên nhất trí với nhau: Mỗi khi có điều chi bất bình hay tranh cãi nhau thì cả hai đều phải mau mắn đi bước trước làm hòa như lời thánh Phaolô: “Anh em đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn. Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng! (Ep 4,26-27). Sau cơn giận, mỗi người hãy lập tức dâng một lời cầu xin Chúa giúp và ai chủ động mỉm cười bắt chuyện trước sẽ là người chiến thắng, vì đã thắng được tính tự ái cao của mình và thắng được ma quỷ cám dỗ. Đầu mỗi thánh lễ hãy nhớ lời Chúa Giêsu: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24).

– Đối với tha nhân ngoài xã hội: Điều chúng ta cần làm ngay trong Mùa Chay này là: Mỗi ngày hãy xét mình để biết có ai đó đang bất hòa với mình và chủ động làm hòa với họ. Mỗi lần đọc kinh Lạy Cha, cần lưu ý câu: “Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Mỗi ngày hãy tìm đọc các đoạn Tin Mừng về sự tha thứ, suy nghĩ về lời Chúa trách mắng tên đầy tớ độc ác đã không có lòng thương xót: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18,32-33). Cuối cùng hãy dâng một lời cầu để xin Chúa tha thứ lỗi lầm cho chúng ta với điều kiện chúng ta cũng sẵn lòng tha thứ lỗi lầm cho anh chị em đã xúc phạm đến chúng ta.

  1. NGUYỆN CẦU

 – LẠY CHÚA GIÊSU. Con rất sợ bị bắt quả tang đang phạm một tội nào đó nghiêm trọng. Nhưng lạy Chúa, có tội nào chúng con phạm mà Chúa lại chẳng thấy và không hay biết? Xin cho chúng con biết bỏ đi những mặt nạ giả dối, những việc đạo đức hình thức bề ngòai nhằm che đậy những tội ác trong tâm hồn chúng con. Nhờ đó, chúng con sẽ luôn sống tình yêu thương và trở nên những chứng nhân tình thương của Chúa trước mặt người đời.

 – LẠY CHÚA. Nếu Chúa đã không lên án kẻ có tội, không chấp nhất những điều chúng con sai lỗi, thì xin cũng giúp chúng con tránh kết án tha nhân. Khi thấy anh chị em con sai lỗi, xin cho chúng con biết tự xét và tu sửa lỗi của mình trước đã, rồi mới đủ uy tín để giúp sửa lỗi của anh em con. Bấy giờ xin cho chúng con biết khôn ngoan để nói đúng lúc và đúng phương pháp hầu chu tòan bổn phận “Răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta…”, như kinh “Thương người” đã dạy.

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

THẨM PHÁN SIÊU PHÀM

AM. Trần Bình An

Cuối năm 1894,  đại úy quân đội Pháp Alfred Dreyfus, cựu sinh viên Trường Bách Khoa Paris, một người gốc Alsace Do Thái giáo, bị buộc tội đã để lộ cho người Đức một số tài liệu bí mật, bị kết án tù khổ sai chung thân về tội phản quốc và đày đi Đảo Quỷ  thuộc Guyane. Vào lúc đó, các quan điểm của giới chính trị Pháp là hoàn toàn ác cảm với Dreyfus. Một ít người không tán đồng bản án, trước hết là người anh trai Mathieu, rồi đến gia đình Dreyfus, đã cố gắng chứng minh sự vô tội của ông, sau được hưởng ứng bởi nhà báo Bernard Lazare. Đồng thời, trung tá Georges Picquart, người chỉ đạo vụ phản gián, khẳng định vào tháng 3 năm 1896 rằng kẻ phản bội thực sự phải là thiếu tá Ferdinand Walsin Esterházy. Tuy nhiên, bộ tham mưu từ chối xem xét lại quyết định của mình và thuyên chuyển Picquart tới Bắc Phi.

Để thu hút sự chú ý về sự yếu ớt trong các bằng chứng chống lại Dreyfus, tháng 7 năm 1897 gia đình ông đã liên hệ với chủ tịch danh dự của Thượng viện Auguste Scheurer-Kestner, người đã thông cáo, sau đó ba tháng, ông đã chịu thuyết phục rằng Dreyfus vô tội, và cũng đã đồng thời thuyết phục Georges Clemenceau , một cựu nghị viên và nhà báo. Cùng tháng đó, Mathieu Dreyfus khiếu nại chống Walsin-Esterházy lên Bộ Chiến tranh. Khi phạm vi những người ủng hộ Dreyfus bắt đầu mở rộng, hai sự kiện xảy ra vào tháng Giêng năm 1898 làm cho vụ việc trở nên có quy mô quốc gia: Esterházy được tha bổng, dưới sự ủng hộ của những người bảo thủ và những người dân tộc chủ nghĩa; và Émile Zola đăng bài “Tôi buộc tội…!”(J’Accuse…!) biện hộ cho phe ủng hộ Dreyfus (dreyfusard) đã lôi kéo được rất nhiều nhà trí thức. Một quá trình chia cắt nước Pháp bắt đầu, điều còn kéo dài cho đến hết thế kỷ. Các cuộc bạo độngbài Do Thái bùng phát ở trên 20 thành phố nước Pháp, và người ta ghi nhận nhiều người đã thiệt mạng ở tỉnhAlger. Nền Cộng hòa bị chấn động, một số người thậm chí tin rằng nó đang lâm nguy và nỗ lực tìm cách chấm dứt vụ Dreyfus để vãn hồi sự ổn định.

