18/08/2023
4808

CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN – A

Lời Chúa: Is 56, 1.6-7;  Rm 11, 13-15.29-32;  Mt 15, 21-28
---------------------------------


 

Mục lục

  1. Chuyện Tình Đẹp(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Thiên Chúa Có Lạnh Lùng?(Thiên San,  MTG.Thủ Đức)
  3. Dân Ngoại Cũng Được Hưởng Ơn Cứu Độ (Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
  4. Đến với muôn dân  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  5. Lòng tin kiên nhẫn của mẹ đã cứu con (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
  6. Bám chắc vào Chúa  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  7. Cho con vững tin  (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  8. Nhận biết mình  (Anna Cỏ May,  MTG.Thủ Đức)
  9. Sức mạnh của lòng tin (Maria Phạm Anh,  MTG.Thủ Đức)
  10. Cảm thấu nỗi đau (Maria Nguyễn Huệ, MTG.Thủ Đức)
  11. Ơn Cứu Độ đến với Dân Ngoại  (Lm. Trần Bình Trọng)
  12. Ơn Cứu Độ được ban cho mọi người  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
  13. Mảnh vụn không thừa (Trầm Thiên Thu)
 

CHUYỆN TÌNH ĐẸP

Tuần 20 TN-A: Mt 15, 21-28

Lm.Jos.DĐH, Gp. Xuân Lộc

Cùng sống trong hoàn cảnh lịch sử, cùng chung hy vọng đổi đời, khi tiếp cận với công nghệ hiện đại, người thì tự tin, kẻ mất kiên nhẫn bởi thực tế cuộc sống không như là mơ ! Chìa khoá dẫn tới cuộc sống mãn nguyện, khi con tim, khối óc, sức khoẻ, thời giờ, được kết hợp nhịp nhàng, và sử dụng chúng, đúng, đẹp nhất. Có bệnh vái tứ phương, từ xa xưa đã được tiền nhân áp dụng, chắc hẳn các đấng bậc muốn nói với con cháu, đừng nản lòng: còn nước còn tát. Ít nhiều gì, chúng ta cũng đã được nhắc nhớ đến công đức sinh thành, ơn cha nghĩa mẹ. Chuyện tình của người phụ nữ Canaan, sẽ còn sống động mãi trước tình gia đình, tình đồng loại, được cảm kích, trân trọng: vì con sống, suốt đời mẹ lam lũ, vì con vui, mẹ gánh hết đau buồn. Người mẹ khổ đau vì con bị “quỷ ám”, người mẹ đó nhẫn nại theo Thầy-trò Giêsu vì tình người, hay do tình mẹ con thôi thúc ?

Câu chuyện tình là phải đẹp, tình gia đình, tình bạn, tình ái, tất cả đều mang dáng dấp: hy sinh, tự do, quan tâm, che chở. Người phụ nữ Canaan bất chấp định kiến xã hội, tôn giáo, chị mong được tiếp cận, thân thưa với Đấng mà tâm tư chị mách bảo thành lời hành động: “lạy Ngài là con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Lời kêu xin phát ra từ môi miệng, âm thanh rõ ràng, chính xác về thân thế Đấng vì yêu đã đến, đang đến với muôn dân thiên hạ. Con vua Đavít im lặng, không phản ứng, có phải là điều khó hiểu không ? Câu chuyện tình của người phụ nữ Canaan trở nên đậm mùi, được chú ý, và ly kỳ: “xin Thầy thương để chị ấy về đi, kẻo chị cứ theo chúng ta mà kêu mãi”. Đúng, tình phải được hả hê, tài phải được sử dụng (Nguyễn Du), người mắc bệnh nan y, thầy thuốc tài giỏi, gặp nhau là ổn rồi, vấn đề còn lại là thời gian.

