18/03/2023
1256

CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY_A

Lời Chúa: 1Sm 16,1b.6-7.10-13a;  Ep 5,8-14;  Ga 9,1-41
-----------------------------------

Mục lục

  1. Tất Cả Vì Yêu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Thầy Là Ánh Sáng Thế Gian (Bông Hồng Nhỏ, MTG.Thủ Đức)
  3. Ánh sáng  (Jorathe Nắng Tím)
  4. Chứng mù đáng sợ  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  5. Ánh sáng niềm tin  (Bông Hồng Nhỏ, MTG.Thủ Đức)
  6. Hãy mở ra  (Anna Cỏ May,  MTG.Thủ Đức)
  7. Con mù lòa, Chúa làm cho sáng (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)
  8. Ánh sáng đức tin (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
  9. Ánh sáng và bóng tối (Lm. Thái Nguyên)
  10. Mù mờ  (Lm Vũ Đình Tường)
  11. Hãy để đôi mắt được thắp sáng  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)
  12. Một thứ mù đáng sợ (Lm. Inhaxio Trần Ngà)
  13. Màu Hồng của chúng ta (Lm. Bosco Dương Trung Tín)
  14. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 4 Mùa Chay_A (Lm. Inhaxio Hồ Thông)
  15. Nhãn quan  (Trầm Thiên Thu)

TẤT CẢ VÌ YÊU

Tuần 4 mùa chay-A: Ga 9, 1-41

Lm. Jos. DĐH, Gp. Xuân Lộc

Đau khổ, thất bại, cuộc sống mất định hướng, ai chẳng mong được trợ giúp, được tham mưu, vấn kế, với hy vọng sẽ có một kết quả tốt đẹp. Thành đạt, cuộc sống ổn định, có phải người ta vẫn mơ ước sự trợ giúp: để được uy danh, để được nổi tiếng ? Dù là tình đời, tình người, tình máu mủ ruột thịt, hoặc tình đôi lứa, thì mục tiêu hướng tới chính là hạnh phúc. Người xưa có câu: người bạn tốt là người bạn khi ta cần thì họ xuất hiện, trong khi những kẻ khác bỏ đi, sợ phải liên luỵ ! Đồng ý rằng, ai cũng có tự do chọn lựa, được nhắc nhớ nghĩ tốt, nói tốt, trong các tương quan, dù hoàn cảnh sống mỗi người mỗi khác. Giầu nghèo, khôn hay khờ, khoẻ mạnh hoặc ốm yếu, tất cả chỉ tồn tại trong tình yêu, mọi thứ rồi tan biến theo quy luật thời gian. Nghịch cảnh, khổ đau, khiến một số gục ngã, nghịch cảnh cũng tác động số khác kiên cường, phá vỡ kỷ lục thế giới.

Thưa Thầy: mù loà, câm điếc, bại liệt, ngu dốt, là do hậu quả tội lỗi, đó là hình phạt chính đáng, đúng không ? Đức Giêsu quả quyết, không phải thế: “không phải anh ta tội lỗi, cũng không phải cha mẹ anh phạm tội, mà là để công viêc Thiên Chúa tỏ ra nơi người mù từ lúc mới sinh”. Đức Giêsu quan tâm đến sứ mạng yêu thương, trong khi các môn đệ, và số đông chúng ta, luôn bị ám ảnh bởi hình phạt, vì những ưu ái bên ngoài. Lời khuyên của các chuyên gia: hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ lui ra sau bạn. Hãy nhìn những việc làm tốt đẹp của người anh chị em, ta sẽ buông bỏ được những suy nghĩ tiêu cực về người ta không ưa thích. Trước khi mở mắt người mù, Đức Giêsu nói: “bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian”. Trước khi gặp Đức Giêsu, cuộc đời của anh mù chỉ là bóng đêm, khổ đau, ngồi xin ăn, nhưng tâm trí anh không mất niềm hy vọng về một ngày tươi sáng.

Tất cả cơ hội, niềm vui có thể đến với ta bất cứ lúc nào, tất cả đau khổ hạnh phúc, mất và được, sống và chết, tội lỗi hay thánh thiện, đều tuỳ thuộc sự tự do chọn lựa của ta. “Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Đấng đã sai Ta”. Trước khi mở mắt người mù, Đức Giêsu có ý nói tất cả việc làm phải phát xuất từ tình yêu. Bao lâu còn sống trên trần gian, chúng ta còn có thời gian suy xét về sự thánh thiện, hay sự giới hạn đầy bất xứng của mình. Khoa học phát triển, giới y bác sĩ hôm nay chữa được nhiều bệnh tật hiểm nghèo, nhưng người mù từ khi mới sinh, hẳn chỉ Đức Giêsu mới chữa trị được. Sứ mạng của Đức Giêsu là mở mắt tâm hồn, mở mắt đức tin, hôm nay Ngài còn mở mắt thể lý, mở ra nhiều hy vọng, tất cả vì yêu, chắc chắn không phải vì tiền hay vì danh.

Tất cả là hồng ân, tất cả vì yêu, tất cả vì muốn hạnh phúc cho con người, Đức Giêsu thực hiện quyền năng giữa “thanh thiên bạch nhật”, xoa bùn lên mắt người mù và bảo: “anh hãy đến hồ Silôê mà rửa”. Câu chuyện người mù được khỏi, gây thắc mắc, liên luỵ phiền phức đến nhiều thành phần: “đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin ở đây sao ?” “Làm thế nào mà anh ta được sáng mắt ?” Khi ở trong tối tăm, anh mù chỉ im lặng trước tình thế phải ngồi xin ăn. Sau khi được sáng: anh nói năng lưu loát, công nhận Đức Giêsu là người tốt, tuyên xưng Đức Giêsu là Ngôn Sứ. Anh ta trả lời hết sức khôn ngoan trước các điều tra viên: “Ông Giêsu có phải là người tội lỗi hay không thì tôi không biết; tôi chỉ biết trước kia tôi mù, và bây giờ ông ấy đã làm cho tôi trông thấy”. Đúng như câu thành ngữ: người thật tâm, thật tình, chưa chắc đã có kết quả tốt hơn ai, nhưng khi thật tình thật tâm, bạn sẽ không bao giờ phải hối tiếc. Người mù được sáng mắt, sáng lòng, anh ta mới thực sự bước những bước đầu cho sứ vụ và ơn ban của người tin theo Đức Giêsu.

Tất cả mọi thứ đều quý ở hai thời điểm: trước khi có được và sau khi mất đi. Tất cả là ơn ban, tất cả là vì yêu, tất cả là những tác động nhằm mở mắt trí lòng anh mù, và mọi người, giúp nhau đi tới hạnh phúc thật ở phía trước. Sau khi mắt sáng, trí lòng thông suốt theo sau, biết bao tranh luận sôi nổi làm đảo lộn mọi giá trị. Người sáng mắt bỗng dưng như tối lại, kẻ tự cho mình thông biết lại đuối lý, anh mù Bartimê cho ta cảm nhận: khi trí lòng sáng, người ta sẽ hiểu tình Chúa và tình người luôn hiện diện trong các tương quan. Không phải chỉ anh mù Bartimê được yêu thương, mà tất cả các luật sĩ biệt phái và chúng ta đều được thương yêu, được có điều kiện để thích nghi với tình hình mới. Hãy lưu tâm đến lý trí tự do mà ta đang có, hành động đúng đẹp sẽ nói lên điều ta cần hiểu.

Chính vì tình yêu, vì được tác động bởi ơn ban, người ta mới đủ lý lẽ để nói: “làm sao một người tội lỗi lại làm được những sự việc thể ấy ?” Tất cả vì yêu: vì không một hành động tử tế nào, dù là nhỏ bé tí teo, lại bị lãng phí. (Aesop). Tất cả vì yêu, người mù loà không thấy đường đi lối lại, nhưng anh ta lại sáng mắt tâm hồn, hết sức nhạy bén, Đức Giêsu nói đi rửa ở hồ Silôê là đi ngay, không cần phải thắc mắc, nghi ngờ… Cha ông chúng ta nói: Chúa thương ai, Chúa gởi thánh giá đến, và bằng hành động yêu thương, ai cũng có cơ hội để bày tỏ niềm tin, để minh chứng chúng ta vừa sáng mắt vừa sáng lòng. Chỉ khi trải nghiệm, chúng ta mới nhìn rõ trắng đen cuộc đời, mới nhận ra sức mạnh và tình yêu của Chúa đang giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin và đức ái. Amen.

Về mục lục

THẦY LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN
Ga 9, 1- 41

Bông hồng nhỏ

Hôm nay, vào dịp lễ Lều của người Do thái, Thầy Giêsu đã chữa lành cho một anh mù từ thuở mới sinh và Thầy đã tự giới thiệu “Ta là ánh sáng thế gian”. Từ khi được Thầy Giêsu chữa lành đôi mắt thể xác, anh mù đã trải qua một hành trình đầy thử thách để đón nhận đức tin, trở thành môn đệ của Thầy Giêsu và bước theo Người. Có thể nói, từ khi anh có liên hệ đến Thầy Giêsu, cuộc đời của anh đã từ đêm đen bước ra ánh sáng: từ chỗ chỉ biết một người tên là Giêsu đến chỗ nhìn nhận Người là vị ngôn sứ, một “người kính sợ Thiên Chúa”, “người được Thiên Chúa sai đến”, và cuối cùng hoàn toàn “tin vào Con Người”. Thầy Giêsu là ánh sáng thế gian, ai đến với Người sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống (x. Ga 8, 12).

Vừa nhìn thấy anh mù đang ngồi ăn xin, các môn đệ liền hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” (Ga 9, 1). Thầy Giêsu đã phủ nhận lối suy nghĩ cho rằng tình trạng bị mù là hậu quả của tội lỗi của ai đó, khi nói: “không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy”. Người sẽ chữa lành cho anh, ban ánh sáng cho đôi mắt thể lý và từng bước để anh đón nhận ánh sáng đức tin. Khi được Thầy Giêsu trộn một chút bùn, xức vào mắt, rồi bảo: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.” Nghe lời Thầy, anh mù đã đi, đã rửa và nhìn thấy. Lúc anh lắng nghe lời Thầy và làm theo, ta không nghe thấy anh mù van xin để được chữa lành theo như kiểu anh muốn, ta không nghe anh đối thoại với Thầy Giêsu để nài ép người chữa anh lành theo cách anh nghĩ là tốt nhất. Ta chỉ thấy anh đã lần mò tìm đến hồ Silôác để rửa. Cho đến khi được sáng mắt, anh vẫn chỉ biết “một người tên là Giêsu” đã chữa lành cho mình. Khi đối diện với những câu hỏi của người khác, anh cho họ biết, chính anh cũng không biết Người ở đâu. Anh được gặp Người trong một cuộc gặp gỡ tình cờ và anh cũng chưa một lần nói chuyện hay nhìn thấy vị đại ân nhân của đời mình. Thầy Giêsu đã chạm đến đôi mắt thể xác của anh và rồi đây Người cũng sẽ chạm đến tâm hồn anh.

Người ta dẫn anh mù đến với những người Pharisêu. Ta không biết anh tên gì, chỉ thấy người ta gọi anh là anh mù, dù bây giờ anh đã sáng mắt. Phải chăng, người ta chỉ nhìn thấy tình trạng mù lòa của anh, chẳng cần biết anh tên gì, vì một kẻ tội lỗi thì không đáng được nhắc đến. Những người Pharisêu thẩm tra anh về việc anh được sáng mắt. Trước những câu hỏi của họ, anh nhìn nhận Đức Giêsu là một vị ngôn sứ. Những câu hỏi không nhằm tìm ra sự thật nhưng chủ ý bắt bẻ người đã chữa lành. Hành động chữa bệnh trong ngày Sabát của Thầy Giêsu đã khiến họ chia rẽ. Người Dothái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. Cha mẹ anh khẳng định anh là con của ông bà, bị mù từ thuở mới sinh, còn việc làm sao anh được sáng mắt thì ông bà không biết. Ông bà sợ bị trục xuất khỏi hội đường nên thoái thác, không trả lời. Ngay cả cha mẹ cũng từ chối bênh vực anh vì sợ, điều đó khiến anh phải tự mình bước đi trước áp lực của dư luận, trước mối đe dọa từ giới lãnh đạo tôn giáo. Anh sẽ hành xử thế nào để làm chứng cho sự thật, bất chấp mọi đau khổ mà mình phải trải qua?

Người ta lại gọi anh mù đến và tra hỏi. Sau khi đã can đảm nói lên tiếng nói của sự thật, lên tiếng bênh vực cho Thầy Giêsu trước lời kết án của người Dothái, quả nhiên anh mù bị họ trục xuất khỏi Hội đường, trở thành người bị khai trừ. Bị trục xuất cách nhục nhã và đang bơ vơ không lối đường, một lần nữa anh được Thầy Giêsu tìm gặp. Trong lần gặp đầu tiên, chính Thầy Giêsu đã chủ động đến với anh, chạm đến anh và chữa lành cho anh đôi mắt thể xác. Hành trình đón nhận đức tin của anh được khởi đi từ đây. Từ khi cuộc đời anh liên hệ đến Thầy Giêsu, anh được đón nhận niềm sướng vui hạnh phúc từ hồng ân Thầy ban, và cũng chính vì liên hệ với Thầy, anh gặp phải những rắc rối, nguy hiểm và cuối cùng bị trục xuất khỏi Hội đường vì dám làm chứng cho sự thật. Cho đến lúc này, anh chưa phải là người tin vào Thầy Giêsu, chỉ đến khi Thầy Giêsu chủ động tìm gặp anh, Người đã giúp anh đón nhận đức tin. Anh đã được gặp lại Người, đã biết Người là Đấng nào, để rồi anh đã thưa lên lời tuyên xưng của mình: “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. Như thế, đức tin chính là hồng ân nhưng không mà Thiên Chúa ban tặng cho mỗi người. Chính Thiên Chúa chủ động tìm kiếm con người, đồng hành với họ trong suốt hành trình cuộc đời để làm cho đức tin của họ đạt đến mức trưởng thành. Điều quan trọng là con người phải biết mở lòng ra đón nhận hồng ân đức tin, không thành kiến, không cứng lòng.

Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã luôn đi bước trước để đến với con, đồng hành và nâng đỡ con trong cuộc đời. Xin Chúa đốt lên trong con ngọn lửa yêu mến Chúa, ban cho con ơn can đảm dám sống và làm chứng cho Chúa giữa cuộc đời, dù phải trả giá bằng đau khổ và đắng cay. Con tin, Chúa vẫn ở kề bên con và ban tràn Thánh Thần trên con, giúp con biết phải nói gì và làm gì để đẹp lòng Chúa. Xin Chúa cho con biết đến với Chúa để luôn được bước đi trong Ánh sáng của Đấng ban sự sống. Amen.

Về mục lục

ÁNH SÁNG

Jorathe Nắng Tím

Có thể nói : Tin Mừng Gioan là tin mừng Ánh Sáng, vì ngay phần đầu của Tin Mừng, thánh Gioan đã phấn khởi ca tụng Ánh Sáng : “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời … Và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,1-4).

Ánh sáng ấy được Ngôi Lời đem đến cho nhân loại, cho từng người, như người mù từ lúc mới sinh đã được Đức Giêsu chữa lành để nhìn thấy ánh sáng (x. Ga 9).

Nhìn những người anh em khiếm thị, chúng ta thấy họ vẫn sống, nhưng sự sống của họ luôn bị đe đọa vì không thấy đường, mà đường đi đầy những chướng ngại có thể làm họ té ngã, bị thương và có thể chết, vì đập đầu vào đá, vào tường, rơi xuống hố rãnh, sông rạch, hoặc bước vào lửa đang cháy nóng ; anh em khiếm thị vẫn có thể sống, nhưng sống trong lo lắng vì không thấy những nguy hiểm rình rập quanh mình.

