21/04/2023
1127

CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH – Năm A

Lời Chúa: Cv 2,14.22-33; 1Pr 1,17-21; Lc 24,13-35
--------------------------------

Mục lục

  1. Người Lữ Hành (Thiên San, MTG. Thủ Đức)
  2. Mời Ông Ở Lại ( Lm. Jos DĐH, Gp. Xuân Lộc)
  3. Con tim đã vui trở lại (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  4. Khi con đau khổ Chúa ở đâu? (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
  5. Tôi sống, không phải tôi (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  6. Hành trang Phục sinh (Jorathe Nắng Tím)
  7. Cho lòng bừng cháy (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  8. Tưởng chừng không còn gì (Anna Cỏ May,  MTG.Thủ Đức)
  9. Đức Kitô Phục sinh là đường dẫn ta về cõi sống (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)
  10. Chúa Phục sinh an ủi những người thất vọng  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
  11. Nhận ra sự hiện diện của Chúa  (Lm. Trần Bình Trọng)
  12. Để gặp gỡ Đấng Phục sinh (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)
  13. Chúa vẫn trung thành hiện diện  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)
  14. Hành trình Em-mau (Lm. Xuân Hy Vọng)
  15. Nhận diện  (Trầm Thiên Thu)
  16. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 3 PS_A  (Inhaxio Hồ Thông)




 

NGƯỜI LỮ HÀNH

Thiên San, MTG. Thủ Đức

Lững thững bước trên đường, hai môn đệ mệt lả, buồn thiu, kể lại với nhau chuyện cũ. Dường như có rất nhiều người đi đường nhưng chẳng ai để ý đến ai. Bất chợt Đức Giêsu Phục sinh tiến đến, đi cạnh bên hai ông, nhưng vì mắt các ông còn bị ngăn cản nên không nhận ra Người. “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (Lc 24, 17). Thấy có người quan tâm, một người tên là Clêôphas trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” (Lc 24, 18). “Chuyện gì vậy”, Đức Giêsu hỏi. Vậy là suốt quãng đường ngày hôm ấy, hai môn đệ có Chúa Giêsu Phục sinh đồng hành mà chẳng ai hay. Mãi đến khi được dùng bữa với Ngài, mắt các ông mới mở ra, họ nhận ra Ngài.

Chúng ta có thể thấy, Đức Giêsu Phục sinh không chỉ hiện ra với các phụ nữ, với các Tông đồ mà Người còn hiện ra với các môn đệ – nhóm Bảy mươi hai. Dường như Đức Giêsu Phục sinh đã giả bộ. Ngài giả bộ không hay biết gì về chuyện hai người đi đường kia đang bàn tới. Người nhìn thấy nét mặt đượm buồn của các ông. Người biết rõ nhưng lại tỏ vẻ không hay biết gì. Cái giả bộ của Chúa Giêsu Phục sinh ngày hôm ấy thật dễ thương. Người giả bộ không hay biết gì để có thể tiếp cận, cùng đi với hai ông. Dường như đoạn đường ngày hôm ấy bỗng trở nên ngắn hơn, nhẹ nhàng hơn với hai ông khi có người chia sẻ. Hai ông nào có biết người đang đi cùng mình, đang lắng nghe tâm tư của mình chính là Thầy Giêsu. Chẳng biết quãng đường hôm ấy các ông đi trong bao lâu, nhưng nó đủ dài để Đức Giêsu có thể giải thích cho các ông hiểu về Kinh Thánh, từ ông Môsê cho đến các ngôn sứ, tất cả những gì liên quan đến Người. Đến đây, lòng các ông mới chỉ rạo rực lên.

Đoạn Người còn giả bộ phải đi xa hơn một chút, các ông mới nài nỉ Người ở lại với các ông vì trời đã xế chiều, ngày sắp tàn. Lòng các ông rạo rực lên khi nghe Người giải thích Kinh Thánh, nhưng vẫn chưa biết đó là Người. Điều gì đến sẽ phải đến. Khi dùng bữa với nhau, các ông mới nhận ra Người qua cử chỉ quen thuộc: “bẻ bánh”. Mắt các ông mở ra và nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Vui quá. Vậy ra người đi cùng họ suốt đoạn đường ngày hôm ấy chính là Thầy Giêsu, nhưng là Thầy Giêsu Phục sinh. Ngay lúc ấy, họ không ngần ngại trở về Giêrusalem báo tin vui cho các bạn đồng môn được hay. Chắc hẳn, ngọn lửa được thắp lên trong lòng các ông hãy còn cháy, nó đủ mạnh để chiếu sáng tâm hồn các ông, giúp các ông băng băng trên con đường trở về. Tin vui gặp tin vui, các ông rối rít kể cho nhau nghe về việc Đức Giêsu Phục sinh đã hiện ra gặp gỡ mỗi người thế nào. Cả căn phòng tràn ngập ánh sáng của niềm vui, hy vọng và hạnh phúc.

Đoạn đường từ Giêrusalem đến Emmau trời hãy còn sáng, nhưng lòng các ông còn u tối, đượm buồn bởi mất hết hy vọng. Ánh sáng mặt trời không đủ sáng để xuyên thấu cái đêm đen trong tâm hồn của các ông. Cho tới khi “khách lữ hành” xuất hiện, song hành cùng hai môn đệ, bức tranh tiếp tục chuyển màu. Họ vừa đi vừa trao đổi với nhau thì trời càng về tối. Tối đến nỗi các ông phải tìm chỗ nghỉ chân. Ấy vậy, trong cái tối của đất trời nhưng lại lóe lên một ánh sáng rực rỡ. Ánh sáng ấy lóe lên từ đốm lửa được Đức Giêsu Phục sinh đốt lên trong lòng các ông khi Ngài giải thích Kinh thánh và những gì liên quan đến Ngài cho các ông. Ngọn lửa ấy tiếp tục cháy và bùng lên cho tới khi các ông bắt gặp cử chỉ quen thuộc: “bẻ bánh”, mắt các ông mở ra và các ông nhận ra Người. Ánh sáng của Đức Giêsu Phục sinh chiếu rọi tâm hồn các ông, giúp các ông bước đi trong cái tối của đất trời, chỉ mong mau gặp lại các bạn đồng môn và kể cho họ tin vui này.

Đức Giêsu Phục sinh có đang cùng chúng ta bước đi? Người có là “khách lữ hành” của mỗi người chúng ta như hôm nào cùng hai môn đệ trên đường Emmau? Thiết nghĩ, trong hành trình tiến về quê trời, có những đoạn đường ta bước đi trong hân hoan, vui sướng nhưng cũng không ít những đoạn đường ta bước đi trong mệt mỏi, chán nản, thất vọng. Thực ra, dù ở đoạn đường của yêu thương, hạnh phúc hay đoạn đường của chán nản, thất vọng thì Đức Giêsu Phục sinh vẫn luôn sẵn sàng tiến tới, đi bên cạnh ta. Có khi Ngài cũng đang giả bộ với ta như đã giả bộ với hai môn đệ trên đường Emmau hôm nào. Người sẵn sàng trở thành “khách lữ hành” của mỗi người chúng ta, cùng chúng ta bước đi, lắng nghe và chia sẻ mọi tâm tư của ta. Có lúc, Người cũng thẳng thắn trách móc vì sự cứng lòng và chậm tin của ta: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Ðấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24, 25-26). Nhưng rồi lòng chúng ta cũng sẽ được cháy rực lên khi được Người giải thích Thánh kinh, và những gì liên quan đến Người cho ta. Chúng ta có nhận ra Người trong cử chỉ “bẻ bánh” của Người?

Lạy Chúa Giêsu Phục sinh! Chúng con cảm tạ Chúa đã luôn đồng hành cùng chúng con. Xin giúp chúng con biết chạy đến với Chúa qua từng thánh lễ. Bởi nơi đó, chúng con sẽ được Người dùng Lời mà dạy bảo, được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Thánh Châu báu của Ngài. Đoạn đường Emmau hôm nào cũng đang mời gọi con nơi mỗi Thánh lễ. Chúa là “khách lữ hành” chủ động tiến đến và song hành cùng chúng con. Chúa hiện diện bước đi, lắng nghe, chia sẻ cùng chúng con đoạn đường chúng con đang đi. Xin giúp mỗi người chúng con nhận ra Chúa dù ngày xế tàn, để chúng con biết trở về cùng Chúa, loan tin vui Phục sinh cho anh chị em. Amen.

Về mục lục
MỜI ÔNG Ở LẠI

Tuần 3 Phục Sinh-A: Lc 24, 13-25

Lm Jos. DĐH, HP. Xuân Lộc

Kiến thức phong phú cho ta sự tự tin khi đối phó với mọi tình huống. Ý chí quyết tâm minh chứng ta dồi dào năng lượng, đang sử dụng tự do của mình cách tốt nhất. Bản lĩnh, không dễ ngã gục trước thất bại, phần nào chứng tỏ ta tạm trưởng thành, ví như lúc sai sót, việc làm kết quả không như ý, lại trở thành cơ hội vàng giúp ta rút tỉa kinh nghiệm. Quan niệm ở đời, người dũng cảm, không có nghĩa là không sợ khổ đau bầm dập, chính xác là sợ, nhưng luôn mạnh dạn tiến lên. Thắng không kiêu, thua không nản, được xem là động lực cần thiết, để đến đích thành công, vì: quan trọng không phải là đi nhanh hay chậm, miễn sao là đừng quay đầu bỏ cuộc. Để khuyên con cháu tự tin, đừng tự mãn, cha ông ta nói rằng: đừng chọn mua cuốn sách chỉ vì sự hấp dẫn bởi cái bìa, cũng đừng phán xét ai chỉ theo dáng vẻ bên ngoài. Nói cách khác, đừng yêu ai bằng mắt thể xác, mà hãy yêu bằng mắt tâm hồn.

Các chuyên gia tâm lý nhắn nhủ các bạn trẻ: nếu bạn thích một người, hãy can đảm nói ra, nếu không, hãy can đảm nhìn người đó rẽ sang một hướng khác ! Đấng phục sinh vì yêu, đã theo sát và đồng hành với hai môn đệ làng Emau, lắng nghe hai ông trút bầu tâm sự: “chắc ông là khách hành hương duy nhất không biết chuyện vừa xảy ra mấy ngày nay…”. Điều kỳ diệu không khỏi làm nhiều người giật mình: đàn ông con trai yêu bằng đôi mắt, nhưng lại khóc bằng trái tim ! Trong khi hai môn đệ mắt bị phủ kín bởi buồn chán, thất vọng, để rồi miệng lưỡi cứ tuôn ra lời ai oán, khó hiểu, tại sao chết, chôn táng, tại sao có tin đồn Thầy sống lại, còn Thầy thì chẳng thấy đâu ? Hai môn đệ chê Vị khách lạ vô tâm vô tư đến độ không hay biết sự việc vừa xảy ra ở Giêrusalem, ấy thế, Vị khách lạ lại biết lắng nghe, cảm thông, và rất am tường về kinh thánh.

Chân lý cuối cùng trên cõi đời này là tình yêu, yêu là sống, còn sống là còn yêu. (Voltaire). Phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa, Thầy Giêsu vì yêu đã vâng lời Chúa Cha, chịu chết trên thập giá, được chôn táng và sống lại, Ngài là tình yêu bất tử được ban cho nhân loại. Đấng phục sinh không còn lệ thuộc thời gian, không gian, ơn bình an và tình yêu của Đấng phục sinh, không giới hạn nơi các tông đồ hay một số người thánh thiện, nghĩa là tình yêu Đấng cứu độ sẽ đến với cả người tội lỗi. Mời Thầy đồng hành hay Đấng phục sinh tự xuất hiện, đều là cách diễn tả tình yêu của Đức Kitô đã và đang trải rộng khắp thế giới. Đấng phục sinh chính là Lời yêu thương củng cố niềm tin, cụ thể nơi hai môn đệ làng Emau. Đấng phục sinh giải thích kinh thánh, và mở trí mở lòng cho các ông, cho chúng ta: cuộc đời mỗi người là một cuốn sách, gặp trang sách buồn, hãy mạnh mẽ lật trang khác, đừng gấp lại, đừng bỏ cuộc.

Mời ông ở lại hay xin Đấng đã chiến thắng tử thần, đoái thương, quan tâm đến đoàn chiên, vẫn mãi là điều kiện thiết thực mà mỗi người đang tự do bày tỏ niềm tin của mình. Có ai là vô tội, có ai là toàn thiện, có ai tự sửa chữa được tính hư tật xấu của mình ? Có thể nhiều người ảo tưởng cho rằng: tôi không nhìn điều xấu, tôi không nghe chuyện xằng bậy, không nói điều sai quấy, và chẳng hề làm chuyện thất đức, thế là ok ! Đúng là tự ban đầu ai cũng tóc đen máu đỏ, nghĩa là mọi người đều có tâm trạng trước đau khổ hay hạnh phúc, bởi từ sâu thẳm tâm hồn đã được nhắc nhớ sống yêu thương, bổ túc, giúp nhau, đạt tới hạnh phúc. “Mời ông ở lại với chúng tôi vì trời đã chiều và ngày sắp tàn…”. Chắc không phải là xã giao, không phải vì đói khát, mà vì sự cháy bỏng giữa tình Thầy-trò, dù sao vẫn mang một nghĩa cử đẹp: lời chào cao hơn mâm cỗ.

Mời ông ở lại: chuyện buồn, chuyện vui, chuyện ông Giêsu Nagiarét, chuyện các thượng tế và kỳ lão cư xử bất công, xin hãy gác lại, hãy nói về tình bạn, tình yêu thương, đào sâu hơn việc phải qua đau khổ thập giá rồi mới tới vinh quang. Mời ông ở lại, vì sự đồng hành của bạn, vì những gợi ý từ cựu ước, đã và đang làm rung động con tim khối óc, đang làm sáng tỏ tâm tư nơi anh em chúng tôi. Mời ông ở lại, tình bạn, tình yêu, đánh động ký ức chúng tôi nhớ đến Vị Thầy, và đúng rồi, việc bẻ bánh, cho biết bạn là Thầy Giêsu, là Đấng phục sinh đang thức tỉnh anh em chúng tôi. Thật là vui: nợ ai một chút chớ quên, ơn ai một chút phải nên đáp đền. Tình bạn, tình Thầy-trò, tình Chúa yêu thương, thật kỳ diệu, dù muốn hay không, nào ai điều khiển được ? Hãy đứng thẳng lên, hãy tin rằng: nước mắt chảy xuôi, cha mẹ thương con, thầy thương trò, dù con quậy phá, trò lười biếng !

Mời ông ở lại, dù nhút nhát dại khờ, chậm tin hay cứng lòng tin, Thầy đã nhắc và chúng con ghi nhớ, dù trang sách dơ bẩn của con được tẩy xoá, dù trở lại Giêrusalem, nhưng chúng con không thể sống mà thiếu tình yêu thương của Thầy ! Mời ông ở lại, nhắc nhớ tình liên đới hiệp thông giữa tiệc Lời Chúa và tiệc Thánh Thể, lưu ý hành trình đời người sẽ tới bến bờ bình an khi có Đấng phục sinh. Mời ông ở lại, còn là kinh nghiệm quý báu, vì: cái mất đáng tiếc nhất là thời gian, cái mất đáng buồn nhất là cơ hội, cái mất đáng sợ nhất là niềm tin ! Đấng phục sinh không nói đến tội hay phúc, không nhắc lại quá khứ, không hứa hẹn tương lai, và hài lòng với thời khắc hiện tại: “mời ông ở lại với chúng tôi”. Hãy vui lên, Đấng phục sinh hằng ở cùng ta. Amen.

Về mục lục

CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh Luca là tác giả duy nhất kể lại câu chuyện hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem trở về Emmaus. Bố cục văn chương cũng như nội dung hàm chứa những nội dung rất sâu sắc. Tác giả muốn khẳng định với chúng ta:

* Khi chúng ta thất vọng, có Chúa đồng hành để nâng đỡ, mặc dù chúng ta không cảm nhận được sự hiện diện của Người.

* Khi chúng ta đã nhận ra Chúa và đã tìm được niềm vui, thì Người lại ẩn mình đi. Ẩn mình không có nghĩa là vắng bóng, mà chỉ là sự hiện diện huyền nhiệm mà thôi.

Trong hành trình cuộc đời, Đấng Phục sinh vẫn hiện diện bên chúng ta. Nhờ sự đồng hành và nâng đỡ của Người, mà chúng được bình an và thấy con tim vui trở lại. Phụng vụ mùa Phục sinh muốn khẳng định với chúng ta điều ấy.

