28/11/2023
179

CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN – A

Lời Chúa: Ed. 34, 11-12.15-17; 1Cr. 15, 20-26.28; Mt. 25, 31-46
-----------------------------

Mục lục

  1. Vương quyền để phục vụ và yêu thương  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  2. Có Phúc Có Phần(Lm. Jos DĐH, Gp. Xuân Lộc)
  3. Đức Vua Và Thần Dân(Thiên San, MTG. Thủ Đức)
  4. Suy Niệm Lễ Đức Kitô – Vua Vũ Trụ (Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
  5. Lãnh nhận phần phúc (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  6. Vua Giêsu  (Jorathe Nắng Tím)
  7. Phán xét  (Lm. Thái Nguyên)
  8. Được yêu như Chúa yêu (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)
  9. Giêsu là Vua  (Anna Cỏ May, MTG.Thủ Đức)
  10. Vị vua thẩm phán  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
  11. Vương quyền và vinh quang (Lm. Vũ Đình Tường)
  12. Đấng xét xử  (Trầm Thiên Thu)
  13. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Lễ Chúa Kitô Vua  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

VƯƠNG QUYỀN ĐỂ PHỤC VỤ VÀ YÊU THƯƠNG

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong những ngày này, cả thế giới hồi hộp theo dõi cuộc chạy đua vào Nhà Trắng của hai ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ, một vị thuộc đảng Cộng hoà, một vị thuộc đảng Dân chủ. Cuộc đua càng gay cấn khi có những cáo buộc từ phía đảng Cộng hoà, cho rằng Đảng Dân chủ đã có những gian lận trong việc bầu cử, nhất là từ những lá phiếu gửi qua đường bưu điện. Những phê phán nặng lời đến từ hai phía, làm cho nước Mỹ hỗn loạn. Đã có nhiều cuộc biểu tình và bạo động đến từ những người ủng hộ các ứng viên tổng thống. Chắc chắn nước Mỹ phải có tổng thống trong vài tuần tới. Tuy vậy, những lùm xùm xung quanh việc bầu cử đang làm ảnh hưởng đến hình ảnh của đất nước quyền lực nhất thế giới. Nó cũng cho thấy cơn cám dỗ quyền lực thật ghê gớm và mạnh mẽ. Những hứa hẹn khi tranh cử, những thủ đoạn trong bầu cử, đều cho thấy người ta dùng mọi cách để đạt được quyền lực, mà đó lại là quyền lực nhất thời.

Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội tôn vinh Đức Giêsu Kitô là Vua Vũ trụ. Danh hiệu “Vua” được coi như quy tóm những lời danh xưng mà Giáo Hội đã dành để tôn vinh Ngôi Lời nhập thể trong suốt một năm. Danh hiệu “Vua” dễ gây ngộ nhận, đồng thời có thể là cơ hội để những người thiếu thiện cảm với Kitô giáo suy diễn công kích. Thực sự, khi tôn vinh Đức Giêsu Kitô là “Vua”, truyền thống Giáo Hội khẳng định: Người là Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo. Người cũng là Đấng Cứu chuộc và xoá bỏ tội lỗi trần gian. Người là Đấng khai mở kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công bình, chân lý và tình yêu. Trong giáo huấn của Chúa Giêsu, Người luôn nhấn mạnh đến những yếu tố này. Cũng như một vị vua thống trị cõi sơn hà, Đức Giêsu là Vua của hoà bình như lời tiên báo của các ngôn sứ trong Cựu ước. Người thiết lập hoà bình giữa các dân tộc, và nhất là hoà bình trong tâm hồn con người. Vương quốc của Người rộng lớn bao la và hiện diện trong trái tim của những ai thành tâm tìm kiếm Chúa và chuyên cần thực thi giáo huấn của Người.

Lời Chúa trong lễ Chúa Kitô Vua diễn tả Người là một vị Vua hoàn toàn khác với quan niệm trần gian. Ngôn sứ Edêkien diễn tả vị vua như một mục tử. Đây là hình ảnh rất quen thuộc trong xã hội Do Thái thời xưa. Vị vua này có đủ các đức tính của một mục tử, luôn ân cần săn sóc đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Hình ảnh người mục tử trong ngôn sứ Edêkien sẽ được tròn đầy ý nghĩa qua cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Người đã chấp nhận chết để nhân loại được sống. Người rảo khắp xứ Palestina để chữa lành con người tổn thương do tội lỗi và do bệnh tật thể xác cũng như tinh thần gây nên. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá đã quy tụ muôn dân, làm cho nhân loại trở thành gia đình của Thiên Chúa. Người đã phá bỏ bức tường ngăn cách giữa dân ngoại và dân Do Thái, làm cho thế giới này trở thành vương quốc của tình huynh đệ. Thánh Phaolô đã quảng diễn điều này trong thư gửi giáo dân Côrintô (Bài đọc II). Đức Giêsu được tôn vinh là Vua, vì Người đã chấp nhận cái chết để ban cho nhân loại sự sống, như một mục tử hy sinh mạng sống để đàn chiên được bình an. Cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta: quyền lực vương đế của Người không phải để thống trị, mà là để phục vụ và yêu thương.

Cũng hoàn toàn khác với quan niệm một vị vua trần gian hay một tổng thống ngoài đời, hình ảnh về vị Vua khiến chúng ta ngỡ ngàng hơn nữa, qua trình thuật của sử gia Matthêu về ngày phán xét chung. Lúc đó, vị Vua xuất hiện như một vị thẩm phán công minh. Người xét xử kẻ dữ và kẻ lành, trả công cho mỗi người theo công việc họ đã làm khi sống trên dương gian. Những người chịu phán xét ngạc nhiên trước lời tuyên bố của vị Thẩm phán: “Tôi bảo thật anh em: những gì anh em làm cho một trong các người bé mọn nhất này của Tôi, là anh em đã làm cho chính Tôi” (Mt 25,40). Thì ra, Đức Giêsu đồng hoá mình với những kẻ bé mọn, cơ nhỡ và bất hạnh trong cuộc đời, để rồi những ai giúp đỡ họ là giúp đỡ Chúa; những ai bỏ rơi họ là bỏ rơi Chúa. Vị Vua của chúng ta là như thế đó. Những ai chuyên tâm làm việc thiện và giúp đỡ anh chị em mình, xứng đáng được hưởng hạnh phúc đời đời.

Ngày hôm nay, vị Vua Giêsu vẫn đang cùng đi với chúng ta trong mọi nẻo đường của cuộc sống, để khích lệ, thêm sức cho chúng ta trên đường đời. Mỗi khi thực thi giáo huấn của Người là chúng ta góp phần làm cho vương quốc tình yêu của Người được triển nở và lan rộng. Lời cầu nguyện “Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, cần phải đi đôi với những nỗ lực cố gắng làm cho vương quốc hoà bình mà Đức Giêsu khai mở được thực hiện. Là Kitô hữu cũng là công dân của vương quốc vĩnh cửu. Xin cho chúng ta sống xứng đáng với danh hiệu cao quý này, để đáng được Chúa chúc phúc, hôm nay cũng như vào giờ phán xét cuối cùng.

Về mục lục

CÓ PHÚC CÓ PHẦN

Lm. Jos DĐH, Gp. Xuân Lộc

Không cần uyên bác hay nội công thâm hậu, mọi người đều biết đến quy luật: quan nhất thời, dân vạn đại. Không cần xác định bạn là tiểu nhân hay quân tử, chung chung thì ai chẳng khao khát niềm vui hạnh phúc. Dù chưa từng sống thời quân chủ, hay chế độ phong kiến, sử sách vẫn ghi nhận ở đâu cũng có xung đột, đấu tranh giai cấp, chỉ vì con người không bình an, chưa đủ tin yêu trong cư xử. Từ nhu cầu vật chất, chức tước bổng lộc, chi phối nhiều đến cuộc sống, nên cha ông ta có câu: nỗi đau lớn nhất ở đời là con cái muốn báo hiếu, nhưng cha mẹ không còn nữa ! Thực ra, người ta biết nói những lời tốt đẹp, nhưng chỉ khi có hành động, mới đủ tư cách cho thấy mình là ai ! Thành công trong lời nói việc làm, trong thánh ý Chúa, chưa phải là điểm dừng, bởi đó chỉ là động lực giúp ta vững vàng hơn trên hành trình sẽ bước tới.

Cùng sống tâm tình phụng vụ lễ Chúa Kitô Vua, Giáo hội quy chiếu các chi thể về tình yêu thương mà Đức Kitô chiến thắng quy luật sự chết, nhằm khơi dậy tác động ơn thánh nơi các kitô hữu, chu toàn bổn phận trách nhiệm của mình. Một viễn cảnh mới, một tương lai tốt đẹp: Đấng phân xử, Đấng quyền năng, Đấng chiến thắng thế gian xuất hiện trong uy nghi, “khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy các thiên thận hầu cận…”. Đấng phân xử giúp mọi người nhận ra “Vua tình yêu”, Vương quyền sống động bởi các thiên thần và muôn dân thiên hạ, được quy tụ bên ngai toà uy linh. Hình ảnh chiên và dê, bên hữu bên tả phân minh: có phúc, có phần, hoặc vô phúc đối với những phần tử không thực thi đức ái. Lời thân thưa giữa người tốt và kẻ xấu có điểm giống nhau: “lạy Chúa, có bao giờ con thấy Chúa đói mà cho ăn, có bao giờ con thấy Chúa khát mà cho uống …”.

Có phần có phúc, vừa sung sướng vừa bất ngờ trước việc làm của mỗi người, ắt hẳn: có sinh có tử, có gieo có gặt, ở hiền gặp lành, có đạo phải sống đạo. Có tin Đấng đã đến là Vua tình yêu, có khao khát được yêu sống yêu thương, mới thực sự là thần dân của Vương quốc Giêsu. Mang thần phận người, được là kitô hữu, mang phần phúc của các thánh đã đổ máu đào, của tiền nhân, được ơn Chúa, được tình yêu Chúa thôi thúc, đặc biệt là ơn cứu độ. “Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh nhận phần gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ”. Cha ông chúng ta nói: có đức ắt có phúc, có phúc ắt có phần, bởi vì, không phải giầu có hay cao sang tạo ra hạnh phúc, nhưng chính là sự tĩnh lặng nội tâm và hành động được cân nhắc.

Có phúc, có phần, có tình có nghĩa, có sống đức ái, sẽ gặp Đấng giầu lòng nhân ái: tướng giỏi thắng trận không cần lời khen, người xả thân làm việc thiện chẳng hơi đâu mà kiểm đếm thành tích. Mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau, mỗi kitô hữu đều có cơ hội làm môn đệ Đức Kitô, mỗi nghĩa cử vì người nghèo, đều được Đấng từ trời ghi nhận. “Quả thật, Ta bảo các ngươi: nhưng gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Vua Kitô sẽ không biến dê thành chiên, đang khi còn lữ hành trần thế này, Vua tình yêu có thể biến đổi tâm tính xấu xa tội lỗi, để qua sứ mạng Chúa Cha trao, mọi người thực sự có phúc có phần. Khi trao ban phần thưởng, người giám khảo luôn đòi hỏi các thí sinh phải rõ ràng về thành tích của mình. Khi ban phần gia nghiệp nước trời, Vua tình yêu công khai cho biết: “vì khi Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát,….”.

Có phúc có phần, có tình yêu là có sự sống, có Đức Kitô, sẽ có sức mạnh và tình yêu của Chúa trong các tương quan: “mỗi lần các ngươi làm cho những kẻ bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Vua Kitô đã chiến thế gian, và còn đang hiện diện, đang chết đi cho tội lỗi của mỗi người, và chắc chắn những ai đang cùng với Ngài sống đức ái kitô, sẽ còn thấy nhiều điều kỳ diệu hơn nữa. Người đời cho rằng: tấm lòng bác ái cần thiết hơn cả khôn ngoan, nhưng khi bạn nhận thức được điều này, là bạn bắt đầu khôn ngoan rồi. Cái gì có khởi đầu thì có kết thúc, sống tốt, đầu tư nhiều, sẽ gặt hái thành quả cao. Đấng phải đến sẽ đến để phân tách người lành kẻ xấu, nhưng Vua Kitô vẫn hy vọng từng người chúng ta phải được biến đổi để trở thành chiên ngoan, cùng Vua Kitô xây dựng một cộng toàn yêu thương bền vững.

Có phúc có phần, có niềm tin hy vọng, vẫn mãi chỉ là lời khích lệ cho những ai ý thức bổn phận trách nhiệm của mình phải chu toàn. Vào một buổi trời chiều nhá nhem tối, trời mưa nặng hạt, một thiếu nữ trẻ đẹp xuất hiện trước cửa nhà phật, xin trú mưa, xin một chút cơm lót dạ, rồi sau đó lại xin được nghỉ qua đêm. Sư thầy hết sức bình tĩnh: thưa thí chủ, đã hết mưa, trời phật đã độ trì cho thí chủ hai điều cần kíp, xin thí chủ rời bước cho, kẻo nhà chùa bị tiếng oan ! Dân gian có câu: trời cao có mắt, đất rộng dễ trông, lòng thành khó tránh khỏi điều tiếng. Một cuộc sống có tình yêu, giống như khu vườn nắng mưa thuận hoà, bình an, hương hoa nức lòng. Vua Giêsu, Vua tình yêu, đang hiện diện, và sẽ còn mưa ân phúc cho nhưng ai biết khiêm tốn cậy dựa vào sức mạnh của Ngài, để tất cả đều là chiên ngoan, là môn đệ trung tín của Vua Kitô.