Chuyện tình nơi người phụ nữ Canaan đẹp, bởi có tình Giêsu, ở trong tình “mẫu tử”, trong tình đồng loại, có tình hiệp thông, trong hạnh phúc, có khổ đau sợ hãi. Lắng nghe và đối thoại với người phụ nữ Canaan, Đức Giêsu làm cho bức tranh “tin-yêu” hoàn thiện hơn: “này chị, niềm tin của chị mạnh thật, chị hãy về, chị muốn sao thì được vậy”. Tin Đức Giêsu là hiện thân của lòng thương xót Chúa, yêu con, vì hạnh phúc của con, người mẹ sẵn sàng chịu tổn thương, miễn sao con vui khoẻ là được. Niềm tin và tình yêu, không đổi ra thành tiền, không thể chi trả phí tổn, nhưng tin-yêu, chính là điều kiện để phép mầu xuất hiện nơi cuộc đời của ta. Bác sĩ tài giỏi, thầy thuốc dồi dào kinh nghiệm, vẫn cần các bệnh nhân đủ niềm tin, đủ tình yêu, và diễn tiến trở nên hiệu quả tốt đẹp: tài được sử dụng, tình được hả hê.

Câu chuyện tình thú vị: người đau khổ, kẻ bị quỷ ám, gặp được “Con vua Đavít” thực thi lòng thương xót Chúa. Phép mầu xảy ra không phải là chuyện tình cờ, mà là kết quả của tin-yêu được minh chứng từ người mẹ: “thưa Ngài, chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống”. Sự kỳ lạ ở đời: mọi thứ có thể bào mòn, riêng tình mẹ thì không thể ! Thầy Giêsu đầy lòng thương xót mà không gặp được niềm tin, hẳn là rất tiếc ! Bệnh nhân khổ đau, kẻ tội lỗi, họ biết sám hối và gặp Thầy thuốc Giêsu, quả là phúc phần. Cuộc đời của mỗi người là chuyện tình đẹp: cơ hội tìm kiếm hạnh phúc, thời gian trải nghiệm với nén bạc riêng, bạn hãy tự do trang điểm bức tranh cuộc đời của mình. Chuyện tình đẹp, chuẩn, tin-yêu phải được bày tỏ, và không thể thiếu sự hiện diện của Thầy Giêsu Đấng cứu độ trần gian.

Câu chuyện tình – tài của đoạn tin mừng hôm nay sẽ còn được diễn tiến nơi chúng ta, sự kỳ bí của phép lạ sẽ xuất hiện nơi gia đình và từng tâm hồn, khi niềm tin yêu của chúng ta hiệp thông trong Đức Giêsu Kitô. Tình yêu chân thật không phát xuất từ những lời nói ngọt ngào, niềm tin sống động không do khổ đau nước mắt, tất cả vẫn đang được chứng minh bằng sự tinh tế, từ những việc làm bé nhỏ. Sống ở đời, giầu mà không có sức khoẻ, ốm đau bệnh tật mà không gặp thầy gặp thuốc, gọi là bất hạnh. Chuyện người phụ nữ Canaan là chuyện tình đẹp, không hệ tại hình thức bên ngoài, vì yêu con, chị không mất kiên nhẫn với Đấng mà chị tin là sẽ ra tay cứu chữa cho con mình, không ngại hạ mình ngang hàng với “lũ chó con”. Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng vĩ đại nhất chính là trái tim của người mẹ.

Các chuyên gia tiết lộ: nước hoa có 95% là nước, chỉ 5% khác biệt, điều đó nằm ở công thức bí mật nơi các nhà sản xuất. Mỗi chúng ta cũng có 95% cơ bản giống nhau, nhưng 5% khác biệt còn lại chính là yếu tố quan trọng phân biệt ta với người khác. Tâm tính và mơ ước, sẽ quyết định tư cách hình thành nên con người thật đẹp, tương đối hoặc xấu xa. Biết bao người gặp Đức Giêsu, qua người phụ nữ Canaan đã trở thành chuyện tình đẹp, được truyền lại cho hậu thế. Tình yêu nơi con người lớn lên từ trách nhiệm và bổn phận, người phụ nữ Canaan đặt trọn niềm tín thác nơi Đức Giêsu con vua Đavít, và mọi người đã thấy sự kỳ diệu của tình yêu xuất hiện. Đúng như câu ca dao: thương con mẹ dệt niềm tin, cho con ăn học, trọn tình mến yêu, chắc chắn mỗi người kitô hữu chúng ta cũng sẽ là một chuyện tình đẹp và đáng yêu.