Chúa Giêsu đã bị một số người Do Thái lên án tử bằng hình thức đóng đinh vào thập giá. Bản án đã được thi hành theo ý muốn của thày Thượng tế, các luật sĩ và biệt phái. Công chúng ở Giêrusalem đều biết rõ vụ việc và nhiều người đã trực tiếp chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu. Tuy vào thời chưa có hệ thống thông tin hiện đại như ngày nay, nhưng “vụ án Giêsu” là một sự kiện nổi bật, không ai mà không biết. Vì vậy, hai môn đệ ngạc nhiên thấy vị khách đi cùng đường với mình, cũng từ hướng Giêsusalem về ngoại ô, mà không biết sự kiện này. Tuy vậy, hai ông này cũng giống như đại đa số những người đã chứng kiến vụ án, đều chỉ nhìn nhận sự kiện với cái nhìn hoàn toàn thế tục. Kinh Thánh kể các ông đã có một thời theo Chúa Giêsu làm môn đệ Người, các ông cũng hoàn toàn thất vọng, như các ông đã thú nhận: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng, chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israen”. Cùng với lời thú nhận này, là tâm trạng buồn bã, chán nản thất vọng. Các ông cũng có nghe mấy người phụ nữ nói về ngôi mồ trống và lời đồn Chúa đã sống lại, nhưng các ông cho đó là chuyện tầm phào, chẳng đáng tin.

Tâm trạng và lý luận của hai môn đệ, cũng là tâm trạng và lý luận của nhiều người trong thời đại của chúng ta. Đối với họ, Chúa Giêsu đã chết. Việc Chúa sống lại chỉ như câu chuyện tầm phảo, viển vông. Chính quan niệm này làm cho người vô tín chìm đắm trong bi quan, chán nản và thất vọng, khi họ đối diện với những khó khăn trên đường đời.

“Người khách lạ” đã gợi ý để hai môn đệ nhìn nhận sự kiện dưới cái nhìn khác. Là người Do Thái, hai ông dễ dàng hiểu vấn đề khi nghe người khách lạ liên hệ và trích dẫn lời các ngôn sứ, cộng với việc hồi tưởng những gì Chúa Giêsu đã làm và đã giảng dạy. Từ những chia sẻ của vị khách đi đường, niềm vui và hy vọng đã trở lại với các ông. Cử chỉ bẻ bánh là điểm mấu chốt giúp hai ông khẳng định, người khách đồng hành chính là Thày mình, Đấng đã sống lại từ cõi chết. Chính lúc các ông nhận ra Người, thì Người biến mất. Hai ông đã thoát ra khỏi tâm trạng bi quan thất vọng. Sự thao thức kể lại cho anh em tin vui này đã khiến các ông trở về Giêrusalem ngay trong đêm. Trở về Giêrusalem là trở về với nơi đã làm các ông thất vọng. Các ông đã trở về Giêrusalem với tâm trạng mới mẻ, đầy tràn niềm vui và nghị lực.

Đức Giêsu không phải là một nhân vật huyền thoại. Cuộc khổ nạn và phục sinh của Người đã được tiên báo qua các ngôn sứ. Trong bài giảng ngài lễ Ngũ Tuần, Thánh Phêrô can đảm làm chứng về sự kiện phục sinh. Ông lược qua những gì đã được ghi chép trong Kinh Thánh Cựu ước, để khẳng định với thính giả rằng: “Theo kế hoạch của Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại”.  Vị Tông đồ còn quả quyết: “Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng”. Niềm xác tín của thánh Phêrô vừa dựa trên sự kiện, vừa căn cứ vào truyền thống Thánh Kinh.

Lễ Phục sinh và tuần Bát nhật đã kết thúc. Chúng ta đang từng bước trở về với những sinh hoạt đời thường. Phụng vụ lưu ý chúng ta: Đấng Phục sinh đang hiện diện và đồng hành với chúng ta, dù chúng ta không nhìn thấy người bằng con mắt thể lý. Lễ Phục sinh nhắc người tín hữu phải sống phù hợp với mầu nhiệm họ cử hành. Thánh Phêrô viết cho các tín hữu: “Nếu anh em gọi Thiên Chúa là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này” (Bài đọc II).

Giữa những lo âu của cuộc sống hôm nay, nhất là giữa đại hoạ của bệnh viêm phổi Vũ Hán (COVID-19), mầu nhiệm Phục sinh chiếu toả ánh sáng của niềm hy vọng. Cuộc sống dù đau buồn đến đâu, đừng quên Chúa đang đồng hành với chúng ta. Hãy nhận ra sự hiện diện của Người để cảm nhận sự ngọt ngào Chúa ban.

Về mục lục

KHI CON ĐAU KHỔ CHÚA Ở ĐÂU?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Người Việt Nam khi gặp hoạn nạn hay khó khăn thường hay nói đây là ý Trời, rồi khuyên bảo nhau cứ ráng mà chịu, vì “Trời cho ai người ấy hưởng”. Và điều ấy dẫn tới niềm tin vào định mệnh. Định mệnh Trời đã an bài. Trời đã định chẳng thoát được đâu? Con người có số nên chẳng chạy thoát được số Trời đã an bài.

Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng chịu ảnh hưởng của định mệnh nên viết như sau:

Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Hoặc trong bài ca dao dí dỏm mà chúng ta đã học từ nhỏ rằng:

Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói bay tới tận thiên tào
Ngọc Hoàng phán hỏi thằng nào đốt rơm?

Ông Trời thật gần gũi thân thương. Trời cũng bị khói đen của những nỗi oan làm cay mắt, cũng bực mình xót xa cho nỗi đau nhân thế.

Ông Trời cũng biết cái hoạ của con người là do chính con người gây nên Ông Trời mới giận dữ bảo rằng: “Thằng nào đốt rơm?”.

Nhìn vào thế thái nhân tình hôm nay có lẽ Ông Trời cũng cay mắt, giận dữ hỏi rằng: “Thằng nào làm ra Covid 19?”. Vạn vật đều có căn nguyên. Vậy sự dữ Corona Vũ Hán này ở đâu mà ra? Ai phải chịu trách nhiệm về bể dâu tang thương khiến cả thế giới phải dừng lại mọi sinh hoạt, mọi giao thương để bảo vệ cho chính mình và cho quốc gia. Ai đã gây tan thương khiến gần 200 ngàn người đã chết và hơn 2 triệu người nhiễm dịch trong lo âu sợ hãi?

Lời Chúa Tuần Thứ Ba Mùa Phục Sinh cho ta thấy một hình ảnh thật gần gũi của Chúa Giê-su sau khi sống lại. Chúa Giê-su đã cùng với hai môn đệ Emmau đốt một đống rơm để hàn huyên và chia sẻ về những gì đang xảy ra. Xem ra Chúa Giê-su cũng đang cay mắt vì đống rơm khắc nghiệt mà 2 môn đệ đang nói lên cùng Ngài. Nhưng ở đây ta thấy Chúa Giê-su rất hiểu nỗi đau của 2 môn đệ nên Ngài đã chủ động ngồi lại tâm sự để họ có cơ hội kể lể trút hết bầu tâm sự trong cái “khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào”. Và Chúa Giê-su đã cho các ông được dịp nhìn lại lịch sự dân tộc mình, những bước tưởng rằng phí lý nhất lại đã là mốc ghi cho một niềm tin cao hơn là những giải quyết luẩn quẩn trần tục.

Hoá ra trong những biến cố lớn của lịch sử con người phải có cái nhìn đức tin để thấy Thiên Chúa đang viết lại lịch sử. Đừng theo thói quen để rồi ôm ghì lề luật cứng nhắc mà đau khổ than van. Trong hành trình Emmau các ông đã đau buồn vì chỉ nhìn vào nỗi tang thương của Thứ Sáu Tuần Thánh nhưng không đủ đức tin để nhìn vào ngày thứ ba sau khi chết Ngài sẽ sống lại nên các ông buồn, khóc lóc và thất vọng.

Đúng vậy. Cuộc sống mỗi người cũng nhiều nỗi đau xót oan khiên, chỉ có thể được hóa giải bằng con mắt niềm tin thấy được Chúa đã sống lại và đang đi bên cạnh, đang tâm sự, đang vỗ về hỏi han.

“Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Luca 24:32).

Tôi không phải là nhà Kinh Thánh hay Thần Học để có thể đọc được ý Chúa đang dạy gì chúng ta qua biến cố Đại dịch Covid này, nhưng tôi tin vào Thiên Chúa đã xuống thế và ở cùng chúng ta. Ngài đã trở nên gần gũi đến nỗi có thể hiểu được ngôn ngữ bình dân nhất của chúng ta, chỉ cần chúng ta thấy đói thì kêu, thấy buồn thì khóc, thấy khổ thì cầu Trời, thì Trời cũng cay mắt vì nỗi đau mà con người đang phải gánh chịu.

Cách cầu nguyện dân dã ấy đã được cha ông Việt Nam truyền tụng cho con cháu. Mỗi khi gặp những niềm đau và nỗi oan khiên thì hãy cùng nhau đốt một đống rơm để cái mùi khói chẳng thơm tho chút nào ấy bay cao làm cay mắt ông Trời thì ông liền quát hỏi: đứa nào đốt rơm?

Và hãy tin rằng: Trời nào có phụ ai đâu! Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ!

Người Công Giáo gọi Trời là Thiên và còn là Chúa Cả trời đất đã đến cư ngụ giữa chúng ta. Vậy chúng ta hãy chung nhau đốt đống rơm là những lời tâm sự đầy lo âu, buồn phiền dâng lên Ngài, chắc chắn, Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta, và nhất là xin Chúa mạc khải để chúng ta hiểu được ý Chúa mà sống theo sự hướng dẫn của Ngài. Amen

Về mục lục

TÔI SỐNG, KHÔNG PHẢI TÔI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Lời tuyên xưng rất đặc biệt của thánh Phaolô đã reo lên: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Chúa Thánh Thần làm cho Đức Kitô sống lại và làm cho Đức Kitô sống trong tôi. Đó là niềm xác tín của Thánh Phaolô, Chúa Kitô Người đang sống.

Tôi sống, không phải tôi sống.

Kinh tin kính chúng ta tuyên xưng: “Chúa Thánh Thần là Chúa và là Đấng ban sự sống”. Thánh Phaolô cũng cho thấy sống sự sống mới là sống nhờ Chúa Thánh Thần. Người Kitô hữu không chỉ sống theo như là theo gương của một ai đó, học ở ai đó hoặc theo tư tưởng của ai đó được tô vẽ trên trần gian này. Người Kitô hữu sống nhờ Chúa Thánh Thần là sống cùng Chúa Giêsu Kitô. Người đang sống, không như một người nào đó đã chết từ lâu năm, lấy di ngôn, di chúc của người đó mà sống theo.

Chúa Kitô, Người đang sống là một đề tài Thánh Phaolô luôn sống cùng, sống với và sống trong Người. Khi Thánh Phaolô viết: “Chính Chúa Kitô sống trong tôi”, đó là cách sống ngài luôn thuộc về.

Sống cùng Chúa Kitô là sống với sự hiện diện của Người khi tham dự các bí tích trong Giáo Hội. Chính Chúa là Đấng đang hiện diện khi Người cử hành các bí tích qua thừa tác viên. Nhận ra sự hiện diện của Chúa Kitô trong khi cử hành bí tích Thánh Thể, nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho lễ dâng trần thế lên cùng Chúa Cha. Hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Thánh Phaolô viết trong lời kết vinh tụng ca, thư gửi tín hữu Roma: “ Kính chúc Người, Thiên Chúa duy nhất và khôn ngoan, nhờ Ðức Yêsu Kitô, vinh quang đời đời kiếp kiếp. Amen.” (Rm 16, 27)

Hiệp thông trong Giáo Hội. Sống với Chúa không chỉ sống cho mình hay cho một cộng đoàn mà là sống trong hiệp thông cùng với Giáo Hội. Thánh Phaolô theo trình thuật của ngài, lời rao giảng không do loài người, mà chính ngài thụ giáo nơi Chúa Kitô, và thuộc về Giáo Hội: “Rồi sau ba năm, tôi mới lên Yêrusalem tham kiến Kêpha, và tôi đã lưu lại với ông mười lăm ngày. Các Tông đồ khác, tôi không gặp ai, duy chỉ có Yacôbê, người anh em của Chúa” (Gl 2, 18 – 19). Người Kitô hữu không chỉ thuộc về một cộng đoàn mà thuộc về Giáo Hội nên sống với Chúa là vâng nghe giáo huấn Giáo Hội giảng dạy.

Hiệp thông trong đau khổ. Để sống với Chúa, Thánh Phaolô luôn mời gọi sống trong sự khổ chế, nghĩa là từ bỏ lối sống theo xác thịt. Ai sẽ giúp ta ra khỏi lối sống xác thịt chính là Chúa Thánh Thần mà Thánh Phaolô mời gọi: “Nếu Thần khí của Ðấng đã cho Ðức Yêsu sống lại từ cõi chết cư ngụ trong anh em, thì Ðấng đã cho Ðức Yêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tác sinh thân xác chết dở của anh em, nhờ bởi Thần khí của Người cư ngụ trong anh em” (Rm 8, 11). Đi trên hành trình trần thế , con người được mời gọi vác thập giá mình theo Chúa, thập giá ấy là những khổ chế trong luyện tập đời sống thiêng liêng, thông hiệp cùng với tất cả anh chị em đang đau khổ, cùng với đau khổ của ta: “Nay tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Ðức Kitô phải chịu vì Thân mình Ngài, tức là Hội thánh” (Cl 1, 24)

Xin Chúa cứu con khỏi cái tôi.

Tôi sống, như một bản kiểm điểm việc mình sống. Thường tôi sống cho tôi nhiều hơn cho Chúa, cho anh chị em. Cái tôi sống có khuynh hướng quy về mình, nghĩ cho mình, kiếm cho mình những điều tốt đẹp hơn những người khác, luôn có những biện minh cái tôi là chính đáng. Như cái dằm trong thân xác theo cách nói của Thánh Phaolô, luôn lôi kéo: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. (Rm 7 19 – 20).

Kinh nghiệm của cái tôi gần với cái tội luôn bị lôi kéo muốn dứt bỏ nhưng vẫn cứ quyến luyến. Trong kinh nghiệm của R. Tagore cũng cho thấy điều này: “Tên tôi là một nhà tù, nơi người tôi giam đang than khóc. Mải mê xây tường bao vây tất cả, và dần dần khi tường đã vươn cao, trong bóng tối âm u, tôi không còn nhìn thấy con người thực của mình đâu nữa” (Lời dâng, bài số 29, R.Tagore).

Và trong kinh nghiệm “tôi sống” ấy Thánh Phaolô viết tiếp: “ Vô phúc thay con người tôi! Ai sẽ cứu tôi khỏi các xác chết này? Ðội ơn Thiên Chúa, nhờ Ðức Yêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Rm 7, 24, 25).

Ơn giải thoát ở nơi Chúa Giêsu Kitô. Người đang sống. Xin cho con ý thức Chúa đang sống ở nơi con.

Về mục lục

HÀNH TRANG PHỤC SINH

Jorathe Nắng Tím

Suốt Mùa Chay, Tuần Thánh và Phục Sinh, chúng ta đã đi với Đức Giêsu trên nhiều con đường : con đường vào thành thánh Giêrusalem, con đường Thánh Giá từ Giêrusalem lên Núi Sọ, con đường từ Núi Sọ đến mộ phần, con đường từ mộ phần mà tảng đá lấp kín cửa “đã lăn ra khỏi mộ” đến Galilê, ở đó Đức Giêsu phục sinh hẹn gặp chúng ta, cũng như đã hẹn gặp các môn đệ của Ngài.

Như đã sai các môn đệ từ Galilê, Đức Giêsu cũng sai chúng ta đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo “Tin Mừng Chúa đã chết và đã sống lại. Chính Ngài là Đấng Cứu Độ muôn dân”, và truyền cho chúng ta làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài (x. Mt 28,19). Nhưng hành trang nào chúng ta cần trang bị để đi trên con đường Truyền Giáo không biên giới này ?

Nói về hành trang của người môn đệ được sai đi thì qủa là câu chuyện “lạc đề truyền giáo”, vì Đức Giêsu “đã chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng ; được đi dép nhưng không đuợc mặc hai áo” (Mc 6,8-9).

Không những rõ ràng, chính xác, mà còn dứt khoát, triệt để, quyết liệt. Với chỉ thị này, các môn đệ lên đường mà không hành trang ; đi đường mà không rương hòm ; đi xa mà không sắc tay, bóp ví ; truyền giáo mà túi rỗng, tay không ; loan báo Tin Mừng mà không một phương tiện “truyền thông” cần thiết.

Vì thế, khi đọc chỉ thị về hành trang truyền giáo của Đức Giêsu truyền cho các môn đệ của Ngài, cảm tưởng “có cái gì qúa đáng, bất khả thi, lỗi thời” nẩy sinh và làm chúng ta chút ít nghi ngờ tính khả thi và hữu hiệu của chỉ thị.

