14/10/2023
616

CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN – A

Lời Chúa: Is. 25, 6-10a; Pl. 4, 12-14.19-20; Mt. 22, 1-14
-------------------------



 

Mục lục

  1. Cùng đích cuộc đời (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  2. Tiệc Cưới(Thiên San, MTG.Thủ Đức)
  3. Bữa Tiệc Thiên Quốc – Niềm Hy Vọng Của Mọi Nước Mọi Dân (E. Ng.Thanh Hiền, OSB)
  4. Tiệc ngon đã sẵn (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
  5. Yến tiệc Nước Trời (Jorathe Nắng Tím)
  6. Để luôn sẵn sàng  (Bông Hồng Nhỏ, MTG.Thủ Đức)
  7. Y phục Nước Trời  (Anna Cỏ May,  MTG.Thủ Đức)
  8. Một lời mời  (Thiên San, MTG.Thủ Đức)
  9. Áo cưới  (Lm. Vũ Đình Tường)
  10. Mặc áo cưới  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)
  11. Bữa tiệc của vua Trời (Lm. Inhaxio Trần Ngà)
  12. Tiệc cưới và áo cưới (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
  13. Chấp nhận lời mời dự tiệc Nước Trời  (Lm. Trần Bình Trọng)
  14. Đại tiệc  (Trầm Thiên Thu)
  15. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 28 TN_A (Lm. Inhaxio Hồ Thông)
  16. Lời yêu thương (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  17. Sao không mặc y phục lễ cưới  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

CÙNG ĐÍCH CUỘC ĐỜI

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Cuộc đời con người rồi sẽ kết thúc ra sao? Đâu là tương lai hậu vận của con người? Những người làm việc lành và những kẻ ác nhân liệu sẽ có một kết thúc khác nhau? Đó là những vấn nạn được đặt ra ở mọi thời đại, mọi nền văn hoá và mọi giai tầng xã hội. Để trả lời, Kinh Thánh khẳng định với chúng ta: tương lai con người sẽ giống như một tiệc cưới. Ai cũng được mời, nhưng không phải ai cũng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn trong ngày vui đó.

Hình ảnh tiệc cưới được sử dụng nhiều lần trong giáo huấn của Đức Giêsu. Tiệc cưới diễn tả niềm vui của người tin Chúa ngay khi họ còn sống ở đời này và hạnh phúc vĩnh cửu mà sau này họ sẽ đạt được. Trong Cựu Ước, hình ảnh tiệc cưới hoặc bữa tiệc vui cũng diễn tả mối tương quan thân thiết giữa Thiên Chúa với con người, làm cho con người được hạnh phúc trọn vẹn và lâu dài. Đích điểm tối hậu của đời sống con người là được sống với Chúa. Khi ấy, niềm vui sẽ tràn đầy, như trong một bữa tiệc thịnh soạn, đầy đủ rượu ngon, thịt béo, không còn khóc lóc và tang chế nữa. Đó cũng là hình ảnh diễn tả sự can thiệp của Thiên Chúa để giải phóng dân tộc Do Thái khỏi cảnh lưu đày (Bài đọc I). Khung cảnh bữa tiệc thịnh soạn và chan chứa niềm vui còn được nhắc tới trong Thánh vịnh 22 được hát lên trong Phụng vụ hôm nay (Đáp ca).

Chúa Giêsu muốn dùng hình ảnh bữa tiệc cưới để nói về Nước Trời với công thức quen thuộc: Nước Trời giống như… Ai ai cũng được mời dự bữa tiệc trọng đại này, dù họ thuộc về nền văn hóa hay ý thức hệ nào. Hình ảnh bữa tiệc cưới mà Chúa Giêsu nói đến là bữa tiệc cưới của một vị vua, tổ chức cưới cho hoàng tử là người sẽ kế vị mình. Vì là tiệc cưới của con vua, nên mọi sự chuẩn bị rất cẩn trọng và chu đáo. Những thực khách đã được ông chủ trân trọng mời trước, nay đến ngày tổ chức tiệc, họ được mời lại lần nữa. Một điều thật trớ trêu, đó là sự chu đáo và trân trọng của chủ được đáp lại bằng thái độ coi thường, thậm chí bằng bạo lực. Nhiều thực khách viện đủ cớ để vắng mặt trong bữa tiệc, có những lý do lãng xẹt, chứng tỏ sự coi thường trước thịnh tình của chủ tiệc. Sự vô ơn của họ còn được thể hiện qua hành động côn đồ và dã man, đến mức bắt các đầy tớ của vua để hành hạ và giết chết. Điều này đã khiến nhà vua nổi cơn thịnh nộ. Những kẻ ngang ngược đã bị tru diệt. “Rượu mời không muốn, lại muốn rượu phạt”, khiến ông chủ nổi giận. Tấm thịnh tình của ông biến thành cơn giận. Đám cưới đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu, biến thành đẫm máu do sự gian trá và độc ác của một số thực khách vô luân.

Đọc lịch sử Cứu độ, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa dùng nhiều cách thế để kêu gọi con người sống thánh thiện. Lời mời gọi của Chúa được nhiều người đón nhận, nhưng cũng có nhiều người khước từ. Họ yêu vật chất và vinh hoa trần thế hơn là đời sống thánh thiện mà Thiên Chúa đề nghị. Họ ngại phải từ bỏ. Họ sợ phải hy sinh. Họ không muốn bước ra khỏi vỏ bọc của sự ích kỷ và tham lam của mình. Họ giống như những thực khách được mời, kiếm cớ để từ chối lời mời rất trân trọng của ông chủ tiệc. Việc đi tham dự tiệc cưới là một vinh dự, mà bị họ coi như gánh nặng và nô dịch. Việc sống đạo đức là một niềm vui, mà bị họ coi như những hủ tục nhàm chán lỗi thời. Trải qua mọi thời đại, vẫn còn đó những người khước từ lời mời gọi nên thánh để được hưởng Nước Trời.

Nơi người Do Thái vào thời Chúa Giêsu, vẫn tồn tại một não trạng “tự tôn”, cho rằng Thiên Chúa là của riêng họ và chỉ có họ mới được hưởng hạnh phúc Nước Trời. Qua dụ ngôn tiệc cưới, Chúa Giêsu muốn khẳng định: Người Do Thái hay dân ngoại, bất kỳ ai tin vào Chúa và thực thi Lời Ngài thì sẽ được vào dự “tiệc cưới”, tức là được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ. Như thế, là người Do Thái không có nghĩa đương nhiên được một “tấm vé” để vào Nước Trời, nhưng hạnh phúc Nước Trời là kết quả của một cuộc đời cố gắng không ngừng để diệt trừ tội lỗi, gia tăng nhân đức.

Giáo huấn của Chúa Giêsu, Nước Trời được gửi đến cho toàn thể nhân loại. Chính Người là Tin Mừng cho muôn dân. Tất cả mọi người đang sống dưới gầm trời này, dù muốn dù không, họ cũng thuộc về Thiên Chúa. Ai ai cũng được mời gọi gia nhập Dân Chúa là Giáo Hội, để đón nhận giáo huấn của Chúa và làm cho sinh hoa kết trái trong cuộc đời, tức là được dự tiệc cưới Thiên Chúa sẽ tổ chức vào lúc tận cùng thời gian. Có nhiều người dù chưa được rửa tội, nhưng họ cũng thuộc về Chúa khi họ sống theo tiếng nói của lương tâm và sống công bằng ngay thẳng trong cách đối xử với anh chị em. Họ là những người đang kiếm tìm Thiên Chúa qua việc kiếm tìm Chân Lý và những giá trị vĩnh cửu làm tâm điểm cho cuộc đời mình. Thánh Phaolô là một mẫu gương cho chúng ta trong đời sống Đức tin. Người đã khẳng định: Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết. Quả vậy, nhờ cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ vượt thắng mọi gian nan, chấp nhận mọi hoàn cảnh và kiên trì trong mọi quẫn bách (Bài đọc II).

Được đọc dưới ánh sáng Phục Sinh, dụ ngôn tiệc cưới còn giúp cho các độc giả liên tưởng đến hình ảnh Chúa Giêsu là vị Hoàng Tử của Thiên Chúa Cha. Ngày hôm nay, Chúa Cha vẫn đang tổ chức tiệc cưới cho Con Một mình. Ai trong chúng ta cũng được mời. Tuy vậy, một điều kiện không thể thiếu khi dự tiệc cưới là chúng ta phải có y phục lễ cưới. Y phục lễ cưới mà Chúa Giêsu muốn nói tới, đó là tâm tình yêu mến, sự tuân phục Thánh ý Chúa và tình huynh đệ đối với anh chị em mình. Y phục lễ cưới được nhắc tới trong bài Tin Mừng như một điều kiện và một kiến thức căn bản, không ai có thể biện minh rằng mình không biết. Điều đó cho thấy, mỗi chúng ta đang sống trong Giáo Hội, “y phục lễ cưới” chính là tình trạng thường xuyên của một tâm hồn thánh thiện, mến Chúa yêu người và mong muốn những điều tốt đẹp cho anh chị em đang sống xung quanh mình. Ngày lãnh nhận phép Thanh Tẩy, chúng ta được vị linh mục chủ sự mặc cho một chiếc áo trắng với lời nhắn nhủ hãy “mặc lấy Chúa Kitô – Mặc lấy con người mới” (x. Ep 4,24). Như thế, chiếc áo cưới chúng ta mặc hằng ngày là chính Chúa Giêsu, Đấng đã yêu thương ta và chịu chết vì ta. Nhờ tấm áo cưới này mà chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Người.

Trở lại với những vấn nạn được đặt ra ở trên, chúng ta tìm thấy câu trả lời: tương lai của chúng ta là hạnh phúc Nước Trời. Số phận kẻ dữ và người lành không giống nhau. Tiệc cưới chính là hình ảnh để diễn tả cùng đích cuộc đời. Ông chủ là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên chúng ta và mong muốn cho chúng ta được hạnh phúc.

Về mục lục

TIỆC CƯỚI

Thiên San, MTG. Thủ Đức

 Ở Việt Nam, để chuẩn bị cho con cái yên bề gia thất, các bậc cha mẹ thường phải mất rất nhiều thời gian, công sức và nhất là tình yêu vào đó. Đặc biệt là khi tổ chức các nghi lễ cưới hỏi cho con cái. Thường thì đôi tân hôn cùng với cha mẹ ngồi lại, cùng lên danh sách khách mời xa gần trong họ hàng, bà con láng giềng, bạn bè thân thích. Cha mẹ sẽ hướng dẫn con cái trong việc tổ chức, khách  mời… Trong câu chuyện hôm nay, Khi nói về Nước Trời, Đức Giêsu nhắc đến một ông vua chuẩn bị tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử. Điều lạ lùng là dường như các vị khách được mời chẳng có ai thèm đếm xỉa đến, bỏ đi làm việc của mình. Nhiều lần đức vua cho đầy tớ đi thỉnh quan khách nhưng họ vẫn không mảy may, thậm chí còn bắt các đầy tớ vua mà giết đi (x. Mt 22, 1-14).

Vị vua trong câu chuyện đã nổi trận lôi đình, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân đó. Không giận sao được khi nghe biết điều tồi tệ đó. Nếu ở trong hoàn cảnh đó, chúng ta sẽ làm gì? Trên thực tế, Các đám cưới được chuẩn bị rất chu đáo và các quan khách được mời cũng rất háo hức tham dự. Những người thân thiết, bạn bè xa gần, họ hàng và nhất là gia đình hai bên cô dâu và chú rể đều rất vui. Đại đa số đều cố gắng sắp xếp thời gian, chuẩn bị quà cáp để đi dự tiệc cưới. Số ít vì nhiều lý do, không thể tham dự thì ít ra họ cũng gửi phong bì hay chút ít quà mừng cho đôi bạn. Bởi đây là dịp vui, rất quan trọng của đời người. Nhìn vào thực tế để chúng ta có cái nhìn khách quan và phần nào hiểu được phản ứng của vị vua trong câu chuyện.

Khi tương quan với người khác, chúng ta sẽ có những cách xử sự khác nhau tùy thuộc vào địa vị, chức vụ, vai trò của người đó với ta. Với một người bạn thân, ta sẽ có cách nói chuyện, cư xử khác. Với thầy cô giáo hay những người lớn, ta cũng phải tỏ ra lễ phép, kính trọng. Ta không thể dùng cách nói với bạn bè để nói chuyện với một vị lớn tuổi hơn, hay dùng lời nói của một người buôn bán, chợ búa để nói chuyện với thầy cô. Thực vậy, sự tôn trọng của ta thể hiện qua cách ta cư xử, nói năng hằng ngày. Nếu quý mến một người, kính trọng một người, khi được mời đi đâu đó, chúng ta sẽ cố gắng sắp xếp thời gian để đi. Món quà ta tặng cho họ cũng sẽ khác với món quà ta tặng cho một người mới quen. Trong câu chuyện Đức Giêsu kể, Người không nói rõ các quan khách là ai, chỉ nói chung chung. Tuy nhiên dù họ là ai đi nữa, tất cả họ đều đã xem thường vua, không bận tâm đến lời mời của vua mà chỉ mải lo việc của mình. Người mời là vua thì có thể những kẻ được mời phải đứng sau vua, không ngang hàng với vua. Ấy vậy mà họ lại chẳng thèm đả động, đoái hoài gì đến lời mời rất vinh dự ấy. Bởi đâu phải ai cũng được vua mời vào dự tiệc cưới của hoàng tử. Hành động và thái độ của họ đã cho ta thấy rõ, họ đã từ chối lời mời của đức vua. Thật đáng tiếc.

Câu chuyện không dừng lại ở đó. Sau khi sai người đi tru diệt những kẻ sát nhân đó, nhà vua bảo đầy tớ: “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng.Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.”. Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.” (Mt 22, 8-10). Đức vua đã chọn một giải pháp khác để tiệc cưới của hoàng tử vẫn được diễn ra. Một sự thay đổi vượt quá sự suy tưởng của ta. Những kẻ được vua cân nhắc, ghi tên vào danh sách khách mời nay lại chẳng được dự tiệc cưới. Những người khác có nằm mơ cũng không nghĩ mình được mời dự tiếc cưới của hoàng tử thì lại được tham dự.