Bất chấp mưu mô của quân đội muốn làm sự việc chìm xuống, bản án kết tội Dreyfus đầu tiên bị hủy bỏ bởi Tòa Thượng thẩm sau một cuộc điều tra kỹ lưỡng và một tòa án binh mới được thành lập ở Rennes năm 1899. Trái với mọi mong đợi, Dreyfus bị kết án một lần nữa, mười năm lao động khổ sai, dù sao, với những tình tiết giảm nhẹ. Kiệt sức với đợt đi đày 4 năm trời, Dreyfus đã chấp nhận lệnh đặc xá của Tổng thống Émile Loubet .

Phải đến năm 1906 sự vô tội của ông mới được thừa nhận chính thức thông qua một án quyết không chiếu xét của Tối cao Pháp viện. Được phục hồi danh dự, đại úy Dreyfus trở lại quân ngũ với quân hàm thiếu tá  và tham gia vào Thế chiến I. Ông mất năm 1935. Những hậu quả của vụ bê bối này là không kể hết và động chạm tới mọi khía cạnh trong đời sống công chúng Pháp: chính trị (nó cống hiến thắng lợi cho nền cộng hòa và trở thành một thứ huyền thoại lập quốc (mythe fondateur) khi làm sống dậy chủ nghĩa dân tộc, quân sự, tôn giáo (nó đã kéo chậm lại cuộc cải cách Công giáo ở Pháp, cũng như sự dung hợp vào nền cộng hòa của những người Công giáo), xã hội, tư pháp, truyền thông, ngoại giao và văn hóa. Chính trong thời kỳ này mà thuật ngữ giới trí thức  (intellectuel) đã ra đời. Vụ việc cũng có tác động tới quốc tế với phong trào phục quốc Do Thái thông qua một trong những người sáng lập, Théodore Herzl, và bởi những cảm xúc do những cuộc biểu tình bài Do Thái gây nên trong cộng đồng người Do Thái  ở Tây và Trung Âu. (Wikipedia)

Cuộc xét xử đại uý Alfred Dreyfus bị khuynh đảo bởi chính trị, dân tộc và tôn giáo, nên cán cân công lý sai lệch, thay trắng đổi đen. Đến nay vẫn còn tiếp diễn biết bao vụ án oan sai khắp nơi, vì vị thẩm phản thiếu sáng suốt, hoặc bị động do áp lực của nhà cầm quyền, hay phe phái quyền lực nào đó.

Chúa nhật V Mùa Chay hôm nay, Tin Mừng thánh Gioan giới thiệu Đức Giêsu như một thẩm phán siêu phàm. Cương trực, tự chủ, sáng suốt, Người thoát khỏi áp lực quần chúng, sức ép của lãnh đạo tôn giáo, các kinh sư và biệt phái, để xét xử công minh, chính trực và nhân ái. Mặc dù các kinh sư và biệt phái cố tình gài bẫy Người vào cuộc xét xử tiến thoái lưỡng nan, nhưng Người đã khéo léo, dễ dàng hoá giải theo đạo yêu thương của Thiên Chúa. Hơn nữa, Người vốn từ bi, nhân hậu, tràn đầy Lòng Thương Xót.

Tình thương khoan dung

Trước câu hỏi khá sỗ sàng, không cần giấu diếm dã tâm:“Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy,Thầy dạy sao?” Lòng Thương Xót của Đức Giêsu được dịp công khai biểu lộ. “Người cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất.” Không muốn tỏ ra bất bình, phẫn nộ khi nhìn thấy những gương mặt đểu cáng, giả hình, xảo trá, đang hoan hỉ, đắc thắng, cũng chẳng muốn biểu lộ nỗi xót xa người thiếu phụ đang lẩy bẩy, run rẩy, khiếp hãi, hổ thẹn, tủi nhục. Người trầm ngâm cúi đầu, thinh lặng, với tấm lòng rộng rãi chan chứa bao dung, âm thầm thông cảm, nâng đỡ và che chở tội nhân. Người cũng khoan dung, nhẫn nhục buông xả thái độ hằn học, khiêu khích, sinh sự của nguyên cáo.

Không cần thẩm tra thiếu phụ, cũng chẳng vội trả lời các kinh sư biệt phái, đang đốc thúc dồn Người vào cái bẫy quá ư lộ liễu. Người bình thản làm nguội đi những cái đầu cao ngạo, nôn nóng, quá khích của “bên thắng cuộc.” Người im lặng để chia sẻ nỗi đau đớn, nhục nhã, lo sợ, hối cải muộn màng của tội nhân. Người nín thinh, vì xót xa thấu hiểu lòng dạ rắn độc của các kinh sư và biệt phái, đang mượn tội nhân làm bình phong hòng đấu tố Người. Lòng bao dung vĩ đại đã hoá giải tất cả mưu mô ám muội của họ.

Tình thương thức tỉnh

Thay vì đối chất làm cho ra lẽ sự đối xử bất công, phiến diện, thành kiến với phụ nữ phạm tội, tại sao không bắt cả bị cáo nam đồng phạm, tại sao không tố giác với Hội đồng kỳ mục, với thượng tế, hay với công quyền, Người vẫn cúi đầu im lặng cho mọi người cùng noi theo, cúi đầu nhìn xuống, nhìn vào tâm can, nhìn vào tận đáy lòng hoen ố, để chân thành tự kiểm và tự vấn.

“Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi.” Biết bao lần chính họ cũng đã lén lút gian dâm, hủ hoá, ngoại tình, mà còn may chưa bị lộ, cùng bao nhiêu lần ham muốn dâm tà mà chưa thành. “Ðồ giả hình, hãy liệu lấy cái xà khỏi mắt ngươi trước đã, đoạn ngươi sẽ trông rõ mà kéo cái dằm khỏi mắt anh em ngươi.” (Mt 7, 5)

Đức Giêsu còn gay gắt cảnh báo, không được kết án tha nhân vì hậu quả khôn lường: “Đứng xét đoán, đề khỏi bị đoán xét. Các ngươi xét đoán cách nào thì sẽ bị đoán xét cách ấy, và các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong cho các ngươi bằng đấu ấy.” (Mt 7, 1-2)

Tình thương tha thứ

Đức Giêsu lại cúi đầu, hí hoáy vẽ dưới đất. Bỗng dưng sự lạ nhỡn tiền xảy ra. “Nghe nói thế, họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất, và còn lại một mình Chúa Giêsu với người thiếu phụ vẫn đứng đó.” Các nguyên cáo mới hớn hở, hùng hổ, vênh váo, tự đắc, bất ngờ trở thành bị cáo, cúi đầu hổ thẹn, đành buông rơi hòn đá, lẳng lặng ra về. Bấy giờ Đức Giêsu mới hỏi đến tội nhân: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?” Nàng đáp: “Thưa Thầy, không có ai.” Đức Giêsu bảo: “Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.”

Các kinh sư và biệt phái đều cực lực, đồng loạt đứng dậy kết án thiếu phụ phạm tội, thì Đức Giêsu khoan dung, ngồi xuống, thinh lặng, bỏ ngoài tai. Họ đòi ném đá chị, thì Đức Giêsu thản nhiên vẽ trên đất cát, coi như vết nhơ tội lỗi sẽ bị xoá nhoà vì tình thương thứ tha. Họ vẫn chưa buông tha chị, thì Đức Giêsu chẳng phản bác, cũng chẳng đồng tình, chỉ kêu gọi họ thức tỉnh, tự vấn lương tâm, yêu cầu ai trong sạch hãy ra tay. Vị Thẩm Phán siêu phàm xét xử công khai, nghiêm minh, đạt lý thấu tình, kết thúc phiên toà hoàn toàn bất ngờ và có hậu. Tội nhân không phải chết, nhưng được tái sinh nhờ vào Lòng Thương Xót vô biên của Chúa.

“Con đau đớn vì thấy nhiều phản bội với Chúa: tốt, nhưng chưa đủ. Phải làm như Mađelêna “được tha nhiều vì đã yêu nhiều”; phải làm như thánh Gioan: trốn bỏ Chúa trong vuờn Giêtsimani, nhưng trở lại đứng bên thánh giá, dốc quyết hằng yêu mến bằng hành động.” (Đường Hy Vọng, số 890) 

Lạy Chúa Giêsu, sau bao nhiêu năm bon chen, đua đòi với đời, chúng con cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, đánh mất niềm tin, lương tâm trong sáng, tâm hồn trong sạch, trở nên chai lỳ với tội lỗi. Kính xin Chúa khoan dung thương xót, thức tỉnh chúng con ăn năn, sám hối, để được Chúa thương yêu thứ tha, được bình an và hạnh phúc trở về xum vầy trong nhà Cha Nhân Từ.

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con khoan dung với mọi người, để được Chúa thương yêu. Xin Mẹ dạy chúng con biết sống khiêm nhường, để nhận thức được bản thân phàm hèn, tội lỗi, yếu đuối mỏng dòn, hầu thông cảm với tha nhân sai phạm, mà nâng đỡ, giúp nhau đổi mới, cùng trông cậy vào Lòng Thương Xót Chúa thứ tha, an ủi và chúc lành. Amen.

Về mục lục

.

AI VÔ TỘI?

Nam Phong

Chỉ còn một tuần nữa là chúng ta bước vào tuần Thương Khó. Chúa Giêsu sẽ chết vì âm mưu thâm độc của người Do thái. Hôm nay, Giáo hội hé mở cho ta thấy tâm địa của những kẻ chủ mưu giết Chúa Giêsu. Họ muốn gài bẫy Ngài. Sách luật ghi thế này: “Người nào ngoại tình với người đàn bà đã có chồng tất phải chết, cả gian phu lẫn dâm phụ. Các ngươi sẽ điệu cả hai ra nơi cổng thành mà ném đá cho chúng chết đi. Chính các chứng nhân sẽ ra tay trước hết để xử tử nó, và toàn dân sẽ ra tay sau”.

Luật đã ghi như thế nhưng các ký lục và biệt phái không muốn thi hành án ngay. Họ muốn kéo Chúa Giêsu vào cuộc để hạ nhục Ngài, vì Chúa Giêsu thường bênh vực những người tội lỗi. Tâm địa ác độc nhưng mồm miệng họ rất khéo. Họ không xưng hô “ông, tôi” như thường ngày, hôm nay họ “thưa thầy” đàng hoàng tử tế: “Thưa Thầy, phụ nữ ngoại tình này bị bắt tại trận. Trong lề luật, Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà như thế. Vậy Thầy dạy sao?”.

Chúa bảo ném đá ư, thế thì còn đâu là những lời dạy yêu thương của Ngài. Bấy lâu nay những kẻ tội lỗi hy vọng được Ngài bênh đỡ cứu giúp, thì nay Ngài bán đứng họ. Chúa bảo tha thứ ư, nói thế là Ngài công khai chống lại lề luật, chống lại Môsê, tội cũng đáng ném đá ngay tức khắc.

Các ký lục và biệt phái thay vì buồn sầu khi thấy trong cộng đoàn dân Chúa có người phụ nữ mắc tội, thì họ lại hí hửng vui mừng vì sắp hại được Đức Giêsu.

Trong các ngươi, ai vô tội thì ném đá trước đi”, câu trả lời của Chúa Giêsu đã đưa mọi người hiện diện vào một tình huống oái ăm mà lề luật đã không hề tính đến. “Trong các ngươi, ai vô tội thì ném đá trước đi”, câu nói đánh thẳng vào ruột gan các ký lục và biệt phái lúc ấy. Các bậc sống lâu, lão làng đã lặng lẽ bỏ đi trước, có lẽ vì thấy mình lắm tội hơn đám trẻ. “Trong các ngươi, ai vô tội thì ném đá trước đi”, câu nói của Chúa Giêsu vẫn cứ là câu hỏi cho chính chúng ta bây giờ. Ngài mời gọi chúng ta hãy nhìn lại chính mình.