Về mục lục

THIÊN CHÚA CÓ LẠNH LÙNG?

Thiên San, MTG. Thủ Đức

Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu nổi tiếng là Đấng giàu lòng xót thương, Đấng chạnh lòng thương. Có lần, khi từ trên thuyền xuống, nhìn thấy đám đông dân chúng bơ vơ, vất vưởng, Người chạnh lòng thương, làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho họ ăn no nê. Khi nhìn thấy cảnh mẹ già đưa tiến đứa con trai duy nhất về “nơi an nghỉ”, Người cũng chạnh lòng thương, cho con trai bà góa sống lại. Nhiều và rất nhiều lần Tin Mừng đã kể lại cho chúng ta về chân dung đầy lòng thương xót của Người. Lạ thay, hôm nay, trước lời kêu xin của người đàn bà Canaan, Đức Giêsu tỏ ra khá lạnh lùng: “Nhưng Người không đáp lại một lời.” (Mt 15, 23).

Cuộc sống có lắm khi khó khăn, vui buồn lẫn lộn. Sự đời thường khiến ta gặp nhiều trắc trở, gian nan, thử thách nhưng cũng không ít khi đem đến cho ta những cơ hội. Chính những khó khăn, thử thách nhiều khi lại trở nên phương thế Thiên Chúa dùng để tôi luyện, uốn nắn chúng ta. Thường những người thành công là những người biết vượt qua khó khăn thử thách, kiên trì, không bỏ cuộc. Họ biết cách biến tất cả những gì là trở ngại, khó khăn thành cơ hội giúp họ lớn lên, kiên cường và vững mạnh hơn. Nơi họ, ta thấy được sự khiêm tốn. Khiêm tốn khi họ biết chấp nhận sai lầm của mình, chấp nhận được sửa lỗi, chấp nhận làm lại từ đầu, nhận trách nhiệm về mình, khiêm tốn học hỏi và đón nhận sự giúp đỡ từ người khác. Người đàn bà Canaan trong bài Tin mừng hôm nay cũng là một trong những người như vậy.

Khi biết tin Đức Giêsu đến, bà đã không ngần ngại chạy đến kêu xin, nài nỉ sự giúp đỡ của thầy Giêsu. Bà bỏ lại sau lưng sự tự ái, nhảy qua bức tường của sự phân biệt chủng tộc để lẽo đẽo theo Chúa. Nếu khi xin mà được liền thì bà ấy đã chẳng phải theo Chúa một đoạn đường dài như thế. Một tâm hồn đang đau khổ vì đứa con gái bệnh tật, ước mong gặp được thầy Giêsu để được chữa lành ấy thế mà bà chỉ nhận được một sự thinh lặng, không “gật” mà cũng chẳng “lắc”. Tưởng chừng như mọi chuyện đã kết thúc trước sự thinh lặng của thầy Giêsu, nhưng người phụ nữ vẫn kiên trì theo chân Người. Dường như bà ta bị bỏ rơi, chẳng ai thèm để ý đến lời nài van của bà. Thấy vậy, các môn đệ đến xin với Thầy mình rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” (Mt 15, 24). Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Itraen mà thôi.” (Mt 15, 24). Câu trả lời của Thầy đã quá rõ ràng. Bà ấy không phải là con cái Itraen. Nghe thấy thế, bà càng kêu lớn tiếng hơn: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!”. Người đáp lại: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bấy giờ, Đức Giêsu đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy. Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.” (Mt 15, 25-28).