Cuộc sống luân có những bất ngờ, có những bất ngờ làm ta vui sướng nhưng cũng có những bất ngờ khiến ta phải hối tiếc. Thực ra, những bất ngờ ấy chẳng tự dưng đến nhưng đâu đó là kết quả của những chọn lựa của ta trong cuộc sống. Thực vậy, Chúng ta bất ngờ khi bị mấy chú công an gọi vào, yêu cầu xuất trình giấy tờ. Chúng ta bất ngờ khi bị gọi đứng lên bảng, bất ngờ khi nhìn thấy ba mẹ lên thăm… Nếu ngồi nhìn lại, chúng ta sẽ thấy rằng, sở dĩ ta bị chú công an gọi vào là vì ta đã đi qua tốc độ hay không bật xi nhan khi qua đường… Sở dĩ ta bị gọi lên bảng là vì trước đó ta đã nói chuyện riêng trong lớp… Tuy nhiên, cũng có những bất ngờ xảy đến và ta chẳng thể biết được nguyên nhân tai sao. Hãy chọn sao để không phải hối tiếc.

Về mục lục

BỮA TIỆC THIÊN QUỐC – NIỀM HY VỌNG CỦA MỌI NƯỚC MỌI DÂN

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB.

Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Thường Niên XXVIII, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: tự sức mình, chúng ta không thể tuân giữ được những gì Chúa truyền dạy, vì thế, chúng ta rất cần ân sủng của Chúa. Tất cả là do bởi ơn Chúa, cho nên, để chúng ta có thể đạt đến Nước Trời, nơi mà Chúa đã dọn sẵn cho chúng ta bữa tiệc, ân sủng của Chúa sẽ luôn mở đường và cùng đồng hành với chúng ta trên hành trình tiến về Núi Thánh, Đền Thánh để dự Bữa Tiệc Thiên Quốc.

Trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, Đức Chúa đã phán cùng ngôn sứ Khácgai: Hãy lên núi tái thiết Đền Thờ cho Ta, và Ta sẽ vui thích. Nhà của Đức Chúa sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân, chứ không chỉ của người Dothái. Trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Syrilô đã cho thấy Danh Chúa thật cao cả giữa chư dân, chư dân nghĩa là dân ngoại, như lời ngôn sứ Dacaria đã tiên báo: Ngày ấy, nhiều dân tộc sẽ gắn bó cùng Đức Chúa, chúng sẽ thành dân thánh của Ta. Thánh Syrilô nói: Thời Đấng Cứu Độ chúng ta ngự đến, đã xuất hiện một Đền Thánh vinh quang hơn, huy hoàng hơn và cao trọng hơn bội phần so với đền thờ cũ.

 Điểm đến chung cuộc của chúng ta chính là Nước Trời, là Đền Thánh, Núi Thánh, là Bữa Tiệc Thiên Quốc như bài Đáp Ca của ngày lễ hôm nay: Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Này tôi được ở đền Người, những ngày tháng, những năm dài triền miên.

 Niềm hy vọng của chúng ta là chính Chúa, là tiệc vui Thiên Quốc, nhưng, chúng ta lại mải mê thế sự mà đánh mất lòng trông cậy, cho nên, các nhà phụng vụ đã cố tình chọn câu Tung Hô Tin Mừng cho ngày lễ hôm nay là: Xin Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta.

Niềm hy vọng của chúng ta, được ngôn sứ Isaia khẳng quyết cách chắc chắn trong bài đọc một là:  Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc. Ngày ấy, người ta sẽ nói: Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và chúng ta đã được Người thương cứu độ. Trong bài đọc hai, thánh Phaolô nói với các tín hữu Philípphê rằng: Thiên Chúa sẽ thỏa mãn mọi nhu cầu cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Đức Kitô Giêsu. Với niềm xác tín thẳm sâu, thánh nhân tuyên bố: Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết.

 Trong bài Tin Mừng, thánh Mátthêu cho thấy Bữa Tiệc Thiên Quốc bao gồm đủ mọi thành phần, qua lệnh truyền của nhà Vua: Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới. Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách. Tuy nhiên, có một người không mặc y phục lễ cưới. Thánh Mátthêu cố tình nói “có một người”, vậy là, mọi người đã mặc y phục lễ cưới, chỉ có người này cố tình không mặc y phục lễ cưới, và bằng chứng là, khi nhà Vua hỏi tới, thì người ấy câm miệng không nói được gì. Người này không có một lý do nào để phân trần, biện hộ cho mình, và đương sự cũng không cậy nhờ vào lòng thương xót của nhà Vua, mà van xin tha thứ. Vì thế, người này đã bị trói chân tay lại, bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.

Ơn cứu độ, Nước Trời, Bữa Tiệc Thiên Quốc là ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, Chúa luôn mời gọi chúng ta tiến về Núi Thánh, lên Đền Người ngự, ở nơi đó, Chúa dọn sẵn cho chúng ta một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế. Ấy thế mà, chúng ta không thèm đếm xỉa tới lời mời gọi của Chúa.

Bữa Tiệc Thiên Quốc là một lời mời, nên cần chúng ta đáp lời; là một lời hứa, nên cần chúng ta cộng tác để thực hiện; là một hành trình, nên cần chúng ta tiến bước; là một niềm hy vọng, nên cần chúng ta vững dạ cậy trông. Mọi sự đã sẵn sàng, ân sủng của Chúa luôn mở đường và cùng đồng hành với chúng ta, chỉ cần chúng ta mở lòng đón nhận: khoác trên mình chiếc y phục lễ cưới, mà chính Đức Kitô đã mặc khi vào trần gian: đến không phải để được hầu hạ, nhưng, để hầu hạ và hiến dâng mạng sống vì chúng ta.

 Về mục lục

TIỆC NGON ĐÃ SẴN

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Con người ngày nay thường rất bận. Càng giầu càng bận. Càng có chức quyền càng bận. Họ bận đến nỗi chẳng có thời giờ cho riêng mình. Bận đến nỗi luôn lao vào công việc mà chẳng có thời gian thư giãn với đồng loại. Có khi bận quá mà quên chăm sóc cho bản thân.
Chuyện kể rằng có một anh thợ rất khéo. Bao nhiêu quần áo đẹp trong làng đều do anh may. Tuy nhiên, bản thân anh thì chỉ có mỗi một chiếc áo cũ rách. Lúc nào anh cũng mặc chiếc áo rách ấy, ngay cả trong những buổi tiệc lớn của làng anh vẫn chiếc áo lôi thôi ấy đến dự. Có người bất bình hỏi anh: sao anh có thể may bao nhiêu chiếc áo đẹp cho mọi người mà lại không may cho anh được một chiếc áo sang trọng?

Anh trả lời: vì tôi phải may áo kiếm tiền, không có giờ may cho chính mình.

Người bạn: vậy anh hãy cầm lấy số tiền này và may cho anh một chiếc áo mới, kể như tôi muốn anh may cho tôi vậy.

Anh thợ may cầm tiền về nhà, tới buổi tiệc tiếp theo anh vẫn mang bộ đồ cũ rách ấy. Anh bảo cũng chẳng có giờ may cho chính mình , vì hàng nhiều quá!

Chúa Giê-su hôm nay nói rằng: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình… Nhà vua sai đầy tớ đi, và dặn họ: “Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quí vị đến dự tiệc cưới!” (Mt 22:2,4)

Vậy mà nhiều người không đến ăn tiệc được vì không có giờ, vì bận quá: “kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn…” (Mt 22:5).

Và hôm nay vẫn còn đó nhiều người đã không có cơ hội để hưởng niềm vui hiện tại. Họ là những CEO đang bận bịu với các cuộc họp làm ra tiền. Họ là những chuyên viên kinh tế đang theo dõi thị trường chứng khoán. Họ là những người lao động đang phải làm thêm giờ phụ trội cho có đủ tiền trả góp chiếc xe láng mới tậu để “gáy” đua với mấy tên bạn. Giờ đâu mà ngó mây trời. Ăn còn chẳng kịp nữa là. Họ thật đáng thương!

Thế là hóa ra người nghèo lại có nhiều cơ may hưởng được niềm vui trong cuộc sống hơn. Lệnh của chủ tiệc là ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới. Và phòng tiệc đã đầy nhanh chóng. Ai nấy ăn uống vui vẻ.

Con người thường mâu thuẫn với chính mình. Người ở quê thì thích về thành phố để sống vinh quang dù vất vả khổ cực. Người thành phố lại chỉ ước mong về gìa sẽ về quê để vui thú điền viên.

Như vậy, hạnh phúc không phải là ở quê hay ở thành phố. Hạnh phúc cũng không phải ở công việc làm ăn lớn hay nhỏ. Hạnh phúc đơn giản được vui với niềm vui hiện tại. Được vui cùng nhau, chia sẻ cùng nhau mà không hề toan tính giầu nghèo. Và đối với lời Chúa hôm nay thì hạnh phúc là được tham dự yến tiệc Nước Trời hôm nay và mãi mãi.

Thánh lễ là bàn tiệc Nước Trời tại thế. Nơi đó Chúa cũng muốn mọi người có mặt. Chúa không muốn thiếu vắng ai. Vì thiếu vắng là thiệt thòi, vì người vắng sẽ thiếu niềm vui của cộng đoàn hiệp thông, vì người vắng sẽ thiếu ân sủng và sức mạnh của Thiên Chúa để nhờ ơn Chúa họ sẽ sống tốt hơn.

Đáng tiếc, nhiều người lại quá lo làm ăn, buôn bán, có khi vui chơi giải trí để từ chối tham dự tiệc thánh Chúa mời gọi. Họ ưu tiên cho cái bụng trước mắt mà không thèm đếm xỉa đến bàn tiệc Nước Trời.

Bàn tiệc Nước Trời cũng ám chỉ bàn tiệc cánh chung. Con người sinh ra rồi cũng chết, nhưng chết là là cuộc vượt qua  vào cõi vĩnh hằng để tham dự bữa tiệc cánh chung. Nơi đó Thiên Chúa đã sắp sẵn một bàn tiệc viên mãn cho những ai được Ngài mời gọi. Nơi đó, Chúa cũng đòi hỏi người dự phải có tấm áo Tin mừng. Tấm áo của lòng thanh khiết luôn hướng về Chúa. Tấm áo của lòng bác ái luôn sống mến Chúa yêu người. Tấm áo của ân sủng để Chúa luôn đong đầy yêu thương đến nỗi có thể phủ lấp muôn vàn tội lỗi của chúng ta.

Vâng , Chúa luôn mời gọi tất cả mọi người, nhưng Chúa lại tôn trọng tự do để con người biết chọn cách sống cho phù hợp với tin mừng, và nhất là biết gìn giữ tấm áo rửa tội để mãi thuộc về Chúa hôm nay và mai sau. Xin cho chúng ta biết chọn lựa hạnh phúc Nước trời hơn là những vinh hoa phí quý trần gian mau qua. Xin cho chúng ta cũng biết nắm lấy niềm vui hiện tại mà vui sống với những gì Chúa ban. Amen

Về mục lục

YẾN TIỆC NƯỚC TRỜI

Jorathe Nắng Tím

Càng gần những ngày cuối của ba năm rao giảng Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu càng cảm thấy áp lực nặng nề từ phía giáo quyền Do Thái, khi các thượng tế, ký lục và nhóm Pharisêu ngày càng công khai dồn sức tấn công và tìm mọi cách giăng bẫy Ngài với hy vọng giao nộp Ngài cho chính quyền đế quốc Rôma và ước mơ thấy Ngài lãnh án tử hình đóng đinh, hầu triệt tiêu một khuôn mặt gây nhiều phiền phức, có sức đảo lộn toàn bộ sinh hoạt xã hội, tôn giáo, và làm sụp đổ thành trì “cơ chế” vững chắc bảo đảm an toàn chỗ đứng của họ.

Ở thời điểm căng thẳng này, Đức Giêsu nhiều lần nói với những chức sắc tôn giáo ấy bằng một cung giọng ngày càng cứng rắn, và không ngại lột trần dã tâm đen tối, xấu xa của họ, như dụ ngôn “Tiệc Cưới Nước Trời” được ghi lại trong Tin Mừng Mátthêu.

Dụ ngôn được coi như bản cáo trạng thu gọn lên án thái độ khinh bạc và quyết định khước từ của Ítraen, dân Chúa trước lời mời vào dự tiệc Nước Trời của Thiên Chúa. Qua hình ảnh những khách được mời đã viện đủ lý do để từ chối, đã tìm mọi cách để không đến dự tiệc, dù “cỗ bàn đã dọn xong, bò tơ, thú béo đã hạ rồi, và mọi sự đã sẵn” (Mt 22,4). Không đếm xỉa và coi thường lời mời của Thiên Chúa đã đành, Ítraen còn bắt bớ, hành hạ và giết cả những người của Thiên Chúa sai đến để mời họ, và Đức Giêsu đóng lại bản cáo trạng bằng một kết luận đanh thép : “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng” (Mt 22,8).

Trước lửa hận thù đang sôi sục trong tâm hồn những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái lúc bấy giờ, lời tuyên bố không nể nang, nhân nhượng của Đức Giêsu về một dân riêng không còn xứng đáng với tình thương và lòng trân trọng của Thiên Chúa khác nào đổ thêm dầu để ngọn lửa bùng phát ngàn lần dữ dội, khủng khiếp. Bằng chứng là ngay sau đó “những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy” (Mt 22,15).

Khi nghe Đức Giêsu tố cáo như vậy, chắc chắn một số trong họ đã nghĩ đến ngôn sứ Giêrêmia, người mà cha ông họ đã bạc đãi, đối xử tồi tệ, bất công, đồng thời nhớ lại đội quân hùng mạnh của Nabucodonoso gần 6 thế kỷ trước (năm 587 trước công nguyên) đã tàn phá Đền Thờ và dẵm nát quê hương “Đất Hứa” của họ. Và  nhiều người trong họ đã coi đó là hình phạt của Thiên Chúa Giavê đổ trên dân riêng “bất xứng, ngỗ nghịch”.

Riêng Đức Giêsu, hôm nay Ngài chính thức cho họ biết có một dân mới được mời gọi vào yến tiệc Nước Trời thay thế họ ; có những người khách mới được Thiên Chúa đích thân đón vào dự tiệc cưới ; có những con người mới xứng đáng hơn họ được Thiên Chúa yêu thương, trân trọng cho đồng bàn. Và những khách mới, người mời, dân mới ấy chính là “bất cứ ai gặp được ở các ngã đường”, bởi đã đến lúc Thiên Chúa “gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới” trong Vương Quốc của Ngài (Mt 22,9).