Chúng ta nghi ngờ tính bất khả thi của chỉ thị “không được mang gì”, vì nhà truyền giáo lên đường không hành trang như Đức Giêsu căn dặn thì chỉ có nước chết đói trước khi đến được nơi truyền giáo ; thi hành chỉ thị “không bao bị” của Đức Giêsu thì hầu như mọi việc sẽ bị đình trệ, hoặc bế tắc, vì không tiền, không bạc, không phương tiện vật chất thì chẳng làm được việc gì trong xã hội mà “mọi việc đều phải giải quyết bằng tiền hoặc bằng rất nhiều tiền” ; thực hiện không sai sót huấn lệnh “không thu gom, góp nhặt tiền bạc” của Đức Giêsu thì người môn đệ sẽ nắm chắc “ăn đường ngủ chợ”, vì tìm đâu ra người tốt bụng cho “ăn nhờ ở đậu” mà không tính toán, không trao đổi sòng phẳng khi đón tiếp vào nhà, và rộng rãi nuôi ăn, vì người tử tế, tốt bụng thật qúy hiếm, tựa mò kim đáy biển ở xứ sở “không ai dám tin ai” và thời đại thực dụng, ích kỷ “tận răng” hôm nay.

Chúng ta cũng nghi ngờ tính hữu hiệu của chỉ thị “truyền giáo không hành trang”, vì hôm nay không phải hôm qua, thời này và thời xưa khác xa hoàn toàn, nên truyền giáo mà không điện thoại, không xe pháo, không thẻ ngân hàng, thì khó mà xong việc ; truyền giáo mà nay đau mai ốm, lại  không tiền, thì nhiều người không thích làm bầu bạn, cả anh em và bề trên đến một lúc cũng  mệt mỏi, ngao ngán, nhạt nhẽo ; nhất là khi về già, người môn đệ không còn “năng xuất”, tức khả năng sản xuất, khả năng làm việc, tình hình sẽ khó và xấu hơn nhiều, kéo theo mức độ lệ thuộc trầm trọng làm người môn đệ hết thời nghẹn ngào tủi thân, xót xa số phận.

Vậy đâu là ý của Đức Giêsu khi ra chỉ thị xem ra gắt gao, chặt chẽ này?

Khi căn dặn các môn đệ đừng mang theo gì khi lên đường truyền giáo, Đức Giêsu muốn các ông nắm vững hai điều :

  • Chính Ngài sai các ông đi, và chính Ngài sẽ lo liệu tất cả cho các ông.

Khi biết các ông lo lắng phải ăn gì, mặc gì, ở đâu, làm cách nào có tiền để giải quyết công việc, nhu cầu trên đường truyền giáo, Đức Giêsu đã trấn an bằng  ban cho các ông quyền “chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma qủy” (Mt 10,8). Với quyền này, các ông sẽ an tâm, vì biết Thiên Chúa ở với các ông, và người ta sẽ nhận ra các ông là người được Thiên Chúa sai đến để phục vụ họ. Và như người được sai đến để phục vụ, các ông sẽ được mọi người kính nể, ngưỡng mộ, yêu mến, giúp đỡ.

Đồng thời, trước khi ra chỉ thị đừng kiếm chác vàng bạc, cũng đừng mang theo bao bị lỉnh kỉnh, Đức Giêsu còn xác tín với các ông một điều quan trọng là các ông đừng lo gì, vì các ông sẽ nhận được rất nhiều, và sẽ không thiếu thốn gì, khi bảo các ông : “Anh em đã được cho nhưng không, thì cũng phải cho nhưng không” (Mt 10,8).

Tóm lại, Đức Giêsu là người bảo đảm an sinh bản thân và xã hội cho những người Ngài sai đi, vì Ngài biết chúng ta cần gì, và ngày mai, cũng như sự sống, sự chết của chúng ta luôn thuộc về Ngài (x. Mt 6,25-34).

  • Sứ mệnh duy nhất, công việc duy nhất của Ơn Gọi làm môn đệ là loan báo Nước Trời:

Sở dĩ chỉ thị “truyền giáo không hành trang vật chất” được Đức Giêsu ban bố một cách nghiêm nghị, cứng rắn, vì Ngài muốn nhấn mạnh ý muốn của Ngài, đó là  ngoài sứ mạng loan báo Tin Mừng, ngoài công việc rao giảng Nước Thiên Chúa, ngoài sứ vụ tuyên xưng và giới thiệu “Đức Giêsu đã chết và sống lại” cho muôn dân, các môn đệ không còn một công việc, sứ mạng, sứ vụ nào khác phải làm và được phép làm, nghiã là không được chèo kéo thêm một nghề nghiệp nào khác ; không được móc ngoặc thêm dịch vụ to nhỏ, gầy béo, xa gần nào khác ; không được thủ thân, thủ phận bằng một toan tính, kế hoạch, cơ đồ nào khác, vì tất cả những gì  lệch ra ngoài việc Loán Báo Nước Trời sẽ  làm sao lãng sứ vụ phục vụ Tin Mừng, làm xa dần sứ mạng loan báo Đức Giêsu, làm lạc lối bước chân người môn đệ được sai đi truyền giáo.

Cũng bởi cám dỗ lo cho an ninh bản thân, lo cho an sinh trăm phần trăm được bảo đảm, lo cho ngày mai tự do, độc lập, không lệ thuộc ai, không tùy thuộc cơ chế nào là cám dỗ rất khủng khiếp không chỉ với người môn đệ, mà với tất cả mọi người, nên Đức Giêsu đã tỏ ra dứt khoát với chỉ thị này.

Không muốn các môn đệ quên mình được chọn và sai đi cho duy nhất một Ơn Gọi, một sứ mạng, một sứ vụ : Loan Báo Đức Giêsu chịu đóng đinh, rao giảng Nước Thiên Chúa đã đến gần, và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), Đức Giêsu còn biết rõ : chỉ có thể thực hiện được đòi hỏi thiêng liêng “loan báo Nước Trời”, nếu các môn đệ được sai đi hoàn toàn tách mình khỏi vấn vương vật chất, gỡ mình khỏi dan díu của cải, tự nguyện buông bỏ ràng buộc của thế gian dưới mọi hình thức, kiểu cách, mức độ, để toàn tâm, toàn ý, toàn thân thuộc về Đức Giêsu phục vụ Tin Mừng.

Hiểu như thế, chúng ta sẽ không còn thấy cái áo, cái quần, cái bao, cái bị, cây gậy, đôi giầy… là chính yếu, nhưng chính yếu là tinh thần từ bỏ và phó thác ; không còn nhìn ngó người anh em môn đệ bên cạnh có gì, người anh em cùng đi truyền giáo mang gì, vì tất cả chỉ là thứ yếu, khi cái chính yếu là tình trạng thư thái, nhẹ nhàng, không bị của cải ràng buộc, không bị tiền bạc trói chặt, không bị những giá trị trần tục linh tinh khác cầm chân, để người môn đệ có thể nâng tâm hồn lên với Chúa và tự do đến với mọi người mà không phải qua bất cứ cửa ải, trạm kiểm soát, hàng rào an ninh, quan thuế nào.

Xác định được điều chính yếu của chỉ thị “truyền giáo không hành trang vật chất” rồi, chúng ta mới thấy được giá trị của hành trang thiêng liêng mà Đức Giêsu muốn các môn đệ Ngài phải có trên đường truyền giáo.

Nếu Tin Mừng Mátthêu (10,1-16) tường thuật chi tiết cảnh Đức Giêsu sai mười hai tông đồ đi truyền giáo và chỉ thị “không được mang theo hành trang vật chất”, thì Tin Mừng Luca (24,13-35) vẽ lại cảnh Đức Giêsu đồng hành với hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về Emmau, sau khi Ngài sống lại, cũng với chỉ thị về hành trang, nhưng là chỉ thị về  “hành trang thiêng liêng phải mang theo” trên đường truyền giáo, khác với chỉ thị ở Tin Mừng Mátthêu : không được mang theo hành trang vật chất:

Trên con đường buồn thê lương, ảm đạm về Emmau, một làng “cách Giêrusalem chừng mười một cây số” (Lc 24,13), hai môn đệ kể cho nhau những chuyện buồn đã xẩy ra cho Thầy mình và cho nhóm các ông, những môn đệ của Đức Giêsu, hai ông phần vì  chán nản, thất vọng, phần vì “chậm tin vào lời các ngôn sứ” (Lc 24,25), và quên bẵng Lời Hứa “ngày thứ ba sẽ sống lại từ cõi chết” của Đức Giêsu, nên đã không nhận ra Ngài, khi Ngài đồng hành và nói chuyện với các ông.

Trong suốt hành trình, Đức Giêsu sau khi lắng nghe tâm sự buồn của hai ông, đã cắt nghiã Kinh Thánh cho hai ông “bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ. Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24,27), và nhắc hai ông một điều rất quan trọng : “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” (Lc 24,26).

Nhận lời mời của hai môn đệ “khi gần tới làng họ muốn đến” (Lc 24,28), Đức Giêsu đã ở lại với họ. Và “khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người…” (Lc 24,30-31).

“Nhận ra Người, tức nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã chết và sống lại” là mục đích của truyền giáo, là mơ ước, khát khao, thao thức, khắc khoải của nhà truyền giáo. Và hôm ấy, trên đường Emmau, chính Đức Giêsu đã đóng vai nhà truyền giáo khi làm cho hai môn đệ “nhận ra Người”.

Đức Giêsu đã làm cho hai ông nhận ra Người là Thiên Chúa khi cắt nghiã Kinh Thánh, và đồng bàn chia sẻ lương thực với hai ông. Ngài đã thi hành sứ vụ truyền giáo cho hai môn đệ của mình, vì các ông “chẳng hiểu gì cả” và lòng trí lại chậm tin (x. Lc 24,25).

Như thế, hành trang truyền giáo mà Đức Giêsu không những chỉ thị cho chúng ta phải trang bị, mà còn tự mình thực hành sứ vụ truyền giáo với hành trang đó trên đường Emmau chính là Lời Ngài và Mình Máu Ngài. Hai hành trang thiêng liêng không thể thiếu cho người môn đệ, hai bao bị không thể bỏ quên trên đường truyền giáo, cũng là đôi dép và cây gậy không thể rời xa người được sai đi.

Lời Chúa và Thánh Thể là hành trang Đức Giêsu muốn và chỉ thị người được sai đi phải có, phải mang theo, phải gắn bó thiết thân, phải yêu mến tận tình, phải phục vụ tận tụy, vì Lời Chúa và Thánh Thể là nguồn mạch cứu độ, là ánh sáng và sự sống đời đời, bởi Lời và Mình Máu Chúa là chính Chúa, Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.

Nếu hai môn đệ trên đường Emmau, khi ngthe Đức Giêsu nói chuyện và giải thích Kinh Thánh đã thấy “lòng bừng cháy lên” (Lc 24,32) thì trái tim người được rao giảng cũng chỉ bùng sáng khi Lời Thiên Chúa được gieo vào tâm hồn họ. Nếu mắt hai môn đệ trên đường Emmau đã chỉ “mở ra và họ nhận ra Người ”, khi Đức Giêsu “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (Lc 24,30-31), thì mắt người được loan báo Tin Mừng, mắt người chưa nhận ra Đức Giêsu, mắt người ngoại đạo sẽ chỉ mở ra khi Thánh Thể được cử hành, để nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất quyền năng và nhân hậu.

Vì thế, ngoài hành trang Lời Chúa và Thánh Thể, người môn đệ không thể trông cậy vào bất cứ hành trang nào khác, dù là những hành trang đầy giá trị của quyền lực, của cải, thế giá, ảnh hưởng, tài giỏi, khôn ngoan… để làm cho người khác nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài”, bởi việc thánh hoá tâm hồn, đổi mới con tim, cải thiện đời sống thuộc quyền của Thiên Chúa, tuy có cần sự cộng tác của con người, nên phương tiện, cách thế được xử dụng cũng phải là phương tiện, cách thế của Thiên Chúa.

Vâng, là người Kitô hữu với ơn gọi và sứ mạng loan báo “Đức Giêsu chịu chết và sống lại”, chúng ta không thể bỏ quên Lời Chúa và Thánh Thể là hành trang vô cùng quan trọng, không thể thiếu, không thể xa chúng ta dù một bước trên đường truyền giáo. Nếu không, tất cả thiện chí, ước mơ, cố gắng, công trình truyền giáo của chúng ta sẽ trở nên vô ích, và không mang lại ơn ích thiêng liêng cho ai, kể cả cho chính chúng ta, vì ngoài Lời Chúa và Thánh Thể, chúng ta không giúp  lòng trí ai “bừng cháy lên được”, cũng như không thể cộng tác với Thiên Chúa làm cho mắt muôn người “mở ra và nhận ra Người”.

Về mục lục

CHO LÒNG BỪNG CHÁY

Bông hồng nhỏ

Cái chết của Thầy Giêsu không những để lại một nỗi đau thương, một sự sợ hãi trong tâm hồn các môn đệ nhưng nó còn lấy đi cả niềm tin và hy vọng của họ. Chính sự Phục Sinh của Người đã mang lại niềm hy vọng, thắp sáng niềm tin trong tâm hồn người môn đệ khi Người tỏ mình ra cho họ.

Chiều dẫn buông, hai môn đệ lê bước trên đường về Emmaus. Họ vừa đi vừa trò chuyện và bàn tán về những gì đã xảy ra. Thầy Giêsu đã chết, niềm tin và hy vọng các ông đặt nơi Thầy cũng chẳng còn. Hai ông quyết định trở về quê cũ. Trở về quê hương mà lòng các ông nặng trĩu. Dưới dáng dấp của một người khách lạ, Thầy Giêsu đã tiến đến và cùng đi với hai ông. Hai ông không nhận ra Người. Người chia sẻ nỗi buồn của họ bằng sự lắng nghe, dần dần, Người kéo họ ra khỏi nỗi thất vọng bằng việc giải thích Kinh Thánh, Người thắp lại niềm tin trong họ bằng việc đồng bàn và tỏ mình ra cho họ. Ngay khi họ nhận ra Người thì Người biến mất. Người biến mất nhưng họ nhận ra lòng mình đã được bừng cháy, họ hớn hở trở về Giêrusalem để báo tin cho các anh em khác.

Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn đến với ta trong từng giây phút của cuộc sống. Ta có nhận ra Người không? Người sẵn sàng lắng nghe từng niềm vui nỗi buồn của ta. Mỗi khi đến với Chúa Giêsu, ta hãy bày tỏ cho Người biết nỗi lòng của mình. Người rất muốn nghe ta tâm sự. Ở cùng Chúa Giêsu Thánh Thể, ta hãy để cho lòng mình thật lặng lẽ và lắng nghe Lời của Người đang vang lên trong tâm hồn ta. Lời ấy có sức nâng đỡ, ủi an ta trong mọi cơn gian nan khốn khó. Mỗi khi mở lòng ra với Chúa, ta sẽ cảm nhận được một niềm bình an sâu thẳm trong tâm hồn ngay giữa những lúc đời ta gặp sóng gió. Niềm hy vọng ta đặt nơi Chúa như chiếc neo chắc chắn và bền vững thả sâu vào trong trái tim của Chúa Giêsu. Người đã thắp sáng niềm tin trong tâm hồn ta và làm cho nó bừng cháy. Người làm cho trái tim được lớn lên, biết mở ra với những anh chị em của mình. Người làm cho ta nhận biết chính mình, đón nhận con người thật của mình với những điều tốt đẹp và cả những giới hạn. Hơn thế nữa, Người ban cho ta hồng ân được nhận biết và yêu mến Người hơn. Ở với Chúa rồi, ta hãy để Người ở trong tâm hồn ta, để Người đến gần và đi bên cạnh người anh em của ta. Hãy bắt đầu một cuộc trò chuyện thân tình với những người bên cạnh ta. Hãy để họ lắng nghe những tâm tư của ta. Đi bên cạnh một người bạn đang có tâm sự, ta rất muốn sẻ chia với họ, có thể ta chỉ ở bên cạnh họ, lắng nghe họ nói để cho họ vơi đi nỗi buồn phiền. Không phải ta đang ở bên cạnh người bạn của ta nhưng là chính Chúa Giêsu ở trong ta đang đi với người bạn ấy. Người làm cho hai tâm hồn được gần gũi nhau, hiểu nhau hơn. Thánh Thần tình yêu làm cho niềm tin và hy vọng nơi Chúa trong mỗi người được bừng cháy. Cũng như hai môn đệ trên đường Emmaus, ta hãy để cho Lời Chúa làm cho lòng bừng cháy, hãy nài nỉ Chúa ở lại trong tâm hồn mình và để Người dùng ta mà đến với tất cả những anh chị em đang đau khổ buồn phiền, đang đánh mất niềm tin và hy vọng trước những thử thách của cuộc sống.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh! Chúa đã dùng Lời mà làm cho lòng hai môn đệ được bừng cháy. Chúa đã đồng hành với họ như một người bạn và đã tỏ mình ra khi Người đồng bàn với họ. Trong cơn thử thách nặng nề của đại dịch đang lan tràn, xin Chúa cho chúng con biết nâng đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ những thử thách của cuộc sống. Chúa vẫn đến và ở với chúng con và làm cho lòng chúng con được bừng cháy nhờ Lời Chúa. Xin cho chúng con biết chuyên cần cầu nguyện và chia sẻ Lời Chúa, để niềm tin và tình yêu được thắp sáng nơi tâm hồn mỗi chúng con. Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh! Chúa là nguồn hy vọng chúng con tựa nương. Chúng con tín thác nơi Chúa. Amen.