Vì thế, cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người mù từ thuở mới sinh được Tin Mừng Gioan kể lại là một hẹn hò mang tính sinh tử. Trong cuộc hẹn này, Đức Giêsu đã đưa anh mù từ bóng tối của những đe doạ, hiểm nguy đưa đến sự chết vào vùng ánh sáng của sự sống được đảm bảo, bình an.

Trong cuộc hẹn hò sinh tử này, chúng ta thấy cuộc chiến rất gay go giữa ánh sáng và bóng tối, giữa đức tin của người mù được sáng mắt và những người biệt phái tuy mắt sáng nhưng cứng lòng không đón nhận Đức Giêsu là “Ánh Sáng Muôn Dân” (Ga 8,12).

  1. Cuộc chiến trường kỳ và căng thẳng giữa Ánh Sáng và Bóng Tối :

Vừa rời khỏi Đền Thờ để tránh cơn mưa đá của những nngười Do Thái qúa khích, Đức Giêsu “nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh” (Ga 9,1) thường ngày ngồi ăn xin bên lề đường (x. Ga 9,8), và Ngài chữa anh khỏi đui mù, khi “nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa. Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được” (Ga 9,6-7).

Chắc chắn anh hạnh phúc, vui mừng lắm, vì lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy ánh sáng, được chiêm ngắm trời đất, thiên nhiên, con người, nhất là được nhìn thấy cha mẹ, anh chị em, họ hàng thân thuộc. Và cũng có nhiều người đã đến chung niềm vui với anh.

Nhưng bên cạnh những người đang vui với niềm vui được sáng mắt của anh, đã có những người như các ông Pharisêu đã không vui vì anh được chữa lành, đã không hài lòng vì anh được nhìn thấy, đã không bình an khi anh được Đức Giêsu làm phép lạ ban cho ánh sáng. Họ là những người đang bực tức, căm giận, chỉ vì anh được chữa lành, và được sáng mắt. Nhưng chính trong hoàn cảnh này, anh có dịp công khai tuyên xưng đức tin của anh vào Đức Giêsu, người đã cứu chữa anh ra khỏi bóng tối.

Trước nhóm Pharisêu hùng hổ vặn hỏi, và không ngớt đe đọa, anh luôn giữ một lập trường : kể lại chính xác những gì Đức Giêsu đã làm và đã nói với anh : “Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa’. Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy” (Ga 9,11). Bị chất vấn : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị Ngôn Sứ !” (Ga 9,17).

Những người Do Thái ghét Đức Giêsu còn mắng nhiếc anh thậm tệ và hạ uy tín của Đức Giêsu khi chụp mũ, lên án Ngài là người tội lỗi, cốt đế anh nghi ngờ, không tin Ngài là Đấng đến từ Thiên Chúa (x. Ga 9,24-33). Họ còn áp đảo tinh thần cha mẹ anh, bằng đe dọa : “trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô” (Ga 9,22).

Sau cùng, vì không chịu nổi tính bất khuất, lòng biết ơn và niềm tin sắt đá của anh, nhóm Pharisêu và những người Do Thái về phe họ đã vô cớ ra án cho anh : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?. Rồi họ trục xuất anh” (Ga 9,34).

Đức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Đức Giêsu trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người” (Ga 9,35-38).

Qủa thực, anh mù bẩm sinh được Đức Giêsu chữa lành đã trải qua nhiều thử thách gây ra bởi những người Biệt Phái ganh ghét Đức Giêsu, và quyết tâm trừ khử Ngài. Vừa được sáng mắt sau bao nhiêu năm mù lòa, anh tưởng sẽ được bình an, hạnh phúc với mắt sáng như mọi người, nào ngờ cả một thế lực tôn giáo tấn công anh, bắt anh phải phủ nhận phép lạ anh vừa nhận, ép anh phải từ chối hồng ân từ tay người có tên Giêsu, đối thủ số một của những người đang o ép, khống chế, mua chuộc, gài bẫy anh phải nói dối, cũng như ráo riết “mớm cung” để anh phải bóp méo, bức tử “sự thật” bằng không nhận đã được Đức Giêsu “trộn một chút bùn, xức vào mắt, rồi bảo : Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa”, nhất là không được to tiếng công bố với niềm xác tín : “Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy” (Ga 9,11).

Anh đã phải chiến đấu cam go trước cám dỗ được yên thân, được cơ chế tôn giáo ủng hộ, được đám đông tuyên dương, để có thể nói thật điều mình nghĩ đúng, nói đúng điều mình nghĩ thật, khi công khai “kể đúng” những gì Đức Giêsu đã “thật sự” làm cho anh, và nhắc lại “đúng” những lời của người chữa lành mắt đã “thực sự” nói với anh. Anh phải chiến đấu vất vả vì lực lượng hùng hậu, và ma mãnh của Bóng Tối đã không chấp nhận Ánh Sáng được trả lại cho anh, vì Bóng Tối muốn mãi mãi thống trị anh, và không muốn anh đón nhận Ánh Sáng như hồng ân.

Những năm tháng mù loà, anh không thể mường tượng thế nào là ánh sáng, vì bóng tối với thời gian đã làm anh quen và không còn thấy xa lạ, khó chịu, bực bội với bóng tối, như người sống nhiều năm trong hang động, hay lâu ngày bị giam cầm dưới hầm tối sẽ lảo đảo, té nhào phút đầu tiếp cận ánh sáng, nên khi có ánh sáng ùa vào cuộc đời, anh cũng phải dũng cảm chiến đấu để Vượt Qua bóng tối, đi vào Ánh Sáng, chứ không ngoan cố ở lì trong bóng tối và không chịu thoát ra.

  1. Kết qủa khác biệt giữa Ánh Sáng và Bóng Tối :

Anh mù được chữa lành đã thấy ánh sáng, và khi đón nhận ánh sáng, anh đã nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã cứu anh khỏi bóng tối mù loà.

Đấng ấy đến để ban ánh sáng cho nhân loại, nhưng không phải tất cả mọi người đều mở lòng đón nhận ánh sáng như anh. Bằng chứng là những người Pharisêu và nhiều người Do Thái có mặt hôm đó đã lên tiếng phủ nhận phép lạ ánh sáng của Đức Giêsu khi Ngài chữa lành anh, mặc dù phép lạ đã xẩy ra tỏ tường, và họ kiểm chứng được tận mắt, tận tay, tại chỗ.

Đó là lý do thánh Gioan Tông đồ đã nhấn mạnh trong phần mở đầu Tin Mừng : “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,9-11). Cũng như chính Đức Giêsu đã khẳng định, trước những ngoan cố, và phủ nhận Ánh Sáng của nhóm Pharisêu và những người Do Thái cứng lòng : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy đuợc thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !” (Ga 9,39).

Nhìn vào anh mù được chữa lành, chúng ta thấy anh là người thiện tâm, khi lương thiện đón nhận “hồng ân được sáng mắt” được ban từ tay người có tên Giêsu, mà sau đó anh đã tuyên xưng niềm tin ở Ngài và sấp mình bái lậy (x. Ga 9,38). Chính nhờ mở lòng đón nhận hồng ân ánh sáng, Thiên Chúa đã cho anh được gặp Ngài, nhận ra Ngài và thờ lậy Ngài. Cũng chính vì nhận ra ơn Thiên Chúa ban cho mình, mà anh được bình an, dũng cảm để làm chứng bằng nói lên sự thật Thiên Chúa đã làm cho anh, trước mọi thách đố, cạm bẫy, cám dỗ, thử thách của ác nhân.

Bên cạnh ơn bình an của đức tin, anh còn nhận được hoa trái ngon ngọt của Ánh Sáng là Lương Thiện, Công Chính và Chân Thật như thánh Phaolô đã ân cần nhắc bảo các tín hữu Êphêsô : “Anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng ; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5,8-9).

Ngược lại, khi nhìn vào những người chống lại ánh sáng, tức chống lại Đức Giêsu, như nhóm Pharisêu, chúng ta thấy họ không tin, dù đã thấy tận mắt, đã sờ tận tay ; thấy họ không bình an, nhưng bất an, bất ổn, tâm hồn bấn loạn vì hận thù, ganh ghét, khi tìm đủ cách ngụy tạo, vu khống, thúc giục người này người kia làm chứng gian, nói dối, bóp méo sự thật, như họ đã  điên cuồng làm áp lực trên anh mù và gia đình anh.

Chúng ta cũng thấy ở những người từ chối ánh sáng này con người và thái độ không chút “lương thiện, công chính và chân thật”, qua tư tưởng bất chính, lời nói  xảo quyệt, và việc làm gian ác, khi tìm mọi cách tận diệt niềm tin của anh mù vào Đức Giêsu, và giập tắt ánh sáng anh vừa nhận được như hồng ân vô cùng lớn lao từ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.

Vâng, như anh mù được sáng mắt, nhờ bí tích Thanh Tẩy và Thêm Sức, chúng ta được Thiên Chúa cho sáng mắt, được lớn lên và xứng đáng hơn mỗi ngày với ơn huệ làm con cái Ánh Sáng, khi thấy tất cả mọi người, mọi sự chung quanh mình, và nhìn mọi biến cố xẩy ra hằng ngày theo cái nhìn của Thiên Chúa, và dưới cái nhìn của Thiên Chúa. Nhờ đó, chúng ta không ngủ mê trong bóng tối, nhưng trỗi dậy dưới ánh sáng rạng ngời của Đức Giêsu (x. Ep 5,14), Ánh Sáng cứu độ của Thiên Chúa, Ánh Sáng cứu chuộc muôn dân.

Về mục lục

CHỨNG MÙ ĐÁNG SỢ

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Có đôi mắt sáng để thấy là một điều diễm phúc để nhìn thấy bao điều kỳ diệu trong thiên nhiên. Thế nhưng, những người khiếm thị thì sao, họ cũng cảm nghiệm được khung trời bao la, những cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, những con người đáng yêu và những khuôn mặt đau khổ. Không bằng đôi mắt nhưng bằng tâm hồn cảm nghiệm nhạy bén.

Chúa mở đôi mắt cho người mù không chỉ để cho mắt sáng, nhưng chỉ ra điều quan trọng, ánh sáng xua tan bóng tối.

Dù người mù không thấy về thể lý bằng đôi mắt, thế nhưng cũng không kết luận được sự mù tối của tâm hồn và đôi khi sự mù tối về tâm hồn của người sáng mắt còn tệ hại hơn.

Người Việt thường hay nói: “Cho sáng mắt ra!” như ám chỉ đến điều ngu dại của kẻ lầm lì trong sự mờ tối của mình. Không chịu học điều khôn ngoan nơi sách thánh hiền, hoặc chịu khó học nơi người khôn ngoan, những kiến thức cơ bản thường thức. Người lười biếng thường gặp nhiều trắc trở bởi những điều khó lường trước ở tương lai.

Chúa mở cho đôi mắt.

Không chỉ người mù Chúa mở cho đôi mắt để thấy mà ngay những người có đôi mắt sáng cũng cần Chúa mở cho đôi mắt để nhận ra Chúa đang ở với họ. Như người mù thành Giêrikhô ngồi bên vệ đường hành khất, chỉ nghe người ta nói Chúa đi qua, anh Bartimê cũng nhận ra Chúa và kêu lên: “Lạy con vua Đavit xin thương xót con” (Mc 10, 47).  Anh Bartimê tuy mù nhưng nhận ra Chúa, còn những người sáng mắt đang đi bên cạnh Chúa lại không nhận ra Người.

Chúa cũng mở cho đôi mắt đố kỵ, xét đoán, kết tội người khác như những người cho rằng người mù từ bẩm sinh là do tội của cha ông để lại hậu quả. Người Việt cũng thường hay kết luận: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” hoặc “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”. Một phần nào đúng thôi, còn tùy thuộc vào đời sau tránh được nhờ kinh nghiệm sống “tích đức phòng thân”. Chúa Giêsu, Người cũng mở mắt cho những người kết án oan sai cho người mù, Chúa là Đấng Messia họ trông mong đang ở giữa họ, như tiên tri Isaia đã loan báo: “Thần khí Chúa ở trên tôi, bởi Người đã xức dầu cho tôi, Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho kẻ tù đày, cho người đui mù được thấy, cho kẻ bị áp bức được giải oan; loan báo năm hồng ân của Chúa.” (Lc 4, 18 – 19).

Chúa đi tìm kiếm con người, nhưng cũng cần con người nỗ lực đi gặp Chúa. Con người cần nỗ lực đi tìm gặp Chúa vì Chúa như đại dương mênh mông, con người ví như chiếc thuyền nhỏ, càng đi gặp Chúa càng thấy xa, càng thấy mới và đầy hấp dẫn. Chúa là Đấng lôi cuốn như nhiều người nói: “Người giảng dạy như Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc, 1, 21). Ngay cả các môn đệ những người theo sát Chúa với ba năm, nhiều lần hụt hẫng vì cứ tưởng như mình nghĩ, sẽ được ngồi bên trái, bên phải, trong Nước Chúa. Cứ tưởng Chúa Giêsu là Thầy, là Chúa, làm sao phải chịu bắt bớ, đánh đập và bị chết, rồi sau ba ngày sống lại. Cứ tưởng Chúa chịu chết là hết, người thì trốn chạy, người thì bỏ về quê tiếp tục nghề cũ… Chúa sống lại và mở mắt cho các môn đệ và ban Chúa Thánh Thần nội tâm hóa tất cả giáo huấn Chúa Giêsu truyền dạy. Mở lòng trí cho các ngài hiểu biết về Thánh Kinh, các lời tiên tri đã viết về Người, và làm sống lại những ký ức về Chúa, thành kinh nghiệm sống động, hoàn toàn hiến thân cho sứ mạng rao truyền Tin Mừng Chúa cho mọi người.

Xin Chúa mở cho chúng con đôi mắt, lòng trí, nhận biết Chúa và biết yêu thương anh chị em mỗi ngày hơn.

Về mục lục

ÁNH SÁNG NIỀM TIN

Bông hồng nhỏ

Ngày nào cũng vậy, anh vẫn ngồi ở đây, tai lắng nghe bao điều từ cuộc sống. Cuộc đời anh là những tháng ngày dài sống trong bóng đêm dày đặc, anh là người mù từ thuở mới sinh. Anh không thể nhìn thấy dù chỉ là một tia sáng nhỏ. Anh vẫn tin mặt trời đang chiếu sáng trên anh, anh cảm nhận được cái nóng gắt của ánh nắng mặt trời đang phả lên da thịt mình. Đôi tai anh nghe rất rõ những gì người ta bàn tán về bản thân mình, về bố mẹ mình. Người ta xem anh là kẻ có tội, là một đứa con của những người tội lỗi. Có lẽ, chẳng bao giờ, anh có thể nghe được những lời yêu thương mà người khác có thể dành cho anh.

