05/11/2021
1010

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN – B

Lời Chúa: 1V. 17, 10-16; Dt. 9, 24-28; Mc. 12, 38-44

1. Niềm vui khi trao tặng (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
 
2. Đại dịch và từ thiện (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
 
3. Miếng bánh, chút nước và đồng tiền của bà góa (Jorahte Nắng Tím)
 
4. Dâng hết (Lm. Thái Nguyên)

 
5. Ít hay nhiều (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)
 
6. Ai cũng có hai đồng tiền kẽm (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)
 
7. Của lễ mọn hèn (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)
 
8. Giá trị thật (Lm. Vũ Đình Tường)
 
9. Lòng tin và sự chân thành (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
 
10. Cái nhỏ chứng tỏ cái to (Trầm Thiên Thu)


 

NIỀM VUI KHI TRAO TẶNG

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

     Thời nào cũng thế, người ta có thói quen nhận xét và đánh giá một người ở sự giàu có phong lưu, thể hiện qua phong cách chưng diện và đồ dùng. Cũng vậy, trong thời đại hôm nay, khi mà nhiều người lấy kim ngân làm thước đo cho mọi giá trị, những nhận định về một người lại càng lầm lẫn hơn. Người ta chú trọng đến sự giàu có bề ngoài mà ít để ý đến giá trị đích thực của một con người. Lời Chúa hôm nay muốn giúp chúng ta nhìn rõ hơn, để rồi trong mối tương quan thường ngày, chúng ta trân trọng những giá trị cao cả, mà lại ở dưới một vỏ bọc xem ra là rất bình dị đơn sơ.
 
     Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ goá bụa. Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ Elia, một người thời Chúa Giêsu. Mỗi người một cách, cả hai đều quảng đại và chân thành. Trong truyền thống Do Thái thời xưa, người phụ nữ goá bụa bị coi như đồ bị chúc dữ (x. Tb 3,7-9). Họ phải chấp nhận rất nhiều thiệt thòi trong đời sống hằng ngày và trong những sinh hoạt cộng đồng. Goá bụa đã là điều đau khổ và bất hạnh, người đàn bà goá trong Tin Mừng còn được diễn tả là người nghèo. Cái nghèo của bà được thể hiện qua cách bà len lén đến gần hòm tiền công đức của Đền Thờ. Cái nghèo cũng thể hiện qua số tiền mà bà đã bỏ vào đó, chỉ có hai đồng tiền kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng xu Rôma. Tuy vậy, theo cái nhìn của Chúa Giêsu, số tiền nhỏ mọn bà này dâng, lại là số tiền có giá trị lớn hơn cả. Chúa Giêsu đã giải thích: vì bà này đã rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào hòm tiền công đức tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Chúng ta chú ý tới câu nhấn mạnh của Chúa ở chữ “tất cả” mà chúng ta vừa nghe. Người đời vẫn nói: của cho không bằng cách cho. Với hai đồng kẽm, người đàn bà goá nghèo đã dâng vào Đền thờ cả tấm lòng, kèm theo đức thờ phượng và tâm tình yêu mến.
 
     Các nhân vật được nêu trong Bài đọc I và bài Tin Mừng thuộc hai thái cực đối lập, khi xét theo địa vị xã hội. Một bên là những người biệt phái và những kinh sư, bên kia là những người đàn bà goá bụa nghèo khổ. Biệt phái và kinh sư là những người uyên bác về trí tuệ, hoàn hảo trong tư cách thể hiện; những bà goá mang thân phận hẩm hiu, vừa nghèo về tiền bạc, lại không có chỗ trong các buổi hội họp và sinh hoạt cộng đồng. Ấy vậy mà những người uyên bác lại bị Chúa trách mắng nghiêm khắc, và những người goá bụa bị mọi người quên lãng thì lại được Chúa khen. Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều diễn tả Thiên Chúa là Đấng yêu thương bênh vực những người goá bụa, cô nhi và kẻ cô thân cô thế. Ngài là chỗ dựa cho họ. Các ngôn sứ và các tác giả thánh vịnh còn khẳng định rõ: ai đối xử bất công với những người thiệt thòi này sẽ bị Thiên Chúa báo oán. Người phụ nữ quê ở Sarépta đã quảng đại với ngôn sứ Elia, đến nỗi chỉ còn một chút bột cuối cùng cũng dành cho vị ngôn sứ. Lòng quảng đại của bà đã được Chúa thưởng công tức khắc. Khi nhắc lại cách công đức của bà góa nghèo, Chúa Giêsu khẳng định: cùng với tặng vật, người cho cần có một tấm lòng. Người muốn chúng ta nhìn nhận một người không dựa vào những gì là bề ngoài, nhưng nơi tấm lòng của họ. Trong cuộc sống của chúng ta hôm nay cũng thế, có những trái tim nhân hậu, những tấm lòng quả cảm và những nhân cách cao thượng được ẩn giấu nơi những bề ngoài đơn sơ chất phác và khiêm tốn bình dân. Mọi người đều đáng tôn trọng quý mến, vì trước mặt Chúa, hết thảy đều bình đẳng. Mọi người đều được dựng nên giống hình ảnh của Chúa. Ai cũng được mời gọi sống thánh thiện, và sống thánh thiện tức là nên giống Chúa, vì Chúa là Đấng Chí thánh và là nguồn mạch của sự thánh thiện.
 
     Lời Chúa hôm nay vừa lưu ý chúng ta hãy thay đổi cách nhận định về một con người hay một sự việc, vừa nhắc bảo chúng ta, nghĩa cử chia sẻ luôn có giá trị trước mặt Chúa và giúp bản thân chúng ta nên hoàn thiện. Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh. Chúa dạy chúng ta: cho thì có phúc hơn nhận. Những gì chúng ta giúp đỡ người bất hạnh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an thanh thản trong tâm hồn. Nghĩa cử chia sẻ của chúng ta giống như lửa, càng cho đi, càng lan rộng mà không hề mất đi. Niềm vui của những tấm lòng rộng rãi sẽ luôn tồn tại và được nhân lên mãi.
 
     Tác giả thư Do Thái mời gọi chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu Thượng tế. Người đã hy sinh vì tội lỗi nhân loại. Người đã mang trên thân mình tất cả những đau khổ đáng lẽ chúng ta phải chịu, để nhờ đau khổ của Người mà chúng ta được hạnh phúc và bình an. Noi gương Chúa, chúng ta hãy hy sinh, chia sẻ, cho đi chính sức lực, thời gian, tinh thần, vật chất, để đem lại cho cuộc sống này nhiều niềm vui.
 
     Kính thưa anh chị em, chúng ta đã bước sang tháng Mười một dương lịch, là tháng cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Thiên Chúa là Đấng Chí thánh. Con người muốn đến gần Chúa thì phải được thanh tẩy khỏi những gì bất xứng. Những ai khi kết thúc cuộc đời trần thế, mà còn vương vấn tội nhơ, thì cần được thanh tẩy. Luyện ngục cũng là bằng chứng về lòng thương xót của Chúa. Ngài không nỡ trừng phạt các tội nhân, nhưng thanh tẩy họ để họ nên tinh tuyền, xứng đáng vào hưởng hạnh phúc vinh quang của Ngài. Cầu nguyện cho những người đã khuất, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra sự mong manh của kiếp người. Dù sang trọng giàu có hay nghèo hèn lận đận, cuộc sống cũng chỉ như một hơi thở thoáng qua, như một đoá hoa vô thường. Con người chỉ sống một lần. Nếu cuộc sống là một cuộc hành trình, thì hành trình nào cũng có đích điểm, tức là có hồi kết thúc. Cầu nguyện và suy tư bên mộ những người thân, mỗi chúng ta hãy lắng nghe lời nhắn nhủ của những người đã khuất bóng. Cuộc đời của họ có biết bao điều muốn nói với chúng ta. Tiền nhân đã dạy: “Hổ chết để lại da, người ta chết để lại tiếng”. Có những người sau cuộc sống trần gian, tên tuổi của họ được lưu mãi đến thiên thu. Có những người khi sống độc ác gian hùng, tên họ cũng được nhắc lại, nhưng như một nỗi kinh hoàng ám ảnh. Người tín hữu Công giáo tin rằng, những ai sống ngay chính thánh thiện, danh thơm của họ không chỉ lưu lại cho hậu thế, mà còn được Thiên Chúa khắc ghi vào sổ Sự Sống. Tháng Mười một vừa là tháng thể hiện lòng hiếu thảo tri ân, cũng là lúc chúng ta suy tư về ý nghĩa cuộc đời. Thông điệp của những nấm mộ, là lời mời gọi sống thánh thiện chân thành, trân quý mọi giá trị của cuộc sống và luôn sẵn sàng cho cuộc lên đường về với Vĩnh Cửu.
 
     Một tác giả đã viết:
 
     Khi một người chết đi, anh ta nắm trong tay chỉ những gì mình đã cho đi khi còn sống. When a man dies he clutches in his hands only that which he has given away during his life time (Sưu tầm).
 
     Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn nhớ: kiếp sống con người chỉ như làn gió thoảng qua. Duy chỉ những đức hạnh và những việc thiện hảo là vĩnh cửu vững bền. Xin cho chúng con luôn biết cậy dựa vào Chúa là lý tưởng và cùng đích của cuộc đời, để chúng con chiến thắng những cám dỗ, vượt qua mọi rào cản và trọn đời theo Chúa. Amen.
 


 

ĐẠI DỊCH VÀ TỪ THIỆN
 

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 
     Trong đại dịch lần thứ tư này, chúng ta chúng ta không thể quên ơn những con người đã hy sinh giúp đỡ những nạn nhân bởi cúm Tàu?
     Đó những bác sĩ, các nhân viên y tế, các tình nguyện viên, cảnh sát và quân đội đã hy sinh rời xa gia đình để phục vụ tuyến đầu đầy căng thẳng và mệt mỏi.
     Đó là những tấm lòng quảng đại của những gia đình khá giả đã bao bọc cho những hoàn cảnh khó khăn. Đặc biệt các thiện nguyện viên luôn miệt mài kiếm rau, kiếm thực phẩm cung cấp cho các khu phong tỏa mà chẳng ngại gian nan.
     Tuy nhiên, vẫn còn đó những người có chức, có quyền lại lợi dụng để ăn chặn, hay ăn hối lộ ngay trong nỗi đau của toàn dân. Họ là người nói thật hay nhưng làm thì chẳng thấy được việc gì?
     Thế nên, mới có chuyện vui kể rằng:
     Có một cô vợ suốt 4 tháng cứ mì tôm, rồi lại cơm rau luộc đạm bạc nên thở dài:
 
–       Chả biết ăn cái gì nữa? chứ cứ ăn uống kiểu này chán quá, mà ngồi ăn không thì tiền núi cũng hết.
 
–       Thằng con góp ý: Chỉ có …’ăn hối lộ’ là không chết! mà có tiền thì muốn cái gì cũng có.
 
–       Anh chồng bảo rằng: nghe nói trong đại dịch này nhiều người giầu lên nhờ “ăn chặn” của người nghèo. …
 
     Ở đời luôn có hai cách sống của những kẻ có quyền, có chức. Có người làm quan thì toàn tâm lo cho dân. Có người làm quan chỉ để hưởng thụ và vun quén cho giầu có thêm. Có người dấn thân quảng đại. Có người thì tính toán chi ly. Có lợi thì làm. Có rủi thì trốn.
     Bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta thấy cung cách của hai thành phần địa vị khác nhau và tấm lòng cũng khác nhau. Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng lại tham lam chỉ tìm cách lấy của chung thành của riêng. Họ là những người có chức, có quyền nhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.
     Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giầu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.  
     Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.
     Cuộc sống con người chỉ có giá trị khi biết quảng đại cho đi, khi biết sống có ích cho tha nhân. Người tín hữu còn cần phải có một tấm lòng quảng đại để yêu thương và chia sẻ đến mọi phận người. Tấm lòng thì của ít lòng nhiều vẫn quý hơn tiền nhiều mà khoe khoang. Tấm lòng thì chân thành cho đi mà không so đo tính toán thiệt hơn.
 
     Xin Chúa giúp chúng ta có một tấm lòng chân thành để sống với tha nhân như bà goá giầu lòng quảng đại chân thành. Nhưng đừng bao giờ hèn hạ ăn chặn của người nghèo kẻo phải trả lẽ công bằng trước mặt Chúa ở đời sau. Amen.

 


 
MIẾNG BÁNH, CHÚT NƯỚC VÀ ĐỒNG TIỀN CỦA BÀ GÓA

Jorathe Nắng Tím

     Hàng loạt những thuộc từ người ta thường gán cho các bà goá như nghèo, khổ, một mình lầm lũi, thui thủi, không vị thế xã hội, không ô dù, thế lực chống lưng, vô danh tiểu tốt thì mọi thời đều giống nhau, và hình ảnh bà góa được làm nổi bật qua các bài đọc của chúa nhật này.
 
     Hình ảnh nghèo khó của bà góa:
     Cựu Ước nói đến bà góa rất nghèo ở Xarépta mà ngôn sứ Êlia đã gặp và xin bánh, nước: “Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống”, và “cho tôi miếng bánh nữa” (1V 17,10-11). Nhưng vì nghèo, bà chỉ có thể đi lấy nước cho ngôn sứ, còn bánh thì bà không có: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi” (1 V 17,12).
     Thật không còn gì thê thảm và bi thương hơn hoàn cảnh  “không còn gì để sống” của mẹ con bà goá giữa thời hạn hán, đến nỗi chính miệng bà đã phải thốt lên trước mặt ngôn sứ:  “Chúng tôi sẽ ăn rồi chết” (1V 17,12), như thể “nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò” sẽ là bữa ăn sau cùng của đời bà và con bà.
      Còn bà goá trong Tin Mừng Máccô cũng là bà góa rất nghèo có mặt giữa đám đông đang bỏ tiền dâng cúng Đền Thờ. Bên cạnh “lắm người giầu bỏ thật nhiều tiền” (Mc 12,41), bà góa nghèo “đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm” chẳng đáng giá là bao, nhưng đó là “tất cả  tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” như chính  lời Đức Giêsu (Mc 12 ,44). 
     Cả hai bà goá, một của thời Cựu Ước, một của thời Tân Ước, cũng là của mọi thời, là những người rất nghèo, sống một đời túng thiếu, từng ngày, từng bữa đói no.
 
     Tấm lòng qủang đại của người nghèo:
    Tấm lòng của hai bà goá được kể trong Sách Các Vua  và Tin Mừng Máccô thật cao đẹp, quảng đại.  Cao đẹp vì sẵn sàng cho đi ngay cả phần thiết yếu nhất còn lại của mình và con mình như bà goá thành Xarépta đã lấy bột và dầu làm bánh cho ngôn sứ Êlia ăn trước, rồi sau đó mới làm cho bà và con bà (x. 1V 17,13). Còn bà goá ở Đền Thờ Giêrusalem thì đã dâng cho Thiên Chúa  “tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12,44). 
     Tấm lòng của hai bà góa nghèo còn là tấm lòng qủang đại, khi cho đi một cách đơn sơ, dễ dàng; dâng tặng một cách hào sảng, hồn nhiên, mà không cầu kỳ, khó khăn, so đo, tính toán, yêu sách, điều kiện.
     Thực vậy, người nghèo, tuy nghèo vật chất, tiền của, nhưng tấm lòng không nghèo, không keo, và trong thực tế,  người nghèo là người rộng lòng chia sẻ,  sẵn lòng thi ân và trái tim người nghèo luôn bén  nhậy với những thiếu thốn, khó khăn, cơ cùng của người khác. Chẳng thế mà Đức Giêsu đã lên tiếng khen ngợi: “bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12,43).

     Thiên Chúa làm giàu người nghèo :
     Không cần quảng diễn thêm, chúng ta cũng thấy Đức Giêsu đã  tỏ ra rất trân trọng bà góa có tấm lòng cao đẹp và quảng đại  trong Tin Mừng Máccô. Ngài tuyên dương tấm lòng cao cả của bà, ca ngợi hành động quảng đại của bà, và lấy bà như mẫu gương cho các môn đệ của Ngài x. Mc 12,43).
     Ngôn sứ Êlia thì qủa quyết ơn huệ của Thiên Chúa sẽ “làm giàu” và nuôi nấng  người đàn bá góa bụa và con cái trong suốt thời gian “chẳng có mưa, có sương, và suối cạn khô”, vì bà  đã rộng lòng nhường cơm bánh  của mình và con mình  cho “người của Thiên Chúa” khi ông tuyên sấm: “Đức Chúa, Thiên Chúa của Ítraen phán thế này: “Hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” (1 V 17,14). 
     Vâng, hình ảnh hai bà goá đã quảng đại cho đi tất cả những gì mình có là hình ảnh của Đức Giêsu: Thượng Tế và Hy Lễ  trên Thánh Giá (x. Dt 9,25-26). Chính Ngài đã hiến dâng tất cả những gì thuộc về mình, là mình để xóa tội và trở  nên lương thực nuôi sống nhân loại.
 