Về mục lục

ĐỨC VUA VÀ THẦN DÂN

Thiên San

Trong những bộ phim cổ trang của Trung Hoa, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh các vị vua cải trang thành dân thường để vi hành. Thường các cuộc vi hành của các vị vua này đều bí mật, chỉ có một số người thân cận mới hay biết. Mục đích chủ yếu của nhà vua là để thăm dò và biết thêm về đời sống của người dân. Có một vị vua không chỉ thực hiện các cuộc vi hành mà còn đến và “cư ngụ” nơi mỗi thần dân của mình. Dường như chẳng ai trong số các thần dân nhận ra sự thật đó (x. Mt 25,31-46). Vị vua ấy chính là Giêsu.

Trải qua dòng lịch sử, Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người cách tiệm tiến. Đức Giêsu chính là mạc khải sau cùng và trọn vẹn nhất của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Ngài chính là món quà tình yêu mà chính Thiên Chúa đã ban cho nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Thật vậy, chính Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa đã nhập thể làm người, đến và ở giữa chúng ta, chung chia thân phận con người với ta, ngoại trừ tội lỗi. Qua giá máu châu báu Người đổ ra trên thập giá, Người đã trao ban tình yêu lớn lao, trọn vẹn cho ta, cứu chuộc ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Thế nhưng, sự thật là: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 10-11).

Trước sự phũ phàng, thờ ơ của nhân loại, Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín, chậm giận và giàu tình thương. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa tỏ mình cho ta biết về Người, về một Thiên Chúa của lòng thương xót. Thật khó để có thể nhìn nhận Đức Giêsu là con Thiên Chúa. Khi đón nhận mạc khải này, nhiều người đã vấp ngã, điển hình là giới lãnh đạo Do Thái lúc bấy giờ. Thực vậy, làm sao ta có thể nhìn thấy một Thiên Chúa uy quyền nơi một con người rất cụ thể của Đức Giêsu? Nếu sống vào thời đó, chắc gì chúng ta đã không vấp ngã. Đức Giêsu đã tỏ mình ra cho người Do Thái thời bấy giờ qua các việc làm cũng như lời nói và đặc biệt là qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Người. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tỏ ra ngoan cố, không chịu tin.

Còn chúng ta, những người đang sống trong thời đại này thì sao? Chúng ta không có phúc được gặp gỡ, được sống cùng với con người Giêsu như những người khác vào thời của Ngài. Chắc hẳn, chúng ta cũng sẽ gặp khó khăn trong việc đón nhận và sống đức tin của mình vào Đức Giêsu. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Quả thực, Đức Giêsu đã ở lại với chúng ta nơi Bí tích Thánh Thể. Người còn hiện diện với chúng ta nơi tất cả mọi người. Nhưng làm thế nào để ta có thể nhận ra sự hiện diện của một Thiên Chúa nơi anh chị em của mình? Thật là một thách đố. Đức Giêsu, Vua tình yêu đã không ngần ngại đến và ở lại trong chúng ta khi trao ban chính Mình và Máu của Ngài nuôi sống chúng ta. Chính khi ta rước Chúa vào lòng, ta được nên một với Người. Nhờ được nên một với Người, chúng ta được nên một với nhau. Nên một với nhau thì cần phải yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Nhưng sự thật là chúng ta đã làm gì cho nhau?

Chúng ta đã đối xử, đã sống và đã làm gì cho nhau? Đó cũng là câu hỏi ta phải trả lời trước nhan Chúa trong ngày sau hết. Chúng ta cần nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi anh chị em của mình để biết sống yêu thương, tôn trọn nhau, tránh làm cho nhau tổn thương. Trong ngày sau hết, Chúa sẽ khen thưởng ta nếu ta biết chia cơm sẻ áo cho người đói rách, thăm kẻ tù đày, cho kẻ khát uống… Còn nếu ta không làm như vậy cho người anh chị em của ta, ta cũng sẽ chuốc lấy án phạt như những kẻ bị nguyền rủa. Bởi chính khi ta làm một việc bé nhỏ cho họ là ta đã làm cho chính Chúa. Ta sẽ ở đâu là tùy thuộc vào thái độ và cách sống của ta đối với tha nhân ngay ở đời này. Hãy học biết yêu thương thật sự như Chúa mời gọi. Đó cũng là mong ước của Vua Giêsu. Đó cũng là trách nhiệm và nghĩa vụ của thần dân trong nước Chúa phải chu toàn.

Về mục lục

SUY NIỆM LỄ ĐỨC KITÔ – VUA VŨ TRỤ

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Qua Lời Tổng Nguyện của ngày Lễ Đức Kitô Vua Vũ Trụ, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Thiên Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô, là người Con Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho chúng ta biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh, và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng Người.

Bài đọc một của giờ Kinh Sách, được trích từ sách Khải Huyền cho thấy Đức Vua Kitô với vẻ huy hoàng khi Người ngự đến. Tất cả mọi hình ảnh được sử dụng để giúp chúng ta hiểu rằng: Đấng đã chết trên thập giá là Đấng đang sống. Chính Người đã nói: Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời, Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ.

Bài đọc hai của giờ Kinh Sách, được trích từ khảo luận của linh mục Origiênê về cầu nguyện, ngài nói: Ai cầu cho triều đại Thiên Chúa mau đến, thì cũng cầu cho vương quyền của Thiên Chúa nơi mình được tăng triển, đem lại hoa trái và đạt tới tột đỉnh. Vương quyền trên thế gian nay đã thuộc về Chúa chúng ta và Đức Kitô của Người; Người sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời. Do đó, chúng ta phải phụng thờ và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng Đức Vua của chúng ta.

Thiên Chúa muốn quy tụ muôn loài dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô, Người là Con Chiên đã bị giết, nay xứng đáng lãnh nhận: phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh  dự với vinh quang. Người là Vua ngự trị muôn đời, Người tuôn đổ phúc lành, cho dân hưởng bình an, như lời Ca Nhập Lễ và Ca Hiệp Lễ mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ Đức Kitô Vua Vũ Trụ hôm nay.

Qua bài Đáp Ca, với Thánh Vịnh 22, các nhà phụng vụ muốn chúng ta nhìn ngắm Vua Kitô, như một mục tử nhân lành: chăn dắt, và bảo vệ chúng ta. Qua câu Tung Hô Tin Mừng, các nhà phụng vụ muốn chúng ta chúc tụng ngợi khen Vua Kitô của chúng ta: Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít tổ phụ chúng ta.

Trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Êdêkien cho biết: Đức Chúa là Chúa Thượng phán: này Ta sẽ xét xử giữa chiên với chiên, giữa cừu với dê. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.

Trong bài đọc hai, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đã cho thấy: Như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết.

Bài Tin Mừng cho thấy Đức Kitô chính là Vua Tình Yêu. Người đến xét xử thế gian: Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người, và Người sẽ tách biệt chiên với dê. Vua Tình Yêu xét xử thế gian theo tiêu chuẩn tình yêu: Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han… Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.

Thiên Chúa là tình yêu, Vương Quốc của Người là Vương Quốc tình yêu, công dân của Người là những ai biết sống yêu thương. Vua Kitô đã rời bỏ trời cao, để đến ở với con người: đến không phải để được hầu hạ, nhưng, để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Do đó, yêu thương phải là căn tính của những ai muốn quy phục Vương Quyền của Vua Kitô; phục vụ phải là kim chỉ nam hành động cho những ai muốn thuộc về Vương Quốc của Vua Kitô. Vua Kitô đã hành động vì yêu thương, thì chúng ta là thần dân của Người, chúng ta cũng phải làm như Người đã làm. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn những việc làm yêu thương và phục vụ của chúng ta trở thành lời ngợi khen chúc tụng, và thành những của lễ phụng thờ dâng lên Đức Vua của chúng ta, thì những việc làm yêu thương và phục vụ đó: cũng phải mang những thương tích tình yêu, của Đức Vua Tình Yêu, Đấng đã yêu thương và thí mạng vì chúng ta, và để rồi, vào ngày phán xét, chúng ta sẽ được nghe từng chính miệng Người: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.

Về mục lục

LÃNH NHẬN PHẦN PHÚC

Lm. Jos DĐH.

Phần thưởng cao quý là gì, đối tượng sẽ nhận giải là ai ? Sống lâu trăm tuổi có phải là phúc đức không ? Lộc trời ban phát, đất nước khang an, gia đình trên thuận dưới hoà, phải chăng điều đó nên dừng lại ở mơ ước ? Thực ra, thích được khen thưởng, muốn mong sống trường thọ, được phúc lộc của tổ tiên dòng tộc, không phải là thao thức vô lý. Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có công danh gì với núi sông (Nguyễn Công Trứ). Con người tự nhiên hướng tới thành đạt, vừa có tiếng, vừa có miếng, được “cả chì lẫn chài”, ước muốn như thế cũng chẳng ai vội lên án là sai trái, tội lỗi. Xã hội phát triển, đất nước phồn vinh, từng thành viên gia đình tiếp nối tinh thần ái quốc, cũng là ba điều làm nên giá trị một đời người: chăm chỉ, chân thật, yêu thương.

Phần phúc của người tin theo Thầy Giêsu là gì, các tín hữu kitô sẽ lãnh nhận phần thưởng thế nào ? Tất cả đã có lời giải: “khi Con Người đến trong vinh quang, … Người sẽ phân chia họ ra như mục tử tách chiên ra khỏi dê, chiên thì Người cho ngự bên phải, dê thì Người cho ở bên trái”. Thầy Giêsu đến trong vinh quang, có phải là Đấng Ktiô đã hoàn tất sứ mạng trần thế mà Chúa Cha uỷ thác không ? Những ai tin theo Thầy Giêsu cách triệt để, hiển nhiên họ được gọi là chiên, là môn đệ của Đức Giêsu Kitô Đấng cứu độ, hẳn không ai phản đối ? Sống ở đâu, thế hệ nào, người ta cũng dễ dàng hiểu cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng: một người làm quan, cả họ được nhờ, hoặc con vua thời lại làm vua.

Phần phúc người kitô hữu không phải ở trần thế này, quả quyết đó thuộc về những ai sống niềm tin kitô giáo, vẫn tuyên xưng hàng ngày, hàng tuần: lạy Cha chúng con ở trên trời ; tôi tin xác loài người ngày sau sống lại…. Kitô Vua, Đức Kitô Vua vũ trụ, không có gì xa lạ: “Bấy giờ Vua sẽ phán với người bên hữu rằng, hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy nhận lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi ngay từ khi tạo thành vũ trụ …”. Ở trần thế này, cuộc sống hiện tại lúc này, Lời Thầy Giêsu, giáo huấn Đức Giêsu: “người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau”. Tương lai của người tín hữu, hạnh phúc của những ai sống giới luật yêu thương, chắc chắn không phải là được giầu có vật chất, mà là được ghi nhận vào số đoàn chiên của Vua Giêsu.

Hãy nhận lãnh phần phúc, hãy nhận lấy gia nghiệp đời đời, bao giờ cũng là lời người người thích nghe, muốn nghe, nhất là lời: Vua Giêsu, Vua Tình Yêu, dù ở hiện tại hay tương lai. Để trở thành người tốt: phụ nữ đừng ỷ vào nhan sắc, vì nó sẽ tàn phai theo thời gian, phụ nữ có tâm hồn đẹp, mới đáng gọi là người phụ nữ tuyệt vời. Là Đấng mày râu: đừng ỷ vào tài trí thông minh, vì thành công hạnh phúc, ở đời này, bạn phải để lại cho người thân, cho hậu thế một hình ảnh thật. Là thần dân của Vua Giêsu, bạn không thể sống niềm tin trên môi miệng, không thể chia sẻ tình bác bái với kẻ nghèo hèn xung quanh mình bằng lời nói suông. Ngày quang lâm, Vua Giêsu sẽ ban phần phúc và nhắc lại lời đáng yêu: “những gì các con đã làm cho những kẻ bé mọn nhất của Ta đây, là đã làm cho chính Ta”.

Bạn sẽ nhận lãnh phần phúc thế nào, bạn đã nghe, đã từng có cơ hội để gẫm để suy: gieo gì gặt nấy ; khôn thì trong trí lượng ra, dại thì học lỏm người ta bề ngoài. (tục ngữ). Ước muốn được gặt hái hạnh phúc là đúng rồi: có lý trí tự do hành động khôn ngoan, người anh chị em đau khổ ở xung quanh, ta cư xử và đang sống đức ái thế nào, khi ta vẫn nói mỗi người đều mang hình ảnh của Chúa ! Vua Giêsu, Vua Tình Yêu, Ngài là sự thật: bao lâu tâm tính của ta chưa được biến đổi, chưa thấm nhuần tình yêu Giêsu, không thể là thần dân của Vua Giêsu, không thể nói đến phần phúc phần thưởng làm gì ! Cuộc sống hiện tại người tín hữu được sánh ví như một cuốn sách, mỗi ngày của bạn là một trang sách, có càng nhiều trang sách hay, quyền sách càng ý nghĩa.