Có cơ hội tiếp xúc với những người đạo đức thật, những lương tâm ngay lành… ta mới hiểu và cảm nhận được thế nào là cảm thức về tội. Không ít những ông bà cụ bị tai biến, bị những vấn đề đặc biệt về sức khỏe… nhưng luôn áy náy lo sợ vì mình đã bỏ lễ cả, không dự được lễ trọng. Có những thanh niên vì nhập ngũ mà bỏ nhiều tháng Chúa Nhật; Hay các chị em phụ nữ phải sinh con, nuôi bệnh, hoặc các người làm việc ở những môi trường không có điều kiện dự lễ… vẫn rất sốt sắng vui vẻ thú tội với linh mục. Điểm qua một vài thực tế, để thấy rằng lòng đạo và lương tâm ngay lành của anh chị em tín hữu vẫn rất tốt.

Thế nhưng một số bộ phận khác, có thể là nghiêm chỉnh chấp hành việc đi lễ Chúa nhật đấy… nhưng đang khi đi lễ thì nói chuyện, hút thuốc, nhai kẹo cao su mà vẫn chẳng thấy tội tình gì. Có lắm gia đình chồng vợ vẫn trung thành với nhau, nhưng trong đời sống hằng ngày thì chồng hành hạ vợ, vợ đay nghiến chồng. Đối với cha mẹ già thì để họ phải cô đơn, túng thiếu. Với các con cái thì phó mặc cho thầy cô, cho cha xứ, cho giáo lý viên… Thế mà lương tâm vẫn bình an và thản nhiên phê phán người khác.

Báo Tuổi Trẻ Cười có lần đã cười các vị lãnh đạo làm lớn mà mất phẩm chất bằng câu chuyện thế này: Cái gì càng lớn thì càng nhỏ, mà cái gì càng nhỏ thì lại càng lớnVí dụ ông lớn thì đi xe nhỏ, cỡ 4 chỗ, còn người nhỏ thì đi xe lớn, cỡ 50 chỗ hay nhiều hơn. Ông lớn thì có vợ nhỏ, còn người nhỏ thì chỉ dám có vợ lớn thôi. Ông lớn thì có nhà nhỏ (biệt thự, villa), còn người nhỏ thì có nhà lớn, lớn như khu tập thể hay chung cư chẳng hạn. Ông lớn thì ở khách sạn nhỏ, có vài sao thôi, còn người nhỏ thì ở khách sạn lớn, có hàng nghìn sao ngoài trời…

Cứ theo Bài Tin mừng hôm nay, thì chắc là ta cần phải bổ sung thêm: Ông lớn thì có tội nhỏ, còn người nhỏ thì có tội lớn. Các ký lục, biệt phái là các bậc cha thầy trong dân chỉ thấy tội mình bé xíu như không có vậy, trái lại họ thấy tội của người thấp cổ bé miệng như người phụ nữ ngoại tình kia thì thật lớn, lớn đến nỗi phải ném đá cho chết đi. Ấy sự thường là thế, tội con nít thì người lớn thấy rõ lắm, nhưng tội của người lớn thi con nít không được phép thấy! Trong gia đình, chuyện lặt vặt của con cái thì cha mẹ xem xét phán đoán kỹ càng, còn chuyện lớn của Cha mẹ thì họ chẳng bao giờ để ý đến. Lắm khi ta cũng tự cười mình.

Tội giáo dân thì các cha các thầy rất quan tâm để ý; Lỗi của bề dưới hay người nhỏ thì bề trên và người lớn in trí xét đoán, phê bình. Tội của giáo dân thì cần phanh phui, tội của lãnh đạo giáo dân thì cần che đậy. Sự đời xưa nay vẫn thế, người ta vốn không thích đấm ngực mình, mà chỉ thích đấm ngực người khác.

Trong các ngươi, ai vô tội thì ném đá trước đi”, câu nói khiến chúng ta nhìn lại chính mình. Nhìn cho kỹ, lắm khi ta lại thấy mình tội lỗi hơn nhiều người khác. Con cái hay bỏ đi chơi, không muốn ở nhà, nên bị cha mẹ chửi, la rầy. Có ai biết đâu rằng nó không muốn về nhà, vì về thì cứ phải chứng kiến cảnh bố mẹ hục hặc, cắn xé nhau. Thế thì thử hỏi, bố mẹ với con cái, ai tội hơn ai?. Các học sinh vốn thường bị mắng là quay cóp, gian lận thi cử, vậy so với các giáo viên nhận quà, sửa điểm thi, thì ai tội hơn ai?.

Trong các ngươi, ai vô tội thì ném đá trước đi”, khi nghe Chúa Giêsu nói câu đó, mọi người lần lượt lẳng lặng bỏ đi, chẳng còn hung hổ như trước nữa. Trước đó họ là quan tòa lên án người phụ nữ, bây giờ họ cũng là quan tòa, nhưng là xử án chính mình, vì ai trong họ cũng có tội cả. Chỉ còn lại Chúa Giêsu và tội nhân. Chúa Giêsu không bỏ đi vì Ngài vô tội.

Chỉ có Chúa Giêsu mới đủ tư cách cầm hòn đá lên và ném trước tiên, nhưng Ngài không muốn làm điều đó. Ngài sắp chết thảm thương trên thập giá để cứu những người tội lỗi như người phụ nữ này, thì làm sao Ngài lại ném đá chị được.