Trong hoàn cảnh của người phụ nữ Canaan, chúng ta có đủ bình tĩnh, kiên nhẫn và khiêm tốn được như bà ấy? Tình yêu dành cho con gái là động lực giúp bà vượt qua mọi trở ngại. Ngọn lửa tình yêu ấy đã phá tan cái “lạnh lùng” vốn có của sự thinh lặng và đổi lấy một câu trả lời từ tình yêu và sự chữa lành. Dường như sự thinh lặng của Chúa Giêsu thật khó hiểu.  Phải chăng Người đang đợi điều gì đó từ người phụ nữ này? Trước sự kiên nhẫn, khiêm tốn và lòng tin vững mạnh của bà, Đức Giêsu đã cho bà được như ý muốn. Chúng ta cũng có thể làm được điều mà người phụ nữ này đã làm. Chỉ cần chúng ta có đủ tình yêu và vững tin vào tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho mình. Bởi Thiên Chúa không hề lạnh lùng với chúng ta nhưng luôn yêu thương và chờ đợi chúng ta.

Về mục lục

DÂN NGOẠI CŨNG ĐƯỢC HƯỞNG ƠN CỨU ĐỘ

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Thường Niên XX, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Gia nghiệp Chúa hứa ban cho ta thì cao quý hơn những gì lòng ta dám ước mong. Do đó, chúng ta phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự, hơn hết mọi loài. Không phải: chỉ có dân Dothái được hưởng gia nghiệp của Chúa, nhưng, dân ngoại cũng được thừa hưởng cùng một lời hứa, miễn là: họ yêu mến Chúa và tuân giữ những gì Người truyền dạy. Thật vậy, Thiên Chúa là muốn cho tất cả mọi người được hưởng cứu độ của Người (x.1Tm 2,3-4). Thánh Phaolô đã khẳng định rằng: “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Dothái, cùng làm một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”  (Eph 3,5-6).

Trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia được mời gọi làm ngôn sứ để loan báo cho muôn dân biết: Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt Tuyệt Đối, cả mặt đất sẽ đầy tràn vinh quang Chúa, đồng thời, cũng cảnh báo Ítraen chỉ còn một số nhỏ sống sót mà thôi. Điều này được ngôn sứ nói rõ hơn trong bài đọc một của Thánh Lễ: dân ngoại sẽ gắn bó với Đức Chúa qua việc tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công chính, phụng sự Đức Chúa, yêu mến Thánh Danh, và dân ngoại sẽ được Đức Chúa dẫn lên Núi Thánh của Người.

Trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Gioan Kim Khẩu khi chú giải câu Thánh Kinh “Chính anh em là muối cho đời, và ánh sáng cho trần gian”, thánh nhân nói: “Thầy không chỉ sai anh em đến với hai thành, mười thành, hay hai mươi thành, cũng không sai anh em đến với một dân tộc như sai các ngôn sứ xưa, nhưng Thầy sai anh em đi khắp cả địa cầu, biển khơi, đến với toàn thế giới đang bị ảnh hưởng xấu xa… Bấy giờ, anh em sẽ là chứng nhân của Thầy cho đến tận cùng trái đất”. Thánh nhân muốn cho thấy ơn cứu độ là phổ quát, là dành cho tất cả mọi người. Điều này cũng được thánh Phaolô, Tông Đồ của dân ngoại, khẳng quyết trong bài đọc hai của Thánh Lễ: ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa ban, thì không bao giờ Người rút lại, chỉ có điều, chúng ta có yêu mến, vâng phục Chúa để được hưởng ơn cứu độ của Người hay không mà thôi: kẻ bên trong, nhưng lại ở ngoài; kẻ bên ngoài, nhưng lại ở trong.