Cho đến một ngày, anh đã gặp Người. Đó là Thầy Giêsu. Thầy Giêsu đã đi ngang qua chỗ anh ngồi và Thầy đã dừng lại. Thầy dừng lại bên cuộc đời đầy cay đắng và tủi nhục của anh, Thầy cúi xuống trên nỗi đau của anh và xoa dịu nó. Các môn đệ của Thầy thắc mắc về việc anh bị mù. Phải chăng đó là do chính tội lỗi của anh hay của cha mẹ anh (x. Ga 9, 2). Những lời ấy làm cho anh thêm tê tái, anh thấy đời mình càng thêm tăm tối và anh co mình lại trong tổn thương. Giữa nhịp sống vội vã, người ta vẫn dừng lại bên đời nhau nhưng rồi họ lại vô tình gây cho nhau những tổn thương. Cũng giống như các môn đệ, không ít lần những thắc mắc của chúng ta về những người anh chị em lại trở thành những con dao vô hình đâm nát nỗi đau của họ. Đâu mới là sự nâng đỡ mà chúng ta có thể dành cho họ? Thầy nói rằng: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội” (Ga 9, 3). Lần đầu tiên có một người lạ lên tiếng bênh vực anh. Dù anh không thấy được ánh mắt trìu mến của Thầy đang dừng lại trên anh nhưng đôi tai anh nghe rõ lời Thầy nói. Lời ấy như một dòng nước trong lành chảy vào lòng anh làm vơi đi ưu phiền. Thầy nói với các môn đệ nhiều điều, anh cũng nghe nhưng tâm trí anh đã dừng lại trên lời này: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian (x.Ga 9, 5). Ánh sáng là một điều gì đó quá xa lạ với anh nhưng cũng chính là điều anh hằng khao khát.

Đã từ rất lâu, anh ao ước được nhìn thấy như một người bình thường. Niềm khao khát ấy, anh chỉ giữ riêng trong lòng mình biết. Anh nghe tiếng Thầy nói nhưng không nhìn thấy Thầy. Thế rồi, Thầy đã chạm vào đôi mắt tật nguyền của anh. Thầy xức bùn vào mắt anh. Những đụng chạm này thật ý nghĩa, đó chính là một sự vuốt ve đầy âu yếm mà lần đầu tiên anh nhận được. Theo lời Thầy căn dặn, anh lần mò tìm đến hồ Silôác để rửa. Anh đi trong sự tối tăm của đôi mắt nhưng lòng tràn hy vọng. Hy vọng chính là ánh sáng dẫn anh bước đi. Anh đã rửa và bây giờ anh nhìn thấy. Cuộc đời của anh chưa bao giờ có được một niềm vui lớn lao như thế. Anh xúc động mạnh mẽ. Anh muốn chạy thật nhanh để báo cho cha mẹ biết, muốn hét thật to để nói cho mọi người biết rằng, anh đã nhìn thấy.

Người ta thấy anh, có người nhận ra anh nhưng có người lại ngờ vực, cho rằng đó chỉ là một người giống anh (x. Ga 9, 8-9). Còn anh thì quả quyết: “Chính tôi đây!”. Người ta thắc mắc về việc anh được sáng mắt và anh đã kể lại những gì đã xảy đến cho anh. Những người Do thái không tin lời anh nói nên cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần về sự việc anh đã được mở mắt như thế nào. Anh kiên nhẫn và can đảm nói rõ cho họ biết. Anh can đảm làm chứng về ân huệ mình nhận được từ vị ngôn sứ Giêsu, và cuối cùng, vì sống và làm chứng  cho sự thật, anh bị trục xuất khỏi hội đường. Anh đã lên tiếng bênh vực cho Đấng mang lại ánh sáng cho mình. Anh gặp lại Người không phải như một sự tình cờ nhưng do bởi lòng thương xót của Thiên Chúa. Thầy Giêsu hỏi anh: “Anh có tin vào Con Người không?”, anh muốn biết Đấng ấy là ai và khi biết Đấng ấy chính là Thầy Giêsu mà anh yêu mến thì anh reo lên: “Tôi tin!”, anh sấp mình xuống trước mặt Người. Hành trình đức tin của anh đã đạt đến đích điểm sau khi đã được trải qua muôn vàn thử thách. Chúng ta có mang lấy niềm vui của người được sáng mắt khi được lãnh nhận ánh sáng đức tin và sống cho niềm tin vào Chúa Kitô không?

Lạy Chúa Giêsu! Được nhìn thấy ánh sáng là một ân huệ tuyệt vời mà Chúa ban tặng cho chúng con. Hơn hết, chúng con được sống trong ánh sáng niềm tin vào Chúa. Cuộc đời chúng con vẫn dễ nghiêng chiều theo bóng tối. Có nhiều lúc, chúng con đã tự khiến mình ra mù lòa khi không đi trong ánh sáng của Chúa. Xin Chúa lôi kéo chúng con về nguồn ánh sáng tình yêu của Chúa, để chúng con được reo vui mãi vì biết rằng, chúng con được Chúa yêu thương. Amen.

Về mục lục

HÃY MỞ RA

Anna Cỏ may

Trên truyền hình, chúng ta thấy có những chương trình tư vấn, thảo luận hay bình luận như: “Hỏi xoáy đáp xoay”, “Phụ nữ và cuộc sống”…  Bên cạnh đó cũng có các cuộc thảo luận, đối thoại giữa các quốc gia, giữa các đối tác làm ăn lớn nhỏ. Đó là những chương trình, những cuộc thảo luận đưa đến lợi ích chung. Tuy nhiên, trong cuộc sống, có những cuộc tranh luận không những không mang lại lợi ích mà còn gây ảnh hưởng không tốt cho cộng đồng.

Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Ngài đã nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa”. Vậy, anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được (x. Ga 9,6-7). Mọi người láng giềng và những kẻ biết anh đã bàn luận với nhau khi nhìn thấy anh được chữa lành. Có kẻ cho rằng, đứa nào đó giống anh thôi. Họ hỏi anh: “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?”. Anh trả lời: “Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: ‘Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa’. Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy” (x. Ga 9,10-11). Họ liền dẫn anh đến với những người Pharisêu. Các người Pharisêu thêm một lần nữa hỏi làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy”. Họ tiếp tục tranh luận với nhau. Có kẻ nói: “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?” Thế là họ đâm ra chia rẽ.

Sự tranh luận của người láng giềng và nhóm người Pharisêu điều xuất phát từ dán nhãn cho người khác. Những người láng giềng không đón nhận con người hiện tại của anh mà chỉ nhìn về quá khứ của anh và cho anh là một kẻ tội lỗi không đáng hưởng phúc ấy. Đối với người Pharisêu, nhiều lần họ đã có sự phản cảm về việc Đức Giêsu đã làm và muốn loại trừ Đức Giêsu từ lâu. Khi hay tin việc Đức Giêsu chữa người mù vào ngày Sabát, họ đã tìm cách để có được bằng chứng tố cáo Ngài. Tất cả mọi người đều không đón nhận sự thật là anh mù được Đức Giêsu chữa lành trong ngày Sabát. Từ đó, họ ra sức tranh luận bàn hỏi với anh và với nhau. Còn người thanh niên, sau khi được chữa lành, anh đã nói tất cả mọi sự về việc nhìn thấy và đã nhận được từ Đức Giêsu. Anh nói: “Người là một vị ngôn sứ” (Ga 9, 17) cho dù anh bị trục xuất khỏi hội đường. Nhờ hành động ấy, anh đã được gặp lại Đức Giêsu và được tăng thêm niềm tin vào Đấng ban sự sống.

Nhìn lại chính mình, mỗi người chúng ta đang rơi vào khuynh hướng bình luận người khác theo lối tích cực hay tiêu cực? Mỗi khi bình luận như vậy, chúng ta được lợi ích gì? Thường thường, mỗi người chúng ta dễ đặt người khác trong một cái khung, nhưng đó lại là cái khung quá khứ không mấy tốt đẹp. Bao lâu, chúng ta còn đóng khung người khác là bấy lâu chúng cũng đang đóng khung chính mình. Khi đã bị đóng khung, chúng ta không còn thấy gì nữa, chỉ còn lại là bóng đêm sự dữ. Chỉ khi nào chúng ta phá tan các khung hàng rào từ sự ích kỷ, thay vào đó là tình yêu thì chúng ta mới có thể nhìn thấy ánh sáng, ánh sáng Đức Giêsu.

Lạy Thiên Chúa, chúng con cảm tạ ngài đã yêu thương chúng con. Xin cho chúng con biết mở lòng và mở đôi mắt để nhìn xuyên qua khung thành mà chúng con đã dựng nên cho anh em mình, nhờ đó chúng con được thấy cái tốt đẹp của nhau, thấy Chúa trong nhau và xích lại gần nhau hơn để tất cả cùng được hưởng sự sống trong ánh sáng của Đức Giêsu suốt cả cuộc đời. Amen.

Về mục lục

CON MÙ LÒA, CHÚA LÀM CHO SÁNG

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Chúa Nhật hôm nay, Chúa Nhật IV Mùa Chay được gọi là Chúa Nhật của niềm vui, niềm vui ơn cứu độ đã gần kề. Màu sắc nào nói lên điều đó? Thưa là màu hồng. Ngoài sắc màu của phụng vụ, thì chi tiết nào trong Tin Mừng diễn tả niềm vui nữa? Xin thưa: Ánh sáng. Vâng, ánh sáng diễn tả niềm hân hoan. Chẳng hạn đang đêm cúp điện tối om, bỗng nhiên có điện lại, hẳn ai cũng vui mừng. Chính ánh sáng đã đem lại niềm vui. Cũng vậy, việc Chúa Giêsu mở mắt cho anh mù, đem lại ánh sáng cho anh, đồng nghĩa với việc Người đem lại cho anh niềm vui lớn lao. Không chỉ có một, mà cùng lúc anh có ba niềm vui.

1- Niềm vui được thấy

Từ khi mới sinh tới giờ, vì bị mù bẩm sinh, nghĩa là mù từ khi còn trong lòng mẹ, anh không có ý niệm gì về màu sắc, anh cũng chẳng hình dung được thế nào là đẹp xấu. Thế giới quanh anh chỉ là đêm tối dày đặc. Nay được Chúa làm cho sáng mắt, anh thấy được mọi sự: Thấy bầu trời bao la, thấy biển cả mênh mông, thấy cánh đồng bát ngát, thấy núi rừng trùng điệp, thấy ngàn muôn tinh tú lấp lánh, thấy sóng nước nhấp nhô, thấy hoa đồng cỏ nội xanh đỏ tím vàng… Và nhất là thấy ông bà, cha mẹ, thấy anh chị em ruột thịt, thấy bạn bè và những người thân thích. Hơn nữa, từ trước tới giờ, anh không thể soi gương được. Nay anh có thể nhìn ngắm dung nhan của mình trong gương. Anh có thể hát lên khúc hát: “Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời để nhìn đời và để làm duyên” (Ns. Xuân Hồng). Được thấy như thế làm sao anh không vui được!

2- Niềm vui được tha tội

Người Do Thái xưa thường quan niệm rằng bệnh tật, tai nạn hay thất bại, rủi ro là do tội lỗi gây nên. Con người xúc phạm đến Thiên Chúa và vì thế bị Người giáng phạt. Tội càng to thì bệnh càng nặng. Anh đau khổ không chỉ vì không thấy đường đi, không thấy được gì, nhưng anh còn đau khổ vì bị mọi người coi là sinh ra trong đống tội, tội ngập đầu ngập cổ nên mới bị mù từ trong lòng mẹ (x. Ga 9,34). Mặc cảm tội lỗi như một cái gông đè nặng trên cuộc đời anh, khiến anh không thể đứng thẳng lên với trời và với đời được. Đau buồn chất chồng buồn đau.

Nhưng nay, khi được Chúa Giêsu chữa sáng mắt và được Người xác nhận: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9,3). Anh và cả cha mẹ của anh hoàn toàn thoát khỏi mặc cảm tội lụy. Niềm vui của anh lúc này quả là rất lớn. Bước đi của anh nhẹ nhàng thanh thoát. Anh có thể ngẩng cao đầu mà không sợ mọi người xầm xì, chỉ trỏ. Hơn thế nữa, giờ đây anh có thể giới thiệu Chúa Giêsu với hết mọi người rằng Chúa chính là ánh sáng, như lời Người đã nói với các môn đệ: “Bao lâu Thầy còn ở với thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9,5).

3- Niềm vui được cứu độ

Được Đức Giêsu ban ánh sáng, anh mù nhận ra Đức Giêsu không chỉ là một vị ngôn sứ, một vị lương y, một đại ân nhân, mà còn là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ trần gian. Và anh đã tin thờ Người (x. Ga 9,38). Đây chính là niềm vui lớn nhất, niềm vui tràn ngập, niềm vui mà những người Luật Sỹ, Biệt Phái không có được: niềm vui được cứu độ. Tên của anh có thể giờ đây đã được ghi vào sổ hằng sống. Anh được chính thức trở thành công dân Nước Thiên Chúa. Nói cách khác, ngoài quốc tịch Do Thái, giờ đây anh còn được mang thêm một quốc tịch mới, quốc tịch Nước Trời. Còn niềm vui nào lớn lao hơn niềm vui này?

Khi sinh ra, mặc dù không bị mù về cặp mắt thể lý nhưng chúng ta đã bị tội nguyên tổ làm cho đôi mắt tâm hồn ra u tối. Tuy nhiên, qua bí tích Rửa Tội, chúng ta đã được Chúa Giêsu mở mắt tâm hồn, mắt đức tin để nhận biết Chúa qua các công trình sáng tạo của Người; chúng ta được tẩy xoá mọi vết nhơ tội lỗi, được giải thoát khỏi vòng nô lệ của ma quỷ, nhất là được nhận biết Chúa chính là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ mọi loài.

Tâm tình của chúng ta lúc này phải là tâm tình tạ ơn Chúa vì những hồng ân mà Người đã tặng ban: hồng ân đức tin, hồng ân cứu độ. Đồng thời, chúng ta hãy vui mừng hân hoan vì chúng ta được Chúa yêu thương và cứu chuộc. Đặc biệt chúng ta hãy quyết tâm không để cho những thói hư tật xấu, những tội lỗi riêng làm cho cặp mắt tâm hồn của mình trở nên lu mờ tăm tối.

Xin Chúa giúp chúng ta thực hiện được quyết tâm này. Amen!

Về mục lục

ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Trong những ngày này, cả thế giới đang lao đao vì những con virus Corona bé xíu. Số nạn nhân tăng luỹ tiến từng ngày khiến tất cả thế giới ít nhiều đều cảm thấy sợ hãi. Mọi lĩnh vực trong cuộc sống đều bị con virus nhỏ nhoi này làm tổn hại, đến độ có thể phá sản. Ngay cả lĩnh vực tôn giáo cũng không ngoại lệ. Các nhà thờ phải đóng cửa… Không một người vô tư nào có thể không cảnh giác và không thực hiện những biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình và người thân trước nguy cơ bị lây nhiễm.Từ cái ngày mà Covid-19 đi vào đời sống của con người cho tới nay, không biết rõ bao nhiêu người đã tử vong vì nó, bao nhiêu người đã chết ở các bệnh viện, và bao nhiêu người đã qua đời ở bên ngoài kia. Những điều tra và nghi vấn có thể sẽ chấm dứt khi thời gian trôi đi, và sẽ mãi là bí ẩn không lời giải?

  1. Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ thời đại ?

Nếu đọc qua những lá thư của Giáo Hội liên quan đến lần đại dịch này, chúng ta dễ dàng nghe được những lời mời gọi nguyện cầu và trở về với Thiên Chúa. Nhất là mùa dịch đang diễn ra trong Mùa Chay, lời gọi ấy lại càng thống thiết hơn. Hẳn nhiên, đó luôn là sứ mạng của Giáo Hội, để giúp con người trung tín vào Thiên Chúa. Trong cảnh dịch lan tràn như hiện nay, Giáo Hội càng nhìn thấy nơi đó một dấu chỉ lớn lao. Vì trong đau khổ và nghịch cảnh, một mặt người tín hữu dễ phớt lờ tiếng nói của Thiên Chúa trong biến cố này; mặt khác, Giáo Hội luôn giúp con người trở về với Thiên Chúa. Hoặc nói như Clive Staples Lewis: “Thiên Chúa thì thầm trong những lúc ta vui, Người thì thầm trong lương tâm ta. Nhưng Người nói lớn mạnh trong những đau khổ của ta. Những đau khổ đó là cái loa tăng âm để làm thức tỉnh một thế giới ngủ mê.” (x. Youcat số 51).