Chỉ có Chúa Giêsu mới đủ tư cách là quan tòa và là quan tòa duy nhất trong sạch. Nhưng Ngài là một chánh án quá nhân từ: “Ta cũng không xử tội chị đâu”. Một chánh án không đẩy tội nhân vào đường cùng, nhưng mở cho họ một lối đi lên: “Chị về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”.

Chúng ta hãy tưởng tượng ta đoạn kết của bài Tin mừng hôm nay. Các ký lục, biệt phái ra về mà tâm hồn trĩu nặng. Họ mang trong lòng sự chai đá của họ, mang những tội lỗi không tìm được ơn tha thứ. Còn người phụ nữ tội lỗi kia cũng ra về, nhưng trong lòng rộn rã một niềm vui, bởi chị đã gặp được Đấng Nhân Từ, Đấng không nhìn đến tội lỗi của chị, Đấng cứu chị khỏi chết và mở ra cho chị một tương lai khác: “Từ nay đừng phạm tội nữa”. Tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi, chúng ta có muốn đến với Chúa để được hưởng lòng nhân từ, xót thương của Ngài không?.

Về mục lục

.

CẢM NẾM TÌNH CHA!

Huệ Minh

Người Do Thái là những kẻ xác tín rằng con người chỉ có thể được coi là công chính nếu tuân giữ trọn vẹn luật Môsê.

Thật ra, nếu họ là những người sống công chính theo lề luật, thì điều đó tự nó không phải là một chuyện xấu, mà còn tốt nữa là đàng khác. Nhưng cái làm cho họ trở thành những kẻ xấu và thậm chí có thể là những kẻ ác, đó là vì họ vênh vang tự đắc về cái thành tích giữ luật của mình, và nhất là tự biến mình thành những “cảnh sát” của đạo, những loại chó săn, chuyên môn đi rình mò, đánh hơi để tố cáo những người phạm luật. Và rồi, với lòng chai dạ đá trước anh chị em đồng loại để rồi họ không ngại  nhân danh lề luật, nhân danh lòng nhiệt thành bảo vệ luật pháp mà lên án và ném đá những kẻ lỗi luật.

Câu chuyện người đàn bà ngoại tình hôm nay thật là tiêu biểu cho cái thái độ đạo đức giả của những tín đồ Do Thái cuồng tín và cái ác ý của họ.

Thực chất, trong câu chuyện này họ không chỉ nhằm tố cáo những phụ nữ yếu đuối đáng thương, nhưng chủ yếu là giăng bẫy để Chúa Giêsu vấp phạm để loại trừ Chúa Giêsu. Họ chỉ lấy chuyện tố cáo người phụ nữ ngoại tình để gài bẫy bắt lỗi chính Chúa Giêsu và như vậy để có bằng chứng tố cáo Ngài.

Chúa Giêsu không thể nói ngược với luật Môsê, và cũng không thể nói ngược với trái tim của mình và chính Ngài đã làm sai lời dạy của mình là “Các con hãy yêu thương nhau”.. Ngài cúi xuống, lấy tay vẽ nguệch ngoạc trên đất. Có vẻ như Ngài thờ ơ, không muốn can dự vào hay Ngài đang suy nghĩ cho ra câu trả lời thích hợp. Một cái bẫy vừa tinh vi vừa nham hiểm.

Chúa Giêsu cúi xuống vẽ trên đất. Người đang viết tội của họ ra hay Người đang suy nghĩ tìm câu trả lời, điều đó không ai biết nhưng có một điều chắc chắn là họ đang đắc thắng vì dồn ngược Người vào chân tường, họ sốt ruột nên gặng hỏi mãi. Người đã trả lời một câu như mũi dao xoáy vào tâm can họ, và mũi dao ấy vẫn tiếp tục xoáy vào lương tâm mỗi người chúng ta khi nghe lại lời đó: “Ai trong các ông vô tội thì hãy ném đá trước đi”.

Quả thật, không một ai dám can đảm ném hòn đá đầu tiên, và cũng chẳng có hòn đá cuối cùng. Có chăng chỉ là những bàn tay cách đây ít phút nắm chặt những viên đá đầy sát khí chuẩn bị tấn công, giờ đây đang nới lỏng các cơ bắp để các viên đá kia lặng lẽ kín đáo rơi nhẹ nhàng trên đất.

Những giây phút thinh lặng khi Chúa Giêsu cúi mình viết trên cát là lúc để cho mỗi người trong cái đám đông hung hãn ấy nhìn sâu vào tận đáy thẳm tâm hồn của mình. Ở đó con người sẽ nhận ra thân phận tội lỗi xấu xa của mình và đồng thời cảm nhận được tình yêu tha thứ của Chúa.

Nhìn lại nội tâm mình trong thinh lặng, những con người hăm hở kết tội người khác giờ đây dần dần nhận ra tội lỗi mình, có khi còn nhiều hơn, còn nghiêm trọng hơn cả tội lỗi của người phụ nữ. Thế là các viên đá trên tay lần lượt rơi xuống, họ xấu hổ lặng lẽ rút lui, để lại một mình Chúa Giêsu và người thiếu phụ. Hoá ra rốt cuộc ai cũng nhận ra mình là người có tội, mà đã là người có tội thì sao không kết án mình trước? Sao lại đang tâm kết án người khác cũng tội lỗi như mình!

Thật thế, không ai dám tự hào mình vô tội. Có biết bao tội bất trung bất nghĩa còn xấu xa chẳng kém tội ngoại tình. Có những tội ngoại tình trong ước muốn, trong tư tưởng. Có những tội ngoại tình lén lút chẳng ai hay.

Khi tố giác người khác, người ta thường quên tội của mình. Không thấy cái xà ở mình mà lại thấy cái rác nơi người khác.