Ngôn ngữ người trẻ hôm nay, họ lạc quan cho rằng: phụ nữ đẹp, không cần phải nghiêng nước nghiêng thành, chỉ cần một nam nhân quân tử nghiêng về cô ấy trọn đời là đủ. Vì chưng: lời nói gió bay, hứa càng hay chia tay càng thấm. Ngôn ngữ của Vua Giêsu mãi mãi là Tình Yêu, là sự nhạy bén trước người thật, việc thật, minh chứng bằng việc làm: “cho không, biếu không”. Lãnh nhận phần thưởng, phần phúc, một mơ ước đẹp, Vua Giêsu “đồng hoá” Ngài với kẻ nghèo hèn, tù tội, đói cơm bánh, khát tình thương: “vì xưa Ta đói, các người cho ăn, Ta khát các người cho uống, Ta là khách lạ, các người tiếp rước, …”. Cánh cửa Nước Trời chưa qua chưa biết, nhưng lãnh nhận phần phúc đời đời đã được Chúa Giêsu lưu ý chúng ta bằng lời rõ ràng: “còn người lành sẽ được vào hưởng hạnh phúc ngàn thu”. Amen.

Về mục lục

VUA GIÊSU

Jorathe Nắng Tím   

Trong bối cảnh xã hội, chính trị hiện nay, người ta ngao ngán khi nghe hai chữ “vua chúa”, vì càng ngày “vua chúa” càng chen chúc nhau mọc lên như nấm làm đám dân lành đã khổ nay càng khổ hơn.

Hiện tượng vua một vùng, chúa một cõi, bất kể vùng ấy bé như thôn ấp, chẳng trừ vùng ấy chỉ to bằng khu phố nhỏ đã làm nhiều người dị ứng với hai từ Vua – Chúa. Chính trong tâm trạng ngán ngẩm, sợ hãi cảnh vua chúa xưng hùng xưng bá, tham ô, trấn lột, đàn áp đám dân đen nghèo khổ, thấp cổ bé miệng, mà chúng ta mừng lễ Chúa Kitô, Vua vũ trụ, Vua các tâm hồn.

Một chi tiết mang tính lịch sử đó là lễ Chúa Kitô vua đã được Giáo Hội thiết lập vào năm 1925, thời điểm mà nhiều chế độ vua chúa ở Âu Châu đột nhiên đồng loạt biến mất, cũng là lúc Kitô giáo bị nhiều học thuyết vô thần tấn công dữ dội. Chính trong bối cảnh này lễ Chúa Kitô Vua được cử hành với hình ảnh Đức Kitô Vua là Mục Tử nhân lành, Vua nhân hậu giầu lòng thương xót, Vua khiêm hạ “đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống vì mọi người”, một hình ảnh Vua hoàn toàn khác các vua chúa thế gian chỉ “dùng uy mà thống trị, dùng quyền mà cai quản” (Mt 20,25).

  1. Vua Giêsu như Mục Tử nhân lành:

Ngôn sứ Êdêkien đã mô tả chân dung Mục Tử nhân lành là Đức Giêsu : “Chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm… Ta sẽ kéo chúng ra mọi nơi chúng đã bị tản mác, vào ngày mây đen mù mịt… Ta sẽ tập hợp chúng… Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi, và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Ítraen. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Ítraen. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta… Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm ; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về ; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó ; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh…” (Ed 34,11-16).

Trong Tân Ước, chính Đức Giêsu đã nhận mình là “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).

  1. Vương quyền của Vua Giêsu là lòng thương xót :

Vương quyền của Chúa Giêsu Vua đến từ Thiên Chúa Cha, Đấng giầu lòng thương xót đã ban cho Ngài mọi quyền “cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết”. Ngài đã tiêu diệt sự chết khi sống lại vinh quang, để “mọi người, vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người, nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng đuợc Thiên Chúa cho sống” (1Cr 15,22).

Như thế, vương quyền của Vua Giêsu là để thương xót, cứu chuộc mọi người khỏi án tử đời đời do tội lỗi mang lại. Chính lòng thương xót của Chúa Cha đã phong vương cho Ngài, để Ngài trở nên Vua Cứu Độ nhân hậu, mà nhờ sự chết và phục sinh của Ngài, tất cả những ai phải chết vì một người đã đem tội lỗi vào thế gian sẽ được Ngài cứu sống. Nói cách khác, Đức Giêsu là dung mạo đích thực của Thiên Chúa giầu lòng thương xót và chính Ngài đã thực hiện lòng thương xót ấy trên nhân loại, với vương quyền của Thiên Chúa Cha khi bắt thù địch cuối cùng là sự chết phải quy phục dưới chân Ngài.

Một Đức Vua đã dùng vương quyền để cứu sống con dân bằng hiến mình làm Của Lễ chuộc tội dân hẳn phải là Đức Vua vô cùng nhân hậu và bao la lòng thương xót.

  1. Đức Giêsu là Vua Tình Yêu:

Quang cảnh ngày phán xét chung trong Tin Mừng Matthêu được bao trùm bởi Công Lý tình thương, khi “Con Người đến trong vinh quang của Người” (Mt 25,31) để xét xử mọi người về tình yêu của họ, về nén bạc yêu thương Thiên Chúa đã trao cho mỗi người.

Đức Vua Giêsu đã không hỏi bất cứ ai về bất cứ sự gì, ngoài những việc làm của tình yêu trong suốt cuộc đời dương thế, những việc làm thường ngày, những đối tượng thường gặp, những con người thường thấy. Không có gì xa lạ, xa xôi, trắc trở, nhưng tất cả đều gần gũi, quen thuộc, kề bên. Chỉ có một điều, một tiêu chuẩn để quyết định đó là việc sử dụng khả năng yêu thương để yêu thương.

Khi nói đến “khả năng yêu thương để yêu thương” là nói đến phục vụ, vì phục vụ là hành động cụ thể, thiết thực của tình yêu, như đôi tay là hành động biểu lộ ý muốn và quyết định chọn lựa của tim óc.

Phục vụ tha nhân, phục vụ người thân, phục vụ nguời bần hàn, cơ nhỡ. Tất cả là mục tiêu của lệnh truyền “Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con” (Ga 15,12), mà ngày phán xét, mỗi người sẽ phải trả lời về việc thực hiện nghiã vụ yêu thương không thể bỏ qua này.

Cũng chính vì yêu Thương là khả năng Thiên Chúa ban cho hết mọi người, nên ai cũng có thể yêu, người nào cũng có thể phục vụ. Chẳng thế mà những người lành đã ngỡ ngàng, chưng hửng khi Đức Giêsu nói với họ : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đới, ccá ngươi đã cho ăn ; Ta khát ; các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25,34-36). Và tất nhiên, kẻ dữ đứng bên trái cũng giật mình hốt hoảng khi bị luận phạt, vì đã không làm như những người lành.

Thực vậy, cả người lành và kẻ dữ đều ngạc nhiên, sững sờ vì không một ai trong họ đã có thể ngờ : khả năng yêu thương được Thiên Chúa ban, cũng như nén bạc Tình Yêu được trao phó lại quan trọng đến thế!

Là Vua Tình Yêu, Đức Giêsu muốn thần dân của Ngài tiếp tay với Ngài để biến đổi thế giới hận thù, bạo lực thành thế giới yêu thương, an bình. Ngài muốn xây dựng một thế giới mới của Tình Yêu, một thế giới, ở đó mọi người nhận biết nhau là anh em, con cùng một Cha trên trời, một thế giới của lòng thương xót được chính Thiên Chúa giầu lòng xót thương qủan cai, chăm sóc như Mục Tử chăm sóc, quản cai đòan chiên yêu qúy của mình.

  1. Đức Giêsu là Vua khiêm hạ :

Đức Giêsu đến trong thế gian để làm Vua, như Ngài đã khẳng định trước quan Philatô (x. Mt 27,11), nhưng Vương Quyền của Ngài không như vương quyền của các vua chúa thế gian, vì Ngài làm Vua “không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mang sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28). Sứ vụ “Đức Vua” của Ngài thật khác “một trời một vực » với việc làm của các vua chúa thời nay : tham lạm, hưởng thụ, lợi dụng chức quyền hà hiếp, bóc lột dân đến tận xương tủy đến vô cảm, vô tâm, vô đạo đức…

Sự khiêm hạ của Vua Giêsu còn đuợc biểu hiện qua cung cách, thái độ bên ngoài như qùy xuống rửa chân cho môn đệ, ngồi trên lưng lừa con bé nhỏ, đơn sơ tiến vào thành thánh giữa rừng người dậy sóng “Hoan hô, chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!” (Mc 11,9) như ngôn sứ Dacaria đã tuyên sấm : “Hỡi thuếu nữ Giêrusalem hãy vui sướng reo hò! Vì kià Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi. Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dc 9,9) ; và đặc biệt hơn cả là Ngài  đã khiêm hạ “tự đồng hoá mình” với những người nghèo đói, đau ốm, tù đầy, tha hương, bị bạc đãi, bỏ rơi, bị khước từ, nguyền rủa, như Ngài đã qủa quyết trước những người lành đã yêu thương, phục vụ anh chị em bất hạnh, kém may mắn của họ : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

Thời nay, dân được gặp quan huyện, quan xã đã là chuyện hiếm hoi, qúa khó, nói gì đến Vua Chúa xuống với dân. Thế mà Đức Vua “Ngôi Lời” đã khiêm hạ tự nguyện xuống thế làm người, mà còn làm người yếu đuối, nghèo nàn, hèn mọn nhất trong những người hèn mọn, nghèo nàn, yếu đuối…

Xin Đức Giêsu, Vua nhân hậu, Vua khiêm hạ, Vua tình yêu, Vua Lòng Thương Xót ban cho Giáo Hội nhiều mục tử có trái tim của Chúa để  dân Chúa ngày càng được “sống và sống dồi dào” như đoàn chiên “chẳng thiếu thốn gì, được nằm nghỉ trong đồng cỏ xanh tươi, bên dòng nước trong lành” (Tv 22,1-2), vì “có lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ suốt cuộc đời, và được ở đền Người  những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 2,6).

Về mục lục

PHÁN XÉT

Lm. Thái Nguyên

Suy niệm

Đoạn Tin Mừng hôm nay đã thay đổi định hướng sống và trở thành chương trình hành động của người nữ tu Têrêsa Calcutta. Lời Chúa hôm nay cũng chính là Lời Chúa mà mẹ đã từng nghe, từng đọc, từng suy gẫm, nhưng nay mới nhận ra một điều thật mới lạ làm chấn động trái tim mình. Đó là những người nghèo khổ, xấu số, bất hạnh… không chỉ là những người đáng thương cần cứu giúp mà còn là hiện thân của chính Chúa Giêsu đang đau khổ. Mẹ đã “tập nhìn ra chính Chúa Giêsu trong mỗi con người, dù họ có vẻ đáng kinh tởm đến đâu đi nữa”. Từ đó, mẹ đã say mê phục vụ những bệnh nhân tồi tàn, đã cúi xuống bên những người kiệt sức, đã cứu giúp những người  tàn tật, đã ôm về những người bị bỏ mặc cho chết bên vệ đường. Mẹ nhận ra phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Đối với mẹ, lòng thương xót là “muối” khiến cho mỗi việc mẹ làm thêm đậm đà hương vị, và là “ánh sáng” chiếu soi đêm tối của những cuộc đời không còn nước mắt nữa, mà khóc thương cho sự khốn cùng của mình.

Mỗi người khốn cùng cũng là một bí tích, là nơi mà chúng ta có thể thực sự gặp gỡ chính Đức Giêsu. Trong dụ ngôn ngày phán xét, Vua Giêsu đã đồng hoá mình với những người đói khát, khách lạ, trần trụi, đau yếu hay tù đày, mà chúng ta vẫn gặp mỗi ngày. Ngài ẩn mình hay đúng hơn Ngài tỏ mình qua những người hèn kém đáng thương nhất.

Hôm nay Vua Giêsu vẫn ngửa tay xin ta giúp các anh chị em bé mọn nhất của Ngài: những người lầm than khốn khổ và bệnh tật nghèo hèn; những người dốt nát và mù chữ; những người đang sống nơi đầu đường xó chợ; những người bị suy sụp tinh thần; những người không nơi nương tựa và đang sống cô đơn buồn tủi; những người góa bụa con côi: những người tự nhốt mình trong tù ngục đam mê; những người trần trụi vì phải sống nhờ thân xác, và bị đẩy ra bên lề xã hội.