Hình ảnh những người khách mới gặp được ở các ngã đường để thay thế những “khách mời bất xứng” chính là Giáo Hội của Đức Giêsu, một dân tộc mới “gồm muôn dân” được mời vào dự tiệc của Chiên Thiên Chúa như ngôn sứ Isaia đã loan báo : “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25,6), vì Thiên Chúa, Đấng thiết đãi muôn dân yến tiệc Nước Trời là Mục Tử nhân lành, Đấng dẫn đoàn chiên đến đồng cỏ xanh tươi, bên dòng nước trong lành ; Ngài dắt chiên đi trên đường ngay nẻo chính, và dọn sẵn cho chiên “bữa tiệc ngay trước mặt quân thù” (x. Tv 22,1-5).

Nhưng khi các khách mời đã vào bàn tiệc, thì một biến cố buồn bất chợt xẩy ra : “nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy : Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”. Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch : “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 22,13).

Biến cố thật bất ngờ và đáng buồn chắc chắn đã làm sững sờ nhiều người, nhất là thực khách bị nhà vua chiếu tướng, điểm mặt và ra lệnh bắt giam, đem đi hành hạ. Ngay cả chúng ta cũng chung một tâm trạng hụt hẫng ấy, bởi cứ sự thường  những vị “khách mới” bất ngờ giờ chót được mời ở các ngã ba, ngã tư đường đã vào bàn tiệc với y phục thường ngày, vì không  ai trong họ đã được biết trước mình sẽ được nhà vua mời dự tiệc cưới trong hoàng cung. Thái độ nổi giận và hình phạt nặng nề của nhà vua trên vị khách không mặc y phục lễ cưới qủa thật làm sốc  không ít và chúng ta cảm thấy có chút gì bất công về phiá nhà vua.

Thực ra, Đức Giêsu đã mượn hình ảnh y phục lễ cưới để nói lên một chân lý quan trọng đó là Nước Trời từ nay được mở ra cho tất cả mọi người, không trừ ai, không phân biệt sắc dân, chủng tộc, trình độ, hoàn cảnh, nhưng điều đó không có nghiã những người được nhận vào Nước Trời không còn phải đáp ứng bất cứ đòi hỏi nào. Trái lại, luật mới của Tin Mừng, luật của Giao Ước Mới, luật mới của Đức Giêsu, tuy khác Luật cũ Môsê, nhưng vẫn đòi hỏi không kém, vẫn có những điều kiện buộc người muốn vào dự tiệc Nước Trời phải tuân giữ, thực hiện. Và Luật đó chính là Luật Yêu Thương, y phục lễ cưới đó chính là Đức Ái, điều kiện để được Thiên Chúa yêu thương cho đồng bàn với Ngài trong Vương Quốc, như thánh Tông Đồ Gioan  đã khẳng định : “Thiên Chúa là Tình yêu : ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy”, và “đây là điều răn mà chúng ta đã nhận từ Người : ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,16.21).

Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ quên mang sẵn trên mình y phục lễ cưới là Đức Ái, để bất cứ giờ nào, ở đâu Thiên Chúa mời gọi vào dự Tiệc Cưới Nước Trời, chúng ta đều đến với Ngài trong y phục Tình Yêu lộng lẫy, xinh đẹp, để  xứng đáng đồng bàn với chính Thiên Chúa và các thánh của Ngài trên Thiên Đàng.

Về mục lục

ĐỂ LUÔN SẴN SÀNG

Bông hồng nhỏ  

Cuộc sống luôn luôn đòi hỏi ta phải sẵn sàng. Một tâm thế sẵn sàng sẽ giúp ta dễ dàng để tới đích, dễ dàng để hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc. Trong tình yêu, Thiên Chúa đã luôn luôn sẵn sàng: sẵn sàng để yêu thương ta, tha thứ cho ta, chữa lành ta, nâng đỡ và an ủi ta… Ta có sẵn sàng để đón nhận tình thương của Ngài không? Được Thiên Chúa yêu thương, ai mà không hạnh phúc. Niềm hạnh phúc lớn nhất của ta là được nhận biết Thiên Chúa, nhận biết mình được Người hết lòng yêu thương. Thế nhưng, đã bao lần ta đã tỏ ra không sẵn sàng để đón nhận tình yêu thương của Người. Điều gì đã khiến ta không sẵn sàng như thế?

Hôm nay, lắng nghe câu chuyện Thầy Giêsu kể, ta nhận thấy có mình trong đó. Thiên Chúa chính là ông vua đã tổ chức tiệc cưới cho con mình. Ông gửi thiệp, mời các quan khách đến dự. Tiệc cưới đã sẵn sàng mà khách được mời lại chưa tới. Ông sai các đầy tớ của mình đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến (x. Mt 22,3). Từ ngày ta được lãnh nhận Mình Thánh Chúa, Thánh lễ trở nên thật ý nghĩa đối với ta. Ta được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng, được nên một với Người. Người làm cho ta lớn lên, được giống Người mỗi ngày một hơn. Ước chi, ta cứ mãi là trẻ thơ để không phải lo lắng, không phải bận bịu; chỉ hồn nhiên để chạy đến bên Người, yêu mến Người mãi mãi.

Nhưng kìa, từ khi bước chân vào đời, ta đã đổi khác. Nhịp sống vội vã đã cuốn ta vào vòng xoay của nó. Ta bận bịu với biết bao nhiêu công việc, rồi ta bỏ lễ một lần, hai lần rồi ba bốn lần. Cứ thế, ta cứ dần dần từ chối quyền được hưởng niềm hạnh phúc của người được Chúa thương. Thánh lễ chính là một tiệc cưới. Thiên Chúa đã kiên nhẫn chờ đợi ta đến với Người trong những Thánh lễ mỗi ngày. Thiên Chúa vẫn rất thương ta, Người đã gửi đến cho ta những “đầy tớ” để họ nhắn lại cho ta nhớ lời của Người: “Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!” (Mt 22,4). Ta hãy tạm ngưng công việc đang dở dang, hãy lắng nghe các “đầy tớ” của Thiên Chúa nhắn lại lời của Người. Họ là những người bạn, là cha mẹ, là những người trong giáo xứ, là những tu sĩ, những linh mục đang cố gắng giúp ta. Đừng để cho những bận rộn của trần thế làm ta quên đi lời mời của Thiên Chúa. Hãy sẵn sàng để đó nhận tình yêu bao la của Người.

Chẳng phải những lần không thể tham dự Thánh lễ, ta đã thấy lòng mình hụt hẫng, thiếu vắng và nhớ Chúa quá chừng đó sao. Ta hãy tìm cách tham dự Thánh lễ. Thiên Chúa đã mở tiệc thết đãi muôn dân, ta đã được mời dự và không bao giờ bị từ chối. Dù ta có vấp ngã nhiều lần đi chăng nữa, dù trước đó ta đã từ chối tình thương của Chúa thì ngay bây giờ nếu ta sẵn sàng bước vào dự tiệc cưới, Người vẫn sẵn sàng đón nhận ta. Ta sẽ được Chúa Kitô kéo ra khỏi bóng đêm tội lỗi, được Người thanh tẩy bằng Máu Thánh của Người, bấy giờ ta sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao, niềm hạnh phúc mà ta đã từng được hưởng nếm. Y phục lễ cưới chính là lòng thống hối ăn năn của ta. Thiên Chúa đã mời tất cả mọi người dự tiệc, dù họ có một quá khứ lỗi lầm, là một người xấu đi chăng nữa, thì Thiên Chúa vẫn đón nhận họ. Thiên Chúa đã chờ đợi con người quá lâu, đến nỗi Người đã trực tiếp thân hành đến giữa họ. “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta” (Ga 1,14). Ta có nhận ra Người không? Đừng chần chừ nữa, hãy mang lấy tấm áo của lòng thống hối ăn năn, sẵn sàng mặc lấy tấm áo ấy là sẵn sàng cộng tác với ơn Chúa để thay đổi chính mình. Đó cũng chính là lúc ta sẵn sàng đón nhận tình thương của Thiên Chúa. Hãy để cho Lời của Thiên Chúa vang lên trong lòng ta, hãy để Người biến đổi cuộc đời ta.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa vẫn chờ đợi con. Người không mỏi mệt để lên tiếng trong lòng con, không mỏi mệt khi tha thứ cho con. Xin giúp con đủ sức để chiến đấu trong cuộc chiến đấu với chính mình, để chọn lựa ưu tiên của con là chọn Chúa trên hết mọi sự. Xin làm cho con trở nên sẵn sàng trước tình yêu bao la của Chúa. Amen.

Về mục lục

Y PHỤC NƯỚC TRỜI

Anna Cỏ may

Dù sáng sớm hay chiều về, đường phố luôn tấp nập. Con đường ngập tràn tiếng xe, tiếng cười. Bao màu sắc phong phú của trang phục như những sắc hoa trải dài trên các nẻo đường. Những màu sắc này là vẻ đẹp riêng của các trường học, công ty, công sở và các công việc khác nhau, là dấu chỉ để cho biết nơi mà mỗi người hiện diện.

Cuộc sống ở trần gian có những quy định về sắc cờ mầu áo thì cuộc sống Nước Trời cũng vậy. Vì thế, Chúa Giêsu đã chuẩn bị và trao cho mỗi người những trang phục để vào dự tiệc cưới Nước Trời. Ai không có y phục lễ cưới, người đó sẽ không được dự tiệc cưới.

Chúa Giêsu ví Nước Trời giống như chuyện một ông vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Nhà vua sai các đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước đến dự tiệc, nhưng họ lấy lý do để từ chối khéo. Ông lại sai đầy tớ đi mời lần hai, họ vẫn không đến. Sau đó, nhà vua liền sai các đầy tớ ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào. Trong số người dự tiệc, có một người không mặc y phục lễ cưới. Nhà vua hỏi: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” (Mt 22,12). Người ấy câm miệng không nói được gì. Cuối cùng, anh ta đã bị quăng ra bên ngoài vì không mặc y phục lễ cưới.

Nhìn vào thực tế, mỗi khi đến với Chúa trong Thánh lễ, chúng ta đã mặc trang phục như thế nào? Trang phục trong Thánh lễ là một hành động nhỏ nói lên niềm tin và sự tôn kính của chúng ta dành cho Thiên Chúa. Có thể nói, người không mặc đúng y phục đã được chuẩn bị là người không dám cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới. Anh muốn dự tiệc nhưng lại không muốn chung một niềm vui với chủ nhà, không muốn trở nên một với chủ nhà và không muốn thuộc về một nhà. Bởi đó, khi nhà vua hỏi, anh chỉ biết câm miệng, không nói được gì. Nếu ngay lúc đó, anh thật lòng muốn, anh có thể xin lỗi nhà vua và đi lấy y phục lễ cưới mặc vào, anh sẽ được ở lại. Nhưng, anh đã để cho mình mất cơ hội dự tiệc cưới. Còn những người không đến dự tiệc là những người đã bỏ mất cơ hội vào Nước Trời. Họ đã lấy những lý do riêng để từ chối. Những lý do đó có thật sự cần thiết không? Hay chúng ta chỉ muốn che dấu sự không muốn của mình. Như vậy, có nhiều lý do khiến chúng ta không được ở trong Nước Trời. Những lý do đó đều xuất phát từ chúng ta. Nhìn lại chính mình, tôi có đang từ chối bữa tiệc Nước Trời không?

Chúa Giêsu đã nói: “Khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Vâng, Chúa Giêsu mời gọi mỗi người hãy có thái độ sẵn sàng và mau mắn mặc y phục hòa giải, y phục sám hối, y phục khiêm tốn trước khi đến dự tiệc Thánh Thể . Nếu không, những thái độ trang nghiêm của chúng ta dù có thế nào cũng không trọn vẹn để vui hưởng niềm vui hạnh phúc của người biết mình được Chúa yêu thương.

Lạy Chúa, xin dạy con luôn có thái độ sẵn sàng và biết mau mắn mặc y phục sám hối, y phục khiêm tốn, y phục hòa giải mỗi khi đến tham dự Thánh lễ và khi đến với tha nhân. Nhờ đó, con được hưởng trọn vẹn tiệc cưới Nước Trời ngay ở đời này và cả đời sau. Amen.

Về mục lục

MỘT LỜI MỜI

Thiên San

Sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng tiệc cưới cho con, nhà vua nhiều lần đi thử các quan khách nhưng họ không những không chịu đến mà còn bắt các đầy tớ của vua mà giết chết. Cuối cùng nhà vua nổi cơn thịnh nộ sai quân đi tru diệt và thiêu hủy thành phố của bọn sát nhân. Rồi nhà vua sai người ra các nẻo đường, gặp ai cũng mời hết vào dự tiệc cưới.

Câu chuyện Đức Giêsu kể hôm nay như một hồi chuông cảnh tỉnh không chỉ cho những người trong giới lãnh đạo Do Thái mà còn cho cả mỗi người chúng ta. Thiên Chúa chính là vị vua trong câu chuyện, Người luôn hết lòng kiên nhẫn để kêu mời chúng ta vào dự “tiệc cưới Con Chiên”, là hạnh phúc Nước Trời. Trong câu chuyện trên, những kẻ được mời đã không lấy làm vinh dự khi được nhà vua mời nhưng đã tỏ ra hờ hững, “không thèm đếm xỉa” hay quan tâm đến lời mời đó. Tại sao vậy? Phải chăng họ chẳng xem vua ra gì? Hay vì họ quá bận rộn đến việc mình, và cũng chẳng sợ mất lòng vua? Cũng như các quan khách trong câu chuyện, chúng ta thường có vô vàn lý do để biện minh cho hành động của mình: bận đi thăm nông trại, đi buôn bán… (x.Mt 22,5). Phải chăng vì chúng ta quá “bận rộn” mà quên lời mời gọi của Thiên Chúa? Khi con người bận tâm với những sự chóng qua ở đời này, “cơm áo gạo tiền”, chúng ta sẽ chẳng còn thì giờ để nhớ đến lời mời của Thiên Chúa. Chẳng hạn, Chúa mời ta gặp gỡ Ngài cách đặc biệt vào các ngày lễ Chúa Nhật nhưng ta không thể đến vì còn bận đi shopping, đi nghỉ dưỡng, đi bán hàng…  Lời mời gọi của Thiên Chúa là một lời mời gọi cao trọng. Có bao giờ ta có thể nghĩ được rằng Thiên Chúa Tối Cao lại cất công mời ta, để tâm đến ta?