Về mục lục

TƯỞNG CHỪNG KHÔNG CÒN GÌ

Anna Cỏ May 

Sau khi chứng kiến Chúa Giêsu chịu chết, các môn đệ buồn rầu, chán nản và thất vọng vì mọi sự đã tan thành mây khói. Thầy chẳng còn, mọi ước mong và sự chờ đợi một cuộc sống sung túc nơi thầy đã đổ vỡ. Các ông bắt đầu suy nghĩ và lên đường đi tìm cuộc sống khác. Có hai môn đệ đang tiến về một làng kia tên là Emmaus, họ vừa đi vừa trò chuyện và bàn tán về mọi sự đã diễn ra với Thầy của họ, họ cũng chia sẻ những băn khoăn trăn trở của nhau. Chúa Giêsu từ đằng sau tiến “đến gần” và “cùng đi” với họ. Ngài bắt chuyện với họ bằng câu hỏi đầy quan tâm, Ngài hỏi: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (Lc 24,17a). Lời thăm hỏi của Ngài đã khiến họ bộc lộ tâm trạng thật: “Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” (Lc 14,17b). Họ bắt đầu kể cho Ngài về mọi sự. Nhưng trước khi kể, một trong hai người tên là Cơlêôpát đã đáp lời như trách Ngài về sự vô tâm. Ngài không để ý lời trách đó mà tiếp tục hỏi họ: “Chuyện gì vậy?” (Lc 14,19). Điều Ngài muốn biết là lòng trí các ông đang suy nghĩ gì và lòng họ đang như thế nào? Qua việc hỏi han và cùng đi với họ, họ cảm thấy người bạn đường này thật gần gũi và thân thiện, nên họ đã nói ra mọi điều đang diễn ra trong lòng họ. Họ nói về người Thầy mà họ đã theo, chia sẻ về những ước vọng mà họ đặt nơi Thầy của mình (x.Lc 14, 19-21). Họ theo Thầy là đúng nhưng lại nghĩ sai về Thầy. Sau khi nghe những lời ấy, Chúa Giêsu bắt đầu giải thích Kinh Thánh liên quan đến Ngài từ thời ông Môsê đến các ngôn sứ. Những lời giải thích của Ngài đã khiến họ cảm nhận sự thánh thiện và sự quen thuộc giữa Ngài với họ. Họ níu kéo, nài ép Ngài rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn” (Lc 14,29). Trước lời nài ép và sự khao khát bên trong của họ, Chúa Giêsu một lần nữa tỏ mình ra cho các ông bằng bữa tiệc đồng bàn. Khi Ngài cầm bánh dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho các ông, mắt họ liền mở ra và nhận ra Ngài, nhưng Ngài lại biến mất. Đôi mắt được mở là đôi mắt tình yêu, đôi mắt đức tin. Bây giờ, họ không chỉ dừng lại ở chỗ hiểu biết mà còn nhận biết sự chết và sự Phục Sinh của Thầy là vì ai, vì điều gì. Họ liền quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp ở đó với tâm hồn đầy ánh sáng và sức sống mới của Thầy.

Sức sống Phục Sinh của Chúa Giêsu vẫn đang được trao ban cho mọi người nếu người đó cho bản thân mình cơ hội gặp Chúa. Đứng trước đại dịch đang hoành hành, mọi tương quan bên ngoài của cuộc sống của mọi người đã bị hạn chế, ai về nhà đó. Sao chúng ta không tận dụng thời gian này để xây dựng lại mối tương quan trong gia đình, để làm cho tình yêu gia đình thêm gắn chặt hơn. Sao chúng ta không làm mới lại tình yêu với Thiên Chúa trong chính gia đình của mình, cùng nhau cầu nguyện, đọc Sách Thánh và tham dự Thánh lễ trực tuyến. Chẳng phải hai môn đệ trên đường Emmaus đã được Lời Chúa làm cho lòng bừng cháy lên sao và các ông được lãnh nhận sự bình an và sức sống của Chúa qua bàn tiệc đó sao. Chúng ta hãy cho mình và người khác một cơ hội được sống bình an trong tâm hồn trước cuộc sống hiện tại. Chúa Giêsu vẫn đang gõ cửa gia đình bạn và  gõ cửa tâm hồn bạn, hãy mở ra cho ánh sáng Phục Sinh chiếu vào cuộc đời chúng ta. Ánh sáng Chúa Kitô!

Lạy Chúa, xưa Chúa đã hiện ra cho các môn đệ tùy theo thể thức cá nhân hay từng nhóm người, để củng cố đức tin và trao ban cho họ sức sống mới của Chúa. Nay chúng con cũng xin Chúa đến và ở lại với chúng con, giúp chúng con biết họp nhau lại trong gia đình mà cùng cầu nguyện và làm mới lại tình yêu cho nhau, cùng biết chia sẻ nỗi đau của mọi người bằng sự hy sinh các đam mê đã từng theo đuổi. Amen.

Về mục lục

ĐỨC KITÔ PHỤC SINH LÀ ĐƯỜNG DẪN TA VỀ CÕI SỐNG

Lm. Đaminh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Cv 2:14, 22b-33;  1 Pr 1:17-21; Lc 24:13-25)

Theo dõi sinh hoạt của Hội Thánh sơ khai tại Giê-ru-sa-lem, chúng ta thấy tông đồ Phê-rô đã giữ một vai trò quan trọng.  Qua lời giảng mộc mạc mạnh dạn nhưng đầy xác tín của ngài và nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh đã mau chóng phát triển.  Chủ đề của các bài giảng đều xoay quanh sứ mạng của Chúa Giê-su mà đỉnh điểm là đề cao sự chết và sống lại của Chúa là “đường về cõi sống đời đời” (bài đọc 1).  Sau đó, trong thư thứ nhất, thánh Phê-rô đã nhắc nhở tín hữu rằng ta được cứu chuộc khỏi tội lỗi là nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn là Đức Ki-tô (bài đọc 2).  Tuy nhiên, sứ mệnh của Chúa Ki-tô còn được Người đích thân dùng Kinh Thánh Cựu Ước mà giải thích và minh chứng khi Người đồng hành với hai môn đệ trên đường họ trở về làng Em-mau (bài Tin Mừng).  Sứ mạng của Chúa Ki-tô được kiện toàn qua biến cố Phục Sinh, để từ nay Người trở thành con đường dẫn ta về hưởng vinh phúc quê trời.

Bài giảng của Phê-rô về sứ mạng Đức Ki-tô.  Ngay sau khi lãnh nhận sức mạnh Chúa Thánh Thần hiện xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phê-rô cùng các anh em tông đồ đã thi hành sứ vụ rao giảng.  Phê-rô không rao giảng một mình, nhưng ông “đứng chung với Nhóm Mười Một” và thay mặt anh em mà giảng.  Vì nói với cư dân Giê-ru-sa-lem, ngài đã dựa trên Kinh Thánh để minh chứng việc Chúa Giê-su sống lại là điều đã được Kinh Thánh và nhất là Thánh Vịnh chứng thực.  Những lời chứng của Thánh Vịnh là chắc chắn, bởi vì vua Đa-vít, tác giả Thánh Vịnh, là vị ngôn sứ đã được Thiên Chúa “cho thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Ki-tô”.  Ngoài ra, Phê-rô còn dựa vào biến cố vừa xảy ra là Chúa Thánh Thần hiện xuống, để khẳng định việc phục sinh của Chúa Giê-su là đích thực.  Thánh Thần chân lý không hề lừa dối ai.  Các nhân chứng là các tông đồ đã nhận lãnh Thánh Thần và dân chúng Giê-ru-sa-lem cũng quy tụ lại sau khi họ nghe “từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi các ông tụ họp”.  Do đó, khi chứng kiến hoạt động của Thánh Thần và nghe Phê-rô giảng, họ phải nhìn nhận chứng từ của các tông đồ về sứ mạng của Đức Ki-tô là xác thực.  Bài giảng của Phê-rô đem lại những kết quả vô cùng tích cực.  Sách Công vụ kể:  “Nghe thế, họ đau đớn trong lòng, và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác: ‘Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?’ ” Ông Phê-rô đáp: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2:37-38).

Chúa Giê-su giải thích sứ mệnh của Người dựa trên Kinh Thánh.  Trên đường về Em-mau, hai môn đệ Chúa tâm sự với nhau về biến cố vừa xảy ra:  Chúa Giê-su đã chịu chết và tin nói Người đã sống lại.  Họ đã tin Chúa Giê-su là “một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân”.  Nhưng hiện thời niềm tin ấy lung lay vì họ chứng kiến Chúa đã chết trên thập giá, rồi họ hoang mang khi nghe tin Chúa đã sống lại.  Nghe họ kể lể, Chúa Giê-su nhận định một cách khá khôi hài:  “Các anh chẳng hiểu gì cả!  Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!”  Rồi Chúa dạy họ một bài học Kinh Thánh, dựa vào Lề Luật và các ngôn sứ, “Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh”.  Người giải thích để dẫn họ tới niềm tin cốt lõi, là “Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người”.  Quả thực là một bài học Kinh Thánh quý giá và đầy đủ ý nghĩa.  Tuy nhiên với đầu óc u mê và lòng chậm tin, họ phải chờ tới lúc Chúa “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”, thì họ mới “mở mắt và nhận ra” Chúa Phục Sinh!  Khi ấy, Chúa biến đi, để họ tiếp tục suy nghĩ và lên đường quay lại Giê-ru-sa-lem mà loan báo Tin Mừng Chúa sống lại.  Tin vui Chúa sống lại dồn dập, từ các tông đồ và các bạn hữu đang tụ họp tại Giê-ru-sa-lem kể lại cho đến câu chuyện hai môn đệ được Chúa dạy Kinh Thánh!

Sống sứ điệp Lời Chúa

Cùng với bài giảng trong ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, sau này thánh Phê-rô không ngừng nhắc nhở tín hữu về sứ mạng của Chúa Giê-su là đã đổ máu để cứu chuộc ta.  Ngài khẳng định với chúng ta rằng “Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô”.  Tuy nhiên việc cứu chuộc không đơn phương về phần Thiên Chúa, mà đòi sự đáp trả và cộng tác của chúng ta, vì “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử”.  Chúa Giê-su cứu chuộc ta khỏi tội lỗi, đó là bước đầu để giúp ta “đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa”.  Còn chúng ta, bổn phận của ta là “hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này”.  Đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách nghĩa là gì nếu không phải là hãy sống đích thực như con cái của Đấng mà chúng ta gọi là Cha?  Đức Ki-tô đã dạy ta cách “gọi Thiên Chúa là Cha” khi Người đã hoàn tất vai trò làm Con Chiên vẹn toàn để cứu chuộc nhân loại.  Vậy thì chúng ta cũng phải học cách ấy, không chỉ “gọi” bằng miệng lưỡi, nhưng bằng chính cuộc sống của một Ki-tô hữu tin vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa và tin vào Chúa Ki-tô Phục Sinh là Đường đưa ta về nhà Cha, để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu cùng Ba Ngôi Thiên Chúa.

Về mục lục

CHÚA PHỤC SINH AN ỦI NHỮNG NGƯỜI THẤT VỌNG

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Khi con người rơi vào chán nản thất vọng, người ta thường đặt câu hỏi: Chúa ở đâu? Chúa ở đâu trong lúc tôi đau khổ? Chúa ở đâu khi thế giới chìm ngập trong cơn đại dịch này? Chúa có thấy nhân loại đang chết chóc, sợ hãi như thế này không? Chúa có thấy hàng ngàn người chết vì dịch mỗi ngày không? Tại sao Chúa không can thiệp? Đây là những câu hỏi muôn thuở mỗi khi con người gặp tai ương thử thách. Thiên Chúa vẫn luôn trả lời mọi chất vấn của con người, nhưng vì con người quen sống trong âm thanh ồn ào, luôn để lòng bị xáo động nên họ chỉ biết đặt câu hỏi mà không muốn lắng nghe câu trả lời.

Hôm nay, câu chuyện hai môn đệ trên đường Emaus đã cho thấy: Thiên Chúa luôn thấu cảm với nỗi đau của con người và của từng người. Thiên Chúa luôn hiện diện ở bên và đồng hành với con người, nhưng chỉ có ít người nhận ra Ngài, ít người muốn mời Ngài vào nhà và ép Ngài ở lại dùng bữa với gia đình mình.

Hai môn đệ trên đường Emaus là hình ảnh của những con người chán nản vì thất vọng, sợ hãi vì thảm họa và đau khổ vì mất người thân. Tuy không phải là một trong số mười hai tông đồ, nhưng chắc chắn hai ông này cũng ở trong nhóm thân hữu của Chúa. Các ông đã bỏ lại tất cả gia đình, vợ con, sự nghiệp để đi theo Chúa Giêsu. Có thể các ông cũng nuôi trong lòng một kỳ vọng trần tục nào đó, khi Thầy Giêsu khởi nghĩa thành công, các ông sẽ được chia sẻ vinh quang, quyền lực với Chúa. Nhưng giờ đây, với cái chết kinh hoàng của Thầy, bầu trời tương lai của các ông như tan vỡ. Các ông hoàn toàn mất hết hy vọng vì Thầy các ông đã chết. Cái chết của Thầy khiến các ông hoàn toàn suy sụp. Hai môn đệ này đã tháo lui bằng cách trở về quê cũ, với con người cũ, công việc cũ.

Thấu hiểu được tâm trạng của hai người học trò đáng thương này, Chúa Giêsu Phục Sinh đã hiện ra với các ông. Ngài không hiện ra theo cách Ngài đã hiện ra với các phụ nữ hoặc với các tông đồ, nhưng Ngài hiện ra trong hình ảnh của một người bạn đồng hành cùng đi với họ. Ngài chủ động bước đến, gợi chuyện với hai ông: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Câu hỏi của Chúa là dịp để các ông trải lòng với Ngài, nhưng trên gương mặt họ chưa hết vẻ buồn rầu. Một trong hai người tên là Cleophat đã giãi bày tâm trạng của họ về chuyện ông Giêsu Nazareth bị bắt, bị giết, bị đóng đinh trên cây thập giá. Ông cũng nói lên nhận định và tâm trạng của mình đối với Thầy Giêsu: “Ngài là một ngôn sứ đầy uy thế trong lời nói cũng như việc làm, trước mặt Thiên Chúa cũng như toàn dân… Chúng tôi vẫn hy vọng Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel.” Điều làm các ông hoang mang hơn nữa là: “Có mấy bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ và không thấy xác Người. Các bà còn bảo rằng, các thiên thần bảo: Người đang sống. Vài người chúng tôi chạy ra xem mộ thì thấy đúng như vậy, còn Ngài thì họ không thấy.”

Chúa Giêsu Phục Sinh đã lắng nghe những lời tâm sự, chia sẻ của các ông, Chúa thấu hiểu nỗi lòng còn ngổn ngang nhiều thứ của họ. Chúa nói với hai ông: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh chậm tin vào lời các ngôn sứ. Đức Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” Qua câu trả lời, Chúa Phục Sinh mời gọi hai môn đệ này trước hết cần đọc, lắng nghe và suy gẫm những lời ngôn sứ, tức là những lời được chép trong Kinh Thánh. Vì tất cả những việc liên quan đến Chúa Giêsu đều đã được các ngôn sứ báo từ trước. Những ai siêng năng đọc và suy gẫm sách Kinh Thánh, thì sẽ đón nhận được niềm tin vào Chúa Phục Sinh. Để khơi lại đức tin cho hai môn đệ này, Chúa Giêsu dùng chính những lời đã chép trong sách ngôn sứ, bắt đầu từ Môsê để giải thích cho các ông hiểu về sứ mạng của Người. Có thể vì trước đây các ông đi theo Chúa, nhưng vẫn để lòng mình quá ồn ào về những sự kiện bên ngoài mà bỏ quên việc đọc và suy gẫm Kinh Thánh, nên lòng các ông bị mù tối.