Sự tổn thương nặng nề nhất của người nghèo hôm nay là bị tuốt lột nhân phẩm, bị bóc lột nhân cách, bị trấn lột nhân tính, để rồi cuối cùng bị khinh khi chế giễu, bị coi là vô dụng, thừa thãi. Và như vậy, sự ác lớn nhất của con người hôm nay là mất tình yêu, là dửng dưng, vô cảm.

Thế giới ngày càng văn minh tiến bộ, nhưng vẫn còn đầy bất công và tội ác, không chỉ do những kẻ ác gây ra mà còn do người ta im lặng trước sự ác. Martin Luther King đã lên án: “Thế giới đang chìm đắm trong đau khổ, không phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà vì sự im lặng của những người tốt”. Hóa ra những người tốt cũng là những kẻ xấu, vì đã đồng lõa hay thỏa hiệp với sự dữ: khi chỉ lo cho bản thân mà không quan tâm đến tha nhân; khi không dám nói lên sự thật; không dám lên tiếng cho những người thấp cổ bé họng, không dám che chở những người thất thế cô thân,v.v…

Có thể nói mỗi người chúng ta đang xây dựng hạnh phúc hay bất hạnh vĩnh cửu cho mình ngày qua ngày. Chúng ta sẽ bị xét xử không phải về những gì đã nghĩ hoặc đã nói, nhưng về những gì đã làm hay không làm cho chính anh em mình. Không phải mọi người đều đã biết Đức Giêsu, nhưng mọi người đều có một nẻo đường để gặp được Ngài, đó là nẻo đường “các việc từ bi thương xót”; là các việc Ngài đã làm, và ai làm như thế cho tha nhân là làm cho chính Ngài.

Bài học của đoạn Tin Mừng hôm nay đã quá rõ: đến cuối đời, chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu; tình yêu đối với tha nhân cũng chính là tình yêu đối với Thiên Chúa. Để những việc ta làm được gọi là “tốt” đối với anh chị em, ta hãy làm mọi việc cho họ như làm cho chính Chúa. Hãy thay đổi định hướng sống và chương trình hành động một cách cụ thể, cho phù hợp với lòng thương xót Chúa trên cuộc đời mình, để góp phần với Chúa Giêsu, Vua vũ trụ, Đấng đang qui tụ những người lành để làm nên một thế giới tình yêu tinh ròng.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu!
Tha nhân cũng chính là bản thân con
trong mọi liên hệ của đời sống,
vì cũng được cứu chuộc bởi giá máu của Ngài.

Con chỉ kiện toàn được bản thân,
trong tình liên đới với tha nhân,
từ những trắc trở và khổ sở buồn rầu,
hay những vui mừng và lo âu của họ;
từ những thất bại đến thành công,
hay những hy vọng và chờ mong của họ;
từ những sa lầy và đau thương tội lỗi,
hay những sám hối và vươn lên của họ.

Lạy Chúa Giêsu!
Vua vũ trụ, cũng là Vua tình yêu muôn thuở,
Cho con trở nên nhịp đập của trái tim Chúa,
biết cùng rung cảm chân tình và sâu lắng
về từng hiện trạng cay đắng của con người

Chúa đã cúi xuống trên cuộc đời con,
cuộc đời tăm tối và hư vô vì tội lỗi,
xin cho con biết cúi xuống thật sâu,
để đỡ nâng những người khốn khổ u sầu,
vì họ cũng chính là Chúa chịu thương đau,
để cho cuộc sống con được đẹp mầu.

Xin cho con một trái tim cảm thấu,
một trái tim nung nấu sống tình yêu,
để con dám hành động thật nhiều,
cho bao người đang lầm than túng thiếu,
góp phần cho cuộc sống bớt tiêu điều,
để ngày Chúa đến vui mừng biết bao nhiêu! Amen. 

Về mục lục

ĐƯỢC YÊU NHƯ CHÚA YÊU

Bông hồng nhỏ

 “Giêsu, Đức Vua Tình Yêu! Xin Ngài soi chiếu đường tình yêu chúng con. Cho từng trái tim cháy lên lửa mến thiết tha. Cho đời sáng tươi cho ân tình ngát hương hoa” (Bài hát: Giêsu Vua Tình Yêu – Ân Phúc).

Lặng nghe lời ca tha thiết, ta thấy lòng bừng cháy một khát khao: được yêu như Chúa yêu.

Những tháng ngày lặng lẽ trong đời, ta cảm nhận thật rõ những phút giây của yêu thương tràn đầy. Chúa yêu ta từ trong những lỗi lầm của ta. Có nhiều lần, ta ngậm ngùi nghe lời than thở của Người: “Ôi thế hệ cứng lòng, không chịu tin! Tôi phải ở cùng các người cho đến bao giờcòn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa?” (Mc 9,19). Chỉ có tình yêu mới giúp cho người ta có thể đón nhận được sự khác biệt của người khác. Nó làm cho họ có khả năng chịu đựng được cả những kẻ cứng lòng tin. Chúa Giêsu đã rất yêu ta. Người kiên nhẫn chờ đợi để ta được lớn lên. Thế rồi, một ngày kia, cũng trong giây phút chuyện trò thân thương, Người nói với ta: “Và đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 18, 20). Lời ấy đi thẳng vào trái tim ta và làm cho nó ấm lên.

 Chúa Giêsu là Đức Vua Tình Yêu. Tình yêu Người dành cho ta cao quý dường bao. Ta được Người yêu thương vô điều kiện, tình yêu ta nhận được làm cho ta lớn lên, trở nên giống Đấng đã yêu ta. Nghĩa là, ta cũng hãy yêu thương người khác vô điều kiện như Chúa đã yêu ta vậy. Trong ngày sau hết, ta sẽ trình diện trước Đấng đã yêu ta như thế nào? Ta sẽ là “chiên” hay “dê”? được vào hưởng phúc hay bị đẩy ra chốn tối tăm? Trong ngày phán xét, tất cả mọi người đều phải mang theo lễ phẩm là tình yêu mà mình đã trao ban cho người khác (x. Mt 25, 31-46). Ta có ngờ đâu, khi yêu thương ai là ta yêu thương chính Chúa, ta từ chối ai là từ chối Chúa. Chúa Giêsu đã cho ta biết trước điều ấy, để đang khi còn được sống trên cõi đời này, ta biết thực thi lòng bác ái với mọi người. Muốn yêu người khác, ta phải biết quên mình đi. Quả thật, nhiều lúc, ta đã chỉ biết nghĩ đến mình: khi đang dở dang công việc, thật khó để đến giúp người khác; khi đang rơi vào cảnh túng quấn, thật khó để nghĩ đến người đang nghèo túng hơn ta; … Chỉ khi nhìn thấy Chúa nơi người thân cận, ta mới có thể yêu thương họ. Mỗi ngày, ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần Tình Yêu đến với tâm hồn lạnh lẽo của ta, để Người làm bừng cháy lên trong trái tim ta tình yêu của Chúa, xin Người mở đôi mắt để ta nhìn thấy Chúa nơi người thân cận. Ta nhìn thấy Chúa nơi người khác bằng đôi mắt đức tin.

Lạy Chúa! Xin củng cố đức tin cho con, cho con được hiểu biết Chúa hơn và yêu mến Chúa hơn. Mỗi lần con đến với anh chị em của con, xin cho con luôn nhớ rằng, Chúa đang hiện diện trong họ. Xin cho con nghe được lời mời gọi Chúa dành cho con và can đảm vượt lên chính mình để yêu thương như Chúa muốn. Amen.

Về mục lục

GIÊSU LÀ VUA

Anna Cỏ may

Chúng ta thường đánh giá nhau theo vẻ bề ngoài. Một người ăn mặc lụa là, trang sức long lanh, giàu có, chúng ta coi trọng họ. Chúng ta cũng thường mặc định: một ông vua phải là người có thế có quyền, luôn có người hầu kẻ hạ, mọi người phải kính trọng và phục tùng. Tư tưởng dẫn đến hành động. Những cái nhìn đó làm cho chúng ta rơi vào những hành động, lời nói sai lầm và dễ xét đoán người khác. Có người giàu có thật, nhưng cuộc sống họ giản dị, ăn mặc bình thường. Cũng có những vị vua thường vi hành thăm dân. Và có một vua không chỉ là vi hành mà còn trở nên như thần dân của mình. Đó là vua Giêsu.

Vua Hêrôđê đã không tin Chúa Giêsu là vua, ông chỉ nhìn thấy con người hiện tại của Ngài: chẳng còn gì ngoài sợi dây xích và thân mình tả tơi. Ông cũng không tin Chúa Giêsu là vua, bởi ông nghe các Thượng tế tố cáo Ngài, ông biết hoàn cảnh cùng thân thế của Ngài (x. Mt 27, 11-14). Nhưng Chúa Giêsu thật là vua, không chỉ vua của một nước mà là Vua cả vũ trụ này. Ngài là Con Thiên Chúa- Đấng đã dựng nên vũ trụ này. Chúa Cha đã trao mọi sự cho Chúa Con. Chúa Con luôn sống theo ý Chúa Cha và nên một với Chúa Cha. Ngài là vua vũ trụ, vị vua đã sống kiếp người, mặc lấy những đau khổ và gánh tội cho muôn người. Ngài gánh tội cho đến chết trên thánh giá. Tại Núi Sọ, Chúa Giêsu bị hành hình. Viên đại đội trưởng đang thi hành công việc của mình, ông đã thấy Chúa Giêsu trong giờ phút cuối cùng ấy. Ông đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Ông công nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cũng có nghĩa ông công nhận Chúa Giêsu thật là Vua. Một vị vua đã hy sinh tính mạng mình để đem ơn cứu độ và sự hòa bình cho mọi người. Ngài là Vị Vua luôn xem xét và thực hành mọi việc trong tình yêu thương. Ngài xét xử mọi người không theo kiểu thế gian nhưng dựa vào những việc mọi người đã làm cho nhau. Ngài thấy rõ tâm can của mọi người (x.Tv 139). Những ai sống mến Chúa yêu người, Ngài sẽ cho hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho họ. Còn những ai không mến Chúa yêu người, họ sẽ phải vào lửa đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Qủy và các sứ thần của nó (x. Mt 25,34-43). Ngài không chỉ là vị vua phán xét ở thế gian mà phán xét cả cuộc sống mai sau.

Hãy đến với vua Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, trong Thánh lễ. Một vị vua đã dùng chính mình làm của ăn của uống nuôi dưỡng thần dân của mình. Trong ngày lễ Chúa Giêsu-Vua Vũ Trụ, chúng ta hãy cầu xin Ngài tiếp tục yêu thương chúng ta và giúp chúng ta nhận ra và tin Ngài là vị vua của mình để chúng ta biết sống xứng đáng là một người dân, người con của Ngài.

Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ! Ngài là Vị Vua của chúng con. Chúng con nguyện tán dương chúc tụng Thánh danh Ngài đến muôn đời muôn thuở. Xin cho chúng con nhận ra Chúa là Vua của chúng con ngay ở đời này qua những người nghèo, người đau khổ bệnh tật. Nhờ đó, chúng con sẽ được chung hưởng hạnh phúc trên Nước Trời, nơi Chúa đã dọn sẵn cho con. Amen.

Về mục lục

VỊ VUA THẨM PHÁN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu, Vua tình yêu.

Bài Tin mừng hôm nay mô tả ngày cánh chung. Khi đó Đức Giêsu xuất hiện như một vị Vua-Thẩm phán. Tất cả mọi người đều tập họp trước nhan Ngài để chịu xét xử. Tiêu chuẩn mà vị Vua-Thẩm phán ấy dựa vào để xét xử là cách sống yêu thương. Ngài cho rằng ai thể hiện tình yêu cụ thể với những người khốn khổ bé mọn tức là thể hiện tình yêu đối với Ngài và sẽ được trọng thưởng. Ngược lai, ai không yêu thương những người khốn khổ bé mọn cũng có nghĩa là không yêu thương Chúa nên bị trừng trị.

Núi Corcovado bên Brazil, có bức tượng Cristo Redentor – Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế Vua cao 30 mét, dang tay đứng trên đỉnh núi hùng vĩ. Núi Tao Phùng, Tượng Chúa Giêsu Vua, cao 32 mét, chiều dài hai cánh tay là 18,4 mét, uy nghi. Chúa Giêsu Vua giang đôi tay ôm trọn nhân loại trong tình thương cứu rỗi.Trái tim của Ngài mở ra để yêu thương mỗi người và mọi người, cánh tay của Ngài mở rộng để vươn đến mọi người. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp của người Mục Tử.

  1. Vua Giêsu, Mục Tử

Chúa Giêsu là Vua Mục Tử Nhân Lành. Ngài tụ họp những con chiên bị phân tán, tìm con chiên lạc, băng bó chiên bị thương tích, chữa lành chiên bị đau ốm, chăn dắt chăm sóc đoàn chiên theo đường công chính (Bài đọc I). Ngài tuyên bố : “Ta là mục tử nhân lành, Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta”(Ga 10,10); Ta đến để cho chiên Ta được sống và được sống dồi dào. Chính Ta là mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì chiên”. Vua Mục Tử thiết lập Vương Quốc Tình Thương. Vị Vua ấy đã tự đồng hóa mình với những kẻ bé mọn nghèo khổ : “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tiêu chuẩn để xác định một người thuộc vương quốc của Ngài là chính những hành động của tình thương. Vua Giêsu làm Thẩm phán xét xử mỗi người theo tiêu chuẩn của tình thương.