Các kinh sư và pharisêu đã khiêm tốn xét mình. Họ lần lượt rút lui, gián tiếp nhận mình có tội. Kẻ trước người sau, người lớn tuổi đi trước. Chúng ta trân trọng thái độ chân thành của họ. Họ ra đi, để lại hai người mà họ tố cáo và định tố cáo. Cuối cùng chỉ còn lại người đáng thương và chính Tình Thương.

Dường như ngày nay người ta chỉ nhận mình phạm tội khi bị bắt quả tang, còn những tội phạm trong thầm kín thì kể như không có. Vì thế người ta tìm mọi cách để che đậy, giấu giếm những hành vi tội lỗi để không ai bị bắt quả tang. Và họ cứ an tâm thanh thản trong cuộc sống. Họ hoàn toàn đánh mất cảm thức về tội lỗi.

Có một điều trớ trêu là khi người ta thấy một ai đó bị bắt quả tang phạm tội, họ không ngại ngùng vung hòn đá ra ném vào người đó. Có lẽ để gián tiếp minh chứng mình vô tội chăng? Người ta dễ dàng bỏ qua cho mình, nhưng lại không buông tha cho kẻ khác. Tuy nhiên, Đấng duy nhất vô tội lại chẳng lên án tội nhân: “Tôi không lên án chị đâu? Chị hãy về đi, từ nay đừng phạm tội nữa!”.

Thật là an ủi biết bao cho chúng ta, những con người tội lỗi. Chúa không răn đe, không sửa phạt, chỉ an ủi, khích lệ, tin tưởng và hy vọng nơi chúng ta. Người không giết chết, nhưng cứu sống. Người không dung túng cho tội lỗi, nhưng nâng đỡ kẻ có tội. Người ghét tội nhưng lại thương xót tội nhân.

Với lời yêu thương tha thứ của Chúa Giêsu, ta chợt nhận ra rằng tình yêu và sự tha thứ của Chúa là vô điều kiện. Với lời tha thứ của Chúa Giêsu, ta hiểu rằng con đáng quý trọng không phải ở quá khứ nhưng ở tương lai, không phải ở cái họ đã là nhưng ở cái họ sẽ là. Với lời tha thứ của Chúa Giêsu, ta  yên tâm đóng lại quá khứ để bắt đầu một tương lai mới, bước đi trong tình yêu thương và niềm tin tưởng của Thiên Chúa. Với lời tha thứ của Chúa Giêsu, ta hiểu và nhận ra rằng lòng thương xót của Chúa là vô biên. Chúa Giêsu đã không lên án người phụ nữ phạm tội, cũng không lên án những người tố cáo chị.

Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi chúng ta dù cho tội đó nặng đến độ phải tử hình như tội ngoại tình nơi anh em Do Thái ngày xưa.

Lòng thương xót của Chúa hải hà trên vết nhơ của tội lỗi. Thái độ của Chúa Giêsu trong trang Tin Mừng so với thái độ của các vị luật sĩ và biệt phái cho thấy tấm lòng của Thiên Chúa mênh mông, bao la hơn tâm hồn con người thế nào, như đại dương với các ao tù nước đọng: một bên thì bình tĩnh thản nhiên, nhẹ nhàng đón nhận cục đá lớn ném xuống, còn một bên sôi nổi sùng sục và hỗn loạn trước cũng một biến cố ấy. Thiên Chúa vẫn đối xử với chúng ta như thế, không phải để ta coi thường tội lỗi, mà là để ta, một khi đối diện với lòng nhân lành của Chúa, sẽ hoán cải mà trở nên tốt hơn.

Chúa Giêsu, Đấng vô tội, chính Ngài đã từ chối không ném viên đá đầu tiên hoặc viên đá cuối cùng, nhưng lời chấp nhận của Ngài đã được gắn lại lệnh truyền: “Chị hãy về và đừng phạm tội nữa”. Có nghĩa là: “Con hãy về đi và từ bỏ cuộc sống tội lỗi của con”. Những kẻ tố cáo, những kẻ sẵn sàng ném đá kia thực ra đã có thể kết liễu cuộc sống của người thiếu phụ nầy, nhưng trái lại phần Đức Giêsu, Ngài đã ban tặng cho chị ta một cuộc sống mới, một sự bắt đầu hoàn toàn mới mẻ: “Con hãy về và đừng phạm tội nữa”.

Ngày nay, Ngài cũng cư xử đối với nhân loại tội lỗi và đối với mỗi người chúng ta đúng như Ngài đã đối xử với người thiếu phụ ngoại tình nầy. Trên thánh giá, Ngài ban ơn tha thứ cho tất cả và cùng với muôn triệu người được cứu thoát, Ngài tạo nên một dân mới. Một lần nữa, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn vào cõi lòng mình vào tình thương tha thứ của Thiên Chúa để tự nhận ra mình là kẻ tội lỗi, hầu lãnh nhận ơn tha thứ và từ nay đừng tái phạm nữa.

Xin cho mỗi người chúng ta cảm nếm được hồng ân tha thứ của Chúa để ta cũng biết tha thứ và thương cảm anh chị em đồng loại như Chúa đã tha thứ và thương cảm mỗi người chúng ta.

Về mục lục

.

TÔI KHÔNG LÊN ÁN CHỊ ĐÂU!

Dã Quỳ

Mùa Chay là thời gian của hồng ân, thời gian thuận tiện để thay đổi cõi lòng và để trở về với Thiên Chúa. Xuyên suốt các bài đọc Sách Thánh và Tin Mừng trong Mùa Chay, Lời Chúa tha thiết mời gọi chúng ta biết nhìn vào tâm hồn và vào đời sống để nhận ra lỗi lầm và để ăn năn sám hối, đón nhận lòng xót thương tha thứ của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã dạy dỗ và bày tỏ lòng thương xót bởi chính Người là Đấng xót thương. Thế mà, những kinh sư và Pharisiêu đã than trách “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.”(Lc 15,2) Và đây là một điều khiến họ bực tức tìm mọi cách hại Chúa. Họ dồn Chúa vào đường cùng khi đưa người phụ nữ ngoại tình bị kết án đến trước Chúa. Luật Môsê cho phép ném đá, còn Chúa Giêsu thì thế nào? Bản án đầu tiên là của người phụ nữ nhưng họ cũng dành sẵn bán án thứ hai cho Chúa Giêsu. Họ chắc chắn sẽ đặt Người vào trong sự mẫu thuẫn với luật Môsê và đạt ý định tố cáo Người.