Quả thực, lời mời gọi của “Nhà vua” thực sự rất cao quý nhưng không phải ai cũng nhận ra điều đó. Trong thánh vịnh số 8 có nói: Ngắm tầng trời cao tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài. Mà con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm” (Tv 8,4-5). Thật vậy, ta chẳng là gì nhưng lại được Chúa đoái thương nhìn tới, dành cho ta một lời mời danh dự, cao quý là dự “tiệc cưới Con Chiên”. Mà Con Chiên ấy chính là Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã từng bày tỏ: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4,13). Sở dĩ thánh Phaolô nói được như vậy là vì đối với ngài, Đức Giêsu Kitô chính là lẽ sống, là sức mạnh và là cùng đích. Ngài chỉ quan tâm một điều là đáp trả lời mời gọi Thiên Chúa dành cho Ngài ngang qua Đức Giêsu Kitô, vì thế mà Ngài sẵn sàng đón nhận tất cả. Còn đối với chúng ta, Thiên Chúa ở vị trí nào trong cuộc sống của chúng ta? Nếu chúng ta xem Chúa là trên hết và trước hết và là vua cả trời đất thì chúng ta sẽ sẵn sàng đáp lại lời gọi yêu thương của Ngài và lấy làm vui thích vì được Chúa đoái thương, mời gọi. Khi ấy, ta sẽ thấy rằng, “cơm áo gạo tiền” quan trọng thật nhưng hạnh phúc đời sau mới là cốt yếu. Nhờ đó, ta sẽ bớt phải lo nghĩ đến chuyện “no” hay “đói” nhưng là làm sao để có được hạnh phúc đời đời; Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (x. Ga 17,3).

Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha đã đoái nhìn, yêu thương và mời gọi chúng con vào “dự tiện cưới Con Chiên”. Xin Cha thương xót chúng con và giúp chúng con đừng quá bận tâm đến những sự chóng qua ở đời này, “no” hay “đói” nhưng là hạnh phúc đời đời là được dự tiệc cưới của Con Cha. Xin cũng giúp chúng con ngay ở đời này biết chuẩn bị cho mình y phục lễ cưới cho xứng hợp với lời mời gọi cao quý mà Cha dành cho chúng con. Amen.

Về mục lục

ÁO CƯỚI

Lm Vũđình Tường

Dụ ngôn vị vua kia tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử. Nhà vua lần đầu gởi thiệp mời đến thân hữu nhưng họ không đáp trả. Lần thứ hai, thay vì gởi thiệp, sợ thất lạc chăng, nhà vua sai gia nhân đến tận nhà từng thân hữu mời. Kẻ viện lí do việc gia đình, kẻ khác bận lo việc thương mại, kẻ khác nữa xỉ nhục, xua đuổi và có kẻ giết chết gia nhân. Coi thường không tham dự tiệc cưới của bạn thân giết chết tình thân hữu. Không thèm tham dự tiệc cưới của hoàng tử là một xỉ nhục cho nhà vua, hành động coi thường hoàng gia. Nhà vua buồn vì cách đối xử không thân thiện của các bạn hữu thì ít, nhưng có lẽ buồn hơn cả là cách họ đối xử tàn tệ với gia nhân thân tín hoàng gia. Gieo gió ắt gặt bão. Tất cả đều khởi sự bởi khách được mời, nhà vua sai lính tru giệt kẻ sát nhân. Những người tàn ác với người khác giờ chính họ trở thành nạn nhân. Không gì ngăn cản được tiệc cưới nhà vua định tổ chức cho hoàng tử. Thay vì mời thân hữu, nhà vua ra lệnh cho gia nhân mời bất cứ ai họ gặp trên đường phố. Người ta vui mừng đón nhận và tiệc cưới đầy tràn thực khách. Niềm vui nhà vua chợt tắt khi nhận ra có thực khách không tuân thủ quy luật tiệc cưới hoàng gia. Anh ta không những bị đuổi ra và còn bị lưu đầy trong ngục thất.

Dụ ngôn tiệc cưới là một dụ ngôn bất thường ở nhiều điểm. Thứ nhất, thực khách không dự tiệc cưới thì thôi, sao lại hãm hại người đi mời, kẻ vô tội. Thứ hai, trước tiệc cưới nhà vua sai lính giết kẻ phản loạn; tang thương, chết chóc, nhà tan, cửa nát, hình ảnh thêm lương trước đám cưới có phải là việc nên làm chăng? Nhà vua có dư thời gian trị tội kẻ phản loạn sau khi tiệc cưới hoàn thành. Thứ ba, thực khách bị tống ngục cũng là điều hơi lạ. Đuổi khỏi bàn tiệc, không cho tham dự, đã là xỉ nhục lắm rồi. Thứ tư, câu ‘kẻ được gọi thì nhiều mà được chọn tì ít’ (c.14) dường như không ăn nhập gì với tiệc cưới. Thứ năm ngôn từ trong dụ ngôn cũng bất thường. Đây là ngôn ngữ dùng cho ngày phán xét ‘Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc và nghiến răng’ (c.13). Câu này ám chỉ dụ ngôn tiệc cưới không phải là đám cưới trần gian, nơi xã hội mà chính là ám chỉ hình ảnh tiệc cưới nước trời. ‘Vua’ chính là Thiên Chúa, Vua vũ trụ. Gia nhân sai mời chính là các tiên tri, sứ giả của Thiên Chúa. Người được chọn mời là dân Israel. Người đầu đường, góc phố là dân ngoại nay trở thành dân riêng của Chúa. Áo cưới đây không phải là lụa là, gấm vóc, cũng không phải là tư cách cá nhân, mà chính là các nhân đức, đức hạnh. Thực khách không mặc áo cưới chính là người không có nhân đức, đức hạnh. Nơi khóc lóc, nghiến răng chính là nơi thiếu tình thương, thiếu bác ái. Kẻ giết gia nhân không phải tất cả dân Israel mà chính là người lãnh đạo trong dân. Phúc âm tuần trước nhắc đến nhóm này, họ là lãnh tụ Đền Thờ, Giới Trưởng Lão, Pharasiêu và Biệt Phái. Câu ‘kẻ gọi thì nhiều mà được chọn thì ít’. Có lẽ nhà vua nói với chính mình. Không phải những người được mời tất cả đều từ chối dự tiệc cưới. Một số từ chối, một số tham dự. Tuy nhiên so sánh với số thực khách mời đầu đường, góc phố, thì số được chọn quả là quá ít người tham dự. Như thế câu trên nói riêng cho đám thực khách được mời đầu tiên. Nhiều người được mời nhưng ít người chọn tham dự. Dụ ngôn nói về ngày phán xét. Kẻ tốt được tham dự tiệc cưới thiên quốc, kẻ xấu bị loại ra ngoài nơi tràn đầy đau thương, khổ ải.

Chúng ta, Kitô hữu, đáp lại lời Thiên Chúa mời gọi thành dân riêng Chúa, theo con đường vua tình thương hướng dẫn, bảo bọc. Chúng ta dâng lời cảm tạ vì Thiên Chúa kêu gọi chúng ta vào dự tiệc cưới Thiên quốc, nơi bình an thật, hạnh phúc tràn đầy, tình thương vô hạn.

Về mục lục

MẶC ÁO CƯỚI

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Thiên Chúa yêu thương tìm ngỏ lời và kết ước với loài người, trong khi loài người lại phản bội lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa. Dụ ngôn diễn tả sự phản bội ấy: “Người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán; những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi”.

Nhưng dù loài người có rắp tâm phản bội đến đâu, Thiên Chúa vẫn thủy chung trong tình yêu của mình. Chính trong tình yêu bền bỉ ấy, Thiên Chúa sai Con Một là Chúa Giêsu đến trần gian, đưa loài người vào dự tiệc tình yêu hạnh phúc với Người.

Đặc biệt, dụ ngôn làm nổi bật sự thủy chung bền bỉ ấy của Thiên Chúa. Thiên Chúa tiếp tục mời gọi hết lớp người này đến lớp người khác: “Những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”.

Tuy nhiên, khách được mời phải mặc áo cưới. Dự tiệc cưới thì phải mặc áo cưới. Đó là lẽ tự nhiên và hợp lý. Kitô hữu cũng vậy, một khi đã cam kết bước theo lời mời gọi của Thiên Chúa, họ phải có đời sống phù hợp. Họ phải “mặc áo cưới” để theo Người. “Mặc áo cưới” nghĩa là gì? Đó là:

– Trung thành thờ phượng, tín thác vào Chúa.
– Biết để Thiên Chúa làm chủ mọi năng lực sống trong đời mình.
– Luôn vững tin, cậy và yêu mến Thiên Chúa là Cha tuyệt đối thánh thiện. Đồng thời tin tưởng, cậy trông và yêu mến Chúa Giêsu, Đấng hy sinh thân mình vì ơn phần rỗi của chúng ta. Hướng về Chúa Thánh Thần, ta cũng dâng lên Người lòng tin, cậy, mến như với Ngôi Cha và Ngôi Con.
– Ăn năn sám hối chân thật vì sự kính trọng mà ta dành cho Thiên Chúa. Ngoài Người, không có ai đáng được kính trọng như thế.
– Đào tạo bản thân có trái tim trong sạch và gột rửa thường xuyên trí lòng bằng việc lãnh bí tích hòa giải để làm hòa cùng Thiên Chúa.
– Sẵng sàng hiệp thông và trao tặng lòng mến của mình đến mọi người.
– Thay đổi đời sống, làm sao ngày mai phải tốt, phải thánh hơn hôm nay.
– Xa tránh cám dỗ và tội lỗi, tập nhân đức, bỏ ý riêng sống theo ý Chúa.
– Bỏ ích kỷ cá nhân, mặc lấy bác ái, vị tha.
– Dẹp bỏ tham lam, ô uế, gian tà để xứng đáng đón tiếp tình yêu của Chúa.
– Bỏ hiềm khích, vô ơn, bất chính, mặc lấy lòng xót thương, lòng biết ơn.
– Bỏ sự hờ hững, vô tâm, mặc lấy lòng nhiệt thành, liên đới, cảm thông…
– Có trái tim rung động trước tình yêu của Chúa, không chai đá chỉ biết chạy theo những gian dối của trần gian.

Tóm lại, “mặc áo cưới” là mặc lấy tinh thần mới, lối nhìn mới, cách sống mới.

Vậy để có thể giữ tình trạng “mặc áo cưới” của mình lâu bền, chúng ta hãy chuyên chăm cầu xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng trí lòng, để có thể tỉnh táo luôn mà tẩy rửa linh hồn. Xin Chúa Thánh Thần ban sức mạnh, giúp ta kiên quyết đến cùng trên con đường theo đuổi sự thánh thiện. Xin Chúa Thánh Thần nắm lấy tay ta, để không trượt ngã trên đường theo Chúa suốt đời ta.

Và bản thân, hãy cộng tác với ơn của Chúa Thánh Thần để trung thành giữ cho mình luôn trong tình trạng “mặc áo cưới”, đó là ra sức chống trả mọi tư tưởng gian tà, quyết thực hành lề luật của Chúa, của Hội Thánh, không sống theo xác thịt với những đam mê dục vọng của nó.

Lạy Chúa, xin ban sức mạnh cho chúng con, để chúng con luôn biết “mặc áo cưới” mà theo Chúa. Xin Chúa đừng loại bỏ chúng con, nhưng xin cho chúng con được ơn tha thứ. Mai đây, khi đi qua cõi đời này, Xin Chúa cho chúng con hưởng thánh nhan Chúa muôn đời. Amen.

Về mục lục

BỮA TIỆC CỦA VUA TRỜI

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 Dụ ngôn nhà vua mở tiệc đãi khách được trích đọc hôm nay gợi lại cho chúng ta một bữa tiệc khác trọng đại hơn rất nhiều. Đó là tiệc Thánh thể.

Thánh lễ là một bữa tiệc thật nhiệm mầu. Bữa tiệc này vô cùng cao quý vì cung cấp cho khách mời thực phẩm đem lại sự sống đời đời, chứ không như tiệc trần gian, dù có ăn bao nhiêu rồi cũng phải chết.

Bữa tiệc này có hai món đặc biệt: thứ nhất là Lời Chúa và thứ hai là Mình Máu thánh Chúa.

Món thứ nhất: Lời Chúa.

Có thể gọi đây là đặc sản của thiên đàng.

Đây là kho tàng khôn ngoan của Thiên Chúa, được Chúa Giê-su mang từ trời xuống ban phát cho thế gian. Đây là Lời hằng sống, là lương thực thiêng liêng mang lại an vui đời này và hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. Không có thứ lương thực nào trên thế gian có thể sánh ví được.

Nhờ hấp thụ lương thực thiêng liêng này, nhiều người trên thế giới trải qua các thời đại được trở nên tốt lành, thánh thiện, đạo đức, nhân hậu, bao dung, quảng đại, sẵn sàng hiến dâng thân mình phục sự Thiên Chúa và phục vụ mọi người, điển hình là các thánh nam nữ đang được Giáo hội tôn vinh.

Món thứ hai là lương thực nhiệm mầu mà ngay cả các thiên thần cũng không được thưởng thức, đó là Mình Máu thánh Chúa Giê-su. Nhờ lương thực thiêng liêng và thần diệu này, các tín hữu được lãnh nhận nhiều hồng phúc vô cùng cao quý. Cụ thể là khi rước Chúa vào lòng, chúng ta nhận được hai hồng ân vô giá:

– Một là được kết hợp nên một với Chúa Giê-su, tan hòa vào Chúa Giê-su như ao nước nhỏ hòa chung với đại dương bao la. Nhờ đó, Chúa với ta không còn là hai nhưng chỉ là một, như lời Chúa phán: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở trong tôi và tôi ở trong người ấy” (Ga 6, 56).

Người phàm hèn mọn mà được nên một với Chúa, ở trong Chúa, cùng chung huyết nhục với Chúa Giê-su thì thật là nhiệm mầu và vô cùng diễm phúc!

– Hai là được sống đời đời với Chúa Giê-su.