  1. Vua Giêsu, Thẩm Phán

Để diễn tả vương quyền của Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, bài Tin Mừng mỗi năm Phụng vụ khai triển về một khía cạnh đặc biệt. Năm A với bài Tin Mừng Matthêu (25,31-46), đề cao Vua Giêsu như vị Thẩm phán xét xử muôn loài. Năm B với bài Tin Mừng Gioan (18,33-37), một cái nhìn thần học về uy quyền của Vua Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể đến để làm chứng cho sự thật rằng Thiên Chúa hằng yêu thương nhân loại và chờ đợi con người đáp lại tình yêu ấy bằng cách tin vào Đấng được sai đến. Năm C với bài Tin Mừng Luca (23,35-43) trình bày Vua Giêsu hiển trị từ trên thập giá. Ngai vàng là thập giá, vương miện là mão gai. Vua Giêsu tuyệt đối vâng phục Chúa Cha để đem lại sự tha thứ tội lỗi cho nhân loại. Ngài không là vị Vua Cứu Độ bảo đảm cho con người ta những sự thiện hảo thế tạm. Ngài chẳng giải thoát ngay cả chính bản thân Ngài khỏi cái chết thảm thương trên thập giá. Ngài cũng chẳng hứa sẽ giải thoát con người khỏi bệnh tật hay đói nghèo. Quyền bính của Ngài là ơn cứu độ và sự sống trong Thiên Chúa: “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Ngài đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương loài người đến nỗi sẵn sàng chết cho loài người ngay chính lúc loài người từ chối Ngài, chế giễu Ngài, thậm chí thách thức Ngài.

Vương quốc của Chúa Kitô Vua là vương quốc của tình yêu. Muốn vào vương quốc của Ngài, phải là người có lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật sự.

  1. 3.Đã làm gì và không làm gì cho tha nhân

Thánh Matthêu tường thuật quang cảnh ngày cánh chung, khi Chúa Giêsu tái giáng và Ngài phân xử, mọi người tốt xấu, lành dữ đều có mặt và được xét xử rõ ràng. Tiêu chuẩn để xét xử là tình yêu mỗi người thực hiện cho tha nhân.

Nội dung cuộc xét xử thật bất ngờ.Đấng Thẩm Phán chỉ xét hỏi người ta về tình thương. Một tình thương cụ thể được chứng tỏ bằng việc làm thiết thực đối với những con người bằng xương bằng thịt “Cho kẻ đói được ăn, cho kẻ được khát uống, viếng thăm kẻ bệnh tật và tù đày, tiếp rước khách lạ bơ vơ…”. Điều bất ngờ hơn nữa chính là lời Đức Kitô tuyên bố: “Mỗi lần các ngươi làm những điều ấy cho một kẻ bé nhỏ là các ngươi làm cho chính Ta”. Những người bị xét xử đều nhất loạt thắc mắc: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói khát, rách rưới, bệnh tật, bị cầm tù hay là khách lạ đâu?”. Mặc cho người tốt kẽ xấu thắc mắc, lời Chúa dạy thật rõ ràng: người khốn khổ bất cứ dưới hình thức nào đều là hiện thân của Chúa. Ngài tự đồng hóa mình với họ. Vậy thì rõ ràng mọi việc chúng ta làm vì tình thương đối với đồng loại đều là việc đạo đức.Thiên Chúa không cần phân biệt ai là giáo hoàng, ai là giám mục, ai là linh mục, ai là giáo dân; không cần biết ai giàu ai nghèo, ai có địa vị ai là thường dân; Ngài chỉ xét có một điều: mỗi người đã làm gì và không làm gì cho tha nhân. Như thế, việc làm chứ không phải lời nói hay cái gì khác quyết định chúng ta thuộc chiên hay dê.

Thánh Gioan Kim Khẩu dạy: đừng phân biệt đối xử giữa Chúa Giêsu trong nhà thờ và Chúa Giêsu ngoài nhà thờ. Chúa trong nhà thờ và Chúa ngoài nhà thờ, tức là những anh chị em khác, phải được tôn trọng như nhau. Đức Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể và Ngài cũng hiện diện thực sự trong mỗi một con người.

Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người, đã sinh ra trong hang súc vật, trốn chạy sự tàn ác và tham vọng của con người, bị đeo đuổi chỉ trích, hành hạ và bị treo trên Thập giá. Ngôi Lời Thiên Chúa đã sinh ra trong hang súc vật, trốn chạy sự tàn ác và tham vọng của con người, bị chỉ trích lại trừ, bị hành hạ và chết treo trên Thập giá. Vì thế, Ngài đã kinh qua mọi khổ đau và cái chết trong thân phận con người, Ngài cảm thông với hết thảy mọi người. Chúa bảo rằng, những ai cho người đói khát một ly nước, một chén cơm là họ cho Chúa ăn uống. Những ai cho người rách rưới hoặc mình trần một manh áo là họ đã cho Ngài mặc áo. Những ai cho người sa cơ thất thế không nơi nương tựa được trú ngụ một thời gian là họ đã cho Chúa trọ nhà… Điều vĩ đại trong Phúc Âm về ngày Phán xét đó là giá trị những việc nhỏ bé hàng ngày của tình yêu thương. Mọi sự sẽ qua đi, nhưng yêu thương sẽ tồn tại mãi mãi.

Vương quốc của Vua Giêsu là vương quốc của tình yêu. Ai sống trong tình yêu thì thuộc công dân Nước Thiên Chúa.Tình yêu là “thẻ căn cước”của công dân Nước Trời. Tình yêu không đòi hỏi nhiều lời nói cho bằng nhiều hành động thiết thực và sống động. Việc bác ái là chứng chỉ duy nhất để được nhận vào số những người được Chúa Cha chúc phúc.

Nếu Chúa Giêsu chỉ là Vua của thế giới, của vũ trụ, mà không phải là Vua của tâm hồn ta, thì việc tuyên xưng Ngài là vua có ích lợi gì cho ta? Tuyên xưng thật mạnh mẽ trên lý thuyết, mà thực tế đời sống của ta lại chứng tỏ trái ngược lại, thì sự tương phản ấy chỉ cho thấy sự giả dối hay giả hình của ta thôi! Tôi rất thích lời của Tổng thống Bush: “Show, but don’t tell!”: Hãy chứng tỏ (bằng thực tế, bằng hành động) chứ đừng nói suông!

Trong ngày sau cùng, khi Vua Giêsu phán xét chúng ta như vị Vua của vũ trụ, Ngài chỉ xét chúng ta những điểm rất thực tế: ta đã thực hành ý muốn của Ngài như thế nào? nhất là đã yêu thương và đối xử với Ngài như thế nào qua hiện thân của Ngài là những người chung quanh ta? Ngài có phải là Vua đích thực của chính bản thân ta không?

Thiết tưởng việc sống đạo của chúng ta cần phải xây dựng trên căn bản là thực tế của đời sống, chứ không phải trên lời nói, lý thuyết, sách vở. Có như thế chúng ta mới là “người khôn ngoan xây nhà trên đá” (Mt 7,24).

Lạy Chúa Giêsu, nhìn thấy Chúa trong người khác là điều không dễ, nhưng đó là điều mà Chúa đề cao: mỗi lần giúp đỡ, yêu thương, chia sẻ, thiện cảm, vui cười, nói dễ nghe, cư xử tốt, cầu nguyện cho người khác…đó là chúng con làm cho chính Chúa, xin cho chúng con luôn biết thực hành đức ái trong đời sống hàng ngày. Amen.

Về mục lục

VƯƠNG QUYỀN VÀ VINH QUANG

Lm Vũđình Tường

Ngày lễ mừng kính Đức Kitô Vua, xin được nhấn mạnh hai điểm. Thứ nhất mọi tạo vật trên trời, dưới đất đều run sợ, phủ phục trước vinh quang Chúa; thứ hai Đức Kitô là vua toàn thể vũ trụ.

Trong ngày phán xét, Đức Kitô đến trong vinh quang. Thiên Thần Chúa quy tụ muôn dân, muôn nước trước Con Thiên Chúa. Mọi tạo vật đều run sợ, phủ phục trước vinh quang Con Thiên Chúa để nghe Ngài đưa ra phán quyết sau cùng. Điều này cho biết Đức Kitô là Đấng duy nhất có tiếng nói cuối cùng về cuộc sống trường sinh. Thần dữ là ma quỉ có sức mạnh, ảnh hưởng cám dỗ bao lâu con người còn hơi thở, còn bị chúng cám dỗ, mua chuộc. Chúng tung hoành, tác oai, tác quái khi con người cộng tác với chúng. Khi con người lìa cõi thế không còn khả năng cộng tác với chúng nữa. Chúng câm lặng trong ngày phán xét bởi chính chúng bị Thiên Chúa tuyên án phạt. Sức mạnh của thần chết xem ra có tiếng nói trên thân xác con người. Đây là một hiểu lầm rất lớn do ma quỷ ngụy tạo. Con người sinh ra trên mặt đất, con người sống hay chết, ngày giờ ra đi đều do quyền năng Thiên Chúa. Ngài cho người nào sống bao lâu nơi trần gian đều do Ngài quyết định. Việc ra đi, thời gian giã từ cõi thế của mỗi cá nhân đều nằm trong tay Thiên chúa. Thần chết tự nhận có tiếng nói đó. Thực ra chúng không có. Sau khi linh hồn lìa khỏi xác, giã từ trái đất, Đức Kitô là Đấng duy nhất đưa ra phán quyết thưởng, phạt, công minh về cuộc sống con người. Trước tôn nhan Thiên Chúa, mọi loài thụ tạo đều run sợ. Run sợ vì nhiều lí do. Thứ nhất, đây là đầu và cũng là lần cuối cùng mọi thụ tạo nhìn thấy Vinh quang Con Thiên Chúa. Thứ hai, Vinh Quang Chúa cao sang hùng vĩ vượt qua diễn tả của con người. Tựa như bình nhựa không thể đựng acid, mà phải là bình sành. Nhân loại không thể đón nhận vinh quang Thiên Chúa mà không run sợ, phủ phục bởi nhân loại không được tạo dựng để trực tiếp đón nhận vinh quang Chúa. Kinh nghiệm của các tông đồ trên núi thánh Khi Đức Kitô biến hình. Các ông không nhìn thấy vinh quang Chúa, chỉ nghe tiếng Ngài phán ra trên không trung như tiếng sấm gầm, các ông thấy khuôn mặt Đức Kitô sáng rực và áo Ngài trở nên tuyết trắng. Chính những biến đổi này khiến các ông run sợ, phủ phục, cúi mặt xuống mặt đất Mt 17,2.

Trong ngày phán xét, nhiều linh hồn vừa run sợ, vừa nhảy mừng, hoan ca, vui vẻ, vì ngày vinh quang đang đến để được kết hợp với Đức Kitô, Đấng mà họ một đời chuyên tâm trung thành. Cũng trong ngày đó một số vừa run sợ, vừa vỡ lẽ. Run rẩy, vỡ lẽ bởi giờ đây họ nhận biết tính kiêu căng, tự phụ, tự mãn đã lừa dối họ. Họ tự chọn từ chối sống theo hướng dẫn của Con Thiên Chúa. Họ tự chọn đặt í riêng họ lên trên í Chúa. Chính cái hiểu biết, sự khôn ngoan, thông thái của họ lừa dối, gạt gẫm họ đi đến tình trạng chối bỏ Một Thiên Chúa hiện hữu. Giờ phút này họ mới nhận biết sai lầm thì đã quá trễ. Sợ hãi dồn dập tâm hồn họ như những cơn sóng, cơn sau mạnh hơn cơn trước, áp đảo tâm thần họ, xô lấp tâm can, vùi dập cuộc đời họ. Nơi trần thế có thời họ lập mưa dìm người nọ. Họ tạo gió, đè người này. Họ lập mưu ép người kia. Giờ đây chính họ nhận hậu quả do họ gây nên cho tha nhân, tác oai, tác quái trên đồng loại. Nạn nhân của họ được Đức Kitô đón vào Thiên quốc. Trong giây phút họ biết rõ bạc phận, vô phước đời họ gây nên. Con Thiên Chúa cũng không đáp ứng lời họ khóc than, bởi trước đó họ từng từ chối tiếng khóc than, kêu oan của tha nhân. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta Jn 10. Họ từ chối nghe tiếng gọi Chủ Chiên. Họ chọn cuộc sống hoang dại, vì thế họ bị từ chối vào chung đàn chiên. Họ sống ngoài chuồng chiên và lang thang vào vùng tăm tối.