     Ngồi trong Đền Thờ hôm xưa “quan sát đám đông”, hôm nay ở trong Giáo Hội, Đức Giêsu cũng đang ngồi nhìn nhìn đám đông đến với Ngài, để “ban lương thực cho kẻ đói ăn…., cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên …, và  nâng đỡ cô nhi qủa phụ” (Tv 145,7.8.9), vì Ngài là Đấng giữ lòng trung tín với những ai  trông cậy Ngài, và quảng đại ban ơn lộc đầy dư, để họ được “sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

 

 
DÂNG HẾT
 

Lm. Thái Nguyên

Suy niệm
 
     Bài Phúc Âm mở đầu bằng việc Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ phải coi chừng lối sống giả hình của nhóm kinh sư. Họ lợi dụng sắc phục bên ngoài để được người ta kính nể; làm ra vẻ đạo mạo để được kính phục; tỏ ra đạo đức để được kính tôn; đọc kinh cầu nguyện lâu giờ để được kính yêu, và cũng là mưu mô để nuốt gia tài các bà góa. Con người thời nào cũng hay đeo mặt nạ với nhau, ngoài việc tìm kiếm lợi lộc và danh giá thì còn muốn tạo hào quang cho mình. Cách chung, người ta muốn sống hơn những gì mình có, muốn thể hiện hơn những gì mình là: cố làm cho mình trẻ đẹp hơn nhờ trang điểm; cố cho người khác thấy mình tài giỏi hơn nhờ ăn nói; cố tạo cho mình cái dáng vẻ quí phái, trí thức, đạo đức, để thu phục tình cảm của mọi người.
 
     Điều éo le là những người Đức Giêsu cảnh giác không phải là nhóm dân thường mà lại là thành phần lãnh đạo tôn giáo, lợi dụng chức sắc để tìm danh lợi cho bản thân. Thật ra đạo giáo nào cũng không tránh được những loại người này, nhưng đặc biệt thời Đức Giêsu, tình trạng tôn giáo đã bị tha hóa và xuống cấp trầm trọng, con người đã đánh mất tấm lòng, chỉ còn lại luật lệ và hình thức bên ngoài, như có lần Chúa Giêsu đã nhắc lại lời ngôn sứ Isaia:“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15, 8).
 
     Đi ngược với sự tham lam và giả hình của các kinh sư là hình ảnh một bà góa nghèo, nhưng rộng lượng và đơn sơ chân thành. Đức Giêsu thấy bà rón rén đến bỏ một phần tư xu vào thùng tiền của Đền thờ. Số tiền quá ít ỏi chẳng đáng gì, nhưng Ngài gọi các môn đệ lại và cho họ biết “bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” vì đó là “tất cả những gì bà có để sống”. Trước mặt Chúa, cái nhỏ nhất lại thành cái lớn nhất, cái người ta coi là tầm thường lại trở nên phi thường.
 
     Chúng ta thường dựa vào cái bề ngoài để đánh giá đúng-sai hay tốt-xấu, mà ít khi xét đến cái giá trị cốt lõi bên trong; dựa vào số lượng công việc hay thành tích mà ít khi xét đến chất lượng hay chiều sâu của vấn đề. Bản thân ta cũng thế, xem ra vẫn bị xáo trộn trước những lời khen chê. Thích khen và sợ chê khiến ta dễ trở nên nô lệ cho dư luận, cứ phải chịu tác động của người khác, không có tự do để hành động. Các nhà tâm lý và tu đức thường khuyên ta: Hãy trở về với mình và hãy là chính mình, đừng để lòng mình xu hướng theo thiên hạ và chạy theo những thứ phụ thuộc bên ngoài. Hãy tập nhận diện mình dưới cái nhìn của Chúa, vì dưới lăng kính của Ngài, mọi sự đều sáng tỏ. Điều quan trọng là xem mình có chân thành và quảng đại không? Có dám dâng cho Chúa nhiều hơn không? Dám dâng hết không?
 
     Thế nhưng câu chuyện bà góa nghèo bị đặt vấn đề: phải chăng cứ sống thiếu thốn nghèo nàn để được Chúa khen thưởng? Phải chăng bỏ cả những nhu cầu thiết yếu để được vào nước Trời? Điều chắc chắn là Tin Mừng không bao giờ đề cao sự bần cùng. Đức Giêsu đến để con người được sống và sống dồi dào. Ơn cứu độ cũng không chỉ là “phần hồn” nhưng toàn vẹn, đồng thời bắt đầu chớm nở ngay tại thế chứ không phải giấc mơ xa xôi. Tuy nhiên, với tâm hồn yêu mến, người ta muốn dâng hiến cách quảng đại, không chỉ dâng nhiều hơn mà còn là nhiều nhất. Tất cả và trọn vẹn, chính là điều Thiên Chúa muốn nơi con người. Yêu Ngài bằng tất cả trái tim và tất cả sức lực của mình, đó là lệnh truyền của Thiên Chúa dẫn đến sự sống muôn đời (Lc 10, 27).
 
     Thật ra, sự nghèo túng tự nó không đem lại hạnh phúc cho ai, nhưng hạnh phúc là vì người nghèo biết vui lòng đón nhận hoàn cảnh hiện tại, bình an sống cuộc đời thanh bạch mà không ham hố lợi lộc, và điều quan trọng là biết chờ đợi mọi sự nơi Chúa. Họ không xây dựng đời mình trên vật chất hay chiếm hữu, nhưng trên tình yêu, để sẵn sàng cho đi và dâng hiến. Họ mới thật là những người khôn ngoan (Lc 1, 49). Với lời khen ngợi hành động của bà góa nghèo, phải chăng Chúa Giêsu muốn cổ võ một lối sống siêu thoát, đồng thời muốn thiết lập một xã hội công chính và nền văn minh tình thương, nhờ biết cho đi và chia sẻ. Và qua đó, Ngài muốn thay đổi cái nhìn của chúng ta về giá trị nhân sinh, để hướng tới một sự sống mới trong Nước Trời.
 
Cầu nguyện

 
Lạy Chúa!
Suy niệm Lời Chúa khiến con nhớ,
chuyện người hành khất đi từng nhà,
chợt thấy xe Vua óng ánh đến từ xa.
lòng thầm nhủ Đức Vua sắp đi qua,
thế là hy vọng trong anh bừng sáng dậy,
kiếp nghèo không còn nữa kể từ đây.
 
Anh đang chờ Vua bước xuống xe,
ban phát cho anh nhiều vàng bạc,
để đời anh chấm dứt cảnh lang thang.
 
Thấy Vua đi tới mỉm cười,
lòng anh vui sướng như người trên mây,
thế nhưng Ngài lại chìa tay,
hỏi xem anh có gì chăng cho Ngài?
 
Quá sửng sờ khiến lòng anh bối rối,
ai có ngờ Ngài lại đến xin mình,
thôi thì chỉ có hạt lúa đây,
anh đành phải lấy để dâng tặng Ngài,
Vua lên xe xa khuất trên đường dài,
anh lại lang thang miệt mài y như cũ.
 
Thế rồi khi chiều về dốc túi ra,
bất ngờ lại thấy một điều lạ,
giữa những hạt lúa có hạt vàng lấp lánh,
anh lặng người trong cảm xúc xuyến xao,
lệ rưng rưng anh nghẹn ngào tự bảo:
phải chi tôi dâng trao cho Ngài hết,
để chẳng còn gì cho bản thân,
thì giờ đây đã vui sướng vô ngần.
 
Lạy Chúa, đã bao lần con lưỡng lự,
muốn cho đi nhưng rồi lại muốn giữ.
Ước chi con hoàn toàn buông xả,
để Chúa là tất cả của đời con. Amen.
 

 

ÍT HAY NHIỀU

Lm. Jos DĐH.

    Con người tồn tại trên thế giới này không phải vì giầu có, chính xác là được yêu thương. To khoẻ béo bền, gầy gò ốm yếu, mưu trí hơn người hay ít học kém tài, vẫn không ảnh hưởng đến ước muốn bình an, niềm vui, hạnh phúc của ta. Kinh nghiệm cho thấy, đeo nhiều vòng vàng lên con lừa, nó vẫn mãi chỉ là con lừa. Con người giới hạn, có ăn cao lương mỹ vị, vận toàn gấm lụa đắt tiền, cũng chẳng ai gọi bạn là vua chúa bụt thần. Lắm tiền nhiều của, nghèo hèn túng thiếu, hoặc quyền cao chức trọng, tầm thường vô duyên, cũng không ảnh hưởng đến việc thành “chánh quả” của kiếp người. Trong thế giới ăn nhậu, họ biện minh: nam vô tửu như cờ vô phong, một lít ít hơn một xị. Khi đề cao cách sống đơn giản không cầu kỳ, các đấng bậc cho rằng: đội cũng vào chợ, gánh cũng vào chợ. Trong tinh thần bác ái phục vụ, cha ông chúng ta thì căn dặn con cháu: của cho không bằng cách cho.
 
     Ít hay nhiều, không phải chỉ là mối bận tâm về số lượng, đúng hơn, mọi người vẫn lưu ý đến nét đẹp của việc làm, hoặc chất lượng vững chắc của thành công. Ít hay nhiều nét đẹp của tinh thần, đang tô vẽ và làm sáng tỏ truyền thống tin yêu, dù gia đình hoàn cảnh có phần khác nhau. Câu chuyện gia đình, giáo dục và phát triển tình hiệp nhất yêu thương, tất cả đang phản ánh sự liên đới rất cụ thể trong bình an và niềm vui. Ít hay nhiều gì, cũng đang khơi dạy trách nhiệm phải xây dựng gia đình hạnh phúc. Dù bạn có yêu nhiều đến mấy, nhưng thiếu hành động, tình yêu ấy làm sao không phai nhạt ? Đức Giêsu cảnh giác đám đông đừng để gương xấu: ăn trên ngồi trốc, lộng lẫy hình thức, phô trương việc đạo đức, làm tổn thương sự thuỷ chung cao đẹp vốn có nơi tâm hồn.
 