Một khi đã được hòa chung nên một với Chúa Giê-su, thì sự sống thần linh, sự sống tuyệt vời, sự sống muôn đời của Chúa Giê-su sẽ được thông truyền qua cho chúng ta, y như sự sống toàn thân chuyển qua cho từng chi thể nhỏ. Thế là ta được mang sự sống đời đời của Chúa Giê-su trong thân xác mình; thế là ta sẽ được chung hưởng hạnh phúc thiên đàng với Chúa trên thiên quốc, như lời Ngài phán: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời” (Ga 6, 54).

Thế rồi, Chúa Giê-su tha thiết kêu mời mọi người từ muôn phương đến dự bàn tiệc cao quý Ngài thiết đãi.

Tiếc thay,

Nhiều người thích nghe những chuyện tào lao mà không muốn nghe những điều khôn ngoan đích thực.

Người ta khao khát của cải vật chất mà không quan tâm đến những giá trị tinh thần.

Người ta tìm kiếm lương thực giúp sống qua ngày mà chẳng thiết gì lương thực mang lại sự sống vĩnh hằng mai sau.

Vì thế, họ không màng gì đến tiệc thánh của Chúa Giê-su!

Thế là Chúa Giê-su, Người chủ tiệc, bị bẽ mặt, buồn phiền và cảm thấy bị xúc phạm.

Lạy Chúa Giê-su,

Nếu Chúa khoản đãi những bữa ăn chỉ giúp người ta sống qua ngày và kêu mời khách tứ phương đến tham dự thì phòng tiệc sẽ chật ních người và ngày nào thiên hạ cũng chen chúc tìm đến.

Tuy nhiên, khi Chúa dọn tiệc thánh, tiệc thần linh để cho những ai hưởng dùng thì được hấp thụ sự khôn ngoan đích thực bởi trời và được sống đời đời hạnh phúc với Chúa thì chỉ có ít người tham gia.

Xin cho chúng con biết quý trọng lương thực trường sinh hơn là thức ăn hư nát đời này, đừng viện đủ lý do để từ chối bữa tiệc của Chúa, nhưng thường xuyên đến tham dự tiệc thánh để được hưởng muôn vàn phúc lộc. Amen.

Về mục lục

TIỆC CƯỚI VÀ ÁO CƯỚI

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Tin mừng Matthêu 21,23-27, kể chuyện Chúa Giêsu tranh luận với giới lãnh đạo Do thái: “Đức Giêsu vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi ‘Ông lấy quyền nào mà làm các việc ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?’”.

Sau cuộc đối thoại với những kẻ tự bưng tai, che mắt, bịt miệng, Chúa lay tỉnh họ bằng ba dụ ngôn để vạch trần tâm địa của họ và cho họ biết cái gì chờ họ ở cuối con đường họ đang đi.

Dụ ngôn thứ nhất (Mt 21,28-32): suy niệm Chúa Nhật 26.

Dụ ngôn thứ hai (Mt 21,33-46): suy niệm Chúa Nhật 27.

Dụ ngôn thứ ba (Mt 22,1-14): suy niệm Chúa Nhật 28. Dụ ngôn tiệc cưới. Dụ ngôn này có hai mũi dùi: mũi dùi thứ nhất tiếp tục chĩa vào những kẻ được mời trước mà không thèm đến dự (cùng họ với người con thứ hai trong dụ ngôn thứ nhất và bọn tá điền coi vườn nho trong dụ ngôn thứ hai). Mũi dùi thứ hai, một trong những kẻ đầu đường xó chợ đã được vào thế chỗ dự tiệc nhưng lại không mặc áo cưới, chĩa vào những người đã tin, đã gia nhập Hội Thánh nhưng lại không sống đời sống mới. Đó là lời cảnh báo: Hội Thánh không phải là hãng bảo hiểm sinh mạng vô điều kiện, phép rửa không phải bùa hộ mệnh nhưng là khởi đầu một cuộc sống mới, và Hội Thánh là bàn tiệc Nước Trời ngay bây giờ cho những ai muốn thật sự theo Chúa Giêsu, mặc lấy Chúa Kitô nên đồng hình đồng dạng với Người (x.Cl 2-3; Pl 3; Ep 3-6), nhờ Lời Chúa và các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể nuôi dưỡng.(x.Tĩnh tâm với sách Tin mừng Matthêu, Lm Nguyễn Công Đoan. SJ).

Tiệc cưới

Trong dụ ngôn, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh tiệc cưới, vị vua tổ chức cho hoàng tử. Đây là một đại yến tiệc hoàng gia. Khách được mời là cấp hoàng tộc, giới thượng lưu và có địa vị cao trong xã hội. Tuy nhiên, những vị khách quý này đã tỏ ra khinh thường và hung bạo đối với các sứ giả nhà vua. Không những họ từ chối lời mời, mà còn nhục mạ và sát hại những người được vua phái đến. Vua tức giận trừng phạt những con người hung ác kia và cho gia nhân ra các ngả đường mời bất cứ ai, bất luận tốt xấu, đến dự tiệc và phòng tiệc chật ních khách mời. Qua dụ ngôn Tiệc Cưới, Chúa Giêsu tỏ rõ cho người Do thái biết rằng, họ chính là dân tộc được Thiên Chúa chọn làm dân riêng, là khách mời đặc biệt của bữa tiệc Nước Trời. Nhưng khi Chúa Giêsu đến, loan báo ngày mở tiệc và mời gọi họ, thì họ lại khước từ. Vì thế, Israel đã được thay thế bằng các dân tộc khác, kể cả những người ngoại giáo và tội lỗi. Bữa tiệc được mở rộng đến mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên thế giới.

Dụ ngôn tiệc cưới luôn mang tính thời sự. Những người từ chối dự tiệc cưới đã viện dẫn nhiều lý do chỉ vì họ không muốn đến. Thời nay, những người tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật cũng có rất nhiều lý do để biện minh. Người ta có trăm ngàn lý do để từ chối lời mời tha thiết của Thiên Chúa đến dự bàn tiệc Thánh Thể, bàn tiệc Lời Chúa. Nào là chuyện gia đình, bạn bè, chuyện làm ăn, chuyện học hành, chuyện giải trí, chuyện tương lai… nào là quá bận rộn không có thời gian. Có khi chỉ là một cuốn phim đang xem, một trận đá bóng trên tivi, một bữa nhậu… nhiều người đã bỏ lễ Chúa nhật. Có người nhân danh đạo tại tâm để từ chối dự lễ Chúa nhật. Có người viện lý do ghét người này người nọ để từ chối việc đến nhà thờ. Bên cạnh những người bỏ đạo còn có những người lấp lửng nửa vời. Họ nại vào lý do “có thực mới vực được đạo”. Họ không đi lễ vì phải lo kế sinh nhai, cơm áo gạo tiền. Khi rãnh mới đi lễ… Người ta nại vào rất nhiều lý do từ công ăn việc làm đến những lý do bận rộn với những sinh hoạt xã hội để từ chối các sinh hoạt đạo đức, từ chối tham dự thánh lễ. Người ta nại đến nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khó khăn để từ chối gặp gỡ, đón nhận Chúa qua anh chị em chung quanh, khước từ sống giới răn yêu thương của Chúa.

Thánh lễ chính là Tiệc Thánh Thể mà Thiên Chúa thết đãi cho chúng ta hưởng nếm trước hạnh phúc, vinh quang và sự sống thần linh. Mọi sinh hoạt Kitô giáo đều bắt nguồn và đặt nền nơi Thánh lễ ngày Chúa Nhật.Tham dự Thánh lễ Chúa Nhật là một bằng chứng trung thành với Chúa Kitô và với Hội Thánh, đồng thời các tín hữu hiệp thông với nhau trong tin yêu, nâng đỡ và khuyến khích nhau. Thu xếp công việc, dành ưu tiên cho Chúa, hân hoan dự bàn tiệc Thánh Thể. Khi đã vui hưởng Tiệc Thánh, mỗi người sẽ thêm nghị lực, thêm niềm tin, thêm tình yêu.

Tham dự Thánh lễ là bổn phận trước tiên và chủ yếu để thánh hóa ngày của Chúa, người tín hữu dành Chúa nhật cho những việc hữu ích và cần thiết khác theo ý muốn của Chúa. “Chúa Nhật và các lễ buộc khác, tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ; lại nữa, phải kiêng những việc làm, và những hoạt động làm cản trở việc thờ phượng Thiên Chúa, niềm vui riêng trong ngày của Chúa, hoặc việc nghỉ ngơi tinh thần và thể xác cần phải có” (GL 1247). Thời giờ ngày Chúa Nhật cũng có mục đích dành để sống với gia đình, trau đổi văn hóa nghệ thuật cũng như đạo đức, và để thăm viếng bạn bè, nhất là đến với những bệnh nhân, tàn tật, già yếu, cô đơn. “Mỗi người cần được hưởng đầy đủ sự nghỉ ngơi và thời giờ nhàn rỗi, để sống đời sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo” (MV 67).

Áo cưới

Đỉnh cao của dụ ngôn chính là vấn đề “y phục lễ cưới”. Ý nghĩa đạo đức hay luân lý của hình ảnh “y phục lễ cưới”: trách nhiệm luân lý, lương tâm ngay thẳng, những việc đạo đức và bác ái… Muốn tham dự tiệc cưới, vào bàn tiệc chưa đủ mà còn phải mặc y phục cho thích hợp. Y phục đó tượng trưng cung cách sống đạo, trang phục bằng những đức tính và tinh thần của Ðức Kitô. Là người Kitô hữu, cần sống cho xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu mới được vào Nước Trời. Ân sủng không chỉ là một quà tặng mà còn là một trách nhiệm phải chu toàn.

Chiếc áo cưới vào dự tiệc Nước Trời chính là ơn Thánh Tẩy của Bí tích Rửa Tội. Ngày chịu phép rửa tội, tất cả mọi Kitô hữu được nhắn nhủ: “Con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Ðức Ktiô. Chiếc áo trắng này là dấu chỉ tước vị của con. Nhờ lời chỉ bảo và gương lành của thân nhân giúp đỡ, con hãy mang nó tinh tuyền mãi cho đến cõi trường sinh.”

Mỗi một Kitô hữu đều có một bộ y phục lễ cưới, đó là chiếc áo trắng ngày chịu phép Rửa tội. Chiếc áo trắng ấy là tâm hồn thanh khiết của những người con Chúa đã được tẩy trắng trong máu Con Chiên. Chiếc áo trắng ấy được dệt bằng sợi tơ Lời Chúa mà người tín hữu phải nâng niu, gìn giữ suốt cuộc đời. Chiếc áo trắng ấy phải tinh tuyền cho đến ngày bước vào dự tiệc cưới trong Nước Trời.

Có người đã vào phòng tiệc mà vẫn bị mời ra, vì không mang y phục lễ cưới. Có người theo đạo mà vẫn không được vào Nước Trời vì họ đánh mất chiếc áo trắng ngày Rửa tội. Theo ý kiến của một số giáo phụ, chiếc áo cưới ám chỉ đức ái, tối thiểu là cuộc sống ăn ngay ở lành. Còn theo ý kiến của các nhà chú giải Kinh Thánh hiện đại, thì chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải hay sự trở về, tức là tinh thần sám hối chân thật.

Khi đến nhà thờ dâng thánh lễ ngày Chúa nhật, các Kitô hữu mặc y phục đẹp nhất của mình, chứng tỏ lòng kính trọng Thiên Chúa, tôn trọng anh chị trong cộng đoàn, và biểu lộ sự tự trọng  với bản thân mình. Mỗi lần tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta cũng phải mặc lấy y phục phẩm hạnh của bàn tiệc mà Chúa Giêsu đòi hỏi, đó là y phục của lòng tin, cậy, mến; y phục của lòng ăn năn sám hối và sự kính trọng đối với Thiên Chúa. Chiếc áo cưới của Kitô hữu không được dệt bằng lụa là gấm vóc, không được mua từ hàng hiệu đắt tiền nhưng chính là lòng khiêm hạ, lòng tin cậy mến Chúa, lòng mến đối với mọi người.

Từ Bàn Tiệc Thánh Thể hàng ngày, chúng ta sẵn sàng cho mình “y phục lễ cưới” để vào dự Tiệc Cưới Nước Trời. Trước khi được dự tiệc cánh chung, bữa tiệc Thiên quốc, mỗi ngày Chúa cho chúng ta được hưởng nếm tiệc Lời Chúa và tiệc Thánh Thể. Nơi đó, không những Chúa trao ban Lời Ngài, mà còn ban chính Thịt Máu Ngài để nuôi sống chúng ta. Qua bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta được qui tụ lại trong tình hiệp nhất yêu thương. Hãy đến với Chúa Thánh Thể để được lãnh nhận lương thực thiêng liêng cho tâm hồn mỗi ngày, miễn là chúng ta biết cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới trong Đức Kitô. Hãy gìn giữ chiếc áo trắng tinh tuyền ngày chịu phép Thánh Tẩy, “chiếc áo cưới” tượng trưng cho tâm hồn trong sạch giúp chúng ta xứng đáng được Thiên Chúa đón nhận vào dự tiệc Nước Trời mai sau.

Về mục lục

CHẤP NHẬN LỜI MỜI DỰ TIỆC NƯỚC TRỜI

Lm Trần Bình Trọng

Giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người mang đặc tính của bữa tiệc cưới. Mỗi giao ước giữa Thiên Chúa với loài người trong Thánh kinh Cựu ước được hiểu và cắt nghĩa theo  hình ảnh hôn nhân trong tiệc cưới.

Giao ước giữa Thiên Chúa và dân được chọn trong Cựu ước đi song song với giao ước giữa Chúa Kitô và Giáo hội trong Tân ước. Trong mối giao ước giữa Thiên Chúa và dân được chọn, Thiên Chúa được coi như vị hôn phu, còn dân riêng được coi như người hôn thê. Hình ảnh hôn nhân cũng được thánh Phaolô và thánh Gioan dùng để so sánh mối liên hệ giữa Chúa Kitô, được ví như vị hôn phu và Giáo  hội, được coi là hôn thê (2 Cr 11:2; Ep 5:22; Kh 19:7-9; 21:2; 22:17).

Dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử ghi lại những phản ứng khác nhau trước lời mời gọi đến dự tiệc cưới. Mời ai đến dự tiệc cưới là mong mỏi người ấy đến bàn tiệc. Tuy nhiên số khách được mời đợt đầu từ khước đến dự tiệc cưới. Lần thứ hai nhà vua lại sai đầy tớ đi khẩn khoản mời khách đến dự tiệc, nói với họ: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn sàng. Mời quí vị đến dự tiệc cưới (Mt 22:4). Tiệc cưới hôm nay có liên hệ đến bữa tiệc vui nước Trời mà ngôn sứ Isaia đã viễn kiến: Bữa tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế (Is 25:6).

Khi khách được mời dự tiệc từ chối, thì ông vua cho mời bất cứ ai vào tiệc cưới. Tuy nhiên khi vào phòng tiệc, ông vua bắt gặp một người không bận áo cưới và ra lệnh tống ngục anh ta. Làm sao ông vua có thể hy vọng người đang ở ngoài đầu đường xó chợ được mời vào dự tiệc cưới có thể bận quần áo thích hợp cho tiệc cưới được? Ông lại không đòi hỏi quá đáng chăng? Tuy nhiên theo phong tục Do thái thời bấy giờ, thì đôi khi nhà trai cung cấp vải cho khách được mời đến dự tiệc để họ tự may áo cưới. Chủ tiệc cưới cũng có thể may y phục tiệc cưới treo sẵn ngoài cửa phòng tiệc cưới cho khách vào bận. Nếu không biết có phong tục này thì người ta cho rằng ông vua đòi hỏi cách quá đáng và vô lí. Tuy nhiên theo đa số các học gỉả Thánh kinh thì có lẽ mẩu chuyện người khách không bận áo cưới là phần kết của câu chuyện khác, được thánh sử Mát-thêu lồng vào làm một với dụ ngôn dự tiệc cưới, nên khi đọc tiếp, nghe có vẻ đột ngột và khó hiểu.

Dầu sao đi nữa dụ ngôn mời dự tiệc cưới cho thấy nếu đã chấp nhận lời mời thì người ta phải theo phong tục dự tiệc cưới, một phong tục mặc áo cưới mà hầu như được coi như là luật lệ. Ai không bận là tỏ ra khinh chủ, là lỗi phong tục tiền nhân. Vì thế mà khi bị chủ vặn hỏi tại sao một người không bận y phục lễ cưới, người ấy thinh lặng vì không tìm được lý do bào chữa như nhà nghèo, không tiền may sắm, hoặc đang ở ngoài đồng không kịp về nhà thay quần áo cưới.

Theo cốt chuyện dụ ngôn thì tiệc cưới ám chỉ bàn tiệc nước Trời; nhà vua ám chỉ Thiên Chúa; con nhà vua ám chỉ Ðấng Cứu thế; đầy tớ chỉ về các ngôn sứ và các tông đồ; khách từ chối dự tiệc cưới ám chỉ dân được chọn trong Cựu ước; thành phố bị tàn phá ám chỉ Giêrualem bị phá huỷ năm bảy mươi. Cũng như trong dụ ngôn tá điền gian ác, vườn nho được trao cho tá điền khác là dân ngoại, thì trong dụ ngôn tiệc cưới, khách ngoài đường là dân ngoại và người tội lỗi cũng được mời vào dự tiệc cưới.

Y phục lễ cưới ở đây được hiểu theo nghĩa bóng là người được mời dự tiệc cưới nước Trời phải bận quần áo thích hợp cho cơ hội. Người được mời dự tiệc phải tỏ ra dấu hiệu nào đó là họ chấp nhận lời mời gọi một cách nghiêm chỉnh. Họ phải hội đủ những tiêu chuẩn, những đòi hỏi nào đó của Phúc âm. Áo cưới thích hợp họ phải bận là áo đức tin vào Ðức Kitô.

Tiệc cưới nước Trời được dành ưu tiên cho dân được tuyển chọn trong Cựu ước. Tuy nhiên dân được chọn lại coi thường, không đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa qua các ngôn sứ của Người. Gioan tiền hô, vị ngôn sứ cuối cùng trong Cựu ước đến kêu gọi dân chúng ăn năn sám hối để dọn đường cho Ðấng Cứu thế, thì họ giả điếc. Khi Ðấng Cứu thế đến, thì họ tẩy chay Người. Và khi dân được chọn từ khước, thì lời mời gọi dự tiệc cưới được gửi đến cho hết mọi người ở các ngả đường. Ðiểm này nói lên lòng quảng đại của đức vua. Tuy nhiên không phải vì thế mà việc vào ngồi bàn tiệc cưới không có điều kiện. Ðiều kiện vào ngồi bàn tiệc cưới là bận áo cưới.

Lời mời gọi dự tiệc cưới nước Trời cũng được tiếp tục gửi đến vô số người từ khi Giáo hội được thiết lập trong những hoàn cảnh và thời điểm khác nhau. Hôm nay mỗi người cần tự vấn lương tâm xem mình đang đáp trả laị lời mời gọi của Chúa như thế nào?

Lời cầu xin cho được tham phần vào bàn tiệc cưới nước Trời:

Lạy Chúa, chúng con xin cảm tạ Chúa

đã chiếu cố đến tổ tiên chúng con là dân ngoại.

Qua bí tích Rửa tội, Chúa đã kêu mời

tổ tiên chúng con đến tham dự tiệc cưới của Hoàng Tử.

Do đó con cũng được thừa hưởng phúc ấm của tổ tiên.

Xin cho con được trung thành với đức tin mà con đã lãnh nhận

để con được tham phần vào bàn tiệc nước Trời. Amen.

Về mục lục

ĐẠI TIỆC

Trầm Thiên Thu

Cuối tháng 09 năm 2020, khi Việt Nam bớt lo về dịch corona thì vẫn có những thứ đáng quan ngại khác. Một trong các mối quan ngại đó là cách cư xử ác ý của con người, cụ thể là cô gái trẻ Cà Thị Út (24 tuổi) đã nhẫn tâm “bom” 150 bàn tiệc cưới tại một nhà hàng ở P. Mường Thanh, TP. Điện Biên Phủ, mỗi bàn giá 1.350.000 đồng, hẹn tổ chức vào trưa ngày 30-09-2020. Nhưng rồi cô ta “biến mất” và không một thực khách nào tới. Đại tiệc hóa đại họa. Một cô gái trẻ người mà quá nhẫn tâm!

Chắc hẳn không ngẫu nhiên mà người Việt có câu: “Ăn có mời, làm có khiến.” Ở đây không có ý tiêu cực hoặc thụ động, mà có ý nói phép lịch sự tối thiểu trong giao tiếp thường nhật, và người ta cũng so sánh: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ.” Ai cũng đã từng đi dự tiệc, dù là trẻ em, vì xã hội càng phát triển, người ta càng có nhiều loại tiệc: Cưới hỏi, tân gia, đầy tháng, thôi nôi,… Không mặn nhiều cũng mặn ít, đơn giản nhất cũng là tiệc trà. Phú quý sinh lễ nghĩa, trẻ em ngày nay cũng thích tổ chức sinh nhật để có dịp vui với bạn bè. Có lẽ tiệc cưới là loại tiệc phổ biến – từ thành thị tới thôn quê.

Đám tiệc thì phải có ăn uống. Đó cũng là cách người ta mặc nhiên cho rằng “chuyện ăn uống” là vấn đề quan trọng, “ăn uống” chứ không “ăn uổng.” Thành ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi tiên.” Ý nói nhân dân coi vấn đề ăn là vấn đề to lớn nhất, cơ bản nhất trong cuộc sống (tr. 123, “Từ điển Thành ngữ Điển cố Trung quốc,” GS Lê Huy Tiêu biên dịch, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993). Câu đó có nguồn gốc từ một câu trong Hán Thư: “Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên” – Vua chúa lấy dân làm trời, nhân dân lấy (cái) ăn làm trời. Quả thật, ăn là vấn đề cần thiết, vì liên quan vấn đề sinh tồn. Ăn uống thể hiện văn hóa, đó là bài học thứ nhất trong bốn thứ phải học đầu tiên: Học ĂN, học NÓI, học GÓI, học MỞ. Có thể nói rằng miếng ăn cần thiết tương tự khí trời để hít thở, như điều kiện “ắt có và đủ” vậy. Tuy nhiên, miếng ăn có thể khiến người ta vinh dự hay nhục nhã.

Ai cũng phải cố gắng chịu đựng khi gặp đau khổ thì mới có thể hy vọng hạnh phúc sẽ đến sau. Các vị tử đạo đã không sợ đau khổ, dám thí mạng vì niềm tin vào Đức Kitô, và họ được Thiên Chúa thưởng công. Hai người yêu nhau, chung thủy và tin tưởng trong khoảng chờ đợi nhau, hạnh phúc sẽ mỉm cười với họ. Ai kiên trì sẽ được đền đáp xứng đáng. Có công mài sắt, có ngày nên kim. Khổ luyện là điều tất yếu.

Thời Cựu Ước, ngôn sứ Isaia cho biết: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế.” (Is 25:6) Toàn là cao lương mỹ vị, rất ngon, đáng mơ ước lắm. Không chỉ vậy mà còn hơn thế nữa, niềm vui khả dĩ nhân đôi: “Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người.” (Is 25:7-8) Thiên Chúa hứa như vậy, và chắc chắn như thế: “Đường lối Thiên Chúa quả là toàn thiện, lời Đức Chúa hứa được chứng nghiệm tỏ tường.” (2 Sm 22:31a)

Thật vậy, ngày ấy người ta sẽ cùng nhau râm ran: “Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông. Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ.” (Is 25:9) Tất cả rạch ròi, hai năm rõ mười: “Bàn tay Đức Chúa sẽ đặt trên núi này mà nghỉ. Còn Mô-áp sẽ bị giày đạp ngay tại chỗ, như rơm bị nghiền nát trong hố phân.” (Is 25:10)

Đức tin là một hồng ân, và cũng là một nhân đức. Tin Chúa là có Chúa trong lòng, có Chúa rồi thì chẳng còn gì phải bồi hồi, xao xuyến: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.” (Tv 23:1-3) Thật vậy, một lần khác, Thánh Vịnh gia cũng đã xác định: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay.” (Tv 37:5) Đó là hành động của đức tin, hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa quan phòng và tiền định. Những người thực sự tín thác vào Chúa thì chẳng có gì khiến họ lo lắng, sợ hãi, vì họ luôn hướng về Chúa, mọi nơi và mọi lúc, như Thánh Vịnh gia xác định: “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.” (Tv 23:4)

Kinh Thánh nói: “Như cột kèo chắc chắn trong toà nhà, dù động đất cũng chẳng lung lay; một tâm hồn cương quyết theo kế hoạch đã định, gặp thời vận hạn cũng không nao núng.” (Hc 22:16) Sau gian truân, thử thách, đau khổ, người trung tín sẽ được Thiên Chúa tuyên dương công trạng: “Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa.” (Tv 23:5) Hạnh phúc biết bao, chắc hẳn không ai có thể hoãn lại cái sự sung sướng đó, mà phải bày tỏ cho người khác biết: “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.” (Tv 23:6) Sự thật không thể giấu giếm, niềm vui không thể đè nén.

Giống như Thánh Phaolô, các tín nhân sẵn sàng chấp nhận mọi thứ mà không đòi hỏi: “Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết. Tuy nhiên, anh em đã chia sẻ với tôi, khi tôi gặp cơn quẫn bách, như thế là phải.” (Pl 4:12-14) Đối với những người có đức tin vững mạnh, chắc chắn không có gì có thể tách rời họ khỏi tình yêu của Đức Kitô, (x. Rm 8:35) bởi vì họ luôn tâm niệm lời Ngài nhắn nhủ và động viên: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian!” (Ga 16:33)

Có ý động viên người khác, Thánh Phaolô nói rõ ràng với niềm tín thác kiên định: “Thiên Chúa của tôi sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Đức Kitô Giêsu. Xin tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng ta, đến muôn thuở muôn đời! Amen.” (Pl 4:19-20) Và Thánh Vịnh gia cũng mời gọi mọi người: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (Tv 34:9) Chắc chắn bất cứ ai đã ít nhiều cảm nghiệm sự ngọt ngào của Chúa thì cách sống của họ cũng hoàn toàn khác. Thiên Chúa luôn mời gọi mọi người đến với Ngài, bất cứ lúc nào, càng sớm càng tốt.

Dụ ngôn “tiệc cưới” (Mt 22:1-14 ≈ Lc 14:15-24) là cách thể hiện lời mời gọi chân thành của Thiên Chúa dành cho mọi người – không trừ ai. Thực sự Ngài muốn con người hoàn thiện để xứng đáng hưởng phúc trường sinh mà Thiên Chúa dành cho những ai tin nhận và tôn thờ Ngài.

Kể dụ ngôn là đặc điểm mỗi khi Chúa Giêsu giảng thuyết. Chính Chúa Giêsu đã nói với dân chúng về dụ ngôn Tiệc Cưới. Ngài nói rằng Nước Trời giống như chuyện một ông vua mở tiệc cưới cho con mình. Ông sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, nhưng họ không chịu đến. Ông lại sai gia nhân đi mời quan khách đã được mời, nói rõ rằng cỗ bàn đã dọn xong, cao lương mỹ vị đã sẵn. Nhưng họ viện đủ cớ bận rộn để thoái thác: thăm trại, buôn bán,… thậm chí có kẻ còn bắt các đầy tớ, sỉ nhục và sát hại họ.

Nhà vua nổi cơn thịnh nộ khi nghe tâu lại, ông liền sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng, rồi ông nói với đầy tớ: “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã ĐƯỢC MỜI lại KHÔNG xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.” Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, mời mọi người đến dự tiệc cưới, bất kể họ là ai.

Theo phong tục Do Thái, tiệc cưới thường đãi ban đêm, và có phòng cho mọi người thay lễ phục rồi mời vào phòng tiệc. Đến giờ cử hành hôn lễ, nhà vua tiến vào, quan sát và chợt thấy có một người KHÔNG mặc y phục lễ cưới, nhà vua hỏi: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” Người ấy cúi đầu lặng thinh, không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch: “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.” Thật đáng quan ngại!