Bài Đáp Ca với Thánh Vịnh 66, vịnh gia đã kêu gọi “chư dân”, nghĩa là, dân ngoại hãy ca tụng Đức Chúa. Vịnh gia cũng ước mong cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Người.

Dân ngoại cũng được hưởng ơn cứu độ của Chúa. Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong bài Tin Mừng hôm nay, mà người đàn bà Canaan là đại diện. Bà đã làm gì, để được hưởng điều cao quý hơn những gì mà lòng bà ước mong? Thưa, bà đã hoàn toàn tin tưởng, yêu mến, vâng phục Đức Giêsu, bằng chứng là, bà tự nhận mình là chó, tự đánh mất phẩm giá của một con người, để được nhận làm con Thiên Chúa, hưởng gia nghiệp, ơn cứu độ của Người.

Đức Kitô chính là Đấng Cứu Độ Duy Nhất, ngoài Người ra không ai có thể đem lại ơn cứu độ. Hội Thánh là nhiệm thể của Đức Kitô, ngoài Hội Thánh, không có ơn cứu độ, nhưng, Hội Thánh ở đây phải được hiểu là Hội Thánh phổ quát, là bí tích cứu độ phổ quát, nghĩa là, bao gồm tất cả những ai kết hiệp với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu. Do đó, ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người, mọi nơi và mọi thời, bất luận, họ sống trong hay ngoài Hội Thánh hữu hình, trước hay sau Đức Giêsu lịch sử.

Chúng ta thuộc về Hội Thánh hữu hình, nhưng, coi chừng: kẻ ở trong nhà, thì lại là người ở ngoài, còn kẻ ở ngoài, thì lại là người ở trong. Chúng ta ở trong Hội Thánh hữu hình, nếu chúng ta không tin nhận Đức Kitô, chối từ ân sủng, thì chúng ta không thể được cứu rỗi. Quả thật, lỗi cố tình này nhiều khi được cho là tội phạm đến Chúa Thánh Thần: cố tình chối từ ơn thánh, và những phương tiện cần thiết để được cứu độ. Qua biến cố Đức Kitô, ơn cứu độ đã được thực hiện cách thành toàn. Ơn cứu độ Người thực hiện mang tính phổ quát, áp dụng cho mọi người, mọi nơi và mọi thời. Lệnh truyền của Đức Giêsu trước khi lên trời đã chứng thực điều đó (x. Mc 16,15-16). Vì thế, Đức Kitô trở thành Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Nhờ Người, muôn vật được tạo thành, cũng nhờ người muôn loài được ơn cứu độ (x. Cv 4,12). Chính Người cũng ủy thác cho Hội Thánh phân phát các mầu nhiệm cứu độ cho muôn dân.

Chúng ta với tư cách là thành viên của Hội Thánh, chúng ta cũng phải loan truyền ơn cứu độ đến cho tất cả mọi người bằng chính đời sống chứng tá của chúng ta, bằng những ưu tiên lựa chọn hằng ngày của cuộc sống: quyết chọn Đức Kitô và thuộc về Đức Kitô, cho dẫu, chúng ta phải bị trả giá: bị bách hại, bị khinh khi, bị thiệt thòi mất mát: mất danh dự, mất quyền lợi, hay mất cả mạng sống mình.

Về mục lục

ĐẾN VỚI MUÔN DÂN

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

 “Đến với muôn dân” là tựa đề của một Sắc lệnh trong văn kiện của Công đồng Vatican II. Nội dung Sắc lệnh này là lời mời gọi mọi thành phần Dân Chúa cộng tác vào sứ mạng truyền giáo, theo lệnh truyền của Đấng Phục sinh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…” (x. Mt 28,16-20).