Chúa Giêsu ở trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan: Chọn trung thành với Luật hay Lòng Thương Xót? Chúa đã nói: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê…Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là  để kiện toàn.”(Mt 5,17) Cuối cùng, Người trả lời họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.”(Ga 8,7) Những lời này đã khuấy động lương tâm của những kẻ tố cáo và họ rút lui từng người một. Chúa Giêsu không xét xử họ nhưng Người mở cho họ một lối đi của lòng thương xót, Người dẫn họ đi trở vào trong chính họ. Họ chỉ nhìn thấy người phụ nữ có tội, Chúa cho họ biết nhìn thấy tình trạng tâm hồn của chính họ. Họ chỉ biết kết án người khác, Chúa giúp họ biết kết án chính họ. Vì đã là con người, không ai tránh khỏi lầm lỗi, sai phạm trong cuộc sống và chắc chắn không ai vô tội.

Chúa Giêsu đã khẳng định:”Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.”( Lc 5,32) Người biết rõ con người chúng ta yếu hèn, tội lỗi và không ai công chính ngoài một mình Người. Thế nên, Người đặt cái nhìn nhân hậu trên người phụ nữ đã bị sỉ nhục và Người nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu!”( Ga 8,11) Đây là lối sư phạm tuyệt vời của Chúa Giêsu vì Người biết rằng tình yêu thách thức tình yêu, lòng nhân hậu thì tốt hơn hình phạt. Chúa luôn mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại chính mình, ý thức rằng tất cả chúng ta đều là tội nhân trước Thiên Chúa là Cha nhân hậu, xót thương, kiên nhẫn và hằng tha thứ cho chúng ta.

Đừng tức giận những kinh sư và Pharisiêu, cũng không lên án người phụ nữ này, bởi vì họ là phản chiếu tâm hồn tội lỗi của chính chúng ta. Hãy cậy trông vào lòng nhân hậu của Chúa và thành tâm trở về với Người, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi những nỗi kinh hoàng và tội lỗi. Vì Chúa cũng đang nói với ta “Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8,11b) Xin cho chúng ta luôn cảm nhận được lòng thương xót của Chúa, bỏ lại quá khứ lỗi lầm và bước vào con đường tương lai mới với lòng tin tưởng vào tình yêu và ơn tha thứ của Chúa.  Rồi đến lượt chúng ta, khi đã lãnh nhận muôn vàn ân huệ của Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta cũng trở nên lòng thương xót như Cha chúng ta, phải tỏ lòng thương cảm và tha thứ cho anh chị em mình như Chúa đã hết lòng nhân hậu tha thứ cho chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến trần gian không phải để xét xử nhưng là để cứu độ nhân loại. Chúng con cảm tạ tình yêu xót thương vô biên của Chúa. Xin giúp chúng con biết nhìn nhận những nỗi yếu hèn của mình và tin tưởng trở về với Chúa. Amen.  

Về mục lục

.

CAN ĐẢM NHÌN VÀO MÌNH, ĐỪNG LÊN ÁN NGƯỜI

Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh

Vì muốn nối liền chủ đề nghị lực, ý chí cần cho việc ăn năn hối cải, mà chúng ta đang suy niệm từ đầu mùa Chay đến nay, tôi mời anh chị em cùng tôi chia sẻ một gợi ý nằm trong chủ đề này: “Can đảm nhìn vào bản thân, chứ đừng lên án người khác”.

Nhìn vào bản thân, để nhận ra mình tốt hay xấu. Tốt đến mức nào, và xấu ra làm sao? Can đảm tự nhận ra mình, nhận ra nội tâm của mình, đó chính là sự can đảm của nghị lực, của ý chí mà Thiên Chúa ban cho ta.

Hãy nhớ rằng, dù ta có trở về, có ý chí, có nghị lực, nhờ đó hoán cải đời sống của mình, thì tất cả những điều đó đều do ơn Chúa ban. Ta là người cộng tác với ơn Chúa bằng chính nghị lực của bản thân mình, quyết tâm trở về cùng Chúa. Trước hết, tôi muốn nhìn lại những gì đã suy niệm trong các Chúa nhật vừa qua của mùa Chay này:

  1. Chúa nhật thứ I mùa Chay, dựa vào Tin Mừng về việc Chúa thắng cám dỗ, tôi xin anh chị em hãy dùng nghị lực và ý chí của mình để chống trả cám dỗ. Nếu vì yếu đuối mà lỡ lầm sa ngã, hãy mau chóng can đảm trở về với Chúa.
  2. Chúa nhật II mùa Chay, dựa vào câu chuyện Kinh Thánh kể về Tổ phụ Abraham và việc Chúa biến hình trên núi, tôi xin anh chị em noi gương tổ phụ Abraham và các môn đệ của Chúa Giêsu mà vượt qua đau khổ, vượt qua bất hạnh của cuộc đời để giữ vững đức tin của mình.
  3. Chúa nhật III mùa Chay, tôi dựa vào lời Chúa Giêsu: “Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, các ngươi sẽ bị hủy diệt”, mời gọi anh chị em tự tin vào bản thân để tạo ra nghị lực mà trở về với Thiên Chúa.
  4. Chúa nhật tuần rồi, Chúa nhật IV mùa Chay, Tôi mời gọi tất cả chúng ta “Hãy cậy dựa vào lòng thương xót của Chúa mà trở về với Người”. Lời mời gọi này dựa vào dụ ngôn “Người con hoang đàng trở về”.
  5. Hôm nay tôi muốn dựa vào câu nói của Chúa Giêsu: “Ai sạch tội, hãy ném đá chị này đi”, tổng kết chủ đề ý chí và nghị lực bằng một chủ đề khác: “Hãy can đảm nhìn vào chính bản thân mình, chứ đừng lên án người khác”, để tuần sau, sống tuần Thánh, ta tưởng niệm Chúa Giêsu chết và phục sinh thật long trọng và ý nghĩa ngay trong tâm hồn của mình.