     Hành động của niềm tin không tính bằng số lượng ít hay nhiều, đúng hơn là có cao hoặc thấp, chỉ hai đồng tiền: “bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn ai hết”. Hành động bác ai không phải là việc của người giầu, mến Chúa yêu người, đâu phải là sứ mạng của bậc cao niên, xây dựng tâm hồn sạch đẹp chẳng phải của nỗ lực cá nhân, ít nhiều cũng là sự thật: không thầy đố mày làm nên. Đức Giêsu cho các học trò và đám đông hôm đó thấy được giá trị thật của niềm tin: “tất cả những người kia đã bỏ của dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”. Đức Giêsu không lên án người giầu, không có ý chê các luật sĩ thiếu đạo đức, nhưng Ngài ghét bỏ và kịch liệt phản đối hành động xấu xa của từng cá nhân. Đức Giêsu không nhầm lẫn ¼ đồng xu to lớn hơn khác thường, không khen bà cụ đẹp lão, nhưng tán dương hành động cao đẹp của bà cụ không hề nhỏ bé.
 
     Xây dựng tâm hồn mới không phải là bổn phận của người thánh thiện, xây dựng và phát huy niềm tin phải là của đại gia đình kitô giáo, dù hoàn cảnh lịch sử địa lý không giống nhau. Việc sống đức tin không phải là đếm ngày tính tháng, lập trường vững chắc ở chỗ: một khi ai đó yêu bạn thực lòng, họ sẽ không ngần ngại bày tỏ cho cả thế giới cảm nhận được hành động yêu thương của họ. Đến nhà thờ hàng ngày, hàng tuần, nghe lời Chúa, suy gẫm lời Chúa, sống đời sống các bí tích, sống ảo hay sống thực, vẫn là cơ hội để mỗi người minh chứng niềm tin của mình đúng và chuẩn nhất. Tiền nhân chúng ta quả là sâu sắc khi nói: người ăn thì còn, con ăn thì hết, tiền của nhiều hay ít không phải là là vấn đề chính, quan trọng ở chỗ mỗi người sử dụng đúng, đẹp, ra sao.
 
     Có đông các luật sĩ biệt phái, có nhiều ơn gọi linh mục tu sĩ, có đông người đến nhà thờ, có dồi dào tiền giỏ, tiền thùng, không hề xấu, ở đời người ta biết nói: tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xanh vỏ đỏ lòng, với Thiên Chúa, hành động đức tin mới là điều trọng tâm. Đức Giêsu không phê phán cái đẹp hình thức, xem thường số tiền dư thừa của người giầu, Ngài vẫn trân trọng giá trị truyền thống: con lợn có béo thì lòng mới ngon. Thiên Chúa thấu biết hành động của con người, giá trị cao đẹp tuỳ thuộc ở tấm lòng được thể hiện nơi cuộc sống. Một nghĩa cử đẹp, một việc làm có chất, một tình yêu chân thật, mới trở nên cao sâu trong đức tin và đức ái kitô giáo, dù xã hội tự nhiên có quan niệm gia đình lý tưởng là gia đình trong đó các thành viên phải vừa tài vừa đức.
 
     Một xã hội văn minh hiện đại là một xã hội giầu tình người, một gia đình hạnh phúc là một gia đình mà các thành viên thể hiện được sự hoà thuận yêu thương. Nhiều hay ít tâm hồn thanh sạch, ít hay nhiều tấm lòng bác ái yêu thương, đủ hay thiếu, dư hay thừa, tất cả chỉ có ý nghĩa, khi mỗi người biết hành động trong tình yêu thương với Đấng Kitô. Ngụ ngôn Thỏ và Rùa chạy đua về đích, ít nhiều vẫn đẹp cho hành trình của người tín hữu chúng ta. Thỏ chạy nhanh, Rùa nhẫn nại, về tới đích mới quan trọng chứ đâu phải trước hay sau. Kẻ giầu, người nghèo, người quảng đại, kẻ keo kiệt, người chức quyền, kẻ thường dân, xung quanh chúng ta quả là phong phú, hành động đẹp, tinh thần phục vụ cao, nỗ lực và liên đới trách nhiệm trong tình yêu Đức Kitô, đó chính là đích đến của niềm tin chúng ta. Amen.

 
AI CŨNG CÓ HAI ĐỒNG TIỀN KẼM

Bông hồng nhỏ

     Hôm nay, trong lúc giảng dạy, Thầy Giêsu đã lên án lối sống đạo đức giả của các kinh sư và khuyên các môn đệ phải coi chừng lối sống ấy. Sau đó, Người ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng trong Đền Thờ, quan sát xem người ta bỏ tiền vào thùng. Người dừng lại trước một bà góa nghèo, cảm mến vì tấm lòng quảng đại của bà. Bà đã dâng hai đồng kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng xu Rôma. Đó là cả tài sản bà có, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Người dạy cho các môn đệ hiểu được đâu là điều cốt lõi của lòng yêu mến Chúa.
 
     Nghe Thầy Giêsu khiển trách các kinh sư, ta tự hỏi: Ta có đang mải mê tự tạo cho mình một cái vỏ bên ngoài thật đẹp mà quên chăm sóc cho tâm hồn mình không? Phải chăng, từ trước tới nay, ta cũng đã chỉ ưa thích vẻ bên ngoài, phô diễn cho người khác nhìn thấy sự thánh thiện đạo đức của mình. Ta khao khát sống thánh thiện và đạo đức, chăm chú đọc kinh cầu nguyện mà đôi lần lại ngần ngại giúp đỡ người anh chị em đang cần đến mình. Ta đã mong muốn yêu mến Chúa thật nhiều và cố gắng giữ luật nhưng lại bỏ qua lòng bác ái với người khác, dù đó là một việc làm nhỏ bé: giúp người chị em đang phải khiêng đồ nặng, cầm hộ chai nước cho một người già yếu, mở cửa sổ khi vào lớp học, … Có bao việc làm nhỏ mọn khác mà ta có thể làm mà ta đã không làm chỉ vì ta chưa biết sống cho người khác. Thật may mắn cho ta vì ta được nghe Lời Chúa, được nhìn lại bản thân để thấy mình rõ hơn, để thấy rằng mình không thánh thiện như mình tưởng, thấy rằng mình còn nhiều giới hạn lắm. Tin Mừng kể rằng, có một người thông luật hỏi Chúa Giêsu điều răn nào trọng nhất, và ai là người thân cận của ông. Người đã cho ông biết điều răn trọng nhất là mến Chúa, điều răn thứ hai là yêu người. Có một ý nghĩ rất mới thoáng đến trong tâm trí ta và làm cho ta phải xấu hổ. Quả là, từ trước đến nay, ta cũng chỉ quan tâm xem ai là người thân cận của mình. Khi ta quy về mình, ta đã chỉ mong chờ sự cho đi từ người khác, hay muốn người khác nhận tấm lòng của ta. Ta không nghĩ rằng mình phải trở thành người thân cận của người khác. Nghĩa là ta phải khiêm tốn đón nhận tấm lòng của người khác khi họ ngỏ lời muốn giúp đỡ ta, muốn lắng nghe ta, muốn trò chuyện với ta, dù họ thật khác ta, dù họ không phải là người ta quý mến. Ta có thấy mình cần đến sự hiện diện của những người bên cạnh ta không? Sự hiện diện của họ là một món quà mà Chúa gửi đến cho ta. Chỉ khi ta phải sống trong tình cảnh phải cách ly vì dịch bệnh ta mới hiểu được nỗi khát khao sống cùng người khác là thế nào, muốn được làm điều gì đó cho những người khác. Ta khát khao được ở bên trò chuyện, muốn nhận lấy những cử chỉ quan tâm dù nhỏ bé của họ. Học cách cho đi và học cách đón nhận là hai bài học mà ta phải học và rèn luyện cả đời, làm sao để cho những cử chỉ, lời nói, suy nghĩ của ta đều xuất phát từ tấm lòng chân thành chứ không dừng lại ở hình thức bên ngoài.
 