Khi xác định “đến với muôn dân”, Giáo Hội không còn là một cơ chế hành chính khép kín, đóng khung trong một nền văn hoá riêng biệt hoặc một châu lục hay một quốc gia. Trái lại, Giáo Hội có sứ mạng đi đến với mọi dân tộc để giới thiệu Chúa, làm cho chất men Tin Mừng thấm nhập vào mọi nẻo đường của cuộc sống, xây dựng Nước Trời ở trần gian. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần mời gọi Giáo Hội hãy đi ra, hãy mở cửa, hãy đến vùng ngoại vi để loan báo Tin Mừng.

Một trong những chủ đề chính trong Lời Chúa hôm nay là lời khẳng định: Thiên Chúa là Cha của gia đình nhân loại. Bất kể ai, nếu có Đức tin sẽ được chữa lành và cứu rỗi.

Cũng như lòng nhân hậu, tình mẫu tử, sự tha thứ luôn là chuẩn mực cho con người dù họ thuộc về bất kỳ nền văn hóa nào, khái niệm về Thiên Chúa diễn tả Đấng là nguyên lý của mọi loài và là cội nguồn của Chân Thiện Mỹ. Ngài là Cha của người da trắng cũng như da đen da vàng. Ngài dựng nên những người thánh thiện cũng như những người tội lỗi. Ngài đổ ơn mưa móc xuống cho người công chính cũng như cho kẻ bất lương. Như thế, bất cứ ai sống dưới gầm trời này mà cậy tin vào Chúa và kêu cầu Ngài thì đều được Chúa thương, vì “Nhà Ta là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc”. Chúa sẽ dẫn họ lên núi thánh và ban cho họ tràn đầy niềm vui (Bài đọc I).

Thánh Matthêu kể lại: hôm đó Chúa Giêsu đi đến miền Tia và Siđôn. Hai địa danh này diễn tả miền đất của dân ngoại. Người đàn bà xứ Canaan cũng là một người ngoại. Bà đang đau buồn vì con gái bà bị quỷ ám. Chúng ta lưu ý đến hai lời cầu nguyện của người phụ nữ này. Đó cũng là hai lời cầu nguyện trong Phụng vụ, xưa cũng như nay: Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Lời kinh trong phần sám hối mở đầu thánh lễ); “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” (Lời mở đầu giờ kinh Phụng vụ). Lời van xin của bà chứng minh một nhu cầu khẩn thiết và một niềm hy vọng sâu xa. Tuy vậy, lời van xin thống thiết này ban đầu đã bị Chúa Giêsu khước từ, kèm theo một lời nói xem ra rất “khó nghe”. Cuộc đối thoại giữa người phụ nữ này với Chúa được thánh sử Mátthêu trình bày như tiến trình của lời cầu nguyện nơi người tín hữu: có vẻ như lời cầu nguyện bị khước từ lúc ban đầu, nhưng sự kiên trì và phó thác sẽ làm thay đổi mọi sự. Không thể cầu nguyện trong sự nóng vội với một loạt những nhu cầu cấp bách và đòi Chúa phải chấp thuận ngay theo như ý mình. Bởi lẽ lời cầu nguyện không chỉ đơn giản là những lời xin, mà còn là tâm tình yêu mến tạ ơn, còn là sự diễn tả nỗi lòng của người con thảo đối với cha mẹ mình. Người phụ nữ xứ Canaan đã hiểu điều đó. Bà đã kiên trì và khiêm tốn, do đó lời cầu xin của bà đã được Chúa nhận lời. Ước vọng của bà đã được đáp ứng. Lời Chúa hôm nay cũng dạy chúng ta hãy kiên trì trong lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện xuất phát từ trái tim chân thành và tình yêu mến thiết tha chắc chắn sẽ được Chúa nhận lời. Có những khi chúng ta không đạt được ngay tức khắc những điều chúng ta xin, nhưng chúng ta tin rằng Thiên Chúa là Cha nhân hậu. Ngài muốn những điều thực sự là tốt và đem lại ích lợi lâu dài cho chúng ta.