Chắc chắn virus Corona đang ảnh hưởng không chỉ đến tính mạng nhiều người, nó còn tác động đến hầu hết khía cạnh của đời sống. Có người ví đó như cuộc chiến tranh mà toàn thế giới phải chống chọi. Mỗi tín hữu cũng không miễn nhiễm với con virus này. Cứ nhìn thành đô Rôma tráng lệ, đông đúc người hành hương, thì trước virus Corona, mọi chương trình, thánh lễ công cộng đều tạm ngưng. Điều ấy có nghĩa là người ta đang có biện pháp cực mạnh để hy vọng ngăn ngừa được sức công phá của virus.

Trong bầu không khí ấy, dĩ nhiên, Giáo Hội thấy được nỗi đau đớn, hoảng sợ của người dân. Giáo Hội thấy nơi đó một lời mời gọi để con người cần hoán cải, sám hối và ăn năn nhiều hơn. Giáo Hội đang tiếp tục lắng nghe tiếng Chúa trong những biến cố của thế giới, nhất là lần đại dịch này. Phải chăng Thiên Chúa muốn nhắc cho con người về thân phận mỏng dòn, mong manh và phải chết ? Phải chăng con người toàn năng có thể làm được mọi thứ, có thể tiêu diệt được địch thù đang tấn công nhân loại ? Phải chăng virus Covid-19 là hệ quả của những lầm lạc và kiêu ngạo của con người ? Hình như con người chia phe nhóm đấu đá, đến nỗi hậu quả là chết chóc tang thương ? Hoặc là, virus này khiến thế giới bừng tỉnh về một viễn tượng thiên đường do chính con người có thể tạo nên bằng quyền lực, tranh giành và cố chấp ? v.v.

Danh sách câu hỏi trên đây có thể dài vô tận mà mỗi người có thể đặt ra trước con virus này. Đừng quên, Giáo Hội luôn nhớ sứ mạng của mình là chăm chú tìm kiếm, lắng nghe, khám phá tiếng nói, cũng như hoạt động của Thiên Chúa trong dòng lịch sử qua những dấu chỉ thời đại. Sẽ không thừa khi Giáo Hội thống thiết nhắc con cái mình về một dấu chỉ đang diễn ra trước mắt chúng ta. Đó là thời cơ để con người khiêm tốn hơn, nhìn nhận thân phận và vị trí của mình trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa. (x.Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ thời đại ? Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J; dongten.net).

Giờ đây, bất lực trước Corona, người ta mới thấy chốn nương tựa duy nhất của mình chỉ có thể là Thiên Chúa. Tất cả mọi tín đồ đều ngước nhìn về Thần Linh của mình, xin ơn khoẻ mạnh, bình an, xin cho các nhà khoa học sớm tìm ra thuốc chữa trị.

  1. Hậu quả do tội của anh ta hay cha mẹ anh ta?

Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, các môn đệ có cuộc tranh luận với Đức Giêsu: Lý do nào dẫn đến nỗi đau của anh mù? Đó là hậu quả do tội của anh ta hay cha mẹ anh ta?

Đức Giêsu bác bỏ quan niệm của những người đương thời và cũng có thể là của một số trong chúng ta: anh ta không phải bị phạt vì đã phạm tội. Đức Giêsu không đưa ra một lời giải thích cho tất cả sự ác trên thế giới. Thay vào đó, Người lại nhắm đến những nhu cầu của người thanh niên đang đứng trước mặt mình. Việc anh mù được chữa lành biểu lộ sự hiện diện năng động của Thiên Chúa trong thế giới này. “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”.

Cha mẹ anh ta và cả những người láng giềng cùng những người Pharisêu đều đã không “nhận ra” công trình của Thiên Chúa được bày tỏ qua việc anh được chữa lành. Họ không trông thấy những điều Thiên Chúa đã thực hiện. Và anh mù cũng không hiểu ngay được rằng điều gì đã xảy ra cho mình. Anh dần biết rõ về Đức Giêsu sau khi bị các nhà cầm quyền liên tục chất vấn, và sau đó cuộc trò chuyện với Đức Giêsu đã cho anh được “sáng mắt”.

Đức Giêsu đã trông thấy và dừng lại trước “người mù từ thuở mới sinh”. Người không những chữa lành cho anh, mà sau đó còn đi tìm kiếm anh, trò chuyện với anh và đưa anh tới đức tin. Khi chữa cho anh mù được sáng mắt, Đức Giêsu đã cho anh bước những bước thật dài trên hành trình đức tin. Nhờ vậy, từ sự yếu kém ở chỗ chỉ coi Đức Giêsu như một con người bình thường, trải qua bao khó khăn thử thách, đức tin của anh đã tiến triển không ngừng và đạt đến mức thập toàn khi xác tín rằng Đức Giêsu là vị ngôn sứ, là người bởi Thiên Chúa mà đến, và là Con Người.

  1. Ánh Sáng Đức Tin

Trong thông điệp “Ánh Sáng Đức Tin”, Đức Giáo hoàng Phanxicô ban hành ngày 29.6.2013, có đoạn: “Đức tin như một thính giác và thị giác” gồm ba số 29, 30, 31. Đức tin là một hồng ân siêu nhiên Chúa ban cho con người. Đức tin trở thành ánh sáng hướng dẫn suốt hành trình cuộc đời mỗi người. Người “mù từ thưở mới sinh” đã nghe thấy, rồi cảm thấy Đức Giêsu và đã được Chúa mở mắt để anh ta nhìn thấy và tin vào Người.

“Thầy là Ánh Sáng trần gian. Ai theo Thầy sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có Ánh Sáng dẫn đến cõi trường sinh” (Ga 8,12). Đức Giêsu là ánh sáng, Người thi hành sứ vụ trong thế gian bằng lời nói và việc làm của mình. Người mời gọi thính giả và độc giả “làm sự thật” và “đến với ánh sáng”, “đi theo” Người  để “không bước đi trong bóng tối”  và “có ánh sáng của sự sống”. Đức Giêsu đề nghị với đám đông bước đi trong ánh sáng khi ánh sáng còn ở giữa họ. Người mời gọi họ “tin vào ánh sáng” để “trở nên con cái ánh sáng”. Như thế, người tin vào Đức Giêsu thì không ở lại trong bóng tối. Đức Giêsu nói đến những ai “thấy ánh sáng của thế gian này” thì không vấp ngã, còn những ai “ánh sáng không ở trong người ấy” thì vấp ngã (Ga 11,9-10). Nghĩa là “thấy Đức Giêsu” và “có Đức Giêsu ở với mình” thì sẽ vững vàng tiến bước trong ánh sáng của sự sống.

Hãy luôn cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban cho chúng ta đôi mắt sáng suốt của đức tin, nhờ đó chúng ta biết được ý nghĩa của cuộc đời, thấy được con đường phải đi và những việc phải làm để đạt đến hạnh phúc thật.

Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn. Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy. Thấy nhiều hay ít. Thấy xa hay gần. Thấy rõ hay mờ. Người cận thị chỉ thấy được rất gần. Người viễn thị thì thấy xa hơn. Cần có thị giác tốt và thị lực tốt, đôi mắt mới sáng ngời. Thị lực còn là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác. Thị lực còn là niềm tin.

Người mù tuy mù nhưng lại có thị lực tốt. Anh đã thấy được Ðức Giêsu là một ngôn sứ. Anh thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt. Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giêsu đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt. Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin. Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng. Ðức Giêsu đem lại ánh sáng cho người mù, còn những kẻ vốn nhìn thấy lại trở nên đui mù. Trước sự chống đối của người Pharisêu, Đức Giêsu trả lời: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn”.

Cầu nguyện

“Lạy Chúa là ánh sáng muôn đời… xin rộng ban ân sủng làm cho tâm hồn chúng con được bừng sáng huy hoàng, để chúng con hằng biết suy tưởng những điều đẹp lòng Chúa, và chân thành yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn” (lời nguyện nhập lễ)

Lạy Chúa, xin ban thêm ánh sáng đức tin cho chúng con : “Để trong hoàn cảnh thuận lợi hoặc khó khăn, khỏe mạnh hay dịch bệnh, Giáo Hội, Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi mỗi người chúng con nhạy bén nhận ra dấu chỉ thời đại. Nó đang diễn ra trước mắt chúng con. Ước gì mỗi người chúng con luôn lắng nghe được tiếng nói của Chúa Thánh Thần đang lớn tiếng trong cơn dịch này”.

Lạy Chúa, xin ban thêm ánh sáng đức tin cho chúng con; dể con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt ; để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên, để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa.

Và lạy Chúa, xin cho con được thấy bản thân với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen

Về mục lục

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

Lm. Thái Nguyên

Suy Niệm:

Qua việc chữa lành người mù, thánh Gioan mở ra cho ta biết Đức Giêsu là ánh sáng thế gian, ánh sáng cứu độ. Tuy nhiên, con đường tiếp nhận ánh sáng đó là một hành trình đức tin, đầy cam go và thử thách, giữa cuộc đời đầy phức tạp và nhiễu nhương do lòng người, đầy những ảnh hưởng của sự dữ do ma quỉ.

Kinh nghiệm thiêng liêng cho chúng ta thấy, nhiều khi mình rất sáng mắt nhưng không sáng lòng; thấy sự việc nhưng mà không thấy sự thật. Lý do có thể là mình bị đóng khung và cứng đọng theo một lối sống bó hẹp, hay một lề thói suy tư chỉ dựa vào luật lệ và đạo đức bên ngoài. Lý do khác nữa là vì tự ái, vì thành kiến, vì quyền hành, danh giá, nhất là vì ghen ghét mà ta muốn suy diễn khác đi.

Đó cũng là tính cách của nhóm Biệt phái trong bài Tin Mừng: họ không muốn coi Đức Giêsu là người của Thiên Chúa, vì điều đó đòi họ phải thay đổi suy nghĩ và lối sống đạo, thay đổi bộ mặt tôn giáo của cha ông, nhất là đòi họ phải tin theo Ngài. Vì thế, họ chống trả quyết liệt, và còn tự phong cho mình là người hiểu biết và đạo đức.

Vấn đề ở đây không còn là tiếng nói của sự thật, mà là tiếng nói của những kẻ có quyền. Sự kiêu hãnh và quyền hành đã khiến họ khép lại, không chấp nhận mình sai lầm, và cố chấp ở lại trong bóng tối. Đây là thứ mù lòa tinh thần, không chấp nhận thực tế về bản thân và tha nhân, tìm cách né tránh sự thật và không muốn nghe ai. Trên phương diện đức tin có khi ta giống như người Biệt phái, từ ánh sáng lại rơi vào bóng tối, không còn khả năng để dẫn lối cho ai.

Anh mù vừa được sáng mắt, đang hớn hở vui mừng thì bao nhiêu thử thách lại ập tới. Người ta nghi ngờ anh, soi mói anh, gây khó khăn và đe dọa đời sống anh, ngay cả cha mẹ anh cũng không dám can dự vì sợ liên lụy. Sự căng thẳng lên đến cực điểm khi anh phải đối đầu với quyền lực tôn giáo, là những người dạy dỗ, hướng dẫn, và là mẫu gương sống đức tin cho dân Chúa. Họ mạt sát anh là sinh ra trong tội lỗi, họ tố cáo Đức Giêsu đã lỗi phạm luật nghỉ ngày Sabbat, và sau cùng, họ khai trừ anh khỏi hội đường.

Anh ta đau lòng, tủi hổ và cảm thấy cô đơn hoàn toàn, quả là một thử thách ghê ghớm. Để giữ vững niềm tin, anh đành chấp nhận hành trình đơn độc. Để sống cho sự thật anh chấp nhận bị loại trừ. Đúng lúc đau đớn nhất, Chúa Giêsu đã xuất hiện để nâng đỡ anh, Ngài đã tỏ mình cho anh. Đời anh từ nay tràn ngập ánh sáng niềm tin.

Hành trình đức tin của mỗi người chúng ta cũng không thiếu những gian nan thử thách. Đức tin Chúa ban cho ta giống như viên ngọc quí, nhưng “ngọc bất trác bất thành khí”.

Mùa chay là cơ hội làm sáng lên đức tin, một đức tin có thể còn mù mờ và bị bao phủ bởi nhiều bóng tối: bóng tối của lòng mình, bóng tối của anh chị em mình, bóng tối ngay trong Giáo hội, bóng tối của một xã hội đang bị tha hóa về mọi mặt, nhất là tinh thần đạo đức đang bị xuống cấp trầm trọng. Chúng ta hãy vững tâm và kiên trì, vì Chúa đang đón đợi mỗi người chúng ta trên từng chặng đường và từng biến cố lớn nhỏ, để an ủi, nâng đỡ và làm sáng lên cuộc đời ta.

Cầu nguyện

Lạy Chúa!
Đời người là một hành trình vượt qua bóng tối,
để vươn tới ánh sáng chân lý và tình yêu.

Ánh sáng là sự thuần khiết của tâm hồn,
là sự thanh khiết của một tính cách,
là sự tinh khiết của một phẩm hạnh.

Trong ánh sáng nhiệm mầu của Thiên Chúa,
chúng con trở nên ánh sáng cho trần gian,
và đạt tới Ánh Sáng là chính Đức Giêsu.

Ánh sáng Chúa chan hòa khắp chốn,
không chỉ chiếu soi, thanh luyện,
nhưng còn chữa lành, gia tăng sức sống,
và thần hóa tất cả những ai tin vào Ngài.

Thế nhưng thế giới vẫn còn đầy những bóng tối,
bóng tối của sự dữ gieo rắc bao nhiêu là tội lỗi,
bóng tối của gian dối, hận thù, ích kỷ, kiêu căng…
bóng tối của nhập nhằng chẳng biết đâu hư thực.

Bóng tối làm con lo sợ và nao núng,
vì thấy sự ác luôn thao túng hoành hành,
không còn thấy sự hiện diện tốt lành của Chúa,
làm cho bao người cũng héo úa niềm tin.

Cũng như các tông đồ xưa trước bão giông,
thấy Chúa bất động trong cơn biến động,
nhưng đó cũng là một cách Chúa hành động,
tạo nên một chuyển động trong lòng các ông.

Xin cho con cứ an tâm dù ánh sáng không còn,
nhưng còn tay Chúa luôn che chở và nâng đỡ,
ánh sáng ấy chỉ ẩn khuất để lòng thêm khao khát,
để con biết phó thác mà không sợ trước nguy nan.

Xin cho con đừng để thời gian trôi đi trong bóng tối,
mà luôn thắp sáng tình yêu để dẫn lối đưa đường,
không chán chường dù gặp cảnh đau thương,
dù lòng người đã khép lại nhưng lòng con vẫn mở,
để khi gặp Chúa càng hớn hở mừng vui. Amen.