     Bà góa nghèo đã dâng hai đồng kẽm và việc làm của bà rất đẹp lòng Chúa. Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại để nói cho họ biết về tấm gương dâng hiến của bà. Người cũng cho họ thấy: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12, 4). Điều đó có nghĩa là bà đã phó thác cuộc đời của mình cho Thiên Chúa, bà dâng hết những gì mình có, dâng Chúa cả tình trạng túng quẫn của mình, cả cái sự nghèo khó của mình mà không than thân trách phận, không sợ xấu hổ, không sợ người khác chê bai, chỉ trỏ. Chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã chia sẻ, khi đến với Chúa, có những lúc chị cũng không có gì để dâng Chúa và chị dâng Chúa cả cái không có gì đó. Hai đồng tiền kẽm của ta là gì? Đó chẳng phải là tấm lòng đơn sơ chân thành khi đến với Chúa sao. Đó chẳng phải là sự phó thác, tin yêu: dâng Chúa những buồn đau, những lo lắng, những thử thách, thành công hay thất bại, dâng Chúa trọn con người mình. Đặt mình thường xuyên trước mặt Chúa, ta sẽ được Người dẫn đi qua đêm tối của cuộc đời, vì vẫn còn đó một ngọn đèn luôn luôn cháy sáng trong tâm hồn ta. Vẫn còn đó “hai đồng tiền kẽm” là tất cả cuộc sống của ta để dâng Chúa trọn cả trái tim.
 
     Lạy Chúa! Chúa cao cả và giàu sang vô cùng. Cảm tạ Chúa đã luôn đón nhận con, dầu cho con đã từng thờ ơ và vô tâm với anh chị em con đang khi con nghĩ mình yêu Chúa. Ngay khi Chúa làm cho con nhận ra tình trạng của mình, con liền chạy đến với Chúa và được Chúa thứ tha và xót thương. Chúa hằng dạy dỗ con từng điều nhỏ nhặt nhất, dạy con cả trong những vấp ngã, trong những lần con lạc xa Ngài. Lạy Chúa! Chúa vui lòng nhận lấy “hai đồng tiền kẽm” của con, xin Chúa cũng dạy con biết nhận lấy hai đồng tiễn kẽm từ tấm lòng của người khác, và không ngần ngại hay xấu hổ khi bản thân chỉ có “hai đồng tiền kẽm” để trao cho họ; vì biết rằng điều con trao gửi là cả trái tim. Amen.

 

CỦA LỄ MỌN HÈN 

Thiên San

     Đức Giêsu ngồi dối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ và quan sát người ta bỏ tiền vào thùng. Nhiều người nối đuôi nhau đến bỏ tiền vào thùng. Họ có biết rằng có một người đang quan sát họ? Những người giàu có bỏ vào đó nhiều tiền. Tiếng leng keng của các đồng tiền rớt xuống va vào nhau nghe rất vui tai. Trong số đó, có một bà góa nghèo cũng tiến đến, bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Thấy vậy, Đức Giêsu gọi các môn đệ lại mà rằng; “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12, 43). Lạ thay, của lễ mọn hèn của bà góa nghèo đã được Con Thiên Chúa nhìn nhận và trân quý.
 
     Ngày nay, nhiều người rộng rãi, có lòng đóng góp cho việc chung, cho nhà thờ. Có người cho đi nhiều nhưng họ lại không muốn mọi người biết đến. Đó là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, Đức Giêsu cho chúng ta một cái nhìn thật khác lạ: Giá trị của việc cho đi không tính bằng số lượng nhưng bằng tấm lòng khao khát muốn cho đi. Hai đồng kẽm bé nhỏ của bà góa nghèo thì lớn hơn tất cả số tiền những người giàu có bỏ vào. Vì bà ấy đã rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì có thể nuôi sống bà (x. Mc 12, 44). Nếu là bà góa, chúng ta có đủ khiêm tốn, can đảm để bỏ vào thùng số tiền ít ỏi của mình? Hay chúng ta sợ người khác chê cười, sợ bị đánh giá. Đối với Thiên Chúa, nhiều ít không phải là vấn đề nhưng quan trọng là ở tấm lòng. Người biết rõ lòng mỗi người.
 
     Những người nghèo, các bà góa là những những người được Đức Giêsu quan tâm cách đặc biệt. Người nhìn đến họ, chân nhận và yêu thương họ. Bằng chứng là Người đã lên tiếng bênh vực các bà góa, Người cảnh cáo thái độ hống hách của các kinh sư đã nuốt hết tài sản của các bà. Người nhìn đến hai đồng kẽm nhỏ bé của bà góa nghèo và coi nó là của lễ lớn lao. Noi gương Người, chúng ta được mời gọi dành sự quan tâm đặc biệt đến những người nghèo khổ trong xã hội. Đồng thời, chúng ta cũng được mời gọi đặt cái nhìn của mình trong Thiên Chúa. Nghĩa là, chúng ta cần biết chân nhận, quý trọng sự hiện diện, đóng góp nhỏ bé của những anh chị em nghèo khổ. Hơn nữa, nếu chúng ta biết bỏ qua cái nhìn, sự đánh giá của người đời để dâng lên Chúa tất cả những gì chúng ta có, dù nó nhỏ bé nhưng với tất cả tấm lòng thì Thiên Chúa sẽ rất vui vì điều đó.
 
     Lạy Chúa! Chúng con biết rằng, lời ca tụng, những đóng góp của chúng con không thêm gì cho Chúa nhưng chính việc chúng con cảm tạ Chúa và đóng góp với hết tấm lòng sẽ đem lại ơn lành lớn lao cho chúng con. Chúng con tin rằng, Chúa không nhìn hay đánh giá như người đời. Tấm lòng của Chúa rộng lớn bao la, sẵn sàng đón nhận của lễ mọn hèn chúng con dâng. Tin tưởng như thế chúng con hân hoan, vui sướng đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng Nước Chúa. Xin cho chúng con biết quan tâm, đón nhận và giúp đỡ nhau trong đời sống đặc biệt là quan tâm đsặc biệt đến những người nghèo khổ. Amen.

 

 
GIÁ TRỊ THẬT
 

Lm Vũđình Tường

     Hai dụ ngôn nhắc đến hai giai cấp xã hội của thế kỉ đầu tiên. Giai cấp giầu có, trưởng giả, Kinh Sư và giai cấp nghèo của bà goá, là nạn nhân của giới Kinh Sư. Cả hai dụ ngôn liên quan đến của cải và cách dùng của cải. Nhóm Kinh Sư đây không phải là nhóm lãnh đạo thường mà là lãnh đạo Đền Thờ. Bà goá không chỉ thuộc phận nghèo hèn, mà còn là người đàn bà goá bụa. Xã hội thế kỉ đầu giới nghèo đã nghèo, thành goá bụa còn nghèo hơn. Bà goá dù là một mình nhưng bà đại diện cho giới nghèo khổ trong xã hội. Xã hội nào giới nghèo cũng nhiều hơn giới lãnh đạo và trưởng giả. Ngày nay công nhân lao động chân tay đông hơn công nhân trí thức làm việc bằng trí óc.
     Khác biệt giữa giới lãnh đạo và công nhân thật rõ nét. Đức Kitô chê trách, cảnh tỉnh môn đệ ngài về giới lãnh đạo Đền Thờ. Ngài nhắn nhủ các ông,
"Anh em phải coi chừng những ông Kinh Sư ưa dạo quanh, xúng xính trong áo thụng, thích được chào hỏi nơi công cộng" Mc 12,38
     Đối với bà goá nghèo, Đức Kitô khen bà trước mặt các môn đệ. Giới Kinh Sư ham của cải, thích tích trữ của cải làm của riêng. Bà goá cũng gom góp, tích trữ của cải, không làm của riêng nhưng để cho đi, dâng hiến cho Đền Thờ. Theo tinh thần bài học tuần trước, bà goá yêu mến Thiên Chúa hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn. Bà yêu mến Thiên Chúa với tất cả tấm lòng. Dâng hiến của cải cho Đền Thờ tâm hồn bà rộn lên niềm vui. Bà không bị lệ thuộc vào vật chất.
     Yêu mến chân thành không giới hạn. Đức Kitô nói với môn đệ về bà như sau: "Mọi người đều rút từ tiền dư, bạc thừa mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình" (Mc 12:44)
     Đức Kitô dạy môn đệ, tình yêu bà dành cho Đền Thờ Thiên Chúa không phải đo bằng của cải vật chất, nhưng đo bằng tấm lòng chân thành bà dành cho Đền Thờ. Đức Kitô nhìn thấu con tim bà, con tim chan hoà lòng yêu mến Thiên Chúa. Chúng ta không biết bà nghĩ gì, nhưng có thể đoán trong tâm bà, bà tin tưởng những gì bà hiện có đều do Chúa ban. Vì thế bà rất vui dâng cúng tất cả những gì bà có cho Đền Thờ. Trao dâng cho Đền Thờ tất cả những gì có để nuôi sống mình là dấu chỉ hoàn toàn, tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng.
     Bởi vì bà cho tất cả những gì bà có để nuôi sống mình, vì thế nhiều học giả cho rằng đây là hành động bác ái thiếu khôn ngoan. Giải thích theo chiều hướng đó xem ra có vẻ quá giới hạn. Ngày nay chúng ta hiểu tiền bạc cách rộng rãi hơn. Tất cả những gì làm ra tiền, hoặc không tốn tiền, đều được coi là của cải. Trong đó bao gồm cả thời gian, trả lương theo giờ, tài năng, kiến thức, hiểu biết, khôn ngoan và ngay cả sức khoẻ. Tất cả đều làm ra tiền. Ngoài ra còn kể thêm tinh thần. Có được một tâm hồn thanh thản, con tim bình an, giấc ngủ ngon trong đêm là những ‘của cải’ tinh thần vô giá bởi không gì mua được chúng.
     Không biết bà goá có nguồn của cải vật chất, tinh thần nào. Chỉ biết bà nghèo. Bà dành dụm được ít tiền để tự nuôi thân. Rất có thể bà có những người bạn chân thành sẵn sàng hỗ trợ bà trong cơn túng thiếu. Không giống như một số Kinh sư sống trong ảo vọng, mong được người ta ca tụng, tán dương. Thiếu những thứ đó họ thiếu vui. Bà goá, trái lại sống một cách chân tình, chân thành với chính mình và với tha nhân. Niềm vui của bà đến từ cho đi, từ dâng cúng; trong khi niềm vui của một số Kinh Sư đến từ bên ngoài, từ lời ca tụng của tha nhân. Chính vì tìm nguồn vui nơi tha nhân mà giá trị thực sự của con người họ bị che khuất, giá trị trình diễn lộ ra qua cách trang phục.
     Đền Thờ lộng lẫy. Người Do Thái hết lời ca tụng. Đức Kitô nói với các môn đệ, Đền Thờ đó cũng có ngày qua đi. Quả thật, bốn mươi năm sau, Đền Thờ bị phá tan hoang. Điều này cho biết không gì trên thế giới này, dù lớn, cao sang, vĩ đại đến đâu cũng có ngày qua đi. Chỉ có một điều tồn tại đó chính là tình yêu ta dành cho Chúa bởi chính Chúa làm cho tình yêu đó bền vững muôn đời.
     Cuộc sống của ta lệ thuộc vào công ăn việc làm và sức khoẻ. Luôn nhớ cả công việc lẫn sức khoẻ đều rất bếp bênh. Công ti làm ăn thua lỗ, phá sản, côn nhân mất việc. Tai nạn xảy ra, sức khoẻ đi đong. Tuổi già kéo đến vừa sinh tật, vừa sinh bệnh. Hệ thống kinh tế hoàn cầu lúc tiến, phát triển, khi co cụm, thụt lùi. Đầu tư trọn đời vào tài chánh, kinh tế, của cải vật chất, khi chúng ra đi còn lại gì, ngoài nước mắt và nuối tiếc. Người ta thích đầu tư trọn đời mình vào của cải vật chất bởi xã hội trọng giới giầu, khinh giới nghèo. Đức Kitô cảnh tỉnh môn đệ, giá trị thực của con người không phải do lắm của, nhiều tiền mà chính là con tim chân thành, yêu mến. Bạn xét mình xem, mình chọn sống theo cung cách nào? Cung cách của Kinh Sư hay cung cách của bà goá.