Đức Kitô an ủi chiên Ngài. Bởi các ngươi đã trung tín rong việc nhỏ Mt 25,12. Sống đời sống cố gắng phục vụ tha nhân, trở thành nhân chứng tình yêu Thiên Chúa. Giờ đây Kitô hữu vào hưởng cuộc sống trường sinh, tràn đầy hạnh phúc, Hãy vào hưởng gia nghiệp Cha Ta đã dành sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên, lập địa c.3. Nơi trần thế Kitô hữu sống cho Thiên Chúa nhiều hơn cho chính họ. Kitô hữu làm cho giáo huấn của Đức Kitô sống động trong đời sống tha nhân. Đức Kitô trao cho Kitô hữu trách nhiệm chăm sóc kẻ ốm đau, nâng đỡ người già cả, an ủi kẻ sầu khổ và thăm viếng kẻ ốm đau. Kitô hữu đã hoàn thành trách nhiệm trao phó. Trách nhiệm mà khi còn tại thế Chính Đức Kitô thực hiện điều đó và Kitô hữu nối tiếp tốt đẹp công việc Ngài khởi sự. Giờ đây Kitô hữu vào hưởng phúc trường sinh, nơi không còn lệ rơi; tang thương bỏ lại trần gian; đau khổ bị tiêu diệt. Thay vào đó là hoà bình vĩnh cửu, tình yêu chan hoà.

Điểm thứ hai. Chúng ta có thể khẳng định Đức Kitô không phải chì là vua cho một thiểu số, cho dân riêng Chúa. Đức Kitô là vua toàn thể vũ trụ. Điều này được xác định bởi Ngài có toàn quyền trên trật tự thiên nhiên. Ngài ra lệnh cho sóng biển êm dịu và chúng vâng phục Ngài Mt 14. Ngài ra lệnh cho gió bão êm lại và chúng liền vâng phục. Đối với bệnh tật và các chứng nan i, bất trị. Ngài lên tiếng là chúng biến mất, bệnh nhân lành như chưa hề mắc bệnh. Người què đi được, câm ca hát, điếc nghe tiếng chim hót đầu ngành, mù thấy mặt trời mọc và kẻ chết sống lại. Ma quỉ trông thấy bóng dáng Ngài chúng than trách sợ bị tiêu diệt Mt 8,29. Ngài phá tan xiềng xích tội lỗi trói buộc con người. Mọi quyền lực, sức mạnh trong vũ trụ đều phủ phục dưới chân Ngài. Vua vũ trụ kêu gọi các môn đệ học từ Ngài để trở nên công chính. Công chính trong lời nói, công chính trong hành động. Công chính bắt nguồn từ lối sống khiêm nhường, phục vụ khiêm nhường bằng các hành động nhỏ mọn, tầm thường. Việc tầm thường đến độ môn đệ không nhận ra, khi họ thực hiện điều đó cho tha nhân chính là thực hiện điều đó cho chính Đức Kitô Mt 11,29. Điều đó thành sự thực bởi chính Đức Kitô đồng hoá Ngài với kẻ hèn mọn, nghèo hèn, kẻ vô gia cư, kẻ xã hội làm ngơ. Cuộc sống trần thế Đức Kitô hiểu rõ điều đó. Ngài bị chối bỏ, bị xua đuổi, thành dân tị nạn, bị đói khát ngay cả trong giờ chết. Những ai tự chọn sống theo í riêng sẽ không thể sống chung với những ai chọn sống theo í Chúa. Chọn sống yêu thương, theo í Chúa sẽ được Chúa yêu thương; chọn sống theo í riêng sẽ sống trong đêm đen.

Về mục lục

ĐẤNG XÉT XỬ

Trầm Thiên Thu

Thiên Chúa là Đấng Thánh duy nhất, và Ngài “có toàn quyền trên muôn loài.” (1 Cr 15:28) Thật vậy, sau khi phục sinh, chính Chúa Giêsu đã hiện ra với 11 môn đệ tại Galilê và xác nhận: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” (Mt 28:18)

Chúa Giêsu được toàn quyền, nghĩa là Ngài cũng là Thẩm Phán xét xử trong ngày chung thẩm. Ngài xét xử đầy lòng thương xót nhưng cũng rất thẳng thắn, công minh. Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai.” (Hc 35:12; Đnl 10:17-18; Lc 20:21; Cv 10:34; Rm 2:11; Gl 2:6; Ep 6:9) Kinh Thánh còn cho biết chi tiết với cách nói mạnh mẽ hơn: “Chúa Tể muôn loài không bao giờ vị nể, kẻ quyền cao chức trọng, Người cũng chẳng kiêng dè. Sang hay hèn đều do Người tạo tác, đều được Người chăm sóc hệt như nhau, nhưng kẻ quyền cao sẽ bị tra vấn nghiêm nhặt.” (Kn 6:7-8)

Đó là luật công bằng, như Chúa Giêsu đã xác định: “Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn.” (Lc 12:48) Tuy nhiên, bản chất vốn dĩ là tình yêu nên Thiên Chúa có đặc điểm bất biến: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4 và 29; Tv 136:1-26) Nếu Thiên Chúa chấp tội thì chẳng ai có thể đứng vững trước Tôn Nhan Ngài. (Tv 130:3) Thật vậy, “Ngài không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm.” (Tv 103:10)

Trong xã hội loài người, các lãnh thổ khác nhau chia thành năm châu lục, mỗi châu lục gồm nhiều quốc gia, mỗi quốc gia có một vị đứng đầu với quyền tối thượng, phàm ngôn gọi là nguyên thủ quốc gia – thay đổi tùy thời: Chúa Thượng, Hoàng Thượng, Hoàng Đế, Vua, Nữ Hoàng, Quốc Vương, Quốc Trưởng, Tổng Thống,… Riêng Công giáo gọi vị đó là Giáo Hoàng – người kế vị Thánh Phêrô cai quản Giáo Hội tại thế.

Người ta có câu: “Quan nhất thời, dân vạn đại.” Dĩ nhiên đó là nói về thế gian. Các nguyên thủ quốc gia cũng chỉ tạm thời chứ không vĩnh viễn, kể cả quyền lực, chỉ có Thiên Chúa là duy nhất, vĩnh viễn, bất biến, và có quyền tối thượng, kể cả “quyền ném vào hoả ngục.” (Lc 12:5) Khi bị thế lực trần gian áp chế, Chúa Giêsu vẫn thẳng thắn nói với Philatô là người có toàn quyền trong tay: “Ngài KHÔNG có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài.” (Ga 19:11) Rất rõ ràng.

Theo chiết tự chữ Hán, chữ Vương (vua, 王), ba “gạch ngang” tượng trưng cho Thiên, Nhân, Địa, và được nối kết bằng một “gạch đứng” với ý nghĩa “vua là người nối kết trời, đất và con người.” Đúng theo nghĩa đó thì trọng trách nặng nề lắm, nhưng vua trần gian chẳng mấy người như vậy, đôi khi họ còn ngược ngạo, hống hách, làm khổ dân mà thôi. Tương tự, gần gũi chữ Vương (王) là chữ Chủ (主), cũng có nghĩa là Chúa, viết như chữ Vương và có thêm “ngọn lửa” ở trên, với ý nghĩa: Chúa cũng là vua nhưng có đức độ, gần gũi với con người, đốm lửa trên đầu ngài là ánh sáng soi sáng cuộc đời chúng ta, thúc bách chúng ta đi theo ngài, và đó là ý nghĩa của cuộc đời chúng ta. Hán tự thật thâm thúy, đúng là chữ phải có nghĩa.

Đệ Nhất Thiên Vương là Chúa Giêsu, vì Ngài là Vua các vua và Chúa các chúa, thế nhưng Ngài lại hạ mình đến tận cùng vì yêu thương các thần dân. Có điều rất kỳ lạ: Vua chúa trần gian có mọi thứ, còn Chúa Giêsu là Vua Đa Không: KHÔNG ngai, KHÔNG đăng quang, KHÔNG vương miện, KHÔNG vương trượng, KHÔNG long bào, KHÔNG quần thần, KHÔNG dinh thự, KHÔNG văn phòng làm việc, KHÔNG nghi thức, KHÔNG thiết triều,… Thậm chí Ngài còn SINH nơi hang động, SỐNG ở ngoài đường, rồi CHẾT trên đồi hoang.

Tại sao như vậy? Chính Chúa Giêsu minh định với tổng trấn Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 18:36) Tuy nhiên, Ngài lại có quyền tối thượng: “Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử. Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người.” (Ga 5:22, 26-27)

ĐỨC VUA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

Thật khủng khiếp với quyền sinh sát trong tay vua chúa trần gian: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Vì họ tự nhận là Thiên Tử – Con Trời, hét ra lửa, mửa ra quyền. Còn Chúa Giêsu khác hẳn, khi Philatô hỏi Ngài có phải là vua không, Ngài thản nhiên: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” (Ga 18:37) Là Vua các vua, nhưng Chúa Giêsu luôn động lòng trắc ẩn, chạnh lòng thương xót. Ngài đến thế gian để cứu những gì đã mất, và Ngài nhắn nhủ: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11:29) Là Thiên Vương nhưng Vua Kitô Giêsu là Vua Thương Xót, luôn nhân hậu, nhân ái và từ tâm.

Chính Đức Chúa là Chúa Thượng đã tuyên phán: “Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm. Như mục tử kiểm điểm đàn vật của mình vào ngày nó ở giữa đàn chiên bị tản mác thế nào, Ta cũng sẽ kiểm điểm chiên của Ta như vậy. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng đã bị tản mác, vào ngày mây đen mù mịt.” (Ed 34:11-12) Thật vậy, khi chúng ta tưởng mình cô đơn thì Ngài đang ở ngay bên; khi cuộc đời êm trôi, Ngài đồng hành với chúng ta; khi cuộc sống như ở trong ngõ cụt, Ngài không chỉ đồng hành mà còn vác chúng ta trên vai để chúng ta được an toàn. Thực sự như thế, nhưng vì phàm nhân yếu đuối, chúng ta đã từng có những lúc bị dao động, chao đảo, vì đức tin còn yếu kém.

Là Đấng tạo dựng nên chúng ta, Thiên Chúa biết rõ chúng ta thế nào, và Ngài đã xác định: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng. Phần các ngươi, hỡi chiên của Ta, Đức Chúa là Chúa Thượng phán. Này Ta sẽ xét xử giữa chiên với chiên, giữa cừu với dê.” (Ed 34:15-17) Ngài không bỏ qua bất cứ ai, người nào càng đau khổ thì càng được Ngài thương xót. Thật vậy, Ngài không phân biệt, chấp nhận bỏ lại 99 con chiên béo tốt để tìm cho được 1 con chiên xấu xí, ốm yếu, hôi tanh. (x. Mt 18:12-14; Lc 15:4-7) Phàm ngôn không đủ từ ngữ để diễn đạt lòng thương xót mầu nhiệm như vậy.

May thay, hiếm nhưng vẫn có: Các vua chúa trần gian ít có người đích thân vi hành như Hoàng đế Khang Hi (Kangxi, 1654-1722) đời nhà Thanh của Trung Hoa. Ông là vua tốt lành, thương dân suốt hơn 60 năm trị quốc. Có bao giờ Tổng thống đến khu dân cư nghèo để thấy sinh hoạt cực khổ của người dân? Có đến thì chỉ ở “trung tâm” rồi tiệc tùng, và nghe “báo cáo,” liệu có bao nhiêu phần trăm trung thực? Bởi vậy, người dân mới thở dài rồi nói: “Ôi dào! Làm láo, báo cáo hay!” Ngay cả tỉnh trưởng hoặc quận trưởng cũng vậy, chẳng mấy người thật lòng muốn biết nỗi niềm của người dân. Đạo cũng không khác lắm, có bao nhiêu giám mục hoặc linh mục tận tình đến thăm giáo dân để hiểu được nỗi lòng của họ, cả đời thường lẫn tâm linh? Có chức nên có quyền, đủ lý lẽ biện hộ, khó mà thản nhiên trả lời ngay. ĐGH Phanxicô cũng thường thẳng thắn dám nói tới những điều “nhạy bén” như vậy, có lẽ nhiều người cũng cảm thấy “dị ứng” lắm. Đúng là “sự thật mất lòng” mà.

Quả thật rất ấn tượng với Đức cố Giám mục Jean Cassaigne (1895-1973), gọi thân thương là Cha Sanh, nhà truyền giáo của dân tộc Kơ Ho, chết vì lây bệnh cùi tại Trại Phong Di Linh, được mệnh danh là Tông Đồ Người Cùi. Khi còn là Giám mục GP Saigon, ngài thường dùng chiếc xe vespa cọc cạch đi thăm dân chúng vùng Chợ Lớn. Một người Pháp mà quên mình, dấn thân và hòa nhập với người Việt, đặc biệt là những người dân tộc và các bệnh nhân phong cùi. Không yêu thương làm sao sống được vậy? Đó là phong cách của thánh nhân, ngài đã sống đúng khẩu hiệu giám mục của ngài: “Caritas et Amor – Bác Ái và Yêu Thương.”