Để thử lòng các ông, khi gần đến làng, Chúa Giêsu làm như còn phải đi tiếp nữa. Hai ông lúc này mời, ép, Người: “Mời ông ở lại với chúng tôi vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn.” Sau một hành trình đi bên Chúa Phục Sinh, dù chưa nhận ra Ngài, nhưng hai môn đệ này đã cảm nhận được sự ấm áp, an toàn, sức sống như được phục hồi. Giờ đây, khi “trời về chiều và ngày sắp tàn” các ông cảm thấy phải đối diện với một sự bất an trong tâm hồn. Hai ông đã cố nài ép vị khách: “Mời ông ở lại với chúng tôi.” Trước sự khao khát của hai ông, Chúa Giêsu Phục Sinh đã ở lại với họ, vào trong nhà của họ, và cùng dùng bữa tối với các ông.

Khi cùng các ông dùng bữa tối, “Người cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất.” Hình ảnh “bữa tối” này nhắc lại hình ảnh bữa tối Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu cũng làm cùng một cử chỉ như vậy và truyền cho các môn đệ: “Các con hãy cầm lấy mà ăn, hãy nhận lấy mà uống vì này là mình, máu Thầy.” Thấy cử chỉ và nghi thức quen thuộc này, đón nhận tấm bánh từ người khách đồng hành, hai môn đệ nhận ra đó chính là Chúa Giêsu, Thầy của mình. Các ông đã nhớ lại suốt một hành trình dài Chúa đã đồng hành với các ông, đã làm cho tâm hồn các ông ấm lại và hồi sinh. Giờ đây, với một tinh thần mới, một sức mạnh mới, một con người hoàn toàn mới, các ông phấn khởi, chỗi dậy trở lại Giêrusalem ngay trong đêm để gặp nhóm Mười Một. Các vị này đã làm chứng cho hai ông về việc Chúa sống lại, còn hai ông thì kể lại những gì đã xảy ra cho mình lúc đi đường và khi bẻ bánh. Họ cùng nhau phấn khởi vui mừng.

Chúa Giêsu đã chết thật và Người đã sống lại thật và đang sống, đang hiện diện, đang đồng hành với chúng ta. Đó cũng là những lời minh chứng của các tông đồ, đặc biệt là của Phêrô trong sách Công Vụ hôm nay. Phêrô quả quyết với mọi người: “Chúa Giêsu Nazareth đã bị anh em đóng đinh Ngài trên thập giá, nhưng Thiên Chúa quyền năng đã làm cho Ngài chỗi dây từ cõi chết.” Chính Ngài sẽ giải thoát chúng ta khỏi đau khổ và cái chết, khỏi sợ hãi và thất vọng.

Thưa quý OBACE, như đã gợi ý ở trên, mỗi khi gặp tại ương thử thách, con người thường quay lại trách móc Thiên Chúa và kể cả thách thức Ngài, chất vấn Ngài. Thiên Chúa vẫn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu và luôn trả lời cho từng người. Tuy nhiên, vì con người quen sống trong âm thanh ồn ào, luôn để lòng bị xáo động, tránh né sự thinh lặng, khiến họ chỉ biết đặt câu hỏi mà không muốn lắng nghe câu trả lời từ nơi Chúa.

Chúa đã nghe thấy tiếng khóc than của cả thế giới trong cơn đại dịch; Chúa thấu hiểu nỗi đau từ vị giáo hoàng cao tuổi, cho đến một thiếu nhi nhỏ bé; nỗi lo lắng của những người có trách nhiệm và sự hy sinh vất vả của những y bác sĩ; nỗi sợ hãi của nhân loại, của các bệnh nhân và gia đình. Chúa nghe và Chúa biết. Chúa vẫn đang đồng hành với chúng ta để an ủi nâng đỡ, chia sẻ, cảm thông. Tuy nhiên, có thể mắt chúng ta bị che phủ hoặc chúng ta chỉ mải đặt câu hỏi mà không nhận ra Ngài. Chúa vẫn đang nói, nhưng có thể chúng ta chưa quan tâm để nghe. Chúa đang nói với chúng ta qua Kinh Thánh mà đã lâu nay, chúng ta tránh né, chúng ta không đọc, không suy. Chúa rất muốn vào nhà chúng ta dùng bữa, nhưng chúng ta không thiết tha mời Ngài, vì thế Ngài lại phải đứng ở ngoài cửa chờ đợi.

Tiệc Thánh Thể, thánh lễ là bữa ăn mỗi ngày, nơi đây chúng ta sẽ nhận ra sự hiện diện của Chúa, lòng chúng ta được ấm lên nhờ lời Chúa, nhưng nhiều khi chúng ta đã quá coi thường. Chúng ta lấy nhiều lý do để biện minh cho sự từ chối đến gặp Chúa mỗi ngày nơi thánh lễ. Những ngày này, khi không được đến với thánh lễ, ta mới cảm thấy mình đã từng coi thường những điều quan trọng nhất. Tuy nhiên, Chúa vẫn có cách của Ngài. Hơn khi nào hết, trong hoàn cảnh này, nhiều người đã biết quan tâm hơn đến việc tham dự thánh lễ và đọc Kinh Thánh. Các thánh lễ online tuy không phải là cách tốt nhất, nhưng lúc này, cũng là cách Chúa dùng để quy tụ cả gia đình, để mọi người đem thánh lễ về với cuộc sống, đem nhà thờ về với gia đình.

Xin Chúa cho chúng ta không ngừng nhận ra Chúa Phục Sinh đang hiện diện trong cuộc đời mình, qua các biến cố đang xảy ra cho thế giới để chúng ta không rơi vào chán nản thất vọng. Xin cho chúng ta để cho tâm hồn mình tĩnh lặng để nghe được những câu trả lời từ Thiên Chúa, thay vì kêu ca oán trách Chúa. Xin cho chúng ta biết tận dụng những ngày này để xây dựng bầu khí đạo đức của gia đình, mà bấy lâu ta đã xem nhẹ, và xin cho các cuộc xum họp trong gia đình: cầu nguyện, hiệp thông thánh lễ và các bữa cơm luôn có Chúa Phục Sinh hiện diện nâng đỡ. Amen

Về mục lục

NHẬN RA SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA

Lm Trần Bình Trọng

Cuộc khổ nạn của Ðức Kitô trên thập giá đã làm tiêu tan mọi mối hi vọng của các tông đồ và của cả các môn đệ. Vào sáng Chúa nhật có hai môn đệ bỏ cuộc, trở về quê quán mình ở làng Emmau cách Giêrusalem khoảng mười một cây số.

Mặc dầu Ðức Kitô đã tiên báo nhiều lần về cuộc tử nạn và phục sinh của Người, các môn đệ vẫn không hiểu. Hai môn đệ bỏ cuộc hôm nay cố gắng tìm kiếm trong Thánh Kinh những lời lẽ để cắt nghĩa về cuộc khổ hình của Thày mình. Và dọc đường, có người khách lạ hiện ra, đàm đạo với các ông và nói: Nào Ðấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh (Lc 24:26-27).

 Hai môn đệ trên đường Emmau cùng đồng hành với Chúa, đàm đạo với Chúa mà không nhận ra Người. Sở dĩ có trạng huống như vậy là vì họ đã tự đóng khung trong tư tưởng và quan niệm riêng của họ về Ðấng Cứu thế. Có lẽ họ chỉ nghĩ thôi từ nay sẽ không còn hi vọng địa vị nọ kia trong vương quốc của Người. Họ để cho mình bị chi phối và chìm đắm trong nỗi chán nản thất vọng của cảnh tử nạn ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Nỗi buồn chán thất vọng đè nặng trên con người họ, khiến họ không thể vươn lên và vượt ra ngoài tâm thức của họ.

 Trường hợp các môn đệ lúc đầu không nhận ra Chúa trong Phúc âm hôm nay cũng giống trường hợp bà Maria Mácđala và các tông đồ lúc đầu cũng không nhận ra Chúa (Ga 20:14; Ga 21:4; Lc 24:37). Tại sao lại có chuyện như vậy? Lí do thứ nhất là vì các tông đồ không mong đợi một cách tin tưởng việc Chúa sống lại như là Chúa đã tiên báo. Lí do thứ hai theo thánh Marcô là khi hiện ra với các môn đệ/tông đồ: Chúa tỏ mình dưới một hình dạng khác (Mc 16:12), nghĩa là hình dạng đã biến đổi. Hình dạng khác không phải là vì bị tra tấn và nằm trong mộ ba ngày, không ăn uống nên Chúa bị xuống kí và kiệt sức. Thánh Phaolô giải thích thân xác phục sinh của Chúa khác thân xác trước kia như sau: Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: ..gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí (1Cr 15:44).

 Lời Chúa đàm đạo với họ trên đường khiến tâm hồn họ bừng cháy (Lc 24:32) nhưng họ chưa nhận ra Chúa cho tới khi họ mời Người vào nhà nghỉ lại. Trong bữa ăn khi Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, rồi trao cho họ (c.30) thì họ  mới nhận ra Người. Khi hai môn đệ nhận ra người khách lạ chính là Ðức Kitô, họ liền vội vả trở về Giêrusalem để báo tin cho các tông đồ. Và họ được biết các tông đồ cũng đã xác tín về việc Chúa phục sinh.

 Trong số mười một tông đồ, có ông Tôma tỏ ra cứng lòng tin khi các tông đồ khác bảo cho ông biết Ðức Kitô phục sinh đã hiện ra với họ. Ðức Kitô phải đích thân hiện ra cho ông Tôma thấy dấu đinh ở tay Người và vết thương ở cạnh sườn Người. Còn trong số bảy mươi hai môn đệ thì có ông Cơlêôpát và một ông nữa cũng không chịu tin việc Thầy họ sống lại, khi bà Maria Mácđala và mấy bà khác loan báo là họ không thấy xác Người trong mồ và có thiên thần hiện ra nói là Người đã sống lại. Chúa phục sinh cũng chiều hai ông mà hiện ra đồng hành với hai ông, giải thích cho hai ông những lời kinh thánh liên quan đến Người và còn bẻ bánh như là dấu chỉ cho hai ông thấy mà tin.

 Việc rao giảng Ðức Kitô phục sinh là sứ điệp giảng dạy thiết yếu thời giáo hội sơ khai nên Chúa không muốn có những tông đồ hay môn đệ nào hồ nghi về việc Người sống lại. Vì thế Chúa đã để cho ông Tôma sờ vào vết đinh ở tay và vết thương ở cạnh sườn Chúa, để ông có thể thốt lên lời biểu lộ đức tin bất hủ: Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con (Ga 20:28). Chúa phục sinh còn hiện ra bẻ bánh với hai môn đệ thành Emmau để  các ông có thể lập tức đứng dạy ngay lúc ấy, quay trở lại Giêrusalem gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó (Lc 24:33) hầu chia sẻ tin mừng Chúa phục sinh.

 Phải chăng ta cũng gặp những trường hợp giống như hai môn đệ làng Emmau? Có bao giờ ta nghi ngờ về sự hiện hữu của Chúa. Có bao giờ ta sợ hãi cho tương lai đen tối. Có bao giờ ta thất vọng về những tệ đoan trong xã hôị và gương xấu trong giáo hội? Khi gặp sóng gió bão táp trong tâm hồn, tâm trí ta bị mây đen bao phủ khiến ta không nhận ra sự hiện diện của Chúa và những dấu vết của Người.

 Ðể được ý thức về sự hiện diện của Chúa, ta cần tìm đến lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Hằng ngày xung quanh ta, còn ghi khắc những dấu vết của Chúa, và công trình của việc Người tạo dựng. Tuy nhiên ít khi ta cố gắng tìm kiếm để có thể khám phá ra những dấu vết và kỳ công của Chúa hầu có thể ý thức về sự hiện diện của Người. Những chướng ngại vật trong tâm hồn như là cô đơn, phiền muộn, lo lắng, sợ hãi đè nặng trên con người, khiến ta bị giới hạn trong thân xác, không vượt ra khỏi mình được. Ðể có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa, ta cần xin Người giúp loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn và mở rộng hồn thiêng để có thể hướng về thiên giới.

 Lời nguyện xin cho được ý thức về sự hiện diện của Chúa:

Lạy Ðức Kitô phục sinh, con xin tạ ơn Ngài

đã đến trong thế gian, chịu khổ hình, chịu chết trên thập giá

để cứu chuộc loài người khỏi án phạt của tội nguyên tổ,

và còn hứa ở lại với loài người cho đến tận thế.

Xin giải thoát con khỏi những nghi ngờ, lo âu, sợ hãi và thất vọng

để con ý thức được sự hiện diện của Chúa trong đời sống,

trong thánh kinh, trong các bí tích mà con lãnh nhận,

nơi người nghèo đói, bệnh tật và đau khổ,

nơi vạn vật, cỏ cây, hoa lá và những kỳ công của vũ trụ

hầu con được vững tâm bước đi dưới sự hiện diện  của Chúa. Amen.

Về mục lục

ĐỂ GẶP GỠ ĐẤNG PHỤC SINH

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Với Chúa Nhật III Phục Sinh, phụng vụ Lời Chúa tiếp tục trình bày với chúng ta về niềm tin vào Đấng Phục Sinh. Trong thánh lễ này, chúng ta khai triển về chủ đề này với ba điểm: 1) Biến cố phục sinh là nền tảng của niềm tin Kitô giáo; 2) Làm sao để nhận ra Đấng Phục Sinh; 3) Loan báo Đấng Phục Sinh.

1- Chúa Phục Sinh, nền tảng đức tin

Sự kiện Đức Giêsu chỗi dậy từ cõi chết là một điều hết sức bất ngờ, không ai có thể nghĩ trước được. Bởi lẽ, đây là biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại. Đức Kitô là người đầu tiên chỗi dậy từ cõi chết. Đối với các môn đệ, khi chứng kiến Chúa chết trên thập giá, họ cho rằng mọi sự đã kết thúc, niềm hy vọng vào Người tan thành mây khói, họ trở về quê để kiếm kế sinh nhai như hai môn đệ Emmaus. Nhưng sau khi Chúa Giêsu đã sống lại và hiện ra nhiều lần với các môn đệ, họ được gặp gỡ Đấng Phục Sinh, được củng cố niềm tin và trở thành những người can đảm làm chứng cho Người.

Điều này được nói ở trong bài đọc I, thánh Phêrô cùng với Nhóm Mười Một lớn tiếng với dân chúng rằng: “Đức Giêsu Nadarét, là người được Thiên Chúa phái đến với anh em… Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ… Đức Giêsu ấy đã bị nộp và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi… Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2,22-32).

Những lời trên đây minh chứng rằng biến cố Phục sinh là nền tảng của niềm tin Kitô giáo. Nếu trước Phục sinh, trọng tâm sứ vụ rao giảng là Nước Thiên Chúa, thì sau biến cố này, trọng tâm lời rao giảng là “Đức Giêsu chịu chết, được mai táng và sau ba ngày, Người sống lại.” Bởi lẽ, biến cố này là trung tâm điểm của Kitô giáo. Nói như thánh Phaolô, nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của chúng ta trở nên hảo huyền và lời rao giảng của chúng tôi sẽ trở nên trống rỗng (x. 1 Cr 15,14.17). Hay nói cách khác, nếu Chúa Kitô không sống lại, sẽ không có Kitô giáo, không có ơn cứu độ, không có Giáo Hội và không có cộng đoàn chúng ta quy tụ để cử hành thánh lễ như hôm nay. Quả là đúng như lời thánh Phêrô trong bài đọc II: “Anh em được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô… Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa” (1 Pr 1,19.21).

2- Làm sao để nhận ra Đấng Phục Sinh?

Tuy nhiên, không phải dễ dàng để nhận ra Đấng Phục Sinh, cần phải có một cặp mắt đức tin nhạy bén mới nhận ra Người. Bởi vì với biến cố này, Chúa Kitô là người đầu tiên đi vào một đời sống hoàn toàn mới; sự hiện hữu của Người hoàn toàn khác biệt; Người là Đấng hằng sống. Người vẫn là chính Người nhưng thân xác Người đã được biến đổi. Người không còn bị lệ thuộc bởi không gian và thời gian, cũng như những định luật tự nhiên chi phối. Người có thể hiện ra và xuất hiện ở bất kỳ nơi nào mà Người muốn.

Bài Tin Mừng hôm nay minh chứng điều đó. Sau khi chứng kiến Chúa chết trên thập giá, hai môn đệ Emmaus thất vọng trở về quê, trên đường về, Đấng Phục Sinh đồng hành, nói chuyện với họ như một người bộ hành, nhưng họ không nhận ra Người. Đấng Phục Sinh đã dùng Kinh Thánh từ Cựu Ước đến Tân Ước để giải thích cho họ hiểu về Đấng Kitô và những gì đang xảy ra. Sau đó, họ mời Người dùng bữa. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất (x. Lc 24,25-31).