 
 
LÒNG TIN VÀ SỰ CHÂN THÀNH

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Cấu trúc ba bài đọc Lời Chúa hôm nay là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt về lòng tin và sự chân thành.
     Bài đọc 1 trích sách Các Vua kể chuyện bà goá thành Xarêpta. Thời ngôn sứ Êlia, khi Thiên Chúa làm hạn hán trên đất nước Do thái để phạt vua tôi của nước này, ngôn sứ Êlia được lệnh Chúa tạm lánh sang xứ Sarepta. Êlia xin bánh, dù bà goá không đủ bột làm bánh cho hai mẹ con nhưng với lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa nên đã chân thành dâng chút bột và dầu ít ỏi làm bánh nuôi ngôn sứ. Chúa đã trả công bội hậu cho bà thoát cảnh đói khổ “hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Thiên Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất”.
     Nơi bài đọc hai, tác giả thư Do thái trình bày một điều căn bản trong đức tin Kitô giáo “Đức Kitô đã tự hiến chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người”, điều chỉ có sự thành tín của Thiên Chúa mới thực hiện được.
     Bài Tin mừng kể lại chuyện Đức Giêsu biểu dương tấm lòng thành của bà goá nghèo dù bà chỉ dâng hai đồng tiền kẽm.
     Đức Giêsu thảnh thơi ngồi quan sát xem đám đông bỏ tiền vào thùng tiền dâng cúng ra sao. Người thấy một cảnh đối chọi thật chát chúa: có những người giàu bỏ thật nhiều tiền (thấy tay họ cầm và tiếng tiền kêu leng keng trong thùng!”), lại cũng có “một bà góa nghèo, đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma”. Phản ứng của Đức Giêsu thật đặc biệt: “Người liền gọi các môn đệ lại mà nói”. Lần trước “Người ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói” (Mc 9,35) là để sửa dạy các ông vì khi đi dọc đường các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn nhất, trong khi các ông không dám hỏi lại về những lời Người loan báo trong Cuộc Thương Khó. Hôm nay Người ngồi sẵn đó, Người gọi các môn đệ lại, chỉ cho các ông thấy bà góa nghèo này và nói. Tại sao hình ảnh bà góa này dâng cúng hai đồng kẽm, đáng giá một phần tư đồng xu Rôma, lại kéo sự chú ý của Người như thế? Nghe kỹ lời bình luận của Người: “Mọi người đều rút từ tiền bạc dư thừa của họ mà bỏ vào đó; còn bà góa này thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có thể nuôi sống bản thân mình”. Những người khác bỏ nhiều tiền vào thùng, nhưng rút từ tiền bạc dư thừa, chứ không phải tất cả tiền dư bạc thừa, nên tuy bỏ nhiều nhưng chưa đụng tới đời sống của họ. Còn bà góa này rút từ cái túng thiếu của mình, bỏ vào đó “tất cả tài sản, tất cả những gì bà có thể nuôi sống mình”. Số tiền này chỉ đủ mua bánh mì ăn một bữa.
     Trong cuộc hỏi đáp với ông kinh sư, Người vừa đọc lại điều răn thứ nhất. Bây giờ Người bắt gặp bà goá nghèo này đang thực hành điều răn ấy triệt để. Điều răn bảo “yêu mến bằng tất cả trái tim, tất cả mạng sống và tất cả những gì người có”. Bà góa này túng thiếu, không có dư thừa, bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có thể nuôi sống mình, thế là bà đã yêu mến bằng tất cả những gì mình có, bằng cả mạng sống. Có yêu bằng tất cả trái tim hay không thì làm sao kiểm chứng được. Nhưng yêu mến bằng tất cả những gì mình có và bằng cả mạng sống thì chứng minh được, như bà góa này vừa làm. Đã yêu mến như thế thì chắc chắn là yêu bằng cả trái tim rồi.(x.Tĩnh tâm với sách Tin mừng Maccô, Lm Giuse Nguyễn Công Đoan).
     Bà góa đã dâng cúng với tất cả tấm lòng thành, với niềm tin và bằng lòng mến nồng nàn đối với Thiên Chúa. Bà dâng cúng hai đồng tiền kẽm, tuy nhỏ nhất nhưng đó là tất cả những gì thiết yếu cho cuộc sống của bà, như thế bà đã dâng cả mạng sống. Nhìn cung cách dâng cúng của bà, Đức Giêsu đã khen: “Bà góa nghèo khó này đã bỏ vào hòm tiền nhiều hơn mọi người”.
     Chiêm ngắm hai thái độ, hai hành động của bà goá trong Cựu Ước và Tân Ước, họ có chung một điểm đó là tấm lòng chân thành khi cho đi và tâm hồn hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Kết quả là họ không mất gì cả mà được tất cả. Bà goá ở Xarépta được một hủ bột không cạn và bình dầu không vơi. Bà goá nghèo trong Tin Mừng tuy không biết kết quả sau này thế nào nhưng việc làm của bà lại đẹp lòng Thiên Chúa, như vậy đã đủ đối với một con người tin tưởng phó thác vào Chúa.
     Đây là sứ điệp Lời Chúa gởi đến chúng ta hôm nay: Con hãy sống và hành động chân thành, nhiệt tâm và tin tưởng. Nếu con giúp đỡ ai, con hãy giúp đỡ cách thành tâm và hết lòng, theo khả năng con có thể. Nếu dâng cúng tiền của hay bất cứ điều gì cho Thiên Chúa và Giáo Hội, con hãy dâng cúng theo khả năng của con, nhưng phải dâng một cách thành tâm. Bởi vì trước mặt Thiên Chúa, của lễ cũng như số lượng của lễ hoàn toàn không quan trọng. Chính tâm tình con thảo và tấm lòng tin tưởng của con mới là điều Thiên Chúa muốn.      Ðối với của lễ dâng cúng, không phải lễ vật và trị giá của nó, mà chính là sự chân thành và lòng tin của con mới là điều quan trọng và đáng kể.
    Đối với Thiên Chúa, lễ vật dâng tiến không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, mà là với cả tấm lòng. Cách cho quý hơn của cho. Của cho kèm theo tấm lòng là của cho quý hóa nhất.
     Yêu mến thì phải cho. Nhưng của cho không bằng tấm lòng người cho. Và cho chính cái mình quý nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất. Bà góa đã cho nhiều nhất vì đã cho cả tấm lòng.Xét về số lượng khách quan thì số tiền một phần tư xu so với năm, ba chục ngàn hoặc từng mấy trăm ngàn hay một triệu thì thật mỉa mai, thật tức cười. Nhưng với Chúa Giêsu hai đồng tiền nhỏ của người phụ nữ vô danh lại nhiều hơn hết. Điều có nghĩa là những công việc đạo đức và từ thiện, bác ái hơn nhau ở động lực và lý do hay mục đích chứ không phải ở số lượng. Giá trị của việc dâng cúng, việc bác ái không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không, mà chính là tùy thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng.Muốn của dâng trở thành một của dâng đích thực thì phải là của dâng do lòng hy sinh. Vấn đề không nằm ở số tiền dâng mà ở cái giá người dâng phải trả, không phải là tầm cỡ của lễ vật, nhưng là sự hy sinh. Mẹ thánh Têrêsa Calcutta nói: “Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”. Thiên Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Ai không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng. Chính lúc cho đi là lúc lãnh nhận.