Cuộc đời luôn có những ngịch lý: Biết nhiều thì khổ nhiều; thấy nhiều thì chán nhiều; nghe nhiều thì nóng máu. Làm ngơ thì người ta nói mình sợ, nói ra thì bị ghét. Thẳng thắn sẽ va chạm, chỉ khổ mình thôi. Thế nhưng không thể làm ngơ, ai nhát đảm thì dễ vào hùa, đồng lõa. Thật may còn có Chúa là Bến Yêu Thương cho chúng ta trú ẩn. Thánh Vịnh gia chia sẻ cảm nghiệm tâm linh: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.” (Tv 23:1-3) Mỗi tín nhân đều khả dĩ trải nghiệm đức tin tuyệt vời như vậy thì hạnh phúc biết bao!

Chắc chắn đức tin phải được tôi luyện trong gian truân thì mới có thể dần dần trở nên tinh ròng, và lúc đó người ta mới có thể xác tín: “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa.” (Tv 23:4-5) Thánh Vịnh gia chia sẻ thêm: “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.” (Tv 23:6) Thật là hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc đó không thể có nếu cứ sống tà tà. Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, (Đnl 32:39; 1 Sm 2:6; Kn 16:13) Ngài không bao giờ “chợp mắt ngủ quên” hoặc nỡ lòng để chúng ta lâm vào ngõ cụt, bởi vì bản chất của Ngài là tình yêu, (1 Ga 4:8 và 16) mà tình yêu thì bất diệt.

Chúa Giêsu là Để Nhất Thiên Vương, nhưng là Đệ Nhất Hàn Vương: SINH nơi hang động, SỐNG ở ngoài đường, CHẾT trên đồi hoang. Ngài là Vua mà cuộc sống như vậy, chúng ta không thể sống khác nếu muốn đi theo Ngài.

Ngài là Vua của người sống chứ không là Vua của kẻ chết. Thật vậy, dù Ngài bị người ta ghen ghét đến nỗi giết Ngài, nhưng Ngài đã từ cõi chết sống lại, và cai trị cả Tử Thần. (x. 1 Cr 15:25) Thánh Phaolô cho biết chi tiết: “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.” (1 Cr 15:20-24)

Chúa Giêsu đã đau khổ tột cùng nên hoàn toàn hợp lý khi Ngài có toàn quyền: “Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Kitô. Mà khi nói muôn loài thì dĩ nhiên không kể Đấng đặt muôn loài dưới chân Đức Kitô.” (1 Cr 15:25-27) Đức Kitô là Chúa Con, Ngôi Hai Thiên Chúa, mà Chúa Cha với Chúa Con chỉ là MỘT: “Lúc muôn loài đã quy phục Đức Kitô thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ quy phục Đấng bắt muôn loài phải quy phục Người; và như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.” (1 Cr 15:28)

Thời quân chủ, vua cho sống thì được sống, vua bảo chết thì phải chết, cái chết đó được coi là trung thành. Có những trung thần đã dám xin được chết để minh chứng lòng trung thành với vua. Người ta không được phép nhìn mặt vua và phải tránh những chữ có “liên quan” nhà vua, phải đọc “trại” đi (trường – tràng, sinh – sanh, bảo – bửu,…), thậm chí muốn tâu bẩm cũng phải tránh né: “Muôn tâu bệ hạ!” – tức là tâu cái bệ rồng của vua ngồi mà thôi. Ôi, cái ghế vua ngồi còn đáng giá hơn thần dân. Nhưng với Vua Giêsu thì không sợ “phạm húy,” cứ thân thưa thẳng thắn: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con! Lạy Chúa Giêsu, chúng con tín thác vào Ngài.”

ĐỨC VUA CÔNG MINH CHÍNH TRỰC

Thiên Chúa “xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người, và xét xử muôn dân theo lẽ công bình.” (Tv 96:13 và Tv 98:9)

Trình thuật Mt 25:31-46 nói về thời điểm Vua Kitô xét xử nhân loại. Về cuộc phán xét chung, Chúa Giêsu dùng hình ảnh thực tế: Chiên và Dê. Hình ảnh gần gũi với đời sống. Chiên là loài động vật hiền, mỗi lần bị xén lông rất đau nhưng nó không hề kêu hoặc phản ứng và có hình dáng “bắt mắt,” còn dê là loài động vật có thể phản ứng dữ dội và có hình dáng “khó nhìn.” Chiên là người lành, dê là kẻ dữ. Rất dễ hiểu.

Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha và chịu chết để cứu độ nhân loại, thế nên Ngài có quyền phân xử, nhưng hoàn toàn công minh chính trực. Khi Ngài đến thế gian lần thứ hai có các thiên sứ theo hầu, và Ngài sẽ ngự trên ngai vinh hiển. Ngài tập hợp các dân thiên hạ trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ tách biệt họ như mục tử tách biệt chiên với dê. Ngài cho chiên đứng bên phải, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Thiên Vương Giêsu nói với những người ở bên phải: “Nào những người được Cha Tôi chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho quý vị ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Tôi đói, quý vị đã cho ăn; Tôi khát, quý vị đã cho uống; Tôi là khách lạ, quý vị đã tiếp rước; Tôi trần truồng, quý vị đã cho mặc; Tôi đau yếu, quý vị đã thăm viếng; Tôi ngồi tù, quý vị đã đến hỏi han.” (Mt 25:34-37)

Nghe Vua Kitô nói vậy, họ ngạc nhiên vì họ chưa hề thấy Chúa gặp hoạn nạn mà giúp đỡ, nhưng Chúa Giêsu xác định: “Mỗi lần quý vị làm như thế cho một trong những anh chị em bé nhỏ nhất của Tôi, là quý vị đã làm cho chính Tôi vậy.” (Mt 25:41) Thật lạ lùng quá chừng!

Tương tự, Đức Vua nói với những người ở bên trái những điều như đã nói với những người bên phải, chỉ khác chữ KHÔNG. (Mt 25:42-44) Và họ cũng ngạc nhiên và phân bua, nhưng Ngài nói thẳng: “Mỗi lần quý vị KHÔNG làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là quý vị đã KHÔNG làm cho chính Tôi vậy.” (Mt 25:46) Hết lý lẽ để biện minh, họ đành lủi thủi ra đi để chịu cực hình muôn kiếp. Đó là công bình: Tốt được thưởng, xấu bị phạt. Có điều lạ là không thấy Chúa đề cập tội này hay tội nọ, Ngài chỉ thẩm vấn HAI điều: Sử dụng vốn sống thế nào để sinh lời, (Mt 25:14-30) và thực hành đức ái. (Mt 25:31-46)

Đức Vua không thiên vị ai, không thể lấy cớ mình là “ông này” hay “bà nọ” để được ưu tiên. Có lẽ chúng ta nghe nhiều và nhàm tai, rồi cứ tưởng Chúa vui tính, thích đùa dai. Số phận thành Sôđôma và Gômôra bị thiêu rụi đã quá hiển nhiên, rồi hằng năm có nhiều vụ “thiên tai” nhưng người ta vẫn “bình chân như vại,” thích những “sự lạ” chứ không muốn hiểu “triệu chứng” của một căn bệnh trầm kha bất trị. Thiên tai hay nhân tai? Việt Nam cũng không loại trừ. Người ta cứng lòng, tự mãn, hay giả mù sa mưa?

Thực sự không hề dễ để có thể nhận ra Chúa nơi người khác, nhưng đó là điều Chúa Giêsu đề cao: Mỗi lần chúng ta giúp đỡ, yêu thương, chia sẻ, thiện cảm, vui cười, nói dễ nghe, cư xử tốt, cầu nguyện cho người khác,… đó là chúng ta làm cho chính Thiên Chúa. Người khác là tha nhân, là bất kỳ ai, dù không quen biết, thậm chí là kẻ thù. Thật tuyệt vời với cách suy luận của đại văn hào Victor Hugo: “Ai cho kẻ khốn cùng là đã cho Thượng đế vay.”

Yêu thương là xót thương, Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta đến cùng, (Ga 13:1) Ngài không phạt nhãn tiền vì Ngài nhẫn nại chờ chúng ta sám hối, đợi chúng ta tín thác vào Lòng Thương Xót vô biên và sâu thẳm của Ngài, điển hình là qua Bí tích Hòa giải và Thánh Thể. Không được tha thứ là tại chúng ta cố chấp mà thôi. Alfred Mortier nói: “Mọi người đều nói đến quyền lợi, không mấy ai nói đến bổn phận.” Thật vậy, chúng ta van xin Chúa ban “miễn phí” cho chúng ta đủ điều, nhưng lại không muốn hy sinh, chỉ muốn tránh né “cái khó” càng nhiều càng tốt. Như vậy thì chúng ta không công bằng với Chúa, cũng có nghĩa là chúng ta bất công với Ngài.

Chúa Giêsu là Vua các vua nhưng không được tiền hô hậu ủng, không xa giá, chỉ một lần duy nhất được tung hô vạn tuế khi Ngài cưỡi lừa vào thành Giêrusalem trước dịp lễ Quá Hải (Vượt Qua), thế nhưng chỉ vài ngày sau là họ lật mặt mau hơn trở bàn tay: “Đóng đinh nó vào Thập Giá.” (Mt 27:22-23; Mc 15:13-14; Lc 23:21; Ga 19:6; Ga 19:15) Quả thật, chúng ta cũng chẳng hơn gì dân xưa.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng, suốt ba năm hoạt động công khai, hằng ngày Ngài đích thân rong ruổi khắp mọi nẻo đường, đến tận các hang cùng ngõ hẻm để giáo huấn và chia sẻ nỗi đau khổ của những người nghèo khổ nhất, đặc biệt là Ngài luôn tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền của mọi người. Là Vua với đầy quyền lực trong tay, nhưng Ngài đã thực hiện đúng như đã nói: “Ai làm lớn phải phục vụ.” (Mt 20:24-28; Mc 10:40-45) Ngài không cậy quyền, không ỷ thế, nói và làm gì cũng dựa trên nền tảng yêu thương, ngôn hành luôn song song, thậm chí Ngài còn làm nhiều hơn nói. Thật diễm phúc khi chúng ta là thần dân của Vua Kitô Giêsu!

Lạy Đức Vua Kitô Giêsu, xin tỏ cho con thấy tình thương của Ngài và ban ơn cứu độ cho con. (Tv 85:8) Xin Ngài nhớ đến con bởi lòng thương dân Ngài, xin ngự đến viếng thăm mà ban ơn cứu độ. (Tv 106:4) Xin Ngài đứng dậy mà xét xử địa cầu, vì chính Ngài làm chủ muôn dân. (Tv 82:8) Xin thương tha thứ, nâng đỡ, che chở, độ trì, soi sáng và hướng dẫn con trong Chân Lý và Tình Yêu cao cả. Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất, hằng sinh, đồng hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Về mục lục

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-LỄ CHÚA KITÔ VUA

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Lễ “Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ” đã được Đức Pi-ô XI thiết định vào năm 1925 để khẳng định niềm tin của Giáo Hội vào quyền tối thượng của Chúa Giê-su trên mọi người, mọi gia đình và mọi xã hội nhân loại. Trong bức Thông Điệp của mình “Quas primas” vào ngày 11 tháng 12 năm 1925, Đức Pi-ô XI đặc biệt tố cáo chủ nghĩa thế tục làm phương hại tận căn vương quyền của Đức Ki-tô.

Trước đây, Lễ Chúa Ki-tô Vua đã được ấn định vào Chúa Nhật cuối cùng của tháng mười. Từ cuộc canh tân phụng vụ, Lễ này kết thúc năm phụng vụ, vì nó được trình bày như đỉnh cao của tất cả mầu nhiệm Đức Kitô.

Ed 34: 11-12, 15-17

Bài Đọc I, trích sách Ê-dê-ki-en, là dụ ngôn người mục tử nhân lành, trong đó ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo rằng Đấng Mê-si-a mà muôn dân mong đợi không chỉ là vua, nhưng còn là mục tử nhân lành chăn dắt dân Ngài.

1Cr 15: 20-26, 28

Bài Đọc II, trích thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô, trong đó thánh Phao-lô gợi lên vương quyền của Chúa Ki-tô. Thiên Chúa đã quy phục mọi sự cho Ngài. Vào ngày chung cuộc, Chúa Con sẽ hoàn lại cho Cha Ngài thế giới mà Ngài đã vĩnh viễn tiêu diệt quyền lực của Sự Ác và Tử Thần.

Mt 25: 31-46

Tin Mừng trình bày Ngày Chung Thẩm, vào ngày đó Đức Vua vinh hiển mở cửa Nước Trời cho tất cả những ai đã yêu mến Ngài qua việc yêu thương anh chị em bất hạnh của họ, những người mà Đức Vua tình yêu tự đồng hoá mình với họ.

BÀI ĐỌC I (Ed 34: 11-12; 15-17)

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en sống vào thời kỳ bi thảm nhất của lịch sử Ít-ra-en: những cuộc xâm lăng của đế quốc Ba-by-lon vào đầu thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên. Sau khi vua Ba-by-lon là Na-bu-cô-đô-no-so đánh chiếm kinh thành Giê-ru-sa-lem vào năm 598 tCn, ngôn sứ Ê-dê-ki-en thuộc đoàn người ưu tú đầu tiên bị dẫn đi lưu đày tại Ba-by-lon.