Chúa Giêsu đã cảnh báo điều đó. Phải chăng chỉ ít người được vào Nước Trời? Rất có thể. Bởi vì người ta chỉ “giật mình” khi nghe lời Chúa “chạm” đến chính mình, nhưng rồi đâu lại vô đó. Con người vốn yếu đuối, dễ “lờn thuốc,” không cố gắng thì “ngựa quen đường cũ,” lại sa đà ngay thôi. Có phải chúng ta được “cài đặt” mặc định với cái tên “Nguyễn Y Vân” (vẫn y nguyên) hoặc “Vũ Như Cẩn” (vẫn như cũ) chăng? Người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời.” Thực sự rất khó để “cởi bỏ” con-người-cũ để có thể “mặc lấy” con-người-mới. Xuống dốc “khỏe” hơn leo dốc. Vì thế mà phải tỉnh thức và nỗ lực rất nhiều, nỗ lực triền miên và không ngừng. Ước gì chúng ta được có tên trong danh sách “số ít được chọn” ấy. Đó mới là niềm vui đích thực của tín nhân.

Là tín hữu Công giáo, chúng ta luôn được mời gọi tham dự hai bữa tiệc: Tiệc Lời Chúa và Tiệc Thánh Thể. Thật vậy, trong mỗi Thánh Lễ, linh mục đại diện Chúa Giêsu vẫn tha thiết mời gọi: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.” Thật là diễm phúc nếu chúng ta đón nhận chính Đức Giêsu Kitô vào lòng để được hòa tan vào Ngài, tâm sự với Ngài. Sau rước lễ, nên dành những giây phút quý giá và hiếm hoi để “hòa tan” vào Đức Giêsu Kitô – hòa tan cả linh hồn và thể lý. Chúa Giêsu muốn ở gần chúng ta – không rời dù chỉ trong tích tắc – nên Ngài mới thiết lập Bí tích Thánh Thể, đúng như Ngài đã nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20)

Tình yêu của Chúa Giêsu quá lớn lao, chúng ta không đủ mức để hiểu thấu. Câu nói đó là lời hứa của Chúa Giêsu, cũng là câu cuối cùng của Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, và cũng chỉ có Phúc Âm này ghi lại câu này. Mọi điều Chúa hứa đều ứng nghiệm chính xác: “Ai kính sợ Người, Người ban phát của ăn; giao ước đã lập ra, muôn đời Người nhớ mãi.” (Tv 111:5)

Lạy Thánh Phụ chí thánh, xin cảm tạ Ngài đã ban Thánh Tử Giêsu cho chúng con, xin giúp chúng con biết chuẩn bị “áo cưới” để xứng đáng tham dự Tiệc Lời Chúa và Tiệc Thánh Thể, nhất là Đại Tiệc Thiên Quốc vĩnh hằng. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con biết siêng năng kết hiệp với Ngài và được sống dồi dào, (Ga 10:10) xin giúp chúng con nhận thức rằng không có Ngài thì chúng con không thể làm được gì. (Ga 15:5) Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng Thánh Phụ với Thánh Thần muôn đời, và là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 28 TN_A

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Với hình ảnh bữa tiệc, các ngôn sứ mô tả niềm vui tương lai mà những người công chính được hưởng trong thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc vào thời cánh chung, đồng thời ơn cứu độ được thực hiện cho muôn dân nước vào thời thiên sai. Bàn tiệc cánh chung và bàn tiệc thiên sai trộn lẫn với nhau ít nhiều trong cùng một biểu tượng.

Is 25: 6-9

Trong đoạn trích “khải huyền của I-sai-a”, bàn tiệc mà Thiên Chúa thiết đãi cho muôn dân là bàn tiệc cánh chung. Đây là niềm vui của những người được tuyển chọn, theo đó mọi đau khổ và sự chết hoàn toàn biến mất trong Thiên Quốc.

Pl 4: 12-14, 19-20

Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô bày tỏ tâm tình tri ân đối với cộng đoàn Ki-tô hữu này. Trái với thông lệ của mình, ngài đã chấp nhận sự trợ giúp vật chất của họ khi ngài gặp phải sự khốn khó trong cảnh giam cầm.

Mt 22: 1-14

Tin Mừng là dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử mà Đức Vua thiết đãi cho các vị quan khách của mình. Những quan khách được mời lại từ chối. Lời mời được gởi đến cho tất cả mọi người.

BÀI ĐỌC I (Is 25: 6-9)

Bản văn này bao gồm các chương 24-27, đây là một phân đoạn đặc thù của sách I-sai-a, thuộc thể loại “sấm ngôn khải huyền”. Người ta nghi ngờ tác giả của phân đoạn này không phải là ngôn sứ I-sai-a đệ nhất, bởi vì văn phong và tư tưởng thuộc thời đại sau này.

Viễn cảnh là thời cánh chung hòa lẫn với viễn cảnh thời thiên sai. Hình ảnh bàn tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân, diễn tả ơn cứu độ phổ quát cũng như niềm vui chan chứa của những người được tuyển chọn.

  1. Viễn cảnh thời cánh chung

“Ngày ấy, trên núi này,

Thiên Chúa sẽ thiết đãi muôn dân một bữa tiệc”.

“Trên núi này”, đó là núi Xi-on trên đó Đền Thờ được xây dựng. Theo ngôn ngữ khải huyền, “núi Xi-on” chỉ thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc, nơi Thiên Chúa thiết tiệc đãi “muôn dân muôn nước”. Ơn gọi phổ quát của núi thánh đã được ngôn sứ I-sai-a loan báo, chính xác vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên:

“Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa

đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao,

vươn mình trên hết mọi ngọn đồi.

Dân dân lũ lượt đưa nhau tới,

nước nước dập dìu kéo nhau đi” (Is 2: 1-5).

 Cũng được chính vị ngôn sứ này nhắc lại:

“Vầng ô thẹn mặt, bóng nguyệt hổ mày,

vì Đức Chúa các đạo binh hiển trị

trên núi Xi-on và tại Giê-ru-sa-lem” (24: 23).

Vào thời hậu lưu đày, ngôn sứ Da-ca-ria cũng loan báo theo cùng một viễn cảnh như thế (Dcr 8: 20-23). Thời cánh chung sẽ là thời điểm Đức Chúa ngự trị. Bữa tiệc cánh chung là bữa tiệc hoàng gia. Đức Giê-su sẽ lấy lại chủ đề này trong dụ ngôn “tiệc cưới hoàng gia” (Mt 22: 1-14).

Trong bữa tiệc này, thức ăn và thức uống đều hảo hạng:

“Tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon,

thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế”.

Phẩm chất hảo hạng của bữa tiệc thắp sáng tấm lòng ưu ái của Thiên Chúa đối với khách mời. Cho đến lúc đó, trong các hy lễ “thịt béo” luôn luôn được dành riêng dâng lên Thiên Chúa (Lv 3: 3-5, 9-11, 14-15). Điều đó muốn nói lên rằng con người sẽ được dự phần vào những thiện hảo được dành riêng cho Thiên Chúa.

Trong Kinh Thánh, rượu luôn luôn là dấu chỉ của niềm vui. Vào dịp này, “rượu ngon” là niềm vui vĩnh viễn:

“Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân,

và tấm màn liệm bao trùm muôn nước.

Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần”

Sách Khải Huyền của thánh Gioan sẽ lấy lại viễn cảnh chan chứa hy vọng này: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21: 4).

  1. Viễn cảnh thời thiên sai

Sấm ngôn hoàn tất với bài ca cảm tạ tri ân về những thiên ân chưa từng được ban cho và một niềm tin tưởng vô bờ:

“Ngày ấy, người ta sẽ nói: ‘Đây là Thiên Chúa chúng ta,

chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ.

Chính Người là Đức Chúa, chúng ta từng đợi trông.

Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ’”.

Niềm vui tròn đầy, sự no thỏa dư dật cũng sẽ là những dấu hiệu thời thiên sai như tiệc cưới Ca-na hay phép lạ hóa bánh ra nhiều, dấu chỉ của bữa tiệc thiên sai đích thật: bữa tiệc thánh thể: “Hãy cầm lấy mà ăn”.

BÀI ĐỌC II (Pl 4: 12-14, 19-20)

Đoạn trích thư hôm nay là phần kết thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê.

  1. Chấp nhận sự trợ giúp của cộng đoàn tín hữu Phi-líp-phê

Xin nhắc lại, thánh nhân viết bức thư này khi ngài đang sống trong cảnh giam cầm hoặc ở Rô-ma hoặc ở Ê-phê-xô. Cộng đoàn tín hữu Phi-líp-phê đã giúp đỡ thánh nhân trong hoàn cảnh bị giam cầm, vả lại đây không là lần đầu tiên (x. Pl 4: 16). Quả thật, các tín hữu Phi-líp-phê là cộng đoàn duy nhất mà thánh nhân đã không từ chối giúp đỡ vật chất. Thánh nhân luôn bận lòng là không bao giờ trở thành gánh nặng cho các cộng đoàn mà ngài loan báo Tin Mừng để không bao giờ làm hại đến sứ vụ của ngài. Để người ta có thể tin rằng lời loan báo Tin Mừng của ngài là vô vị lợi, thánh nhân đã không ngừng lặp đi lặp lại Tin Mừng mà ngài đem đến là một ân ban nhưng không, như “đầy tớ” của Đức Ki-tô, Đấng không mong chờ bất kỳ bổng lộc nào. Dù trong hoàn cảnh nào, thánh nhân đã lao động bằng chính đôi tay của mình để cung cấp cho nhu cầu của mình: “Chúng tôi phải vất vả và tự tay làm lụng. Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu” (1Cr 4: 12).

Tuy nhiên, do mối thân tình và niềm tin tưởng của thánh nhân đối với các tín hữu Phi-líp-phê, ngài chấp nhận sự giúp đỡ của họ, vì biết rằng nghĩa cử của họ biểu lộ tấm lòng yêu mến chân thành của họ đối với ngài.

  1. Hài lòng trong mọi hoàn cảnh

Thánh Phao-lô tế nhị cám ơn họ và xin họ đừng bận lòng thái quá đối với ngài, vì thánh nhân biết hài lòng trong mọi sự và thích nghi với mọi hoàn cảnh. Người ta có thể gặp lại cách nói tương tự dưới ngòi bút của các triết gia khắc kỷ như Épictète hay Sénèque. Nhưng trong khi các hiền triết này múc lấy nguồn bình an tự tại nơi chính mình, thánh Phao-lô đánh dấu sự khác biệt: múc lấy sức mạnh của mình chỉ từ Đức Ki-tô, Đấng sống trong thánh nhân.

Vị sứ đồ muốn các tín hữu hiểu rằng ngài không muốn bị ràng buộc với bất cứ ai, ngài quyết tâm gìn giữ sự tự do của mình như ngài viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Chúng tôi chịu đựng tất cả mọi sự để khỏi gây trở ngại cho Tin Mừng của Đức Ki-tô” (1Cr 9: 12).

  1. Cám ơn tấm lòng của cộng đoàn tín hữu Phi-líp-phê

Thánh Phao-lô bày tỏ lòng biết ơn chân thành của ngài đối với các tín hữu Phi-líp-phê, bởi vì thánh nhân biết rất rõ cộng đoàn Phi-líp-phê không giàu có gì. Quả thật, trong bức thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô về việc lạc quyên giúp Giáo Hội Giê-ru-sa-lem, chúng ta đọc thấy những lời này: “Trải qua bao nỗi gian truân, họ (các tín hữu Phi-líp-phê) vẫn chan chứa niềm vui; giữa cảnh khó nghèo cùng cực, họ trở nên những người giàu lòng quảng đại. Họ tự nguyện theo sức họ, và tôi xin làm chứng là quá sức họ nữa” (2Cr 8: 2-3).

Dù không muốn nhận bất kỳ sự giúp đỡ từ bất cứ ai, thánh Phao-lô biết rằng những quà tặng của các tín hữu Phi-líp-phê vượt quá con người của ngài. Chúng đẹp lòng Thiên Chúa. Đó thật sự là một sự giàu có tinh thần. Thánh nhân có thể nói về các tín hữu Phi-líp-phê như thánh Lu-ca nói về bà Ta-bi-tha ở Gia-phô: “Họ đầy công đức vì những việc lành và bố thí họ đã làm” (Cv 9: 36). Vì thế, họ tôn vinh Thiên Chúa.

Trong phần cuối thư, thánh nhân ngỏ lời trước hết với “Thiên Chúa của tôi”, vì Thiên Chúa sẽ thay thánh nhân trả công bội hậu cho những người làm phúc cho thánh nhân; tiếp đó với “Thiên Chúa là Cha chúng ta”, vì Thiên Chúa là Cha đầy lòng từ bi nhân hậu sẽ săn sóc các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của thánh nhân.

TIN MỪNG (Mt 22: 1-14)

Dụ ngôn này cùng với hai dụ ngôn đi trước: dụ ngôn hai người con và dụ ngôn những tá điền gian ác, hình thành nên một bức tranh bộ ba theo cùng một chủ đề: lương dân thay thế dân tuyển chọn, dân bất trung với sứ mạng của mình. Tuy nhiên, có một sự tiến triển: trong dụ ngôn tiệc cưới, dấu nhấn được đặt trên ơn cứu độ phổ quát. Dụ ngôn này chứa đựng hai bài học: bàn tiệc thời thiên sai và bàn tiệc thời cánh chung, cả hai viễn cảnh này rất thường được đặt chồng lên nhau (như trong trường hợp Bài Đọc I).

  1. Bàn tiệc thời thiên sai (22: 1-7)

Như trong sấm ngôn khải huyền của Bài Đọc I, hình ảnh bàn tiệc gợi ra sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài trong niềm vui cứu độ. Trong dụ ngôn, “Đức Vua” đại diện Thiên Chúa, “Người Con” đại diện Đấng Cứu Thế, và “tiệc cưới hoàng gia” là giao ước mới, giao ước vĩnh viễn của Thiên Chúa với nhân loại. Các quan khách được đức vua ưu ái gởi thiệp mời trước, sau đó sai đầy tớ đến nhắc lại, không thèm đếm xỉa tới giao ước mới này, đó là dân Ít-ra-en, họ từ chối nhận ra Đức Giê-su là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ. Vài quan khách còn đi xa hơn nữa, họ ngược đãi và giết chết các gia nhân của vua.

Họ chẳng những không đáp trả lời mời dự phần vào vương quốc thiên sai, hình ảnh của Giáo Hội, nhưng còn bách hại các gia nhân mà vua sai đến với họ, vì thế “nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng”. Trong bối cảnh Kinh Thánh, cách hành xử của nhà vua như thế là những án phạt Thiên Chúa giáng xuống trên những kẻ gian ác này, nhưng ở đây dường như là một trong những lời tiên báo trực tiếp của Đức Giê-su về cuộc tàn phá thành thánh Giê-ru-sa-lem vào năm 70 Công Nguyên bởi đạo quân Rô-ma.