Có thể nói diễn tiến của trình thuật này là diễn tiến của một thánh lễ đầu tiên được cử hành dọc đường do Đấng Phục Sinh. Theo đó, nó có hai phần: phần thứ nhất là phần Lời Chúa. Chúa Giêsu đã dùng lời Chúa để giải thích cho họ hiểu về mầu nhiệm liên quan đến Chúa Kitô. Nơi Người, các lời Kinh Thánh được ứng nghiệm. Đây cũng là phần đầu của thánh lễ mà chúng ta cử hành, được gọi là bàn tiệc Lời Chúa. Đối với chúng ta, Lời Chúa là lương thực hằng ngày cho chúng ta. Lời Chúa là ngọn đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng dẫn đường chúng ta đi. Lời Chúa giúp chúng ta nhận ra Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ. Như thánh Giêrônimô đã từng nói: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô.” Nên chúng ta cần phải siêng năng học hỏi Kinh Thánh, lắng nghe và suy niệm Lời Chúa mỗi ngày.

Phần thứ hai đó là phần bẻ bánh: Đấng Phục Sinh cầm bánh, chúc tụng và bẻ ra cho các ông. Mắt họ liền sáng ra vì thấy Người bẻ bánh. Họ đã nhận ra Đấng Phục Sinh khi cùng tham dự bẻ bánh với Người. Đây cũng chính là phần thứ hai của thánh lễ, đó là bàn tiệc Thánh Thể. Sau khi nghe Lời Chúa, chúng ta cùng cử hành Thánh Thể. Chính lúc truyền phép, bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu. Đấng Phục Sinh hiện diện với chúng ta trong bí tích Thánh Thể. Bởi vì Chúa Phục Sinh và Chúa Giêsu Thánh Thể là một. Người trở thành lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta. Người trở thành người bạn đồng hành với chúng ta trong mọi nẻo đường cuộc sống. Người trở thành sức mạnh cho chúng ta khi gặp những gian nan thử thách. Người làm cho chúng ta sáng mắt và cháy bỏng lòng yêu mến khi chúng ta tham dự bàn tiệc với Người.

Như thế, nhờ Lời Chúa và việc bẻ bánh, hai môn đệ Emmaus đã nhận ra Đấng Phục Sinh. Cũng thế, ngày hôm nay, Đấng Phục Sinh tiếp tục hiện diện và đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường cuộc sống. Chúng ta nhận ra Người nhờ việc đọc, suy gẫm Lời Chúa và tham dự thánh lễ. Kinh Thánh và Thánh Thể là hai con đường tuyệt hảo để gặp gỡ Đấng Phục Sinh.

3- Làm chứng cho Đấng Phục Sinh

Những ai đã gặp gỡ Đấng Phục Sinh đều cảm thấy có nhu cầu cần phải loan báo cho người khác biết. Hai môn đệ Emmaus sau khi đã gặp gỡ và nhận ra Đấng Phục Sinh, họ đã quay trở lại Giêrusalem và loan báo cho các bạn hữu biết Chúa đã trỗi dậy rồi. Những người phụ nữ ra mồ để viếng xác Chúa, nhưng bất ngờ được gặp Đấng Phục Sinh, họ đã vội vã trở về báo tin cho các Tông Đồ biết là Chúa đã sống lại. Trong ngày lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô đã hùng hồn rao giảng về Đấng Phục Sinh. Kết quả là có khoảng 3000 người theo đạo. Những Tông Đồ khác, sau khi Chúa Phục Sinh, đã theo lệnh truyền của Chúa và đã đi khắp tứ phương thiên hạ để truyền giáo và làm chứng cho Đấng Phục Sinh.

Đến lượt chúng ta, với tư cách là những người Kitô hữu, sau khi đã được lắng nghe Lời Chúa và Bẻ Bánh, chúng ta được mời gọi ra đi rao giảng Tin Mừng Phục Sinh cho những người xung quanh. Đó là sứ vụ của Giáo Hội. Đó là sứ vụ của mỗi người Kitô hữu. Bởi vì, chúng ta không chỉ là những người tin vào Chúa mà còn là những người loan báo Chúa cho người khác.

Nguyện xin Đấng Phục Sinh luôn đồng hành, soi sáng và làm cho chúng ta được bừng cháy lòng mến và lòng nhiệt thành để chúng ta làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Amen!

Về mục lục

CHÚA VẪN TRUNG THÀNH HIỆN DIỆN

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Ở cuối hành trình về làng Emmaus, hai môn đệ mời người khách bộ hành, chính là Chúa Phục Sinh mà cả hai đều không nhận ra: “Xin Ngài ở lại với chúng tôi vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn”.

Thực tế trời sắp tối, một ngày đang vội kết. Nhưng “ngày sắp tàn” còn diễn tả trạng thái tâm hồn: Một cõi hồn đang không lối thoát, đang tối thật sự.

Bởi sau khi Chúa thụ nạn, như nhiều môn đệ, tâm trạng hai ông rệu rã, mất định hướng. Nội tâm chìm trong đêm tối, cái đêm của nghi ngờ, của thất vọng.

Các ông từng đặt niềm tin vào Thầy. Nhưng Thầy bị bắt, bị đánh nát tấm thân, bị đóng đinh, chết trên thập giá như kẻ bất lực không thể thoát đau đớn.

Tất cả niềm tin và hy vọng tan biến, chỉ còn lại vực thẳm sâu thăm thẳm của sự ngã lòng. Đêm tối ấy đáng sợ.

Tự bản chất, màn đêm làm tăng sợ hãi. Vậy mà bây giờ, trong lòng vốn đã tăm tối, đã vô cùng sợ hãi, lại còn bị nhấn dần vào đêm của tự nhiên. Hình như nỗi khiếp sợ trong cõi hồn hai ông càng tăng dữ dội.

Chính trong tâm trạng rối bời ấy, các ông thưa cùng người bộ hành, người cho mình sự ấm áp suốt quảng đường dài: “Xin Ngài ở lại với chúng tôi vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn”.

Cũng vậy, biết bao nhiêu lần sóng gió, khổ đau, sợ hãi, bế tắc trong đời mình, ta cũng cần Chúa ở cùng.

Những lúc đời ta thất bại dồn thất bại, cay đắng dồn cay đắng, thương đau đè lên thương đau, gục ngã như kéo nhau ập đến, oan khuất như cùng lúc tấn công tứ phía, chúng ta, người môn đệ của Chúa hôm nay, không thốt lên để kêu nài: “Lạy Chúa, xin hãy ở lại với con” đó sao!

Lời cầu khẩn ấy đâu phải lời xa xưa, đâu phải lời quá khứ. Nó là lời hiện tại và hiện thực của chính chúng ta, của biết bao cuộc đời xung quanh chúng ta.
Có mấy cách để người môn đệ vững vàng trong thử thách, nhằm vượt qua nỗi cheo leo đời mình, để thấy Chúa luôn hiện diện, luôn đỡ nâng, đó là:

1. Lời Chúa.

Chúa dạy hai môn đệ suốt hành trình về Emmaus bằng lời Kinh Thánh, là Chúa hun đúc đức tin để hai ông lấy lại nền tảng Kinh Thánh mà tin vào Chúa.
Chúa vẫn hiện diện đấy thôi. Chỉ có điều hai ông và cả chúng ta đều không nhận ra Chúa giữa đời thường.

Vậy, khi bị vây bởi bóng tối trong đời, hãy mở Kinh Thánh nghiền ngẫm, cầu nguyện. Suy ngẫm Lời Chúa là cách ta để Chúa uốn nắn đức tin của ta.

Vì thế, nếu không bao giờ tiếp xúc với Lời Chúa, đó là người vô phúc, vì loại bỏ một phần sự giáo dục quan trọng của Chúa ra khỏi đời mình.

Lúc tiếp cận, cầu nguyện với Lời Chúa là lúc sức mạnh của Chúa đỡ nâng hành trình đời ta. Chúa hiện diện trong sự đỡ nâng thầm lặng mà Người thủy chung dành cho ta.

2. Thánh Thể.

Cuối hành trình của hai môn đệ trên làng Emmaus, cũng là lúc cuối ngày, lúc bóng tối đang dồn về, Chúa cử hành lại nghi thức của chiều thứ Năm Tuần Thánh, một cử hành mới diễn ra vài ngày trước: cử hành Thánh Thể.

Nếu bóng đêm của không gian đang phản ánh chính bóng đêm của cõi lòng, thì giữa bóng đêm tăm tối, Chúa trao ban Thánh Thể của Người. Đó chẳng phải là cử hànhThánh Thể giữa những tăm tối đó sao?

Ngày nào mà Hội Thánh không cử hành Thánh Thể! Giữa những tăm tối của cuộc đời, hằng ngày Thánh Thể vẫn sáng lên soi rọi, dẫn lối, trao sức mạnh cho bất cứ ai dám tin tưởng, dám đặt đời mình trong ơn Chúa.

Bài học này lớn vô cùng để ta biết, cuộc đời càng tối tăm, càng thách thức, càng giăng nhiều cạm bẫy, ta càng phải quay về với Thánh Thể Chúa.

Thánh Thể là sức mạnh vững chãi cho kẻ tin tưởng tìm về. Điều này rõ hết sức khi hai ông lập tức quay trở lại Giêrusalem. Cũng là bóng đêm, thậm chí đêm càng lúc càng khua, càng đáng sợ, thì hai ông mất hết sợ hãi. Lập tức lên đường, ngay trong đêm, hai ông loan báo bằng được niềm vui Chúa Phục sinh.

Thánh Thể Chúa đã gây nên sức mạnh vô cùng lớn lao, khó có thể có ai cản nổi. Thánh Thể Chúa chính là sự đỡ nâng đầy thánh thiện mà mỗi người không bao giờ được phép bỏ qua.

Ai dại dột bỏ qua Thánh Thể, kẻ đó đang đánh mất chính nguồn sống, chính sự sống siêu nhiên, sự sống đời đời của mình.

Về mục lục

HÀNH TRÌNH EM-MAU

 Lm. Xuân Hy Vọng

Kính thưa quý cộng đoàn Phụng Vụ! Khi con ngồi viết những dòng suy niệm này là lúc cả thế giới đang chống chọi với cơn đại dịch cô-vi. Và trong thời gian bệnh dịch bùng phát cho đến thời gian bây giờ, Thánh lễ nhiều nơi trên thế giới, những sinh hoạt chung giáo xứ có lẽ vẫn còn bị đình chỉ! Dù trong một bức tranh u ám như vậy chăng nữa, Chúa Phục Sinh đã chiếu sáng vào chốn tối tăm, chiếu soi vào cõi lòng nhân loại, và tỏ rạng ánh vinh quang của Ngài nơi tâm hồn chúng ta. Vì thế, cùng cảm nghiệm ngày xưa của hai môn đệ làng Em-mau, chúng ta cùng suy gẫm đôi điều về các bài đọc Phụng Vụ hôm nay.

Giả như, nếu ví cuộc đời của chúng ta là một bộ phim nhiều tập, thì hơn ai hết là người Ki-tô hữu, chúng ta biết rõ cuốn phim này kết thúc ra sao rồi. Mà nếu ví cuộc đời của chúng ta là cuốn tiểu thuyết thì chắc chắn chúng ta cũng đã biết kết cuộc thế nào. Vì chưng, Chúa Ki-tô đã chịu chết trên thập giá, nhưng Người đã sống lại, chiến thắng sự chết, và đây chính là điều tối hậu của cuộc đời Ki-tô hữu chúng ta, đức tin của chúng ta; cụ thể được minh chứng rõ nét trong đoạn sách Công Vụ Tông Đồ “vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa” (Cv 2, 28). Chúng ta có thể thất vọng với chính bản thân mình, với những người xung quanh, với kỳ vọng của chúng ta; nhưng Thiên Chúa không bao giờ làm chúng ta thất vọng, nếu chúng ta biết trông cậy và tín thác nơi Người.

Chính nhờ niềm tin này, mà chúng ta nên ra công tìm kiếm và thực thi ý Chúa hơn là ước muốn của thế gian hay của chúng ta. Về điểm này, lời Chúa trong thư của Thánh Phê-rô Tông Đồ vang vọng trong chúng ta, “…không phải nhờ những thứ chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm…Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô” (x. 1Pr 1, 18 – 19). Tuy nhiên, thực tế cho chúng ta nhận ra, chúng ta đã – đang sống ngược lại với những gì Thánh nhân dạy. Trong lịch sử, mỗi khi các cơn đại dịch xảy ra, thì con người thường ăn năn, sám hối ít nhiều, trở về với Thiên Chúa, chạy tới kêu xin Người thương xót. Nhưng nay thì khác, đại dịch cô-vi bùng phát, người ta lại hối hả mua đồ tích trữ, vơ vét hết những thứ nhu yếu phẩm, chỉ biết lo cho bản thân mà không mảy may nghĩ đến người khác cũng đang cần như mình! Giữa đại dịch, thay vì dành nhiều thời gian để nhìn lại bản thân, nhìn lại cuộc sống làm người, nhìn lại đời sống Ki-tô hữu…thì không ít chúng ta chỉ nơm nớp lo sợ, hoảng loạn! Giữa đại dịch, thay vì dành nhiều cơ hội để cầu nguyện, để gần gũi Chúa, gần gũi với anh chị em trong gia đình hơn, thì chúng ta lại vẫn ‘ngựa quen đường cũ’ tụ tập trong nhà ăn nhậu, bày ra nhiều trò tiêu khiển khác. Giữa cơn đại dịch, thay vì loan truyền tin mừng, tin hy vọng, khuyến khích động viên, cảm thông hơn với nhau, thì chúng ta chỉ biết lợi nhuận cá nhân mà đẩy giá mặt hàng trên mạng! Chúng ta được cứu thoát nhờ Máu châu báu của Con Chúa, chứ không phải được cứu rỗi bằng nén vàng, thỏi bạc, châu sa, hạt lựu! Vì thế, chúng ta nên sống và làm chứng với ơn sủng được Chúa cứu độ.

Mặc khác, khi nhìn toàn cảnh thế giới đang oằn mình chống chọi với cơn đại dịch cô-vi, và mỗi ngày phải nhìn thấy những dòng tít lớn trên báo mạng về thảm hoạ dịch bệnh, khiến chúng ta rùng mình, bi quan, buồn bã, thất vọng và có khi nghi ngờ ‘Thiên Chúa còn là Đấng luôn yêu thương, giàu lòng thương xót’? Thậm chí, còn nghĩ ‘Chúa đang trừng phạt nhân loại’ qua cơn đại dịch này chăng? Thật ra, Thiên Chúa mà Chúa Giê-su loan báo cho chúng ta, và là hiện thân qua Con Một Người không phải Đấng ưa thích trừng trị, sát phạt, mà là ‘Đấng giàu lòng xót thương, chậm bất bình, và rất mực khoan dung’ (Tv 103, 8), là ‘Đấng không muốn kẻ gian ác, tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống’ (Ez 18, 23). Sự dữ, sự ác đều do tội lỗi con người, do tính kiêu căng, cao ngạo của con người mà ra; và vì con người tự mình gây ra nên phải gánh hậu quả là điều tất yếu. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ mặc, và luôn gửi thông điệp đến với chúng ta trong tâm hồn, qua những biến cố thời đại giúp chúng ta quay về với Người, v.v…Hơn nữa, chỉ có một mình Thiên Chúa mới cứu thoát con người ra khỏi vòng luẩn quẩn này, và chỉ mình Người mới có thể biến sự dữ thành sự lành, biến sự ác thành sự thiện mà thôi, ‘duy chỉ Thiên Chúa viết đường thẳng trên những đường cong’ (theo Thánh Âu-gus-ti-nô). Trong nỗi thất vọng dường như tuyệt vọng ‘Thiên Chúa bỏ quên chúng ta’ này cũng là cảm nghiệm của hai môn đệ đã bỏ Giê-ru-sa-lem mà về làng Em-mau. Vì buồn sầu thê thảm, mọi thứ dường như sụp đổ trước mắt họ, nên họ đành bỏ nơi mà họ từng hăng hái, đầy nhiệt huyết bước theo chân Thầy Giê-su, cùng Người bôn ba khắp chốn, được nghe Người giảng dạy và chứng kiến biết bao điều kỳ lạ, để trở về nơi chốn xưa, nơi mà hai ông sống trước khi được gặp Thầy Giê-su! Trong nỗi thất vọng ê chề này, có thể nói: hai ông đã trốn chạy, bỏ lại đằng sau những gì bi thương xảy ra tại Giê-ru-sa-lem ‘Thầy Giê-su chịu kết án, chết nhục nhã trên thập giá’. Nhưng nỗi sầu này đâu phải chỉ dừng tại đây, mà ‘sau ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy từ cõi chết’ như hai ông đã từng được nghe khi còn theo chân Thầy Giê-su. Và trong nỗi u buồn lê bước trở về làng Em-mau, với suy nghĩ ‘Thiên Chúa đã bỏ mặc Thầy Giê-su’ hoặc ‘Thiên Chúa đã bỏ mặc chúng ta’, thì chính lúc này, Thiên Chúa lại gần gũi hai ông hơn bao giờ hết “đang lúc trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến gần và cùng đi với họ” (Lc 24, 15). Không những thế, Người còn giải thích Kinh Thánh cặn kẽ, mở trí lòng cho hai ông, mà còn tỏ cho hai ông thấy hành động bẻ bánh trong bữa tiệc ly trong đêm trước khi Người chịu khổ nạn. Và khi nghiệm lại tất cả biến cố trên đường đi, hai ông đã nhận ra “dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24, 32). Nói cách khác, Chúa Ki-tô Phục Sinh đã đồng hành với họ trong nỗi thất vọng, Chúa Ki-tô Phục Sinh thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt huyết của họ đã tắt khi trên đường về quê, Chúa Ki-tô Phục Sinh đã ban cho họ niềm vui của Ngài hầu xua tan bao nỗi bất an, nặng trĩu đang ẩn sâu trong tâm hồn họ.