     Khi khen tặng bà góa nghèo, có vẻ như Chúa muốn nói rằng “Hãy nhìn, đây là một mẫu gương của một người nghèo chân thành cho đi tất cả những gì bà có vì lợi ích chung”. Đóng góp vào việc xây dựng Giáo xứ là bổn phận của mọi tín hữu. Đối với Giáo Hội, người Kitô hữu có bổn phận sống bác ái, chia sẻ và góp sức xây dựng nhà Chúa, giáo họ, giáo xứ ngày càng khởi sắc, ngày càng đi lên, ngày càng tốt đẹp. Nói thì dễ, thực hiện nhiều khi cũng có những lấn cấn, khó nói, khó làm. Trong vai trò lãnh đạo giáo xứ, tôi muốn biểu dương những công việc và hy sinh của mọi thành viên. Họ là những vị hội đồng giáo xứ, những bà mẹ mỗi chiều 3 giờ đến nhà thờ đọc kinh lòng thương xót, những ca viên, giáo lý viên, các chú lễ sinh, nhóm quét nhà thờ, người giật chuông, ông bà cao niên đọc kinh sáng tối. Những hội viên caritas, hội giúp đỡ kẻ liệt, các giới các đoàn thể… Họ là những người phục vụ theo khả năng của mình. Không có họ, giáo xứ không sinh hoạt sống động. Những đóng góp của họ dù là tiền bạc, dù là công sức đều có giá trị trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội. Rồi còn có các bà goá, những người bệnh hoạn tật nguyền, những người lao động chân tay hay trí óc. Tất cả đều cống hiến để xây dựng Giáo xứ. Chắc chắn Chúa cũng nhìn đến công lao của mỗi người và cũng khen thưởng như khen thưởng bà goá: “Thầy bảo thật anh em, người này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.
     Có lẽ tài sản quý giá nhất chúng ta có là thời giờ của mình. Đôi lúc cho đi tiền của lại là điều dễ thực hiện hơn; cái khó là cho đi thời giờ, tài năng và khả năng của mình. Hãy biết cho đi. Thương yêu là cho đi. Càng cho nhiều là dấu càng yêu thương nhiều. Không chỉ cho đi những gì là vật chất mà còn những gì là tinh thần như một nụ cười, một cái nhìn thiện cảm, một lời nói vui vẻ hiền hòa, những lời an ủi chân thành…mà còn cho đi lời cầu nguyện trong đời sống siêu nhiên.
     Trong tháng 11 này, chúng ta tưởng nhớ những người đã qua đời. Họ đang yên nghĩ, họ cần điều gì nhất? Họ cần đến lòng thương xót Chúa. Họ cần chúng ta nhớ đến họ bằng tình yêu thương của trái tim. Họ muốn chúng ta đừng quên họ nhưng hãy nhớ đến họ bằng kinh nguyện và thánh lễ.
     Họ đã bước vào cõi thinh lặng ngàn thu. Họ chỉ cần chúng ta nhớ đến và cầu nguyện. Họ muốn chúng ta cho họ những bông hoa tưởng nhớ, những nụ hoa cầu nguyện, những mật hoa bác ái, những hương hoa hy sinh.
     Người Công Giáo được khuyến khích thực hiện những điều thiết thực, như xin Lễ, dự Lễ, đọc kinh cầu nguyện, làm việc lành phúc đức… để chuyển cầu cho những người đã ra đi mà còn đang vướng mắc một vài trở ngại nào đó khiến họ chưa hoàn toàn chia sẻ vinh quang và hạnh phúc với Thiên Chúa. “Cầu nguyện cho người chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý tưởng lành thánh” (2 Mcb 12, 46; GH, 50). Khi cầu nguyện cho họ, chúng ta không chỉ giúp họ, mà còn làm cho lời họ chuyển cầu cho chúng ta hiệu quả hơn” (GLCG, số 958). Những việc lành phúc đức cho chúng ta một cảm giác hạnh phúc và ý nghĩa bởi vì thân nhân của chúng ta đã và sẽ còn được tưởng nhớ đến mãi.
     Trên giường hấp hối, mẹ Monica đã nhắn nhủ con trai Augustinô: “Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh”.
     Tháng 11, tháng cuối năm phụng vụ. Tại các nghĩa trang, người tín hữu thường đến thắp nhang, cắm cành hoa tươi, đọc kinh cầu nguyện trước phần mộ người đã qua đời. Người còn sống cầu nguyện cho người đã chết. Người đã an giấc ngàn thu nhắn nhủ người đang sống về lý lẽ cuối cùng của cuộc sống làm người. Bầu khí phụng vụ tháng 11 hướng về cùng đích của cuộc sống làm người. Đó chính là Cánh Chung.
     Trong suốt tháng các linh hồn này, hãy chân thành và tin tưởng dâng mọi ý nguyện và những hy sinh của chúng ta để cầu nguyện cho người thân và mọi người quá cố. Ước gì những lời cầu nguyện và hy sinh ấy cũng nuôi dưỡng và củng cố niềm hy vọng của chúng ta vào cuộc sống mai hậu, và nhờ đó mang lại ý nghĩa cho cuộc sống hàng ngày.

 
CÁI NHỎ CHỨNG TỎ CÁI TO

Trầm Thiên Thu


     Có lần đề cập sự lo lắng và tin tưởng, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Việc nhỏ nhất mà anh em còn làm không được, thì anh em lo lắng về những việc khác làm gì?” (Lc 12:26) Và khi nói về việc trung tín trong cách sử dụng tiền của, Ngài nói: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.” (Lc 16:10)
     Người ta coi thường cái lỗ thủng nhỏ nhưng bất ngờ con thuyền bị đắm. Kiến tha lâu cũng đầy tổ, đó là vấn đề tích cực. Miệng ăn núi lở, đó là vấn đề tiêu cực. Những cái nhỏ có vẻ chẳng đáng gì nhưng lại rất quan trọng. Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch mà thuận, nhỏ mà vĩ đại, ít mà dồi dào, bình thường mà rất khác thường.
     Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã tốn nhiều công sức để phân định xem một ly nước “BỊ cạn một nửa” hay “ĐƯỢC đầy một nửa.” Bị hay Được cũng là dạng thụ động, ngoại ngữ chỉ có thể diễn tả một kiểu, còn Việt ngữ có thể diễn tả hai cách – cái tốt gọi là Được, cái xấu gọi là Bị.
     Cách suy nghĩ cũng khác nhau về cách nhìn vấn đề. Người bi quan thấy ly nước BỊ CẠN MỘT NỬA và họ LO SỢ nước sẽ tiếp tục cạn, người lạc quan thấy ly nước ĐƯỢC ĐẦY MỘT NỬA và họ HY VỌNG nước sẽ được đổ thêm cho đầy hơn. Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà qua đó, chúng ta nhìn mọi sự xảy ra. Cái ly trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái ly trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn.
     Vấn đề nhỏ – to cũng “dính líu” con người. Trong xã hội, người ta tự phân chia đa cấp – người trọng, kẻ khinh. Ngày xưa, một dạng bị coi thường là người góa bụa. Góa là tình trạng của một người đã lập gia đình nhưng chết vợ hoặc chết chồng, nhưng người ta thường có ý nói về phụ nữ: Bà góa, góa phụ, quả phụ hoặc sương phụ. Góa phụ và quả phụ đều là phụ nữ chết chồng – có thể có con hoặc không, và có khác một chút xíu: Quả phụ là người còn trẻ, góa phụ là người đã luống tuổi. Kể cũng lạ, “gà trống nuôi con” thì người ta thấy thương cảm, còn “gà mái nuôi con” thì người ta lại thấy… bình thường! Loại phụ nữ góa bụa thường bị xã hội coi thường, xưa cũng như nay, vì vậy mà họ cũng thường cảm thấy cô độc và tự ti mặc cảm. Thế nhưng Chúa Giêsu lại chú ý và đề cao “giai cấp” khốn khổ này.
Thân phận không ảnh hưởng cách sống. Thật vậy, trình thuật 1 V 17:10-16 kể về một bà góa tốt bụng đã nuôi ngôn sứ Êlia 
     Ngày đó, sau một thời gian hạn hán, Đức Chúa bảo ông Êlia đi Xarépta thuộc Siđôn, và ở lại đấy, rồi sẽ có một bà góa ở đó nuôi ông. Thế là ông đi ngay. Vừa đến cổng thành, ông thấy có một bà góa đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và xin nước uống. Bà ấy liền đi lấy nước cho ông, rồi ông bảo bà cho ông xin miếng bánh. Bà lấy danh Thiên Chúa mà thề rằng bà không có bánh, chỉ còn nắm bột và chút dầu trong vò, bà đi lượm vài thanh củi về nhà nấu nướng cho mẹ con bà ăn bữa cuối rồi chờ chết. Ông Êlia bảo bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói, nhưng trước tiên hãy làm một chiếc bánh nhỏ cho ông ăn trước, sau đó làm cho mẹ con bà. Ông nói rằng Thiên Chúa đã hứa hũ bột sẽ không vơi và vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Ngài đổ mưa xuống trên mặt đất.
 