Tin Mừng kể, Người ta mang đến cho Chúa một người phụ nữ ngoại tình. Chiếu theo luật dạy, họ cứ việc ném đá, không cần Chúa làm “trọng tài”. Nhưng họ dẫn chị đến với Chúa không phải vì tôn trọng, kíng nể, hay biết Chúa là Chúa nên nhường quyền xét xử cho Người, mà chỉ vì muốn thử Chúa, muốn gài bẫy Chúa, muốn xem Chúa xử  lý ra sao để bắt bí Chúa. Độc ác hơn: có chứng cớ mà hãm hại Chúa. vì nếu Chúa Giêsu tuyên bố tha thứ cho chị, Người sẽ bị kết tội là vi phạm lề luật, đi ngược lại, thậm chí chống lại lề luật tôn giáo. Nhưng nếu chiếu theo luật mà xét xử, Chúa sẽ phải ra lệnh ném đá chị. Như thế Chúa chẳng hơn gì lề luật, xem ra Người cũng độc ác như những gì luật quy định. Cả hai trường hợp, Chúa đều rơi vào bẫy của họ.

Nhưng sự khôn ngoan của Thiên Chúa không chỉ đánh gục cái mà con người gọi là khôn ngoan của mình, mà còn đánh gục cả lòng kiêu ngạo, chất chứa toàn hận thù, ganh ghét và độc ác của con người: “Ai sạch tội, hãy ném đá chị này đi”.

Có ai sạch tội? Nên có ai dám cầm đá nào ném vào chị, dù là một cục đá nhỏ nhất. Không những không dám ném mà còn bẽ mặt. Bẽ mặt đến mức phải rút lui từng người một, bắt đầu từ những người, không phải trẻ, nhưng là những cụ ông, cụ bà, những người già nhất, có bề dày của thời gian phạm tội, rồi mới đến trẻ dần. Sau cùng chẳng còn ai dù trẻ hay già. Rõ ràng, chỉ một lời nói nhẹ nhàng, Chúa Giêsu đánh gục lòng kiêu ngạo của con người.

Chính lòng đầy kiêu ngạo, những người Dothái xúm nhau kết án chị phụ nữ kia. Bởi kiêu ngạo, họ cũng chẳng thấy mình, chẳng biết nhìn vào bản thân, vì thế chẳng bao giờ nhận ra con người thật của họ. Ai biết được trong đám người hùa nhau đòi kết án chị, có bao nhiêu kẻ phạm cái tội giống như chị, có khi còn nặng hơn, nhưng khéo che đậy, không ai phát hiện, vì thế, vẫn tỉnh bơ lên án chị, làm như mình vô tội lắm.

Nhìn lại và đối chiếu hai thái độ: một bên là Chúa Giêsu, bên kia là những kẻ lên án người khác, chúng ta nhận ra một mâu thuẫn lớn, lớn lắm, lớn vô cùng: Chỉ có mỗi một mình Thiên Chúa là Đấng vô tội, và Chúa Giêsu chẳng biết phạm tội là gì, lại tha thứ một cách quá dễ dàng. Chỉ có mỗi một mình Thiên Chúa mới có quyền kết án tội nhân, thì Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa lại tha thứ một cách quá nhanh chóng, tha thứ vô điều kiện.

Còn con người với nhau, đầy khiếm khuyết, vô vàn lỗi lầm, cũng chẳng bao giờ được quyền xét đoán ai, chẳng bao giờ được quyền kết án ai, lại cứ tìm cái xấu của người khác để mà kết án, trị tội nhau.

Còn chúng ta, anh chị em và tôi thì sao? Chắc cũng không khác gì những người Dothái khi xưa. Nhiều lần mình đã xét đoán, đã lên án anh chị em xung quanh, nhưng bản thân chẳng tốt lành gì. Lắm lúc còn lỗi nặng hơn anh chị em nữa là đàng khác.

Hãy nhìn vào chính bản thân mình trước, chứ đừng kết án anh chị em của mình. Nhìn vào chính mình để mà ăn năn hối cải, để khám phá những lỗi lầm của mình mà chừa bỏ và trở về với Chúa.

Nhìn nhận mình tội lỗi, thấp hèn để cải hóa chính cuộc đời mình, là lòng can đảm, là nghị lực và ý chí của những người thành tâm trở về với Chúa. Chúng ta hãy nhớ  điều này là: Hãy xé lòng, đừng xé áo. Hãy xét mình, đừng nhìn anh em!

Chúa nhật tuần sau sẽ là lễ Lá, bắt đầu tuần Thánh. Tin rằng xuyên suốt mùa Chay, cùng nhau suy nghĩ về một chủ đề duy nhất, là ý chí và nghị lực, sẽ giúp mỗi người đón nhận mầu nhiệm đau khổ và phục sinh của Chúa cách thánh thiện và sốt sắng hơn. Cũng ước mong rằng, ý chí và nghị lực sẽ giúp ta trở về với Chúa cách cụ thể qua bí tích giải tội, nhờ đó ta đón nhận sức sống mới của Chúa Phục Sinh.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...