(Trích sách: Lời nguyện của người trẻ, số 47)

Về mục lục

MÙ MỜ

Lm Vũđình Tường

Mù mờ diễn tả hoàn cảnh không nhìn thấy gì hoặc nhìn không rõ, hình ảnh mờ mờ, ảo ảo. Đức Kitô mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh nhìn thấy ánh sáng. Mở mắt sáng cho anh, Đức Kitô cho biết không phải do tội mà là nguyên nào khác gây nên, làm cho em nhỏ bị tật bẩm sinh. Các môn đệ hỏi Ngài. Chính em hay cha mẹ em phạm tội khiến cho em bị tật mù bẩm sinh? Các môn đệ mắt sáng nhìn thấy điều trước mắt là người mù từ lúc mới sinh; Đức Kitô nhìn thấy điều các môn đệ không nhìn thấy khi Ngài hướng dẫn các ông hiểu thêm hơn về lòng Chúa xót thương nhân loại. Ngài nói với các ông:

Không phải em, cũng không phải cha mẹ em, nhưng qua bệnh tật của em lòng Chúa xót thương được sáng tỏ hơn (c.3).

Khi nói điều đó Đức Kitô còn cho biết công việc của Ngài và công việc của Chúa Cha là một. Ngài là ánh sáng cho trần gian. Qua Ngài tình yêu và ân sủng Chúa đong đầy cho những tâm hồn chân thành đón nhận Ngài. Có rất nhiều giải thích về đau khổ, và giải thích nào xem ra cũng có vẻ thích hợp. Lời giải thích thích hợp thường thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại, mà không thích hợp cho hoàn cảnh khác. Nó càng không phải là câu trả lời thích hợp cho mọi đau khổ. Đức Kitô không giải thích đau khổ từ đâu đến. Ngài cho biết đứng trước đau khổ, con người có chọn lựa. Hoặc tự quyết lấy hoặc nương tựa vào lòng Chúa xót thương. Những ai nương tựa vào lòng Chúa xót thương, họ đau khổ trong hy vọng, bởi có ơn Chúa trợ giúp. Những ai tự quyết họ đau khổ trong tuyệt vọng. Chối bỏ đau khổ, đau khổ càng tăng. Cho người mù mắt sáng Đức Kitô làm tròn điều tiên tri Isaiah tiên đoán nhiều năm trước về Ngài

‘Mở mắt cho người mù, giải thoát kẻ bị giam cầm và những ai sống trong bóng tối sẽ nhìn thấy ánh sáng Is 42,7.

Dùng nước miếng trộn đất bùn chữa mắt người mù Đức Kitô nhắc công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Trường hợp này được hiểu Đức Kitô ban cho anh một đời sống mới, tái tạo cuộc sống mới cho người mù. Thiên Chúa tạo dựng Ađam bằng đất. Ađam nhìn thấy Chúa trước khi nghe tiếng Ngài. Người mù Đức Kitô mở mắt sáng lại nghe được lời Đức Kitô trước khi xem thấy Ngài. Để được mắt sáng anh cần nghe theo lời Ngài hướng dẫn. Đi rửa tại hồ Siloam. Hành động đi và rửa tại hồ Siloam diễn tả một hành động trong bí tích Rửa Tội ngày nay Giáo Hội đang thực hiện. Hình ảnh nước cũng nhắc nhở điều Đức Kitô nói với người phụ nữ thành Samarita tại bờ giếng. Ngài là nước hằng sống.

Nhìn thấy sự thật, người mù trở thành nhân chứng cho sự thật, nhân chứng luôn bị cật vấn, nhân chứng cho Đức Kitô thường gặp chống đối, bắt bẻ bởi thế lực tối tăm. Chọn lối sống tối tăm là chọn sống trong bóng tối. Bóng tối luôn sợ ánh sáng và sống trong tối tăm thường nhìn sự vật mờ mờ, ảo ảo. Nhóm lãnh đạo Pharasiêu thẩm vấn người mù. Anh thành tâm đáp Đức Kitô cho anh mắt sáng, còn Ngài từ đâu đến thì anh không rõ. Câu trả lời thành thật và khiêm nhường kia hoàn toàn trái nghịch với thái độ kênh kiệu, ta đây, của nhà lãnh đạo. Họ tự nhận họ nhìn thấy nhưng thực ra họ không nhìn thấy. Họ tự nhận họ biết tất cả nhưng thực ra họ không biết nhiều như họ nghĩ họ biết. Mù mà biết mình mù thì đáng thương. Mờ mà không biết mình mờ thì đáng ngại bởi họ sẽ là nguyên nhân gây đau khổ cho người khác. Lãnh đạo Pharasiêu không nhận biết Đức Kitô là Thiên Chúa bởi tính tự kiêu, tự đại che mờ mắt họ. Họ không mù nhưng mờ. Điều này thể hiện rõ ràng khi họ kết án Đức Kitô là không tuân giữ luật ngày hưu lễ. Chính họ ngồi toà xét xử trong ngày hưu lễ thì sao? Có phạm luật chăng? Bởi mù mờ họ không nhìn thấy điều đó. Nhóm này ép buộc người mù vào phe cánh họ. Anh từ chối nên bị họ điệu đi điều tra, thẩm vấn nhiều lần đến độ anh phát cáu nói các ông muốn tin theo Đức Kitô thì đi theo Ngài, hỏi mãi làm chi. Họ đáp, anh mù vì tội của anh, còn chúng tôi vô tội. Không lôi cuốn được anh họ đuổi anh ra khỏi hội đường, và họ tiến đến áp đảo cha mẹ anh. Bởi không cảm nhận được lòng Chúa xót thương, hai ông bà sợ hãi chỉ dám xác nhận. Nó là con chúng tôi, bị mù từ bẩm sinh, còn làm sao nó mắt sáng thì nó lớn rồi, đi hỏi nó. Hai ông bà nói thế vì sợ bị trục xuất khỏi hội đường. Anh mù hoàn toàn tin tưởng vào Đức Kitô, anh dõng dạc tuyên bố, Ngài là Đấng đến từ Thiên Chúa bởi lòng xót thương Ngài diễn tả điều đó. Đến lúc này nhóm Pharasiêu chia rẽ trong bọn. Người thì hỗ trợ, cổ võ, điều anh mù xác định Đức Kitô đến từ Thiên Chúa; số còn lại kết án Đức Kitô là kẻ tội lỗi vì vi phạm luật ngày hưu lễ. Được sáng mắt, cuộc sống anh mù vẫn không hết khó khăn. Khi còn mù, đi ăn xin, người ta coi thường anh. Giờ mắt sáng, anh trở thành tâm điểm của điều tra, thẩm vấn. Bị điều tra thẩm vấn, anh không sợ bởi đây là cơ hội cho anh nói lên sự thật, nói điều anh thầm nghĩ bấy lâu mà không có ai nghe, không ai để í, nay điều anh nói được mọi người nghe, mọi người để í vì thế anh lớn tiếng nói lên sự thật về Đức Kitô. Dù gặp khó khăn, đau khổ, anh vững tâm làm chứng cho Ngài. Đức Kitô biết anh bị trục xuất khỏi hội đường, Ngài đến gặp anh, hỏi han. Anh xin Ngài cho anh biết Ngài là ai? Đức Kitô cho biết Ngài là Con Thiên Chúa hằng sống. Anh mù đón nhận Ngài, tin theo và tôn thờ Con Thiên Chúa hằng sống.

Về mục lục

HÃY ĐỂ ĐÔI MẮT ĐƯỢC THẮP SÁNG

Lm. Jb Nguyễn Minh Hùng

Người được Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt trong Tin Mừng theo Thánh Gioan hôm nay là “người mù từ thuở mới sinh”. Thái độ của anh đối diện với Chúa, với dấu lạ Chúa ban cho anh có nhiều biến đổi:

1. Khởi đầu, khi bị điều tra, anh nói về Chúa quá mơ hồ: “Người có tên là Giêsu trộn một chút bùn và xức vào mắt tôi” (Ga 9, 11). Anh chưa có thể nói thêm bất cứ kinh nghiệm hay cảm nghiệm nào của chính anh về Chúa.

2. Về sau, càng lúc anh càng thấm thía ân huệ mà mình đã nhận được, nhất là khi so sánh thái độ đố kỵ, hung hăng của những người có trách nhiệm khi đối diện với sự thật anh được chữa lành, cõi tâm hồn anh càng lúc càng biến đổi, càng lúc càng nhận ra Chúa. Anh khẳng khái nói về Chúa Giêsu: “Người là một vị ngôn sứ” (Ga 9, 17).

Anh dám phản biện những lời kết án Chúa Giêsu là người tội lỗi: “Ông ấy có phải là người tội lỗi không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được” (Ga 9, 25).

Khi bị tra khảo dồn dập, người từng bị mù còn dám trêu những kẻ đang đe dọa mình: “Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?” (Ga 9, 27).

Càng lúc thái độ của anh càng mạnh mẽ. Anh cho thấy đức tin của mình vào Chúa Giêsu thật lớn, thật can đảm. Anh tuyên bố trước mặt những kẻ nắm quyền hành trong thế gian: “Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9, 31-33).

Hóa ra trước dấu lạ của Chúa, người mù không chỉ đã được sáng đôi mắt. Anh còn sáng cả tâm hồn, sáng cả một đức tin thật kiên cường.

Còn những kẻ chưa bao giờ mù đôi mắt, những kẻ cứ tưởng mình thật sáng suốt vì nắm giữ truyền thống tôn giáo lại là kẻ đui mù. Nguy hiểm và thật đáng sợ vì đây là sự đui mù về tâm linh, về nhận thức chân lý, về sự sống của đức tin.

1. Hành trình đức tin của người mù được chữa lành là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của từng người. Chúng ta cần trưởng thành mỗi ngày một hơn trong hành trình sống của mình.

Nhất là những lúc đối diện với nguy nan, thử thách, đối diện với những ai tấn công đức tin của mình, chúng ta càng phải mang trong tâm tư một tư thế của người hãnh diện về đức tin, một tư thế của người luôn xác tín: Chỉ một mình đức tin vào Chúa Giêsu mới là tất cả.

2. Cả thái độ ngạo mạn, kiêu căng của những người bị mù tối tâm hồn cũng thành bài học kinh nghiệm cho chúng ta.

Hãy nhìn vào đó để luôn khiêm nhường nhận ra Chúa, thờ lạy Chúa trong bất cứ những điều tốt đẹp nào, nếu nó mang lại giá trị thiêng liêng cho linh hồn.

Hãy loại khỏi trái tim những đố kỵ, thù hằn, ganh tỵ, ganh ghét, để con mắt tâm hồn được sáng mà nhận ra những huyền nhiệm của Thiên Chúa trong cõi đời, và trong từng hoàn cảnh của đời sống.

Hãy sống có tình người để có thể yêu cái đáng yêu của người khác, cảm thông cái khó khăn của người khác, vui mừng với cái tốt mà người khác có được, hạnh phúc trong niềm hạnh phúc của người khác, đau trong cái đau của người khác, khóc hay cười trong tiếng khóc hay nụ cười của người khác…

Dù bất cứ hoàn cảnh nào, hãy để đôi mắt được thắp sáng.

Về mục lục

MỘT THỨ MÙ ĐÁNG SỢ

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 Hoàn cảnh người mù từ lúc mới sinh được Chúa Giê-su chữa lành mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng hôm nay, khiến người ta liên tưởng đến chứng mù khác đáng sợ hơn nhiều. Đó là chứng mù con mắt lương tri, mà tiêu biểu nhất là “mù-tội”, nghĩa là không thấy được những sai lầm và tội lỗi của mình.

Biểu hiện rõ nét nhất của chứng “mù-tội” là người ta không thấy được tội mình, do đó chẳng hối hận và cũng chẳng hề tự trách mình.

Ông Dale Carnegie, (1888-1955) một nhà văn và nhà thuyết trình danh tiếng người Mỹ, viết nhiều cuốn sách nổi tiếng được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, cho rằng: “Tôi phải mất 33 năm trời để khám phá ra sự thật này là cho dù người ta có mắc phải những lầm lỗi nặng nề đến đâu, thì trong 100 lần phạm lỗi, có đến 99 lần người ta chẳng trách mình gì cả,[1]” như thể mình vô tội.

Ngay cả vua Đa-vít, một vị vua tài ba đức độ của người Do-thái, cũng mắc phải chứng “mù-tội” này.

Vua mê đắm nhan sắc của bà Bát-sê-ba, bà này là vợ của U-ri-a. Vua chiếm đoạt bà, rồi mượn tay quân giặc giết chồng bà là U-ri-a ngoài mặt trận. Sau đó, vua đón bà về cung làm vợ chính thức của mình ( II Sam 11 và 12).

Vua Đavít đã phạm một tội to như núi như thế mà vẫn ung dung như thể mình chẳng phạm tội gì.

Thế nhưng, khi nhà vua nghe ngôn sứ Na-tan cho biết có một ông nhà giàu có nhiều dê cừu, sai tôi tớ đi bắt con chiên độc nhất của một ông lão nghèo bên cạnh để làm tiệc đãi khách, thì vua bừng bừng nổi giận và lên án người đó cách gắt gao.

Chua chát thay, vua Đa-vít thấy rõ tội nhỏ của người ta mà không thấy thứ tội tày trời của mình. Vua lên án tội nhỏ của người khác mà bao che tội ác to lớn của mình.

Người đời như thế đấy, tội mình to như núi, mình không thấy; tội người ta chỉ bằng viên sỏi, thì thấy rõ ràng.

Đúng như lời Chúa nói: Các ngươi thấy rõ “cọng rác trong con mắt của người khác, mà cái xà ngang trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới” (Mt 7,3).

Chứng “mù-tội” vô cùng tai hại

Chứng “mù-tội” gây ra hậu quả tai hại ngàn lần hơn là mù mắt, vì hầu hết những người mù mắt đều tốt lành thánh thiện, chẳng làm gì nên tội, trong khi đó, người “mù-tội” thường gây ra nhiều tội ác. Họ gây nhiều tội ác vì họ không thấy tội lỗi của mình và dù có thấy, họ cũng cho là chuyện nhỏ, chẳng lớn lao gì.

Chứng “mù-tội” rất khó chữa

Sở dĩ khó chữa là vì người ta không nhận ra sai lầm và tội lỗi của chính mình. Không thấy mặt minh dơ thì người ta không cần rửa mặt; không thấy áo quần bẩn thì chẳng cần phải đổi thay; không thấy bản thân mình lầm lỗi thì cần gì phải ăn năn hối cải. Thế là người ta đắm chìm trong tội suốt đời.. Vì thế, đây là một chứng bệnh rất khó chữa.

Như vậy, mù không thấy được tội lỗi và tính xấu của mình là một chứng mù đáng sợ và tai hại khôn lường, vì thế phải lo cứu chữa ngay đừng trì hoãn.

Lạy Chúa Giê-su,

Sứ mạng của Chúa khi đến trần gian là “làm cho người mù được sáng” (Lc 4,18) và Chúa đã thực thi sứ mạng này bằng cách mở mắt cho nhiều người mù từ lúc mới sinh, cũng như khai tâm cho nhiều người để họ nhận biết và sống theo giáo huấn của Chúa.

Xin dủ lòng thương xót, mở mắt tâm hồn, mở mắt lương tri cho chúng con, để chúng con nhận ra những sai lầm, những tội lỗi và những thói hư mà chúng con vấp phạm hằng ngày, đồng thời xin giúp chúng con kiên quyết ăn năn chừa tội hầu xứng đáng là con của Cha trên trời.

Về mục lục

MÀU HỒNG CỦA CHÚNG TA

Lm. Bosco Dương Trung Tín

    “Không phải anh ta, cũng không phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhận thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9,3).

  Khi thấy một người mù tự khi mới sinh, các môn đệ hỏi Chúa, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta? (x. Ga 9,2). Thường thì chúng ta cũng vậy, khi thấy người khác bị bệnh này tật kia hoặc bị những thất bại hay khốn khó gì là chúng ta lên tiếng, tại sao anh ta, chị ta lại bị như vậy; có phải vì họ hay cha mẹ họ đã ăn ở thất đức chăng?