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en tiên báo một tai họa còn lớn lao hơn. Tai họa này bất ngờ xảy đến mười một năm sau đó. Quân đội Ba-by-lon triệt hạ kinh thành Giê-ru-sa-lem và phá hủy Đền Thờ (588-587). Cuộc xuất chinh thứ nhất của quân đội Ba-by-lon là trừng phạt trong khi cuộc xuất chinh thứ hai chấm dứt vương quốc Giu-đa.

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en cực lực tố cáo hạnh kiểm của các vua Ít-ra-en là bất tài, vị kỷ, bất công: họ là những mục tử gian ác đã dẫn dân của mình đến chỗ phải ly tán khắp nơi. Danh xưng “mục tử” được dùng để gọi vua rất phổ biến ở Đông Phương, thuộc ngôn ngữ triều đình.

Khi tai họa bất ngờ giáng xuống trên dân tộc mình, ngôn sứ Ê-dê-ki-en từ ngôn sứ loan báo tai họa biến thành ngôn sứ loan báo niềm hy vọng: Sẽ đến ngày Đức Chúa đích thân cầm lấy vận mệnh của dân Ngài, Ngài sẽ là vị Mục Tử đích thật.

  1. Sứ điệp hy vọng

Trước hết, sấm ngôn của ngôn sứ Ê-dê-ki-en được ứng nghiệm ngay tức thời. Kinh Thành Giê-ru-sa-lem bị triệt hạ, Đền Thờ bị tàn phá, đám đông dân cư bị đi lưu đày. Đó là một thời kỳ thử thách, một thời kỳ “mây mù tăm tối” (hình ảnh truyền thống để gợi lên sự trừng phạt của Thiên Chúa): mỗi lần kinh thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm, mỗi lần một đoàn dân cư bị lưu đày sang Ba-by-lon. Sau khi Giê-ru-sa-lem bị đánh chiếm lần thứ hai, thành thánh bị san thành bình địa, một số lượng dân cư Giê-ru-sa-lem và Giu-đê trốn chạy sang Ai-cập: đàn chiên bị tản mác khắp nơi.

Ngôn sứ hứa Thiên Chúa sẽ can thiệp. Chính Ngài sẽ đích thân chăn dắt đàn chiên của mình: “Chúng có tản mác đến tận đâu vào một ngày mây mù tăm tối, thì Ta cũng sẽ cứu chúng ra”. Đó là lời hứa hồi hương trở về Giê-ru-sa-lem và quy tụ lại ở quê cha đất tổ. Đức Chúa sẽ đích thân băng bó tất cả những ai bị thương tích, bồi bổ những ai bệnh hoạn trong cơn thử thách, Ngài “sẽ dựa vào công lý mà săn sóc”. Ngài sẽ trừng trị những mục tử gian ác, những kẻ cậy quyền dựa thế chà đạp những kẻ nghèo hèn thấp cổ bé miệng.

Sứ điệp chứa chan hy vọng gởi đến cho những kẻ sống kiếp lưu đày và những nạn nhân xấu số của những cuộc xâm lăng, nhưng cũng tiên báo một sự thay đổi sẽ xảy đến trong lịch sử Ít-ra-en: sau cuộc hồi hương trở về, vương quyền sẽ không còn được khôi phục lại nữa. Chỉ một mình Đức Chúa sẽ lãnh đạo dân Ngài.

  1. Tôn giáo tình yêu

Qua dụ ngôn người mục tử nhân lành, ngôn sứ Ê-dê-ki-en gởi sứ điệp còn quan trọng hơn. Những mối liên hệ giữa Thiên Chúa và tín hữu của Ngài được trình bày như những mối liên hệ đầm ấm thân tình; những hình ảnh chất chứa biết bao âu yếm, sôi nổi, sống động như một điệp khúc: “Con nào mất, Ta sẽ lo tìm kiếm; con nào lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh hoạn, Ta sẽ bồi bổ; con nào béo khỏe, Ta sẽ giữ gìn”.

Ở nơi dụ ngôn người mục tử nhân lành ẩn chứa một tôn giáo tình yêu. Đức Chúa, Đấng trừng phạt dân Ngài, nhưng không quên họ và yêu thương họ, là một Thiên Chúa chí công vô tư: Ngài biết “phân xử giữa chiên và chiên, giữa dê và cừu”. Đây là hình ảnh mà thánh Mát-thêu lấy lại trong Tin Mừng về Ngày Chung Thẩm: chính trên những tiêu chuẩn tình yêu này mà vị Vua Mục Tử tuyên án.

BÀI ĐỌC II (1Cr 15: 20-26, 28)

Cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô, được thánh Phao-lô loan báo Tin Mừng, đa số là người gốc Hy-lạp, ngay cả những người không phải gốc Hy lạp cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp. Việc kẻ chết sống lại đặt ra cho họ một vấn nạn. Tại sao thân xác vốn ngăn trở linh hồn lại được thăng hoa cách viên mãn, vốn ngục tù giam hãm linh hồn lại được sống lại?

Đối với tư tưởng Do thái quan niệm con người như toàn thể, việc kẻ chết sống lại được cắm rễ trong một niềm tin truyền thống từ nhiều thế kỷ. Thánh nhân dành phần kết của bức thư để trả lời cho những biện bác mà cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô nêu lên.

  1. Một sự liên đới giữa sự phục sinh của Đức Giê-su và sự phục sinh của chúng ta

“Đức Giê-su đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu”. Chúng ta đều phải chết vì thân phận tội lỗi của chúng ta, liên đới với sự chết và tội lỗi ở nơi A-đam, nhưng được sống lại nhờ liên đới với Đức Ki-tô, Ngài là Đầu của toàn thể nhân loại được tái sinh, Trưởng Tử của đoàn người đông đúc được sống lại. Theo Ngài và nơi Ngài toàn thể con người của chúng ta được cứu.

  1. Vương quyền của Đức Giê-su

Lúc đó, thánh nhân triển khai tư tưởng của mình trong một thị kiến vĩ đại về ngày chung cuộc. Sau khi đã tiêu diệt dứt khoát mọi thế lực Ác Thần và cuối cùng là Tử Thần, Chúa Con sẽ trao lại cho Chúa Cha vương quyền mà Ngài đã được trao ban. Như vậy mọi sự đều hoàn tất. Sứ mạng của Chúa Con được chu toàn. Lúc đó, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.

TIN MỪNG (Mt 25: 31-46)

Năm phụng vụ hoàn tất trên thị kiến vĩ đại mà truyền thống Ki-tô giáo gọi “Ngày Chung Thẩm”. Thị kiến này đóng lại bài diễn từ cánh chung, trong đó Đức Giê-su gợi lên những viễn cảnh nối tiếp nhau về ngày cùng tận của thế giới và ơn cứu độ của mỗi người.

  1. Con Người

Bức tranh được gợi hứng từ thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en: Con Người ngự giá mây trời mà đến và Thiên Chúa trao cho Người “quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người” (Đn 7: 13-14).

Ngai vinh hiển, sự hiện diện của các thiên thần vào ngày chung thẩm, là những nét đặc trưng của truyền thống ngôn sứ và các tác giả khải huyền. Nhưng hoạt cảnh được soi sáng chủ yếu bởi thuật ngữ “Con Người” được đặt ở đầu. Tước vị “Con Người” theo nguyên ngữ: “con của loài người”. Đây là diễn ngữ Kinh Thánh được gặp thấy trong sách Ê-dê-ki-en, đồng nghĩa với “một phàm nhân”“Hỡi con người, hãy đứng cho vững, Ta sắp nói với ngươi đây” (Ed 2: 1). Trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, “Con Người” là một nhân vật có nguồn gốc thiên giới, nhưng không kém phàm nhân.

Như vậy, Đức Vua, được gọi “Con Người”, giáng trần để xét xử trần gian nhắc nhớ, trước tiên Ngài cùng chia sẻ nhân tính của chúng ta. Nét đặc trưng này ngự trị toàn bộ hoạt cảnh: Vua -Thẩm Phán muốn liên đới với anh em đồng loại của mình, đặc biệt những kẻ nghèo khổ thua thiệt và bênh vực họ, đến độ Ngài tự đồng hoá mình với họ.

Cựu Ước thường hằng cho thấy Thiên Chúa đứng về phía những kẻ thấp cổ bé miệng bị áp bức thua thiệt. Chính Ngài đích thân đảm nhận việc báo oán cho họ. Trong Xuất Hành, Thiên Chúa một cách nào đó tự đồng hoá mình với những người khốn khổ, bị áp bức (Xh 2: 23-25). Sách Gióp mô tả những nguyên do Thiên Chúa trừng phạt nhân danh công lý theo những từ ngữ loan báo Tin Mừng:

“Anh đòi anh em nộp của cầm mà chẳng có lý do,

lại còn lột cả áo che thân của họ.

Kẻ mệt nhoài, anh chẳng cho nước uống,

người đói lả, anh từ chối bánh ăn.

Anh trao đất đai cho kẻ có quyền hành,

và cho người thần thế được định cư.

Các quả phụ, anh đuổi về tay trắng,

các cô nhi, anh bắt phải bó tay.

Vì thế, cạm bẫy bủa vây anh tứ phía

làm cho anh bất chợt phải sợ hãi kinh hoàng” (G 22: 6-11).

  1. Mến Chúa và yêu người

Nét tiêu biểu của Ki-tô giáo đó là “Mến Chúa và yêu người là một”. Nhưng ai có thể công bố “mến Chúa và yêu người là một”, nếu không là Đấng hiệp nhất ở nơi Ngài Thiên Chúa và nhân loại chúng ta?

Trong hoạt cảnh Ngày Chung Thẩm, việc chọn lựa giữa những người công chính và quân vô đạo được thực hiện trên tiêu chuẩn tình yêu, minh họa hùng hồn nhất nét tiêu biểu của Ki-tô giáo: “Mỗi lần các ngươi làm hay không làm như thế cho một trong những kẻ bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã làm hay không làm cho chính Ta vậy”.

  1. Bối cảnh lịch sử

Được đặt vào trong bối cảnh lịch sử của nó, đoạn Tin Mừng này đã có thể có âm vang ngay tức thời. Đức Giê-su đã từng gọi các môn đệ Ngài là những “kẻ bé nhỏ” (Mt 10: 42) hay “anh em Thầy” (Ga 20: 17). Vào lúc thánh Mát-thêu ghi lại đoạn văn này, những người Kitô hữu đang phải sống trong cảnh bị bách hại, chịu những gian truân tứ phía, bị tù đày. Đức Giê-su dự phần vào những nỗi truân chuyên của họ. Không phải chính trên đường Đa-mát Đức Giê-su đã nói với Phao-lô, kẻ bách hại các tín hữu của Ngài: “Tại sao ngươi bách hại Ta?” (Cv 9: 4) sao? Chắc chắn đoạn Tin Mừng hôm nay đã đem đến một niềm an ủi lớn lao biết là ngần nào cho những người Ki-tô hữu đang sống trong cảnh bách hại và cho những ai giúp đỡ họ hay gia đình của họ. Tuy nhiên, bản văn có một tầm mức hoàn vũ hơn nhiều.

  1. Tầm mức hoàn vũ

“Các dân thiên hạ sẽ tụ họp trước mặt Người”. Vị Vua-Thẩm Phán ngỏ lời với hết mọi người. Đức Giê-su đã lật đổ những viễn cảnh của sách Lê-vi, theo đó yêu người thân cận chỉ giới hạn ở nơi đồng bào của mình, để công bố chiều kích “tứ hải giai huynh đệ” của Luật Đức Ái. Tác giả thư gởi tín hữu Do thái khẳng định rằng Đức Giê-su đã trở nên anh em của tất cả mọi người: “Đức Giê-su đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa… Thật vậy, Đấng thánh hóa là Đức Giê-su, và những ai được thánh hóa đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em…” (Dt 2: 9-17). Hơn nữa, chính Đức Giê-su đã công bố: “Phàm ai thi hành ‎ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12: 50).

Đức Giê-su nối kết diễn từ “Cánh Chung” với diễn từ “Các Mối Phúc Thật”, đồng thời đem đến một khía cạnh mới mẽ. Ngài mở rộng sự tuyển chọn của Thiên Chúa ở bên kia Ki-tô giáo nói riêng. Tất cả những ai thực hành Đức Ái huynh đệ sẽ được định vị trong tinh thần của Đức Ki-tô: họ sẽ nhận được gia sản và dự phần vào những lời chúc phúc của Chúa Cha.

Đây là ân ban trực tiếp của mầu nhiệm Nhập Thể. Cuộc Nhập Thể của Ngôi Lời không là một giai đoạn tạm thời: Thiên Chúa tháp nhập vĩnh viễn vào nhân loại, và qua nhân loại, Ngài cho chúng ta được tháp nhập vào Ngài.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...