Thành phố bị thiêu hủy, tuy nhiên tiệc cưới vẫn được tiến hành. Các quan khách từ chối lời mời được thay thế. Lời mời gọi được vang lên khắp các ngã đường: “Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai thì mời hết vào tiệc cưới”. Dụ ngôn nhấn mạnh tính nhưng không của lời mời gọi: toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc màu da, tốt xấu, được mời gọi thay thế dân Ít-ra-en bất trung: “Gia nhân liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại”. Sự chọn lựa giữa người tốt kẻ xấu sẽ xảy ra sau này vào thời cánh chung như trong dụ ngôn lúa tốt và cỏ lùng hay trong dụ ngôn chiếc lưới.

Trong cùng một câu chuyện của mình, thánh Lu-ca ghi nhận các đầy tớ ra các ngã đường đến hai lần (Lc 14: 21-24). Trong lần thứ nhất, các đầy tớ mời các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào tham dự tiệc cưới; trong lần thứ hai, tất cả những khách qua đường. Có lẽ thánh Lu-ca đã nghĩ trước hết đến những “người nghèo của Đức Chúa”, những người mà Đức Giê-su ưu ái đặc biệt, họ đã hoan hỷ tiếp đón Tin Mừng và đã dự phần vào niềm vui thiên sai, vì thế, họ không thể nào bị loại ra ngoài. Hạng người thứ hai là lương dân, đây là nét tinh tế của thánh Lu-ca khi đề cập đến hạng người này.

  1. Bàn tiệc thời cánh chung (22: 8-14)

Từ bàn tiệc thời thiên sai, dụ ngôn chuyển sang bàn tiệc thời cánh chung. Có sự khác biệt đáng kể giữa bàn tiệc thời thiên sai và bàn tiệc thời cánh chung. Trong bàn tiệc thời thiên sai, mọi người đều được mời tham dự, dù tốt hay xấu, công chính hay tội lỗi (không phải lời mời gọi của Đức Giê-su đặc biệt ngỏ lời với những người tội lỗi sao?). Trái lại, trong bàn tiệc thời cánh chung, nghĩa là trong Nước Trời, người ta chỉ được phép tham dự khi mặc y phục của những người công chính.

Trong Tin Mừng Mát-thêu, lời chất vấn của đức vua: “Này bạn”, luôn hàm chứa sắc thái khiển trách như chủ vườn nho nói với tá điền của giờ thứ nhất: “Này bạn”, hay Đức Giê-su nói với ông Giu-đa đến bắt Ngài: Này bạn”.

Làm thế nào có thể trách cứ người khách này không mặc y phục lễ cưới khi mà anh được mời vào dự tiệc cưới bất ngờ từ ngoài đường? Tại vài dân tộc Đông Phương, gia chủ đã tiên liệu vài y phục lễ cưới cho khách mời ở lối vào tiệc cưới. Một tập tục như vậy không được chứng nhận ở Ít-ra-en. Vì thế, không nên quá coi trọng vài chi tiết nhỏ nhặt của dụ ngôn. Ý nghĩa thật sự rõ ràng: không ai được phép dự phần vào bàn tiệc Nước Trời, nếu như đã không chu toàn những đòi hỏi Tin Mừng như lời dạy của thánh Phao-lô: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô” (Gl 3: 27). Mặc lấy Đức Ki-tô, chính là: “Phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4: 22-24).

Câu cuối: “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít”, rõ ràng không ăn khớp với phần thứ hai của dụ ngôn mô tả bàn tiệc thời cánh chung, trong đó một số lượng lớn khách được mời dự tiệc trong khi chỉ riêng một người bị loại. Đúng hơn câu cuối này liên quan đến phần thứ nhất của dụ ngôn mô tả bàn tiệc thời thiên sai, trong đó một ít người dân Ít-ra-en, dân tuyển chọn, được dự phần vào bàn tiệc thiên sai, khi so sánh với muôn dân nước hân hoan tiếp đón Tin Mừng, tham dự bàn tiệc thiên sai, gia nhập Giáo Hội.

Về mục lục

LỜI YÊU THƯƠNG

Lm. Jos DĐH.

Cuộc sống mỗi người được ví như cuốn sách: kẻ không bình thường ngáo ngán muốn lật giở sang trang cho mau lẹ, các vị khôn ngoan vừa đọc vừa suy gẫm, người tài cao đức rộng không những nghiền ngẫm, mà còn sớm đem cái biết của mình ra thực hành. Người nói hay gặp kẻ nghe giỏi thì quả là hết ý, hiểu biết rồi sống tốt, sống đẹp, đời này còn gì hạnh phúc hơn. Đến, đi, ki cóp và thụ hưởng, có phải đó là bức tranh cuộc sống quá phức tạp: thiên hạ ồn ào vì lợi mà đến, thiên hạ náo nhiệt cũng vì lợi mà đi. Người ta không nghe, không hiểu, dửng dưng với lời hay ý đẹp, chưa chắc đã phải vì trầm cảm, đúng hơn vì họ bận tâm đến nhu cầu khác.

Xã hội từ xa xưa vẫn hiểu rằng, đi ăn tiệc cưới là cùng chia sẻ hạnh phúc với gia chủ, gọi là nợ đồng lần, nay người mai ta ; đồ ăn thức uống của chúa hay của chùa, luôn được coi là dồi dào vô tư, ai nhanh kẻ ấy có. Được mời gọi đến dự tiệc cưới “hoàng tử”, mấy ai không hiểu đó là vinh dự. Im lặng không đáp lời các đấng bậc sinh thành đã là xúc phạm, từ chối không hưởng ứng lời kêu gọi của vua chúa quan quyền là trọng tội, đáng chết. Cuộc sống trớ trêu: người khôn cho rằng đời là một giấc mơ, kẻ dại quan niệm đời là cuộc vui chơi, người nghèo hiểu cuộc đời là một bi kịch, kẻ giầu sang cho rằng sống là phải ăn, phải hưởng thụ. Tuỳ tự do mỗi người, nghe lời yêu thương, sống lời yêu thương, chính là đáp lại lời mời dự tiệc Nước-trời cách hữu hiệu nhất.

Dẫn lời yêu thương bằng dụ ngôn nhà vua tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử, Chúa Giêsu diễn tả Nước-trời thật “tưng bừng” như đại tiệc: thịt béo rượu ngon luôn sẵn sàng. Nước-trời rộng mở cho mọi đối tượng, ai cũng vinh dự được mời tiến vào, dù đến hưởng phúc phải tuân thủ qui định: “mặc áo cưới”. Lời yêu thương rất cụ thể của người đói khát cơm bánh, là cần được no bụng, lời yêu thương đối với học sinh, sinh viên, là kiến thức, là bằng cấp, với người đau bệnh, lời yêu thương nhất là gặp được thầy được thuốc. Lời yêu thương mà Chúa Giêsu muốn chúng ta nghe, hiểu: “này cỗ bàn đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn sàng, mời quý vị đến dự tiệc”.

Hạnh phúc Nước-trời sẽ gần sát và thực tế hơn, khi ta nghe được lời yêu thương, ta biết buông bỏ những ham hố sự đời, bỏ cái tôi ích kỷ, hầu minh chứng một niềm tin Thiên Chúa Đấng giầu lòng xót thương. Cũng vì đeo đuổi thứ hạnh phúc chóng qua, bỏ mồi bắt bóng, người ta đánh mất mình, mất cả vinh dự được hưởng nếm bàn tiệc với triều thần. Vì cường độ tin yêu chưa đủ mạnh, nguy cơ ngã gục bởi tiền tài danh vọng cuốn hút, rồi lỡ hẹn với các đấng bậc, không thể nói lời yêu thương, dù là lời yêu nhỏ, tình thương bé. Vấn nạn mà bậc sinh thành từ xa xưa hằng “lăn tăn”, thế nào là yêu con yêu cháu, đâu là phương pháp giáo dục đúng, chuẩn ? Con đường đi đến thành công, chỉ cần tự tin, đầu tư đúng chỗ, đúng thời điểm. Thành quả của việc giáo dục con cháu, không phải là tài giỏi, mà hệ tại gương sáng, lời nói, việc làm.

Dụ ngôn nhà vua tổ chức tiệc cưới cho hoàng tử, sẽ là câu trả lời cho muôn thế hệ: “hiểu và sống lời yêu thương”, nhất thiết phải được minh chứng bằng hành động . “Tiệc cưới đã sẵn sàng, mà những kẻ được mời không đến, vậy các ngươi hãy ra các nẻo đường gặp ai cũng mời vào hết. Đầy tớ theo ý chủ liền ra đi, gặp ai bất luận tốt xấu, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách”. Thực ra, lo lắng cơm áo gạo tiền là trách nhiệm, là bổn phận, nghỉ ngơi, mua sắm, là nhu cầu riêng tư, không ai bắt tội. Bỏ qua lời yêu thương của Thiên Chúa, từ chối không đáp lại lời mời tham dự bàn tiệc Nước-trời, là dại dột, là đáng chết. Đặt mình vào hoàn cảnh của dụ ngôn, liệu ta có đủ khôn, đủ ý chí, phân biệt thật giả, chiến thắng bản thân, thắng những vinh hoa phú quý ở đời không ?

Nếu có, nghe, hiểu, và sống lời yêu thương của Chúa, chắc chắn tiệc Nước-trời sẽ là phần thưởng. Chúng ta sẽ nghĩ gì, khi người trẻ hôm nay quả quyết rằng: dù nhiều bận rộn, nhưng “tớ” vẫn thích, vẫn đủ thời gian đọc tin nhắn, nhất là tin từ một người “tớ” thương mến. Dù khổ đau, hay hạnh phúc, dù non trẻ hay lão làng, dù địa vị cao hay thấp, bậc sinh thành, hẳn vẫn muốn chúng ta mang tinh thần người quân tử: vững như kiềng ba chân, nghe được, hiểu được, và sống được, khi gặp khó khăn, khi gặp thuận lợi. Nhất định người tài cao đức dày, không phải là họ mình đồng da sắt, người thông thái không phải là họ biết mọi điều tốt xấu, đúng, hơn họ là người biết nghe, biết mình cần được nâng đỡ bổ sức. Xin Đấng là Thầy là Chúa, giúp chúng con biết nghe, biết nói và biết sống lời yêu thương cách trọn vẹn nhất. Amen.

Về mục lục

SAO KHÔNG MẶC Y PHỤC LỄ CƯỚI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Một người khách ngoài đường phố, bất ngờ được mời vào bàn tiệc cưới và chủ tiệc cưới lại bắt lại anh ta không mặc y phục cưới, là sao? Và tại sao nhiều người được mời vào từ các ngã đường cũng được mời vào, chỉ có một người không mặc y phục lễ cưới? Dụ ngôn được hiểu tiệc cưới đã được báo trước và cần sẵn sàng.

Tiệc cưới là gì để sẵn sàng?

Tiệc thường đi đôi với lễ, thường người Việt dùng từ “lễ lạc”. Khi bữa tiệc sau lễ không chỉ là chung vui với nhau, nhưng đặt lễ lên hàng đầu, tiệc còn mang ý nghĩa thừa hưởng niềm vui cùng với Thiên Chúa và các thần thánh trên trời.

Tiệc còn là chia sẻ sự sống với Thiên Chúa, cùng chia sẻ sự sống muôn đời thần thánh trên trời đã được hưởng phúc, qua bàn tiệc trần gian. Một sự sống thiêng liêng nuôi dưỡng linh hồn trong khi dùng của ăn nuôi sống thể xác trên hành trình dương thế. Lý do đó, người Công Giáo còn mời chủ tế, chủ tiệc, ban phép lành bữa tiệc, hay đọc kinh, trước khi mọi người dùng bữa.

Như vậy, tiệc mang một ý nghĩa trang trọng chứ không thể hạ thấp như là bữa cỗ liên hoan, bàn nhậu… Tục hóa bàn ăn, bàn tiệc, là một điều nên tránh, để của ăn thân xác không dẫn vào đường tội lỗi.

Tiệc cưới trong Thánh Kinh còn là bàn tiệc trong Nước Thiên Chúa. Mọi người đều được mời vào dự. Khi được mời vào dự bàn tiệc, khách mời có thể từ chối hay đón nhận lời mời. Việc đáp trả lời mời cũng tùy theo cách thức thể hiện tấm lòng với chủ tiệc. Không cần quà cưới, nhưng là tấm lòng thực thi. Không cần khách sáo nhưng cần thành tâm. Không cần trang sức nhưng cần đức hạnh…

Để dự tiệc cưới chiên con trong sách Khải Huyền, còn là được thanh tẩy mọi lỗi lầm trong Máu Chiên Con, nghĩa là trong hy tế thập giá của Chúa Kitô: “Ðó là những người từ cuộc quẫn bách lớn lao đã đến; họ đã giặt áo họ và phiếu trắng tinh trong máu Chiên Con.” (Kh 7, 14).

 Y phục lễ cưới.

Y phục là đặc thù của con người, dù con người có mặc cho chó mèo, hay vật nuôi nhưng quần áo cũng chỉ gọi là trang phục. Y phục thường biểu lộ một sứ mệnh được giao phó: tu sỹ, linh mục, binh lính, cảnh sát, y tá, bác sỹ… của con người mang nó. Y phục lễ cưới là những cách biểu lộ phẩm tính, phẩm hạnh hoặc là cách trẻ trung theo thời trang, thời thượng nào đó. Quan trọng vẫn là tấm lòng chứ không phải là y phục, “Chiếc áo dòng không làm nên thầy tu”.

Vào tiệc cưới không mặc y phục lễ cưới. Chủ tiệc trong dụ ngôn không nói đến y phục ở bên ngoài thể hiện mà thực trạng của tấm lòng. Chuẩn bị tâm hồn dự tiệc cưới muôn đời, vào giờ không hay, vào ngày không biết, khi Chúa đến. Đó là cách mang y phục lễ cưới bằng tỉnh thức và cầu nguyện.

Xin Chúa cho chúng con luôn biết sẵn sàng trong tư thế y phục: “Tỉnh thức và cầu nguyện luôn”.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...