   Câu trả lời của Đức Giê-su đã rõ ràng:  “Không phải anh ta, cũng không phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhận thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”. Như thế, chẳng phải họ hay cha mẹ họ ăn ở thất đức, bệnh này tật kia là do con người chúng ta không ăn uống điều độ và không lo cố gắng sống cho tốt thôi. Còn thất bại, khốn khó ai mà chẳng có.

   Có thể nói, việc mù bẩm sinh, tức là không do con người tác động, thì sẽ cho thấy “công trình của Thiên Chúa”; còn những việc do tác động của con người thì sẽ cho thấy “công trình của con người” chúng ta có giới hạn thế nào. Con người không làm chủ được vận mệnh của mình. Con người không làm bá chủ được thế giới. Ngay con vi rút nhỏ xíu thế mà còn chưa tiêu diệt được nữa mà !!!!

    Ví dụ như do nhiễm chất độc màu da cam, những trẻ được sinh ra sẽ bị dị dạng không như trẻ bình thường; hoặc thực tế ngày nay là đại dịch vi rút Co-ro-na đã lan tràn khắp thế giới, gây thương vong và ảnh hưởng rất lớn cho đời sống mọi người. Điều đó cho thấy, con người ngày nay được cho là phát triển tột bậc, chế tác được đủ mọi thứ, thế mà đã không ngăn nổi đại dịch. Như thế cũng cho thấy rõ “công trình của con người” là như thế nào.

   “Công trình của Thiên Chúa” là công trình cứu độ; là chiếu sáng, đem lại ánh sáng cho con người. Không chỉ là ánh sáng bình thường mà là ánh sáng vĩnh cửu, ánh sáng của Thiên Chúa.

   Do đó, chúng ta hãy bỏ đi những ý nghĩ không chính xác khi nhận xét về người khác. Có khi do người đó thật hay do cha mẹ người đó mà ra, dù vậy chúng ta cũng không nên có những ý nghĩ như vậy. Tại sao? Vì chưa chắc chúng ta đã tốt hơn người khác; coi chừng chúng ta hay con cái chúng ta cũng bị bệnh này tật kia hay bị thất bại, gặp khốn khó thì sao? Hay lúc đó, chúng ta lại lươn lẹo, lấp liếm, lấy lý do này lý do kia để biện hộ.

   Như có người thấy mình được điều xa để làm việc thì nói là mình được “biệt phái” đi, tức là được phái đi cách đặc biệt; còn người khác sau đó cũng được điều đi đến đó thì lại nói là “bị đì”. Thế là thế nào? Đúng là “biệt phái Pha-ri-siêu” không hơn không kém. Những người Biệt phái Pha-ri-siêu thấy Đức Giê-su chữa lành người mù thì cảm thấy không vui, nên tìm cách chất vấn Đức Giê-su, cha mẹ và cả người mù nữa.

    Họ cho rằng Đức Giê-su khi chữa lành người mù đã vi phạm ngày Sa-bát. Vì Đức Giê-su lấy bùn xức vào mắt người mù như thế là giống như “xây nhà” rồi. Còn người mù thì đi rửa mắt. Thành thử cả hai đều vi phạm ngày Sa-bát. Trọng tâm của cuộc tranh luận vẫn là Đức Giê-su. Đức Giê-su là ai?

   Trong nhóm biệt phái, có người nói : Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì đã không giữ ngày Sa-bát. Còn người khác thì nói : Một người tội lỗi sao có thể làm được dấu lạ như vậy (x.Ga 9, 16).

   Người mù thì nói: “Chúng ta biết Thiên Chúa không nhậm lời kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến thì ông ta chẳng làm được gì” (x.Ga 9, 31-33).

   Vậy thì ai sáng hơn ai? Chính vì sự kiêu ngạo và vị luật mà những người Pha-ri-siêu đã không nhận ra Đức Giê-su là người của Thiên Chúa; cũng không nhận ra công trình của Thiên Chúa; còn người mù thì lại nhận ra.

  Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy và cho người xem thấy lại nên đui mù” (x.Ga 9,39). Nghe vậy, họ lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao? Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù thì các ông chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: Chúng tôi thấy, nên tội của các ông vẫn còn”(x. Ga 9, 40-41).

   Chúng ta có thể diễn dịch lại như sau cho dễ hiểu. Sự xét xử của Đức Giê-su là người tự cho mình sáng là mù và người bị mù là sáng. Nếu ai tự nhận mình là người mù, thì tội sẽ được tha; còn ai tự nhận là sáng, là tốt lành, thánh thiện, thì tội người đó không được tha.

   Thế đấy, thà nhận mình là người yếu đuối, hèn mọn, tội lỗi, bất toàn, bị đui mù đi, còn hơn là cho mình tốt lành, thánh thiện mà mắc thêm tội. Cái tội không biết; cái tội kiêu ngạo; cái tội khinh khi người khác; cái tội cho mình là hay, là giỏi, là sáng, là khôn.

   Qua Lời Chúa hôm nay, Chúa dạy chúng ta hãy nhận biết mình là người yếu đuối, giới hạn, bất toàn; đừng bao giờ cho mình hay, mình giỏi, mình tốt lành, mình thánh thiện hơn người khác.  Điều chúng ta cần làm đó là “những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (x. Ep 5,9).

   Thánh Phao-lô nói : “Anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng, mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (x.Ep 5,8-9). Nói cách khác nếu chúng ta cho mình là SÁNG thì chúng ta phải sống lương thiện, không sống lươn lẹo; phải sống công chính, không sống bất công và bất chính; phải sống chân thật, không sống giả hình, giả trá.

   Vậy, chúng ta hãy noi gương người mù từ lúc mới sinh hôm nay, mà tin vào Đức Giê-su và thực hành điều Đức Giê-su dạy, để cặp mắt tâm hồn chúng ta được chiếu sáng mà thấy rõ công trình cứu độ của Thiên Chúa thực hiện nơi chúng ta, cũng như nơi người khác. Như thế, chúng ta sẽ lãnh nhận được ơn tha thứ của Chúa và hằng ăn ở như con cái ánh sáng.

  Ánh sáng đó là màu hồng của phụng vụ hôm nay. Và Sống lương thiện, công chính và chân thật là màu hồng của chúng ta.

Về mục lục

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY_A

Lm. Inhaxio Hồ thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Chúa Nhật IV Mùa Chay này giúp chúng ta hiểu bí tích Thánh Tẩy, mà các tân tòng chuẩn bị để lãnh nhận vào lễ Đêm Vọng Phục Sinh.

1Sm 16: 1, 6-7, 10-13

Bài Đọc I thuật lại việc Đa-vít được xức dầu phong vương thay thế vua Sa-un, vị vua tiên khởi của dân Ít-ra-en, vì tội bất trung. Từ đây, vua Đa-vít là người được Chúa chọn, mặc một tính chất thánh thiêng và tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Vua Đa-vít là hình ảnh của Đức Ki-tô, Đa-vít của thời đại mới.

Ep 5: 8-14  

Trong Thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô khuyên những Ki-tô hữu sống sao cho phù hợp với cách ăn nếp ở của “con cái ánh sáng”.

Ga 9: 1-41

Tin Mừng Gioan tường thuật việc người mù từ thuở mới sinh được sáng mắt. Bài trình thuật này thuộc giáo lý bí tích Thánh Tẩy, vì sau khi rửa trong hồ Si-lô-ác, mắt anh mù liền thấy ánh sáng, anh là tiền thân của người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Trong ánh sáng của đức tin, người Ki-tô hữu thấy và hiểu được những mầu nhiệm mà người khác không thể thấy và hiểu được.

BÀI ĐỌC I (1Sm 16: 1, 6-7, 10-13)

Bản văn này đưa chúng ta trở về những năm tháng đầu tiên của thể chế vương quyền Ít-ra-en (1020-1010 BC). Sau một thời gian dài do dự (không phải Đức Chúa là vua duy nhất của dân Ít-ra-en đó sao?) và vì những hoàn cảnh đòi buộc, dân Ít-ra-en thử nghiệm thể chế quân chủ. Kinh nghiệm đầu tiên này không thuận buồm xuôi gió: vì vua Sa-un bất tuân, Thiên Chúa đã quyết định truất phế vua. Ông Sa-mu-en, người của Đức Chúa, lại nhận sứ mạng đi tìm kiếm một vị vua mới.

  1. Cách thức tuyển chọn lạ lùng của Thiên Chúa

Câu chuyện xảy ra ở Bê-lem. Tình tiết của câu chuyện mặc khải cách đặc biệt cách thức Thiên Chúa chọn lựa những tôi trung ưu ái của Ngài: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng”. Quả thật, Bê-lem là một vùng quê nhỏ bé không tên tuổi đến nỗi ngôn sứ Mi-kha nói “ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa” (Mk 5: 1); hơn nữa, Đa-vít là con út trong gia đình đông con của ông Gie-sê.

Sự chọn lựa của Thiên Chúa luôn luôn gây kinh ngạc. Để bày tỏ niềm ưu ái đối với những kẻ bé mọn và khiêm hạ, Ngài chọn con út hơn là con cả. Xưa kia, Thiên Chúa đã chọn ông Ghít-on để giải phóng Ít-ra-en khỏi sự áp bức của người Ma-đi-an. Ấy vậy, ông là cậu con trai út trong gia đình thuộc bộ tộc “nhỏ bé nhất ở Mơ-na-se”. Ông Mô-sê cũng được nhìn nhận là “người khiêm tốn nhất trong số con cái loài người”. Lịch sử đã cho chúng ta biết bao ví dụ như thế.

  1. Đa-vít, cậu bé chăn chiên 

Vua Đa-vít xuất thân từ một cậu bé chăn của miền Bê-lêm nhỏ bé nghèo hèn, nơi mà ngàn năm sau đó Đức Giê-su sẽ chào đời. Sự kiện Đấng Mê-si-a giáng sinh ở nơi hẻo lánh này sẽ là một trong những dấu hiệu về Đấng Mê-si-a thuộc “dòng dõi Đa-vít”. Những người chăn chiên Bê-lem sẽ là những người đầu tiên đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su.

  1. Khung cảnh phong vương Đa-vít

Khi đến Bê-lem, ngôn sứ Sa-mu-en hiến tế một con bò cái tơ lên Đức Chúa để “thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ” (1Sm 16: 5b). Trước khi ngồi vào bàn, ngôn sứ Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: “Chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi Đa-vít tới đây”. Vị ngôn sứ đã hiểu rằng chính cậu út Đa-vít là người Thiên Chúa chọn. Chính trong bữa ăn thánh thiêng này mà Đa-vít được xức dầu phong vương.

  1. Tước hiệu “Xức dầu tấn phong”

Xức dầu là nghi thức thánh hiến, thường nhất là nghi thức phong vương. Được “người của Thiên Chúa” xức dầu tấn phong, vị tân vương trở thành một con người thánh thiêng. Dầu tăng sức lực cho thân thể là biểu tượng sức mạnh của Thiên Chúa, thần lực này đến ở với vua: “vua đầy tràn Thần Khí Thiên Chúa”. Tước hiệu: “Đấng được xức dầu” theo tiếng Do thái là “Đấng Mê-si-a” và được dịch sang tiếng Hy lạp là “Đấng Ki-tô” (“Christos”). Như vậy, những lời loan báo về Đấng Cứu Thế trước hết là Đấng Mê-si-a vương đế.

BÀI ĐỌC II (Ep 5: 8-14)

Thánh Phao-lô viết thư gởi tín hữu Ê-phê-xô từ Rô-ma, trong cảnh lao tù, giữa những năm 61-63. Thư này được gởi đến các cộng đoàn Ki-tô hữu miền Tiểu Á, chủ yếu là những Kitô hữu gốc lương dân. Bức thư gồm hai phần: trong phần thứ nhất thuộc đạo lý (1: 3-3: 21), thánh Phao-lô giải thích mầu nhiệm cứu độ phổ quát được ban cho dân Do thái cũng như dân ngoại ở nơi Đức Ki-tô. Trong phần thứ hai thuộc luân lý (4: 1-6: 20), thánh nhân khuyên các tín hữu sống theo những giá trị Ki-tô giáo. Đoạn văn hôm nay được trích từ phần thứ hai này.

Thánh nhân vừa mới nêu lên nhiều chủ đề khác nhau và nhiều hình ảnh đa dạng, rất quen thuộc với khoa giáo lý bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội tiên khởi, như là “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát… và phải mặc lấy con người mới, đó là con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa”. Ở đây, thánh nhân tập trung sự chú ý vào chủ đề ánh sáng.

  1. Người Ki-tô hữu là ánh sáng

“Xưa kia anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ, nhờ kết hợp với Chúa, anh em lại là ánh sáng”. Ở nơi câu này, bí tích Thánh Tẩy được mặc nhiên đề cập đến. Bí tích Thánh Tẩy được gọi là “ơn thần khải”, người chịu phép Thánh Tẩy là “người được ơn thần khải” và giếng Thánh Tẩy được gọi rất ý nghĩa: “nơi lãnh nhận ơn thần khải”. Ngược lại là bóng tối. Việc đối lập ánh sáng và bóng tối, một chủ đề Kinh Thánh rất xưa và rất phổ biến như gặp thấy trong những bản văn của cộng đoàn Qum-rân, được thánh Phao-lô và đặc biệt thánh Gioan lấy lại.

Qua cặp tương phản ánh sáng và bóng tối này, thánh Phao-lô kêu gọi những Ki-tô hữu gốc lương dân ý thức rằng cuộc sống của họ đã được biến đổi sâu xa biết bao, họ đã trở nên khác biệt biết mấy; vì thế, cuộc sống của họ phải làm chứng điều này: “Hãy vạch trần những công việc của bóng tối”. Chắc chắn câu này phải được hiểu rằng cách ăn nếp ở của người Ki-tô hữu có thể khiến cho những tội nhân thay đổi cách sống, bởi vì ánh sáng chiếu soi vào bóng tối và làm cho bóng tối biến tan: “Tất cả những gì đã bị vạch trần, đều lộ ra ánh sáng; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng” .

  1. Người Ki-tô hữu chỗi dậy từ bóng tối sự chết

Qua bí tích Thánh Tẩy, người Ki-tô hữu “chỗi dậy” từ bóng tối sự chết. Chắc hẳn thánh Phao-lô trích dẫn vài câu từ một bài thánh thi về bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội tiên khởi, và phải là khá phổ biến. Chúng ta gặp thấy bài thánh thi này, khá đầy đủ hơn, trong tác phẩm của Giáo Phụ Cơ-lê-men-tê thành A-lê-xan-ri-a vào cuối thế kỷ thứ hai:

“Hãy tỉnh giấc đi, hỡi người đang ngủ.

Hãy chỗi dậy đi từ những vong nhân.

Và Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi.

Ngài là ánh sáng Phục Sinh,

được sinh ra trước khi sao mai xuất hiện;

Ngài ban sự sống bởi ánh quang rạng ngời của Ngài” (Protriptique 9, 84, 2)

Bài thánh thi này minh chứng hùng hồn đạo lý Thánh Tẩy mà thánh Phao-lô không ngừng nhắc đi nhắc lại: chết cho tội lỗi và tái sinh trong Đức Ki-tô Phục Sinh. Hơn nữa, bài thánh thi đậm đà hương vị Kinh Thánh gợi nhớ vài hình ảnh của các ngôn sứ như:

“Này những kẻ nằm trong bụi đất,

hãy trỗi dậy, hãy reo mừng!

Vì lạy Chúa, sương Người ban là sương ánh sáng,

và đất sẽ cho các âm hồn được hồi sinh” (Is 26: 19)

Hay:

“Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của Người đến rồi.

Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi.

Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân;

còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa,

vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60: 1-2)

Đoạn thư này giúp chúng ta hiểu rõ hơn địa vị Ki-tô hữu của chúng ta. Mỗi ngày chúng ta được mời gọi sống theo những giá trị Ki-tô giáo. Đành rằng ơn cứu độ là công trình của Thiên Chúa, nhưng chỉ trở nên hiệu lực khi nào chúng ta mở rộng lòng mình cho Đấng chúng ta tin.

TIN MỪNG (Ga 9: 1-41)

Bài trình thuật này gợi lên nhiều điểm tương đồng với bài trình thuật về việc Đức Giê-su chữa lành người bại liệt (Ga 5 : 9-11). Quả thật, cả hai bài trình thuật đều ghi nhận rằng Đức Giê-su chỉ xuất hiện vào lúc bắt đầu câu chuyện để thực hiện “dấu lạ” và xác định ý nghĩa của nó (9 : 1-7 và 5: 1-8), và vào lúc kết thúc câu chuyện để long trọng tuyên bố bản án (9 : 35-41 và 5: 14-18)). Giữa thời gian ấy, Đức Giê-su rút lui vào hậu trường để hoàn toàn nhường sân khấu cho một bài trình thuật bóng bẩy, linh hoạt, đầy biến động về những phản ứng khác nhau từ phía những hạng người khác nhau trước dấu lạ của Ngài (9: 8-34 và 5: 9-13). Tuy nhiên, với tính hồn nhiên, cởi mở, thông hiểu và dũng cảm: ăn miếng trả miếng của mình, anh mù đã cho thấy trổi vượt hơn người bại liệt thụ động và kém linh hoạt.

  1. Dẫn nhập (9 : 1-7)

A- Vấn đề tội lỗi

“Vấn đề tội” đóng chức năng đóng khung toàn bộ câu chuyện: ở đầu câu chuyện, chính các môn đệ nêu lên: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” (9 : 2) và ở cuối câu chuyện, chính Đức Giê-su nói với các người Pha-ri-sêu: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội của các ông vẫn còn đó” (9 : 41).

Câu hỏi mà các môn đệ nêu lên về quan hệ nhân quả của tội dường như chỉ nhằm tạo cơ hội để Đức Giê-su thực hiện dấu lạ và ban giáo huấn. Tuy nhiên, câu hỏi này nói lên tâm thức của người đương thời. Vào thời đó, người Do thái tin rằng nguyên nhân của những bất hạnh như tai ương hay bệnh tật là án phạt của tội, kể cả tội trước khi sinh ra hay còn trong bào thai. Vì thế, cảnh đời bất hạnh mà người mù từ lúc mới sinh phải chịu là án phạt vì tội của cha mẹ mình. Tuy nhiên, sách Gióp đã nêu lên tại sao người công chính phải chịu đau khổ, nhưng không đưa ra một câu trả lời thỏa đáng nào, ngoài trừ ý định khôn dò của Thiên Chúa. Sau này, sách Tô-bi-a đã bước thêm một bước nữa: thiên sứ đã mặc khải cho ông Tô-bi-a cha, một người công chính thực thi những việc lành phúc đức, rằng Thiên Chúa để cho ông bị cảnh mù lòa là để thứ thách ông (Tb 12: 13).

Đức Giê-su bác bỏ quan niệm nhân quả của tội. Ngài tách biệt rõ ràng điều bất hạnh và án phạt, sự đau khổ và tội. Cảnh đời bất hạnh của anh mù không do tội của anh hay tội của cha mẹ anh, nhưng là cơ hội để Ngài bày tỏ quyền năng của Ngài qua việc cho anh mù được sáng mắt. Từ đó, Đức Giê-su sẽ công bố Ngài là “ánh sáng thế gian”. Như vậy, giả sử trước ở đây, sự mù lòa duy nhất cấu thành tội chính là sự mù lòa của sự cố chấp không chịu tin.

B- Một ngày của Đức Giê-su

Đức Giê-su sánh ví sứ vụ của Ngài với một ngày. Thời điểm đánh dấu việc kết thúc sứ vụ của Ngài được sánh ví với thời điểm “đêm đến”, nghĩa là giờ của bóng tối, giờ của những kẻ chống đối Ngài. Trong khi chờ đợi giờ của bóng tối, Ngài phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Ngài khi trời còn sáng, bởi vì bao lâu Ngài còn ở thế gian, Ngài là ánh sáng thế gian. Để minh chứng Ngài “là ánh sáng thế gian”, Chúa Giê-su sẽ cho người mù từ lúc mới sinh được thấy ánh sáng, cả ánh sáng thể lý lẫn ánh sáng tâm linh (x. Is 42: 6-7).

C- Dấu lạ

Dấu lạ được mô tả chỉ trong hai câu (9: 6-7), bởi vì người kể chuyện chú trọng hơn đến những cuộc tranh luận do dấu lạ gây nên và những hậu quả mà anh mù được sáng mắt phải gánh chịu.

“Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù”. Theo niềm tin dân gian phổ biến vào thời đó, nước miếng có hiệu lực chữa bệnh. Trước đây rồi, Đức Giê-su đã dùng nước miếng của Ngài để chữa lành người câm điếc (Mc 7: 32) và người mù ở Bết-xai-đa (Mc 8: 23). Nhưng ở đây, Đức Giê-su trộn nước miếng với đất thành bùn và xức vào mắt người mù. Phải chăng Đức Giê-su muốn họa lại cử chỉ sáng tạo, qua đó muốn nói rằng Ngài sẽ làm cho người mù thành một con người hoàn toàn mới? Hay đơn giản hơn, phải chăng sự kiện xức bùn vào mắt và đòi hỏi anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác là một hành vi đức tin, một yếu tố cần thiết để đón nhận dấu lạ? Quả thật, hiệu quả chỉ xuất hiện sau khi người mù đến rửa trong nước hồ Si-lô-ác.

Nước hồ này được xem là thánh thiêng. Vào lễ Lều, vị tư tế phải đến múc nước ở đây để dùng cho các nghi thức thanh tẩy. Nước này bắt nguồn từ suối Gi-bon và được dẫn đến hồ Si-lô-ác qua một lạch ngầm dưới đất (2V 20: 20; 2Sb 32: 30; Hc 48: 17). Ngay cả tên của hồ này cũng mang ý nghĩa biểu tượng: Si-lô-ác có nghĩa là “người được sai đi”. Dường như thánh Gioan muốn nhắc lại ý nghĩa của tên Si-lô-ác này, vì thánh nhân muốn quy chiếu đến tác giả đích thực của việc chữa lành chính là Đức Giê-su, “Đấng được Chúa Cha sai đi”. Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su thường dùng tước hiệu “Đấng được sai đi” để chỉ về chính mình.

  1. Hai thái độ tương phản: (9: 8-34)

Trong phần này, Đức Giê-su vắng mặt, tuy nhiên Ngài vẫn là tác nhân chính yếu gây nên những phản ứng từ phía những hạng người khác nhau. Việc người mù được sáng mắt sẽ nêu bật hai thái độ tương phản mà sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế gian đòi hỏi con người phải chọn lựa.

A- Thái độ của người mù được sáng mắt

Anh mù được sáng mắt là một con người có lương tri ngay thẳng, vẫn một mực trung thành với sự thật, biết sử dụng lối nói mĩa mai, thậm chí châm biếm, lại còn biết phi bác sự thông thái của những người Pha-ri-sêu: “Chúng tôi biết rằng…” (9: 29) bằng cách viện dẫn nguyên tắc thông thường: “Như mọi người điều biết…” (9 : 31-32; x. Is 1: 15; Tv 66: 18; 109: 7; Cn 15: 29, vân vân) và cuối cùng bày tỏ tấm lòng rộng mở trước ánh sáng khác, ánh sáng đức tin.

Con đường đức tin của người mù là con đường tiệm tiến: từ những lời tra hỏi từ phía những người láng giềng cho đến những lời chất vấn của những người Pha-ri-sêu, chân tính của Đức Giê-su càng lúc càng sáng tỏ hơn ở nơi anh. Khởi đầu, anh bày tỏ một sự hiểu biết mơ hồ về một người đã thi ân giáng phúc cho mình: “một người tên là Giê-su” (9: 11), đoạn, anh bắt đầu nhận ra ở nơi người ấy: “một ngôn sứ” (9: 17) và tiếp đó: “Đấng được Thiên Chúa sai đến” (9: 33). Cuối cùng, khi đối diện với Đức Giê-su, Đấng tự tỏ mình ra cho anh, anh tuyên xưng đức tin của mình: “Thưa Ngài, tôi tin” (9: 38) và thờ lạy Ngài.

B- Thái độ của những người Pha-ri-sêu

Trong khi sự kiện dần dần được chứng thực từ phía những người láng giềng, cha mẹ của người mù được sáng mắt và chính đương sự, thì thái độ của những người Biệt phái càng lún sâu vào những tà ý, cố chấp, từ chối ánh sáng và để lộ mình là những người mù đích thật.

Trong câu chuyện này, hai chi tiết đáng chú ý do hậu cảnh lịch sử của chúng. Trước hết, những người Pha-ri-sêu bất đồng với nhau về vấn đề Đức Giê-su: “Thế là họ đâm ra chia rẽ”. Về sự kiện này, các sách Tin Mừng và sách Công Vụ cung cấp nhiều ví dụ khác nữa: trong số những người Pha-ri-sêu có vài người có tinh thần rộng mở, họ âm thầm gắn bó với Đức Ki-tô. Trong câu chuyện này, chính thành phần cố chấp nhất mực nhắm mắt trước sự thật. Trong con mắt của những con người ngoan cố này, Đức Giê-su đã vi phạm ngày sa-bát, vì vậy là một con người tội lỗi, mà đã là một con người tội lỗi thì không thể nào thực hiện dấu lạ như thế. Vì thế, họ không chỉ từ chối từ dấu lạ và chân tính của Đức Giê-su, nhưng còn buộc người mù phải thú nhận là mình sai lầm vì đã tuyên xưng ông Giê-su này là một ngôn sứ.

Ngoài ra, đối với đọc giả Tin Mừng Gioan, việc anh mù được sáng mắt bị trục xuất ra khỏi hội đường vang dội tính thời sự của cộng đoàn Gioan. Các tông đồ và các môn đệ của thế hệ thứ nhất đã giảng dạy trong các hội đường, nhưng sau đó bị trục xuất khỏi hội đường. Những người Do thái nào tin Đức Giê-su là Đấng Ki-tô cũng bị trục xuất khỏi hội đường và trở thành đối tượng của những quấy nhiễu, hạch sách và bắt bớ. Việc người mù được sáng mắt bị trục xuất ở đây báo trước hoàn cảnh của Giáo Hội sau này.

  1. Phần kết (9 : 35-41)

Đức Giê-su lại xuất hiện và bày tỏ thái độ của Ngài đối với người mù được sáng mắt và đối với những người Pha-ri-sêu cố chấp.

A- Thái độ của Đức Giê-su đối với người mù được sáng mắt

“Sau khi nghe nói họ đã trục xuất anh, Đức Giê-su đến gặp anh”. Đối với những ai chịu đau khổ vì làm chứng cho Ngài, dù không nhận biết Ngài, Ngài sẽ mặc khải chân tính của Ngài, như anh mù được sáng mắt hôm nay. Sau khi đã mở đôi mắt xác thịt của anh để anh thấy ánh sáng, Ngài mở đôi mắt tâm hồn anh để anh khám phá Mặc Khải.

B- Thái độ của Đức Giê-su đối với những người Pha-ri-sêu cố chấp

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại đui mù”. Đức tin là một ân ban của Thiên Chúa. Thiên Chúa tỏ mình ra cho những ai mở rộng tâm trí sẵn sàng đón nhận ánh sáng của Ngài. Còn những ai tin tưởng vào ánh sáng của riêng mình mà tìm cách ngăn chận những kẻ khác tin vào Ngài, thì những người đó trở nên đui mù.

Đối với những người Pha-ri-sêu, những người chất vấn Ngài phải chăng họ đều đui mù hết cả sao, Chúa Giê-su đưa ra một bài học thâm thúy: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn đó”. Những lời này nêu bật thần học xét xử của Tin Mừng Gioan: Đức Giê-su không xét xử ai cả, chính mỗi người tự xét xử chính mình, hoặc mở mắt ra mà tin nhận Đức Giê-su hoặc khép mắt lại mà khỏi phải thấy những việc Ngài làm để khỏi tin vào Ngài. Đó chính là tội cố chấp và bản án đã có sẵn ở đây rồi, và ngay bây giờ chứ không phải đợi đến ngày chung thẩm.

Câu chuyện mở ra với lời công bố rằng sự mù lòa thể lý không có tội và đóng lại với lời công bố rằng sự mù lòa tâm linh mới có tội.

Về mục lục

NHÃN QUAN

Trầm Thiên Thu

Con mắt có thể tiết lộ nhiều thứ độc hại, bởi vì “Ai nhìn với con mắt đố kỵ là người xấu, nó ngoảnh mặt đi và khinh dể thiên hạ.” (Hc 14:8) Con mắt cũng là “đường dẫn” nhiều thứ xấu xa: “Có thụ tạo nào tệ hơn con mắt? Gặp chi nó cũng phát khóc vì thèm.” (Hc 31:13) Người ta so sánh: “Mắt láo liên như thằng trộm cắp.” Vì thế, Kinh Thánh khuyên cẩn trọng: “Hãy học cho biết đâu là khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là thông hiểu, đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng soi con mắt, và đâu là bình an.” (Br 3:14) Trong đó có con mắt. Không hề đơn giản!

Với kinh nghiệm sống, tiền nhân đã xác định: “Giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay.” Điều đó chứng tỏ rằng đôi mắt sáng thực sự là điều cần thiết cho cuộc sống đời thường. Người mù bẩm sinh còn đỡ khổ hơn người lớn lên rồi mới bị mù. Người mù bẩm sinh vẫn cảm thấy “bình thường” vì họ không có khái niệm về chiều kích hoặc màu sắc. Người lớn lên mới bị mù chắc chắn cảm thấy khổ sở hơn vì đã trải nghiệm những khái niệm liên quan cuộc sống.

Đau đâu khốn đấy. Có hai con mắt mà một mắt có thị lực yếu, bị đau hoặc bị mờ, thậm chí chỉ là bụi vào mắt, cũng thấy khổ lắm rồi chứ nói chi bị mù hẳn. Hai con mắt mà “khác” một chút thôi cũng đủ biết khổ sở, tình trạng “bốn mắt” cũng chẳng thoải mái gì, khổ suốt, vì cứ phải lệ thuộc vào cái kính. Vướng víu!

Con mắt cũng có khả năng biểu cảm – biết khóc, biết cười, biết giận, biết thương. Khó nhận biết khi mắt cười, nhưng ai cũng nhận biết khi mắt khóc. Khóc cũng đa dạng: vì vui, vì buồn, vì khổ, vì thương, vì nhớ, vì tức, vì sợ, vì nũng nịu, vì giả bộ,… Tuy nhiên, đôi khi người ta cũng cần phải biết khóc, vì nước mắt có thể “cuốn trôi” nỗi buồn và làm sạch mắt nhờ chất mặn. Về tâm linh, cần phải khóc vì tội lỗi mình đã phạm – tội với Thiên Chúa và lỗi với tha nhân. Nhiều lắm, nhất là trong tư tưởng và những thiếu sót.