     Không chú đắn đo, bà góa làm theo lời ông Êlia. Bà góa này thực sự đạo đức. Cả mẹ con bà và ông Êlia có đủ ăn lâu ngày, vì hũ bột không hề vơi và vò dầu chẳng hề cạn, đúng như lời Đức Chúa đã hứa. Phép lạ nhãn tiền.
     Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm như vậy, bởi vì duy nhất một mình Ngài là Tạo Hóa chứ chẳng có thần linh nào khác. Người Việt chúng ta, kể cả những người không tin vào Thiên Chúa, thường cầu xin khi trời nắng lâu ngày: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm.” Cuộc sống cho thấy rằng El Niño hay La Niña thì chúng ta cũng đều khổ sở, vì khô quá hoặc ướt quá cũng bất thường, bất ổn!
     Theo tiếng Tây Ban Nha, El Niño nghĩa là “bé trai,” có ý nói đến Chúa Hài Đồng. Trung bình cứ 3-10 năm, ngư dân vùng biển ở Peru lại thấy nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đó là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kỳ và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như lớn. Người ta gọi đó là hiện tượng El Niño để đánh dấu thời điểm nó xuất phát gần dịp Giáng Sinh. Còn La Niña nghĩa là “bé gái,” hiện tượng này trái ngược với El Niño. La Niña thường bắt đầu hình thành từ tháng Ba đến tháng Sáu hằng năm, ảnh hưởng mạnh nhất vào cuối năm cho tới tháng Hai năm sau. La Niña xảy ra ngay sau khi hiện tượng El Niño kết thúc. El Niño là hiện tượng nước biển tăng độ nóng, La Niña là hiện tượng nước biển tăng độ lạnh – còn gọi là El Viejo hoặc Anti-El Niño. 
     Thiên Chúa nhân hậu nhưng cũng công bằng. (x. 1 Pr 1:17; Rm 2:2; Kh 19:11) Thánh Vịnh gia cho biết: “Thiên Chúa xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn. Chúa giải phóng những ai tù tội, Chúa mở mắt cho kẻ mù loà. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính.” (Tv 146:7-8) Ngài giàu lòng thương xót, yêu thương mọi người, không phân biệt và không thiên vị ai, đặc biệt xót thương những người bị xã hội ruồng bỏ: “Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở, Sion hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.” (Tv 146:9-10)
 
     Chúa Giêsu đã tự hạ đến tột cùng và yêu thương chúng ta đến cùng, yêu thương đến muôn đời. Thánh Phaolô minh chứng: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng NGƯỜI ĐÃ VÀO CHÍNH CÕI TRỜI, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa CHUYỂN CẦU CHO CHÚNG TA. Người vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh.” (Dt 9:24-25) Hy lễ của Đức Giêsu Kitô chỉ một mà trọn vẹn tất cả, nhưng Ngài vẫn chấp nhận tiếp tục chịu đau khổ vì chúng ta. Thật kỳ diệu vô cùng!
 
     Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Người đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần để TIÊU DIỆT TỘI LỖI bằng việc hiến tế chính mình. Phận con người là PHẢI CHẾT MỘT LẦN, rồi sau đó CHỊU PHÁN XÉT. Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để CỨU ĐỘ NHỮNG AI TRÔNG ĐỢI NGƯỜI.” (Dt 9:26-28)
 
    Có sự trùng hợp thú vị: Cuối Năm Phụng Vụ cũng là thời điểm cuối năm đời thường. Cuối năm như lời nhắc nhở mỗi chúng ta về đoạn cuối cuộc đời của mình – không chỉ đối với người già mà cả người trẻ. Sắp hết năm và chắc chắn sẽ hết, cuộc đời cũng sẽ hết và chắc chắn chúng ta sẽ chết. Chuyện nhỏ hay to, bình thường hay đặc biệt? Chết rồi còn gì chăng? Mọi thứ vật chất chúng ta sở hữu sẽ thuộc về người khác, chỉ những gì chúng ta trao tặng thì còn lại mãi với chúng ta. Đó là các nhân đức và công phúc, đặc biệt là đức ái, vì đức ái còn mãi mãi: “Lúc hiến thân là lúc nhận lãnh, lúc quên mình là lúc gặp lại chính mình.” (Thánh Phanxicô Assisi)
 
     Trình thuật Mc 12:41-44 (≈ Lc 21:1-4) nói về việc dâng cúng của bà góa nghèo, tức là đề cập việc trao tặng, biếu hoặc cho. Điều này cho thấy rằng động từ “cho” là động từ quan trọng lắm: “CHO thì có Phúc hơn là NHẬN.” (Cv 20:35) Thật vậy, “hãy làm mọi sự vì Đức Ái.” (1 Cr 16:14)
 
     Một hôm, Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền, cũng có một BÀ GÓA NGHÈO đến bỏ vào đó HAI ĐỒNG TIỀN KẼM – trị giá 1/4 đồng xu Rôma. Đồng kẽm (số ít: lepton, số nhiều: lepta) là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất thời La Mã. Khi lưu hành ở Palestine, 1 lepton trị giá khoảng 6 phút làm công theo lương trung bình mỗi ngày. Thực tế rất đời thường, nhưng Đức Giêsu dùng sự thật này để dạy bài học vô giá: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng NHIỀU HƠN AI HẾT. Quả vậy, mọi người đều rút từ TIỀN DƯ BẠC THỪA của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, TẤT CẢ NHỮNG GÌ BÀ CÓ để nuôi sống mình.” Bà góa nghèo bị người ta khinh miệt nhưng bà lại là “thầy dạy” của chúng ta về cách làm việc từ thiện.
 
     Chúa Giêsu đề cao bà góa với ngụ ý chỉ trích giới lãnh đạo Do Thái giáo là những kẻ đạo đức giả, họ dâng cúng chỉ để người khác chú ý và được tôn trọng. Ngài có chỉ trích chúng ta? Liệu chúng ta có cảm thấy thanh thản?
 
     Dâng cúng là điều cần thiết, rất tốt. Điều răn thứ năm của Giáo Hội có đề cập. Tuy nhiên, những gì chúng ta gọi là “việc thiện” hoặc “việc đạo đức” thì phải thực sự có “chất” đạo đức và thánh thiện. Có lẽ chúng ta cần cảnh giác mà đặt vấn đề, kẻo “chưa rối đạo mà lại rối việc đạo!”
 
     Thế nào là nhỏ hay to? Ông A dâng cúng bạc tỷ thì nhận bằng ân nhân đặc biệt, bà B dâng cúng vài chục triệu thì nhận bằng ân nhân bậc I, II hoặc III, anh C dâng cúng vài triệu thì nhận bằng ân nhân bình thường, còn chị D không ai chú ý vì chị không có nhiều tiền để dâng cúng, chị ngó trước ngó sau rồi vội vàng bỏ vài chục ngàn đồng vào thùng ở cuối nhà thờ. Sợ người ta nhìn thấy nên chị rất ngại!
 
     Lạy Thiên Chúa cảnh báo chính trực, xin giúp chúng con sống thật và hành động đúng, xin để đừng để chúng con “ra vẻ” để được người khác chú ý, xin tận diệt mọi thứ xấu xa trong chúng con, dù chỉ là ý nghĩ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.


 


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...