Với cảm nghiệm của hai môn đệ làng Em-mau, chúng ta cùng nhau xác tín rằng: Chúa Ki-tô Phục Sinh đang cùng sánh bước với chúng ta trên cuộc hành trình lữ thứ đầy chông gai này. Người đang nói với chúng ta qua mỗi giờ kinh nguyện sốt sắng. Người hiện diện, đỡ nâng, nuôi dưỡng chúng ta qua Thánh Lễ hằng ngày. Người hướng dẫn, chỉ lối chúng ta qua Giáo Hội của Người. Trong niềm cậy trông tín thác Chúa Ki-tô Phục Sinh, chúng ta dâng lời cảm tạ:

                                                Chúa đã chịu chết cho nhân loại

                                                Chúa đã sống lại trong vinh quang

                                                Chúa hằng chuyển cầu cho chúng con

                                                Chúa luôn đồng hành với chúng con

                                                Al-lê-lui-a, Al-lê-lui-a. Amen!

Về mục lục

NHẬN DIỆN

Trầm Thiên Thu

Nhận diện là điều cần thiết. Càng ngày càng cần hơn vì sự dữ gia tăng, giả hình tinh vi hơn ngày xưa rất nhiều. Con người còn giả thì còn thứ gì không giả? Mức nhận diện cần chính xác để tránh lầm lẫn kẻo mang họa vào thân.

Chiếc máy vi tính hoặc chiếc điện thoại, không chỉ cần mật mã để khóa mà còn cần nhận diện. Việc nhận diện trước tiên để tự bảo vệ chính mình khỏi những thứ nguy hiểm. Virus đa dạng, không chỉ về sinh học mà cả về kỹ thuật số. Có những loại virus còn độc hại hơn là virus trừu tượng: dối trá, lọc lừa, tham lam, ghen tỵ, tà tâm, xảo quyệt,… Vô số chủng loại mới nguy hiểm giữa xã hội gian tà và vô thần ngày nay.

Nhận diện được chúng thì mới có cách để xa tránh hoặc triệt tiêu chúng. Đó là phương diện tiêu cực. Phương diện tích cực là nhận diện cái tốt để hấp thụ. Càng cần thiết hơn về phương diện tâm linh: nhận diện Thiên Chúa và nhận diện môn đệ đích thực của Ngài. Khó nhất là nhận diện chính mình – để tránh lố bịch, ảo tưởng.

Người ta thường nói: “Tưởng vậy mà không phải vậy.” Vì  thế càng phải nhận diện chính xác, sai một ly đi một dặm. Ai cũng biết chữ Cross (Anh ngữ) nghĩa là gì, nhưng nó không chỉ có nghĩa là thập giá hoặc đau khổ, mà còn có nghĩa là huân chương: Cross of Merit – Huân Chương Công Trạng. Thảo nào Chúa Giêsu động viên chúng ta cố gắng vác thập giá để xứng đáng được Ngài thưởng sự sống đời đời. Thật tuyệt vời!

Cuộc sống là hoạt động, di chuyển. Tuy nhiên, đi được khoảng cách xa hay gần không quan trọng bằng những người chúng ta gặp dọc đường. Gặp gỡ rất quan trọng, và có liên quan nhận diện. Sống ở đời không thể không gặp nhau, nhìn thấy nhau, và thường liên quan cuộc đối thoại – có thể đối thoại bằng ngôn ngữ, bằng ánh mắt, bằng động thái, bằng cử chỉ, thậm chí người ta vẫn có thể đối thoại ngay trong sự im lặng. Vô ngôn có khi còn “nói” nhiều hơn là ngôn ngữ.

Có nhiều kiểu gặp nhau. Có người vui mừng gặp người khác, có người giáp mặt mà làm ngơ hoặc tránh né. Đó là sự gặp gỡ vô ích, đôi khi thêm phiền toái. Gặp nhau là điều cần thiết: để chia sẻ, để giúp đỡ, để biến đổi, để thảo luận, để yêu thương,… Gặp người đời mà cần thiết như vậy huống chi được gặp gỡ Thiên Chúa, gặp gỡ chính Đức Kitô Phục Sinh. Gặp Ngài để được biến đổi, được tái sinh, gặp tha nhân và gặp chính mình.

Việc gặp Đức Kitô là một dạng được sống lại – tâm linh hoặc thể lý. Trường hợp sống lại của Ladarô – em trai của Mácta và Maria, (Ga 11:1-44) và con trai bà góa thành Nain (Lc 7:11-17) chỉ là sống lại về thể lý bình thường, không đổi khác và sẽ lại chết, nhưng trường hợp sống lại của Đức Kitô là dạng sống lại đặc biệt và không còn chết nữa. Thân xác nhục thể và thân xác phục sinh vẫn là một, nhưng chắc chắn khác thường, rất kỳ diệu, vì thế mà chính Chị Maria Mácđala và hai môn đệ trên đường Emmau cũng không nhận ra Thầy Giêsu, dù trước đó họ rất thân thiết với Ngài. Chị Maria Mácđala chỉ nhận ra Ngài khi Ngài gọi đích danh bằng giọng thân thương quen thuộc, hai môn đệ kia chỉ nhận ra Ngài khi Ngài làm động tác quen thuộc: Bẻ bánh.

Và còn hơn như vậy nữa. Khi các tông đồ thấy Chúa hiện ra đứng ở giữa và chúc bình an cho họ mà họ lại kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma và hồ nghi. Chúa cho họ rờ vào Ngài, rõ ràng Ngài vẫn có xương thịt, đặc biệt là Ngài còn ăn khúc cá nướng. Lúc đó họ mới thấy mình không hề mộng du và tin là Thầy mình đã sống lại thật. (Lc 24:36-43) Thân xác phục sinh thật khác và cũng rất lạ, giống như xưa mà vẫn khác xưa. Thảo nào chẳng ai nhận ra Ngài là Đức Kitô Phục Sinh vì họ nhìn bằng con mắt trần gian.

Trong cuộc sống đời thường cũng có điều khác thường. Bất kỳ ai “gặp” được Đức Kitô thì đều biến đổi từ trong ra ngoài, biến đổi hoàn toàn, biến đổi thực sự chứ không “có vẻ.” Thấy ai biến đổi thì biết chắc là người đó đã được “gặp” Đức Kitô. Biến đổi ở đây phải hiểu theo nghĩa tích cực, khiêm nhường và can đảm làm chứng về Chúa, chứ không “ra vẻ biến đổi” để được người khác khen ngợi hoặc tỏ ra mình đạo đức. Cuộc đời các thánh đã cho thấy điều đó, họ biến đổi mau chóng và lạ lùng đến nỗi bị người khác nghi ngờ. Thế nhưng sự thật vẫn là sự thật, chân lý mãi là chân lý. Không thật thì không bao giờ có thể giả vờ hoặc ra vẻ như thật được.

Ngư phủ Phêrô là người được Thầy Giêsu tín cẩn trao trọng trách làm giáo hoàng tiên khởi, dù “không có chữ nghĩa” (Cv 4:13) và đã từng nói mạnh là dám liều chết với Thầy, (Mt 26:35; Mc 14:31; Lc 22:33) nhưng rồi chính con người ấy đã chạy trốn vì khiếp nhược khi Thầy bị bắt, đã chối bỏ Thầy vì nhát đảm. Tuy nhiên, sau khi ông đã gặp được Đức Kitô Phục Sinh thì ông hoàn toàn biến đổi, không còn nhát đảm hoặc sợ sệt. Và rồi một hôm, ông Phêrô đứng chung với Nhóm Mười Một (không còn Giuđa Ítcariốt), và lớn tiếng nói với họ: “Thưa anh em, miền Giuđê và tất cả những người đang cư ngụ tại Giêrusalem, xin biết cho điều này, và lắng nghe những lời tôi nói đây.” (Cv 2:14) Ông dốt chữ nghĩa nhưng thông thạo Lời Chúa.

Thật vậy, ông Phêrô đã dõng dạc và thao thao bất tuyệt: “Thưa đồng bào Israel, xin nghe những lời sau đây. Đức Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. Quả vậy, vua Đavít đã nói về Người rằng: Tôi luôn nhìn thấy Đức Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu, để tôi chẳng nao lòng. Bởi thế tâm hồn con mừng rỡ, và miệng lưỡi hân hoan, cả thân xác con cũng nghỉ ngơi trong niềm hy vọng. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề khi ở trước Thánh Nhan.” (Cv 2:22-28) Sự biến đổi kỳ diệu!

Rõ ràng một Phêrô hôm nay khác hẳn một Phêrô hôm qua. Ông trở thành một nhân chứng sống động, một nhân chứng đích thực. Khi đã biết đúng cái gì là thật thì người ta không còn sợ bất cứ thứ gì khác, kể cả cái chết. Ông Phêrô tiếp tục nói với giọng quả quyết: “Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Đavít rằng: người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, nên người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống: đó là điều anh em đang thấy, đang nghe.” (Cv 2:29-33) Đúng là ông đã nhận diện được chính Đấng Phục Sinh, Thiên Chúa của kẻ sống chứ không là Thiên Chúa của kẻ chết.

Khi chúng ta hoàn toàn tâm phục khẩu phục Thiên Chúa thì Ngài rất vui. Ngài muốn chúng ta như vậy để chúng ta hoàn toàn tín thác nơi Ngài và được lợi ích là tận hưởng Lòng Thương Xót bao la của Ngài. Được như vậy thì chúng ta sẽ vui mừng thân thưa: “Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu. Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc?” (Tv 15:1-2) Đó là lúc nhận diện chính mình, biết mình là ai, như thế nào, và cần gì.

Đó là “chuỗi nhận diện.” Thánh Augustinô nói: “Nhận biết Thiên Chúa là làm cho người ta nhận biết mình; cũng vậy, nhận biết mình cũng làm cho người ta nhận biết Thiên Chúa.” Còn Thánh Thomas Aquinô phân tích: “Có ba điều cần để con người được cứu độ: biết mình TIN gì, biết mình MUỐN gì, và biết mình LÀM gì.” Rất lô-gích!

Chắc chắn rằng chỉ có Thiên Chúa mới thực sự là cứu cánh và là cùng đích: “Lạy Chúa, Ngài là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ.” (Tv 16:5) Do đó, chúng ta có thể can đảm thề hứa: “Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy, ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con. Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:7-11) Niềm tín thác tuyệt vời biết bao! Và hơn bao giờ hết, trong thời đại ngày nay – đặc biệt trong cơn đại dịch corona này, người ta đã biết hướng về Thiên Chúa.

Có tin tưởng nhau thì mới có thể gặp nhau. Đối với phàm nhân, mức độ ưu tiên có khác nhau, ai “ngon” hơn sẽ được “ưu tiên” hơn. Nhưng Thiên Chúa không như vậy, chớ ảo tưởng mà lấy cớ là “quen biết” Ngài nhiều (đi lễ nhiều, đọc kinh nhiều, cầu nguyện nhiều, từ thiện nhiều, làm việc tông đồ nhiều,…) rồi mạo nhận là mình “ngon” hơn người khác. Thật đáng sợ!

Với bản tính bộc trực, thẳng như ruột ngựa, Thánh Phêrô nói rõ: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là Cha, anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này.” (1 Pr 1:17) Rất rõ ràng, rất rạch ròi, rất thẳng thắn, rất công bình, rất nghiêm túc. Đó là sự thật, mà sự thật thường khiến người ta không vừa lòng.

Và rồi Thánh Phêrô còn giải thích thêm: “Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa.” (1 Pr 1:18-21) Nghe có vẻ “dài dòng” một chút, nhưng lại không thấy thừa chút nào. Chữ phải có nghĩa, nghĩa phải đủ kẻo dễ hiểu lầm.

Tin nóng về Đức Giêsu chịu chết làm rúng động dân chúng, tin nóng đó chưa đủ nguội thì lại có tin nóng khác: Đức Giêsu phục sinh. Tin nóng này lại tiếp tục “khuấy động” lòng người. Chuyện lạ này nối tiếp chuyện lạ khác. Nhưng cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến làng Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Trên đường họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Họ cảm thấy thất vọng vì không biết tương lai ra sao, thôi thì về quê cắm câu vậy, chứ giờ thì chưa biết chuyện ngã ngũ thế nào. Tương lai như đi vào ngõ cụt. Buồn ơi là buồn!

Trình thuật Tin Mừng (Lc 24:13-35 ≈ Mc 16:12-13) cho biết rằng khi họ đang đi đường, cùng trò chuyện và bàn tán, chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ, nhưng họ không hề nhận ra Ngài. Ngài “giả nai” mà hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu vì thấy ông khách lạ này là người vô tình nhất thế gian rồi, vì chuyện xảy ra rùm beng khắp nơi mà “ông ta” chẳng hề biết. Lạ ghê!

Khi đó, Cơlêôpát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Đức Giêsu vẫn tỏ vẻ “vô tư” và hỏi: “Chuyện gì vậy?” Họ chân thành kể lại vụ Ông Giêsu Nadarét là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân, thế mà các thượng tế và thủ lãnh đã kết án tử hình cho Ngài, rồi đóng đinh Ngài vào thập giá. Họ bảo trước đây họ vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel, thế nhưng những việc ấy xảy ra đã ba ngày. Họ còn bảo họ cũng thấy kinh ngạc khi mấy người đàn bà ra mộ hồi sáng sớm, nhưng không thấy xác Ngài đâu cả, mấy bà còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo Ngài vẫn sống. Họ kết luận: “Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Ngài thì họ không thấy.” Thế thì buồn thật và thất vọng thật!

Và rồi Đức Giêsu nói với họ: “Các anh CHẲNG HIỂU gì cả! Lòng trí các anh thật là CHẬM TIN vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” Ngài bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, giải thích cho hai ông những gì liên quan Ngài trong tất cả Sách Thánh. Thế mà hai ông vẫn chưa “phá ngu đột xuất.” Khổ ghê!

Không thể khác hơn, Chúa Giêsu đành phải trách các ông “chậm tin.” Thật vậy, cuộc sống đời và đạo cứ hằng ngày trôi qua, chúng ta cứ sống theo hoàn cảnh mình riết thành quen, đến nỗi mọi thứ trở thành như một phản xạ, và rồi hầu như cũng mất luôn cảm xúc. Cứ thế và cứ thế, thậm chí việc làm dấu Thánh Giá cũng như một hành động của con robot được lập trình sẵn. Và chúng ta vẫn cho rằng mình đang sống đức tin, nhưng rồi gặp chuyện gì không xuôi xắn “như ý” mình thì chúng ta lại… ngại ngần, hóa ra chúng ta vẫn “chậm tin” lắm. Thấy giật mình thật, nhưng cũng chẳng oan ức gì!

Gần tới nơi họ muốn đến, Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa, nhưng họ nài ép Ngài ở lại với họ vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn. Chúa Giêsu đồng ý. Khi ăn tối, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra vì thấy hành động này quen lắm, mới vài ngày thôi mà. Thế là họ nhận ra Thầy Giêsu, nhưng rồi Ngài lại biến mất. Họ gãi đầu gãi tai và bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” Ôi, tiếc thật!

Và rồi ngay lập tức, họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simôn.” Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Ngài bẻ bánh. Thế là mọi vấn đề được giải tỏa, không thèm về quê nữa. Tương lai xán lạn ở phía trước. Niềm vui lại rộn ràng điệp khúc Alleluia!

Lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra Ngài trong những người chúng con gặp, nhất là nơi những người hèn mọn, và xin cho họ cũng nhận ra Ngài khi gặp chúng con. Xin giúp chúng con biết cầm lấy tấm-bánh-cuộc-đời-mình, tạ ơn Ngài, bẻ ra, trao cho mọi người, và luôn làm chứng về Đức Kitô chịu chết và phục sinh. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 3 PS_A

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật III Phục Sinh này đặt trọng tâm vào sự kiện Phục Sinh.

Cv 2: 14, 22-28, 33

Bài Đọc I trích từ diễn từ đầu tiên của thánh Phê-rô. Thánh nhân ngỏ lời với dân chúng ở thành đô, bảy tuần sau biến cố Phục Sinh. Vị lãnh tụ của các Tông Đồ lớn tiếng công bố Đấng chịu đóng đinh đã Phục sinh.

1Pr 1: 17-21                                                      

Thánh Phê-rô viết từ Rô-ma gửi các Ki-tô hữu miền Tiểu Á, trong đó thánh Phê-rô nhắc nhở rằng nền tảng Đức Tin và nguồn mạch Đức Cậy đặt trên hy tế và phục sinh của Đức Ki-tô.

Lc 24: 13-35                                                      

Tin Mừng hôm nay tường thuật cuộc gặp gỡ của hai môn đệ phiền muộn với Đấng Phục Sinh trên đường Em-mau. Ngài khai lòng mở trí cho họ hiểu cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài bằng Kinh Thánh; cuối cùng họ nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh, ngay lúc đó Ngài biến mất trước mắt các ông.

BÀI ĐỌC I (Cv 2: 14, 22-28, 33)

Đoạn văn hôm nay được trích từ diễn từ đầu tiên của thánh Phê-rô, được công bố vào đúng ngày lễ Ngũ Tuần. Sau khi được tràn đầy Thánh Thần, thánh Phê-rô ngỏ lời với đám đông Do thái đến Giê-ru-sa-lem để tham dự lễ “Ngũ Tuần”.

Chúng ta chỉ còn biết thán phục trước sự dạn dĩ của vị lãnh tụ các Tông đồ, thánh nhân phục hồi danh dự cho Đấng chịu đóng đinh và lớn tiếng công bố việc Ngài sống lại trong chính thành mà Ngài chịu khổ nạn, chỉ vài tuần sau những biến cố bi thương như vậy.

  1. Ngón đòn tâm lý

Thánh Phê-rô “đứng… và lớn tiếng nói”, nghĩa là thánh nhân lên tiếng trong tư thế của một người xác tín và vững tin. Việc các Tông đồ khác đồng hiện diện với thánh nhân chứng thực sự đồng thuận của Tông Đồ đoàn.

Bố cục của bài diễn từ thật rõ ràng: Đức Giê-su là người của Thiên Chúa, anh em đã kết án tử Ngài, Ngài đã sống lại. Trong phần khai triển, thánh Phê-rô sử dụng ngón đòn tâm lý. Để chứng minh rằng Đức Giê-su là người của Thiên Chúa, thánh nhân khởi đi từ một thực tại mà hầu hết các thính giả đều đã sống qua khi viện dẫn họ ra làm chứng: “Chính anh em đều biết những chuyện đó, vì mọi sự đã xảy ra giữa anh em”.

Thánh Phê-rô tránh nêu lên thần tính của Đức Ki-tô ngay từ đầu, nhưng nhấn mạnh nhân tính của Ngài trước tiên: “Đức Giê-su người Na-da-rét, người đã được Thiên Chúa chứng nhận… Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giê-su đã bị nộp”. Tiếp đó, vị lãnh tụ các Tông Đồ nhắc lại cái chết của Đức Giê-su khi cẩn trọng phân phối trách nhiệm: trước hết, cái chết này phù hợp với kế hoạch Thiên Chúa đã định; tiếp đó, dân Do thái cũng chịu phần trách nhiệm: “Anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh vào Thập giá mà giết đi”; như vậy, người Rô-ma cũng bị quy trách nhiệm về cái chết của Ngài.

  1. Biến cố Phục Sinh của Đức Kitô đã được Kinh Thánh loan báo

Lúc đó, thánh Phê-rô mới nêu lên biến cố Phục Sinh. Đối với cử toạ quen thuộc với Kinh Thánh, thánh nhân sẽ minh chứng rằng cuộc Phục Sinh này đã được Kinh Thánh loan báo rồi. Thánh nhân trích dẫn hai Thánh Vịnh.

Trước hết, Thánh Vịnh 18: “Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ do thần chết gây nên, mà cho Người sống lại. Vì lẽ thần chết không tài nào khống chế được Người mãi”, đây là bài thánh thi tạ ơn Đức Chúa cứu độ, chính Thiên Chúa đã ra tay cứu bạn Ngài khỏi lưới tử thần, tuy nhiên bản dịch Hy-lạp lại thay thế “lưới tử thần” của bản Híp-ri bằng “những đau khổ do thần chết gây nên”.

Tiếp đó, thánh Phê-rô trích dẫn Thánh Vịnh 16, được gán cho vua Đa-vít, theo đó người được Thiên Chúa tuyển chọn hân hoan vui mừng cho dù phải đối diện cái chết, “vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát”. Tv 16 này được người Do thái đương thời với Đức Giê-su chấp nhận là bài thánh vịnh mang chiều kích Mê-si-a. Thánh Phê-rô phát hiện ở nơi Thánh Vịnh này một luận chứng gây kinh ngạc.

  1. Lời chứng của vua Đa-vít

Tác giả của lời sấm này là vua Đa-vít, vua “đã chết và đã được mai táng” (như Đức Giê-su), và ngôi mộ của vua hiện ở Giê-ru-sa-lem (như Đức Giê-su) ở đó người ta vẫn còn thấy ngôi mộ của vua. Thánh Phê-rô muốn lưu ý thính giả về sự tương phản giữa số phận của vua Đa-vít với số phận của Đức Ki-tô mà Thiên Chúa đã cho sống lại.

Nhờ ân ban ngôn sứ, vua Đa-vít biết rằng Đấng Mê-si-a sẽ thuộc dòng dõi của vua và Đấng ấy sẽ sống lại mà ra khỏi mồ. Vì thế, thánh Phê-rô công bố một lần nữa việc Đức Giê-su sống lại: “Về điều này tất cả chúng tôi đều làm chứng” (Cv 2: 32) và khẳng định việc Ngài được tôn vinh ở bên hữu Chúa Cha. Chúa Cha đã cho Ngài quyền ban Thánh Thần. Qua hành động cản đảm của mình, các Tông đồ cũng chứng thực họ được thụ hưởng ân ban Thánh Thần dư tràn này.

Như vậy, vị lãnh tụ các Tông Đồ dọi chiếu ánh sáng Kinh Thánh trên Đức Giê-su lịch sử mà mọi người đều đã biết, con người Giê-su này đích thật là Đấng Mê-si-a được Kinh Thánh loan báo. Đức Giê-su chết như một con người lịch sử và Ngài sống lại như một Thiên Chúa, Đấng đã chiến thắng sự chết.

BÀI ĐỌC II (1Pr 1: 17-21)

Chúng ta tiếp tục đọc Thư thứ nhất của thánh Phê-rô, viết từ Rô-ma gửi cho các cộng đoàn khác nhau tại miền Tiểu Á. Vào Chúa Nhật trước, chúng ta đã đọc lời khuyên bảo sống trong niềm hy vọng; đoạn trích thư của Chúa Nhật này là một lời mời gọi sống cuộc đời thánh thiện.

  1. Dưới cái nhìn của Chúa Cha

Vị Tông Đồ ám chỉ rõ ràng đến “Kinh Lạy Cha”“Nếu anh em gọi Ngài là Cha…”. Đó là danh xưng cao quý mà người Ki-tô hữu gọi Thiên Chúa của mình. Họ là con cái Thiên Chúa, vì thế, họ phải hành xử sao cho xứng hợp, vì cuộc sống của họ diễn ra dưới cái nhìn của Chúa Cha, “Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử”. Từ đó, họ phải xử sự như người lữ khách trên trần thế này mà sống trong tâm tình “kính sợ Thiên Chúa”. Phải hiểu kiểu nói này theo nghĩa Kinh Thánh, nó diễn tả một thái độ tôn kính, vâng phục và yêu mến chứ không sợ hãi. Chúng ta nên đọc lại sách Đệ Nhị Luật ở đó lòng mến dành cho Đức Chúa được trưng dẫn nhiều lần: “Ngươi hãy kính sợ, phụng sự… yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết dạ hết sức ngươi”.

  1. Bửu huyết của Đức Kitô

Anh em có thể sống cuộc đời thánh thiện như vậy, vì xưa kia anh em vốn là dân ngoại, gắn bó với cách sống được thừa hưởng từ cha ông của anh em, còn hiện nay anh em đã được Đức Ki-tô giải phóng khỏi ách nô lệ tội lỗi.

Thời kỳ thờ ngẫu tượng và lối sống “phù phiếm”, vô định và vô vọng đã chấm dứt. Sự giải phóng này đã được trả bằng “giá máu quý giá của Đức Kitô,” như máu Con Chiên vẹn toàn, vô tì vết (đây là những phẩm chất tất yếu của con chiên vượt qua: Xh 12: 13). Thánh Tông Đồ chắc chắn nghĩ đến dung mạo của người Tôi Trung chịu đau khổ (dung mạo này hiện diện khắp bức thư này), người Công Chính này “bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông” (Is 53: 7).

  1. Tình yêu Thiên Chúa

Trong các cộng đoàn tiên khởi, các Ki-tô hữu gốc lương dân cùng sống chung với các Ki-tô hữu gốc Do thái, liệu họ cảm thấy tự ti mặc cảm đối với những người vốn đã thuộc vào dân Chúa chọn? Có thể… Thánh Phê-rô trấn an họ. Từ cõi đời đời, Thiên Chúa đã nghĩ đến họ, và chính để họ từ nay dự phần vào dân Ngài, mà Thiên Chúa đã sai Con của Ngài: “Người là Đấng Thiên Chúa chọn và xuất hiện vì anh em”, như vậy mở ra một giai đoạn mới và chung cuộc trong lịch sử cứu độ.

  1. Qua Chúa Con đến Chúa Cha

Thánh Phê-rô kết thúc khi mô tả chuyển động kép đời sống nội tâm của người Ki-tô hữu. Khởi đi từ ý tưởng về Thiên Chúa, Đấng vừa là Cha vừa Thẩm Phán, người Ki-tô hữu hướng mắt về Đức Ki-tô mà trở về với Chúa Cha, với niềm xác tín rằng Chúa Con lôi kéo họ cùng bước theo Ngài từ Khổ Nạn đến vinh quang bên cạnh Chúa Cha. Như vậy Đức Tin và Đức Cậy bất khả biệt phân.

TIN MỪNG (Lc 24 : 13-35)

Đoạn Tin Mừng hôm nay là một trong những hạt ngọc của sách Tin Mừng Lu-ca: nó toát ra một vẻ đẹp quyến rũ khôn sánh, cả về chiều kích tâm linh lẫn chiều kích phụng vụ.

Hai môn đệ (chỉ một người duy nhất được nêu tên: Cơ-lê-ô-pát) rời bỏ Giê-ru-sa-lem sau hai ngày tấn thảm kịch thập giá (quả thật, thánh Lu-ca định vị câu chuyện này vào cùng ngày Đức Giê-su Phục Sinh). Việc họ rời bỏ Thánh Đô làm chứng rằng cộng đoàn nhỏ bé của các môn đệ thân cận với Đức Giê-su, rã đám, phiền muộn và không còn hy vọng gì nữa. Mỗi người về quê nhà của mình, trở lại nghề nghiệp trước đây của mình.

  1. Chiều kích Kinh Thánh:

Đức Giê-su động lòng thương những bạn hữu của Ngài. Họ khóc thương cái chết của Ngài và tiếc nuối giấc mơ bất thành của mình. Ngài đồng hành với họ. Đây không đơn giản là một “cuộc hành trình theo nghĩa vật lý”, nhưng còn là lộ trình tâm linh nữa. Sự hiện diện của Ngài, Đấng Phục Sinh, không còn như trước đây nữa: họ không nhận ra Ngài, cũng như bà Ma-ri-a Mác-đa-la, khi gặp gỡ Ngài bên ngôi mộ trống, bà cũng đã không nhận ra Ngài.

Theo từng bước một, Ngài dần dần soi lòng mở trí cho hai ông để hai ông “ngộ được” các biến cố. Ngài đích thân giải thích cuộc sống và cái chết của Ngài. Đối với những ai xưng tụng Ngài là “ngôn sứ”, Ngài minh chứng Ngài là Đấng Mê-si-a; đối với những ai chờ đợi cuộc giải phóng dân Ít-ra-en, Ngài giúp họ khám phá mầu nhiệm Vượt Qua. Ánh sáng dần dần ửng hồng trong tâm trí của họ, và một ngọn lửa nội tâm sưởi ấm lại tấm lòng họ, như sau này họ sẽ thốt lên : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng thấy rạo rực đó sao ?”.

  1. Chiều kích Thánh Thể

Đức Giê-su đã thắp sáng lại niềm tin của họ. Nhưng vẫn còn thiếu một chiều kích, chiều kích này rồi sẽ xuất hiện khi họ đích thân ngỏ lời với Ngài: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì ngày đã xế chiều, và trời gần tối”.

Đây là cử chỉ của tấm lòng, cử chỉ của việc dâng hiến và chia sẻ. Đức Giê-su giả vờ như tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ngài không muốn áp đặt nhưng chờ đợi hai ông ngỏ lời mời và Ngài chấp nhận lời mời của họ. Với cử chỉ thân thiện và tình bạn của họ, Ngài sẽ đáp trả một cách tuyệt vời. Với những người bày tỏ tấm lòng hiếu khách với Ngài và mời Ngài một bữa ăn, đến lượt mình, Ngài đáp lại bằng việc bẻ bánh và mặc khải chân tính của Ngài.

Thánh Lu-ca dùng những từ ngữ mà Đức Giê-su đã dùng vào lúc Ngài thiết lập bàn tiệc Thánh Thể: “Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ” (Lc 22 : 19). Người ta nhận ra ngay đây là cử chỉ tái diễn bữa Tiệc Ly trong mối thâm tình cảm động. Vả lại, phụng vụ đã dựa trên sự kiện bẻ bánh này để biện minh việc rước lễ chỉ dưới hình bánh.

Tuy nhiên, từ xưa cho đến nay, các nhà chú giải không đồng nhất với nhau. Vài nhà chú giải bác bỏ chiều kích Thánh Thể ở nơi cử chỉ bẻ bánh của Đức Giê-su. Trước hết, hai môn đệ trên đường Em-mau không là các Tông Đồ, nên họ đã không tham dự bữa Tiệc ly với Đức Giê-su, làm thế nào hai người môn đệ này có thể nhận ra Thánh Thể ở nơi cử chỉ bẻ bánh của Đức Giê-su? Tuy nhiên, hướng đi của câu chuyện không thể nào chối cãi là Thánh Thể. Có một xác định đáng chú ý: vào buổi chiều Tiệc ly, Đức Giê-su đã tham dự trước cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, vì thế, Ngài đã hiện diện hữu hình với các Tông Đồ, trong khi với hai môn đệ Em-mau “Ngài biến mất trước mặt các ông”. Kể từ đó, sự cần thiết của Thánh Thể là như vậy: chỉ duy bánh là sự hiện diện hữu hình của Đấng Phục Sinh. Từ đó, nơi mà các tín hữu gặp gỡ Đấng Phục Sinh vinh quang chính là bàn tiệc Thánh Thể: “Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thánh Thể Người đó sao ? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10: 16-17).

  1. Chiều kích Phụng Vụ

 Vả lại, thật ấn tượng biết bao khi chúng ta đọc thấy ở nơi câu chuyện này có đủ yếu tố phụng vụ Thánh Thể: đọc và suy niệm Lời Chúa, cử chỉ dâng hiến và chia sẻ qua việc bẻ bánh.

  1. Chiều kích Giáo Hội

Thêm nữa, chúng ta cũng gặp thấy ở nơi câu chuyện này chiều kích Giáo Hội. Quả thật, hai môn đệ Em-mau ngay tức khắc trở về Giê-su-sa-lem. Họ gặp lại “các Tông Đồ và các bạn hữu đang tụ họp ở đó”. Cuộc gặp gỡ của hai người môn đệ này với Đấng Phục Sinh được cũng cố bởi kinh nghiệm của thánh Phê-rô: “Chúa đã sống lại thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon”.

Thánh Lu-ca là tác giả Tin Mừng duy nhất nêu lên việc Chúa Ki-tô hiện ra với một mình thánh Phê-rô, lãnh tụ các Tông Đồ. Thánh Phao-lô cũng nói điều này trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô. Như vậy, thánh Lu-ca kết thúc câu chuyện này với lời chú thích của Giáo Hội, dưới uy quyền tối thượng của thánh Phê-rô.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...