Thật kỳ lạ, con mắt còn có khả năng “bật mí” nhiều thứ khác, thế nên đôi mắt được coi là “cửa sổ” của tâm hồn. Qua hai “cửa sổ bé nhỏ” này, người ta có thể nhận biết người đối diện như thế nào. Cửa sổ nhỏ hơn cửa ra vào, thế nhưng đôi khi cửa sổ vẫn thực sự quan trọng. Đối với con người, ai yếu vía sẽ “tự quay đi” khi nhìn vào mắt của người “mạnh vía” hơn mình. Dòng nước mạnh sẽ “lướt” dòng nước yếu. Tự nhiên vậy thôi!

Tình trạng mù lòa đồng nghĩa với tối tăm, trái ngược với sáng sủa. Khiếm thị hoặc mù lòa về thể lý là tình trạng tồi tệ đối với một con người, nhưng “mù lòa tâm linh” không chỉ tồi tệ mà còn nguy hiểm. Thế nên Chúa Giêsu xác định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9:39) Thật đáng sợ nếu chúng ta bị Ngài quở trách như vậy. Lúc đó, chúng ta hóa thành người “có mắt như mù.” Quá đỗi khủng khiếp. Chết chắc!

Khóc vì buồn, buồn vì tiếc. Nhưng có đáng tiếc hay không? Ngày xưa, Thiên Chúa nói thẳng với Samuel: “Ngươi còn khóc thương Saun cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Israel nữa? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Giesê người Bêlem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.” (1 Sm 16:1) Thiên Chúa không đề cập con mắt, nhưng chúng ta biết Ngài nói đến mắt nhờ động từ “khóc” – liên quan nước mắt.

Chúng ta biết thông tin qua trình thuật 1 Sm 16:6-7, 10-13 rằng khi họ đến, ông Samuel thấy Êliáp, ông nghĩ: “Đúng rồi! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây!” Thế nhưng Đức Chúa bảo ông Samuel: “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.” Cách nghĩ của Thiên Chúa hoàn toàn khác hẳn với loài người, tầm nhìn của Ngài cũng hoàn toàn khác với tầm nhìn của phàm nhân, kể cả tư tưởng – cách xa một trời một vực.

Theo cách nhìn của con người, chúng ta thường quan niệm rằng “quen sợ dạ, lạ sợ áo.” Vì nhìn thấy “con lợn béo” nên cho rằng “lòng nó ngon.” Thiên Chúa lại không có quan niệm niệm như vậy, Ngài không nhìn theo bề ngoài mà Ngài nhìn “thấu suốt” nội tâm. Tục ngữ Việt Nam nhắc nhở: “Chiếc áo không làm nên thầy tu.” Những người coi trọng bề ngoài là những người có nội tâm hời hợt, nông cạn – dạng “yếu bóng vía” hoặc “mắt kém.” Chúng ta thường dựa vào chức vụ hoặc bằng cấp (cả đời và đạo) để xác định “trình độ” của ai đó, nhưng thực sự là “bé cái lầm” mà thôi.

Rồi ông Giesê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Samuel, nhưng ông Samuel nói với ông Giesê: “Đức Chúa không chọn những người này.” Quả là “mắt thần” có khác! Rồi ông lại hỏi rằng các con ông Giesê có mặt đầy đủ chưa. Ông Giesê nói còn cháu út đang chăn chiên. Ông Samuel liền bảo ông Giesê cho người đi tìm nó về rồi mới nhập tiệc. Ông Giesê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Đức Chúa nói với ông Samuel: “Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi! Chính nó đó!” Ông Samuel cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Chúa nhập vào Đavít từ ngày đó trở đi.

Đáp ca hôm nay sử dụng cả 6 câu trong Thánh Vịnh 23 [22]. Đây là Thánh Vịnh phổ biến, quen thuộc, nói về niềm hạnh phúc được Chúa quan phòng và gìn giữ, đồng thời cũng đề cập lòng tín thác: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.” (Tv 23:1-4) Đó là cách sống đức tin – phó thác cho Thiên Chúa định liệu mọi sự.

Kinh nghiệm dù nhiều hay ít cũng cho thấy đúng như vậy. Quả thật, khi có Thiên Chúa đồng hành thì “dầu qua lũng âm u” cũng “chẳng sợ gì nguy khốn,” bởi vì có “côn trượng Ngài bảo vệ” thì hoàn toàn “vững dạ an tâm.” Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.” (Tv 23:5-6) Có Chúa là có tất cả, vì chúng ta được đi trên “con đường sáng” chứ không tăm tối. Chẳng phải lo chi, mà có lo cũng chẳng xong, sợ cũng chẳng được: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”

Rất thực tế, Thánh Phaolô nói: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.” (Ep 5:8-9) Có nghĩa là phải cẩn trọng xem “điều gì đẹp lòng Chúa,” chứ “đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối,” đặc biệt là “phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng.” (Ep 5:10-11) Ông giải thích: “Vì những việc chúng làm lén lút thì nói đến đã là nhục rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng: “Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5:12-14) Có lẽ ai cũng sợ sự vạch trần hoặc tố giác. Tại sao? Vì đồng lõa với bóng tối – lãnh địa của ma quỷ.

Mặc dù bóng tối rất mạnh, chỗ nào không có ánh sáng thì nó phủ đầy ngay. Nhưng nó mạnh mà yếu, vì chỗ nào có ánh sáng, dù chỉ le lói, nó cũng sẽ phải lui ngay. Bóng tối dày đặc của cả thế gian cũng không thể che khuất một đốm sáng. Quẹt một que diêm sẽ thấy “tác động” giữa ánh sáng và bóng tối. Ánh sáng rất cần, nhưng chúng ta phải cố gắng “tạo” ra nó. Có một câu danh ngôn liên quan ánh sáng và bóng tối, ý nói chúng ta phải không ngừng nỗ lực trong cuộc sống: “Hãy thắp lên một ngọn nến còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.”

Chỉ là chuyện đời thường tạm bợ mà chúng ta còn phải cố gắng thì chuyện tâm linh càng phải nỗ lực hơn rất nhiều, không thể gặp chăng hay chớ hoặc tùy hứng.

Trình thuật Ga 9:1, 6-9, 13-17, 34-38 cho biết rằng cả Thầy Trò cùng nhìn thấy một người mù bẩm sinh. Các môn đệ hỏi Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Ngài trả lời: “KHÔNG phải anh ta, cũng CHẲNG phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Khi “thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện” là lúc Ngài được vinh danh.

Ngài nói rõ ràng, nhưng người ta vẫn chẳng “ngộ” ra sự thật, phải chăng vì không quan tâm? Thế nên trong cuộc sống, chúng ta vẫn “chắc nịch” cho rằng những người kém may mắn hơn mình (làm ăn thua lỗ, mùa màng thất bát, bị tai nạn, bị bệnh hoạn, bị xui xẻo, gặp hạn,…) đều là những người tội lỗi. Có người chỉ “để bụng,” nhưng có người lại dám “phán” rằng “Chúa phạt!” hoặc “Đáng đời!” Ôi, lạy Chúa, nói theo kiểu phim Hong Kong thì đúng là “thiện tai” thật!

Cũng chưa xong, người ta còn có thiên kiến – định kiến, thành kiến. Cùng sự cố như nhau (ví dụ: bệnh hoạn), với người không “hợp ý mình” thì người ta nói là do Chúa phạt, nhưng với người “hợp ý mình” thì lại nói rằng đó là Thánh giá Chúa trao. Đúng là “cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.” Nếp nghĩ lệch lạc đó chính là động thái “giết người” mà không cần vũ khí. Thật đáng quan ngại!

Sau khi cho các đệ tử biết lý do, Chúa Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.” (Silôác [Siloah] nghĩa là Người Sai Phái. Hồ này ở phía Đông Nam Giêrusalem, cuối thung lũng Tyropeon.) Anh ta liền đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. Chúa Giêsu có biệt dược độc đáo ghê đi, phải nói là “thần dược” hoặc “linh dược” mới đúng, mặc dù chỉ là “nước miếng trộn với bùn.” Hay quá chừng. Mấy lang băm chớ mà học đòi theo, kẻo các pháp sư phải sợ mà chạy có cờ, còn các lương y và bác sĩ danh tiếng phải tâm phục khẩu phục. Thật là tuyệt chiêu!

Người bàn ra, kẻ tán vào, xì xầm bàn tán theo ý kiến riêng, vì trước kia họ thường thấy anh ta ăn xin. Có người chắc chắn là chính hắn, có kẻ thì bảo không phải, kẻ khác lại bảo một người giống hắn. Chín người, mười ý, lắm lý nhiều ý, chẳng ai chịu ai. Thế rồi họ dẫn anh ta đến gặp nhóm Biệt Phái quái đản. Rắc rối là ngày Chúa Giêsu làm cho anh ta sáng mắt lại là ngày sabát. Nhóm Pharisêu hỏi thêm một lần nữa rằng tại sao anh ta sáng mắt, và chính anh xác nhận: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” Trong nhóm Pharisêu, người thì bảo Chúa Giêsu không thể là người của Thiên Chúa vì Ngài không giữ ngày sa-bát, kẻ thì bảo rằng người tội lỗi không thể làm được những dấu lạ như vậy. Cũng chẳng ai chịu ai, thế là họ đâm ra chia rẽ. Ngộ dữ nghen, chuyện của người ta mà xía vô làm chi? Rồi họ lại hỏi ý kiến của anh ta về người đã chữa mắt. Anh ta nói ngay: “Người là một vị ngôn sứ!” Quá đúng. Nhưng cũng vì vậy mà nhóm Pharisêu phát tức, máu bốc tới chỏm đầu.

Sự thật rõ ràng, vậy mà người Do Thái vẫn không tin trước đây anh bị mù và bây giờ nhìn thấy, họ đã gọi cha mẹ anh ta đến. Họ hỏi anh có phải là con của họ hay không, cha mẹ anh xác nhận anh bị mù từ khi mới sinh, còn bây giờ anh sáng mắt thì họ không biết tại sao, cha mẹ anh bảo họ cứ hỏi anh ta là chính xác nhất. Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do Thái, những người sẵn sàng trục xuất khỏi hội đường bất cứ kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Thật tồi tệ đối với những kẻ lắm quyền nhiều chức!

Và một lần nữa, chính họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” (Ga 9:24) Nhưng anh ta bảo rằng ông ấy có phải là người tội lỗi hay không thì anh không biết, mà anh chỉ biết một điều là trước đây anh bị mù nhưng nay anh nhìn thấy được. Họ hỏi anh xem Chúa Giêsu đã làm thế nào mà anh sáng mắt, anh bảo rằng anh đã nói rồi mà họ không chịu nghe. Anh thẳng thắn nói rằng có phải họ cũng muốn làm môn đệ Chúa Giêsu hay không. Máu tự ái lại bốc lên nên họ không tiếc lời mắng nhiếc, thóa mạ: “Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Môsê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê; nhưng chúng ta không biết ông Giêsu ấy bởi đâu mà đến.” Đúng là “kẻ ngu mở miệng là tai họa đến gần.” (Cn 10:14) Y như rằng!

Chó đen giữ mực. Kẻ ngu si không kìm được giận dữ và để lộ điều dại dột. (Cn 12:16; Cn 13:16) Anh ta thấy khó hiểu, vừa gãi đầu vừa nói: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến thì ông ta đã chẳng làm được gì.” (Ga 9:30-33) Cái “nếu” của anh mù đưa ra thật độc đáo. Thế nhưng họ vẫn cố chấp và đối lại: “Trứng khôn hơn vịt. Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” (Ga 9:34) Và rồi họ liền trục xuất anh. Người có tâm địa xấu là vậy, chỉ chờ có thế thôi. Không còn sĩ diện, “ngu si mà cứ tưởng mình ngay chính.” (Cn 12:15)

Chuyện anh ta bị trục xuất, Chúa Giêsu cũng biết, nên khi gặp lại anh, Ngài hỏi anh có tin vào Con Người không, anh ta hỏi Đấng ấy là ai để anh ta tin. Ngài trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” (Ga 9:37) Vô cùng bất ngờ nhưng anh lại thấy vui mừng và nói ngay: “Thưa Ngài, tôi tin.” (Ga 9:38) Nói xong, anh sấp mình xuống trước mặt Ngài. Đức tin của “cựu người mù” này lớn quá! Tại sao? Thong thường thì đa số hơn thiểu số, mặc dù nhiều người ghét Chúa Giêsu mà anh vẫn có lập trường rõ ràng của riêng mình, không chịu “gió chiều nào ngả theo chiều nấy.” Anh này thật diễm phúc – nhờ có đức tin mạnh mẽ.

Chúa Giêsu biết anh ta thật lòng nên cho biết: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9:39) Những người Pharisêu đang ở đó và nghe vậy liền lên tiếng: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?” Lại tự ái. Đầu óc “bã đậu” và “nhỏ nhen” như thế thì chả bao giờ khá lên được. Đầu óc gì mà nhỏ như hạt đậu, hẹp như ống hút nước vậy! Có lẽ lúc ấy Chúa Giêsu cũng phải lắc đầu, rồi Ngài thản nhiên bảo họ: “Nếu các ông đui mù thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng ‘chúng tôi thấy’ nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9:41) Kẻ chảnh thì thường ngu đột xuất, bây giờ lại tiếp tục ngu kinh niên, ngu tầm cỡ quốc tế luôn. Chán ngán quá!

Thế nhưng có lẽ chúng ta cũng đã có những lần giống như nhóm Pharisêu, chẳng “thoáng” hơn họ bao nhiêu. Và rồi chúng ta cũng vẫn cứng lòng, không chịu “cho vào tai” những lời “thuận ngôn,” không chịu “cân nhắc” lời hơn lẽ thiệt, không chịu “mở mắt” to để nhìn rõ vấn đề, thế nên lời nguyền rủa “có mắt như mù” cũng chẳng hề oan ức. Thế thì đáng lo sợ lắm!

Chắc chắn rằng mù lòa thì khổ lắm, khổ đủ thứ. Chỉ mờ mắt một chút đã thấy khổ rồi, càng khổ hơn nếu cận thị, viễn thị hoặc loạn thị. Nói chung là khổ hết ráo khi “cửa sổ tâm hồn” không bình thường. Thánh Vịnh gia nói: “Mở mắt coi, bạn liền thấy rõ thế nào là số phận bọn ác nhân.” (Tv 91:8) Do đó, luôn phải biết cầu nguyện: “Xin mở mắt cho con nhìn thấy luật pháp Ngài kỳ diệu biết bao.” (Tv 119:18)

Thời gian trôi qua mau chóng. Chúa Nhật IV Mùa Chay là “cột mốc” cho biết đã qua nửa Hành Trình Mùa Chay. Mỗi chúng ta đã “nhìn” thấy gì, “sáng” thêm chút nào? Có chữ bớt cận thị, viễn thị hoặc loạn thị chưa? Cận thị vì ảo tưởng mà mạo nhận là mình đạo đức tốt lành, viễn thị vì không thấy “giỏ tội” của mình ngay trước mặt, và loạn thị vì không lo đấm ngực mình mà cứ lo đấm ngực người khác. Mùa Chay không còn dài thời gian, chúng ta cùng tạ ơn Chúa và tiếp tục xin Ngài dìu dắt chúng ta đi hết chặng đường Mùa Chay đúng ý Chúa muốn.

Lạy Thiên Chúa, xin đừng trách mắng con khi thịnh nộ, đừng sửa trị con lúc nổi lôi đình. (Tv 38:2) Xin giúp con biết yêu thương chân thành, nhận ra Ngài nơi tha nhân – những người được tạo nên giống hình ảnh Ngài, đặc biệt là những người đau khổ, nghèo khó, hèn mọn. Xin cho người khác cũng nhận thấy có Ngài thực sự sống động nơi con. Xin nâng đỡ những người khiếm thị và những người chăm sóc họ. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...