Chúa Giêsu đã đến trần gian để quy tụ muôn người thành gia đình của Thiên Chúa. Người đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa người Do Thái với dân ngoại. Đối với Chúa, người Do Thái hay người ngoại không phải là điều kiện để Người thực hiện những phép lạ, mà điều quan trọng là lòng tin. Lòng tin đôi khi phải trải qua thử thách. “Này bà, bà có lòng tin mạnh mẽ. Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy”. Lòng tin là điều kiện để con gái bà được khỏi quỷ ám. Lòng tin cũng giúp bà kiên trì trong lời van xin, mặc dầu cảm thấy mình bị chối từ. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nhiều lần khen lòng tin vững vàng của những người ngoài Do Thái, như trong trường hợp vị sĩ quan đến xin Ngài chữa cho con trai mình: “Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Ítraen nào có lòng tin như thế” (Mt 8,10).

Tưởng cũng nên tìm hiểu đôi chút về khái niệm “chó con” được Chúa Giê-su dùng để chỉ về người phụ nữ dân ngoại. “Con cái” thì hiểu về dân Do thái, “chó con” thì hiểu về dân ngoại. Chúa Giêsu dùng cách nói thông thường của người Do thái chứ không có ý mỉa mai. “Chó con” cho ta hình ảnh con vật nuôi trong nhà, mặc dù không được coi trọng như con người, nhưng cũng được quý mến chăm sóc và thương yêu. Lời tuyên bố của Chúa có thể hiểu như một sự thử thách lòng tin của bà. Lập luận của bà chứng tỏ sự kiên trì và cậy trông, chấp nhận chỉ là một con chó con chực chờ những mụn bánh nhỏ rơi xuống trong khi người thực khách đang dùng bữa trên bàn. Sự kiên trì đã đem lại phần thưởng cho bà.

Ngỏ lời với giáo dân Rôma, là những người nguồn gốc dân ngoại, Thánh Phaolô chứng minh cho họ thấy lòng thương xót bao la của Chúa. Ngài không khước từ ai. Những ai kêu cầu Ngài đều được Ngài thương nhận lời. Chính vì lòng thương xót đối với muôn dân, mà Chúa đã dùng thánh nhân như một tông đồ của dân ngoại. Thánh Phaolô hiểu sứ mạng của mình và ngài đã đi đến mọi nơi, xây dựng các cộng đoàn đức tin và giúp họ nhận ra ơn cứu độ của Thiên Chúa, được thực hiện trong Đức Kitô Giêsu (Bài đọc II). Như thế, mỗi chúng ta cũng đã là những “người thuộc dân ngoại”, nhưng nhờ Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta trở thành “con cái trong nhà”, là những người “đồng thừa kế với Đức Giêsu”, nhờ tình thương của Thiên Chúa.

Qua người tín hữu, Đức Giêsu hôm nay vẫn đang đến với muôn dân. Người là Ánh sáng muôn dân, đem ơn Cứu độ cho đến tận cùng trái đất. Mỗi chúng ta như cánh tay nối dài của Người, để đem ánh sáng ấy chiếu soi cuộc đời. “Ở đâu có cộng đoàn Kitô hữu, ở đó có linh địa của lòng thương xót” (ĐTC Phanxicô). Thực thi lòng thương xót trong nội bộ cộng đoàn cũng như đối với anh chị em không cùng niềm tin, đó chính là lời loan báo Tin Mừng hiệu quả nhất.

Về mục lục

LÒNG TIN KIÊN NHẪN CỦA MẸ ĐÃ CỨU CON

 Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 Tình mẹ đó là tình bao la và cao với nhất. Bởi vì mẹ chỉ biết cho mà không so đo tính toán, chỉ biết hy sinh mà không đòi đền đáp, nên cha ông ta mới nói rằng:  “Ôm con mẹ đếm sao trời. Đếm hoài không hết một đời long đong”. Chính tình yêu cao vời ấy mà con người mới học được bài học yêu thương, mới hiểu được tình yêu cần lòng hy sinh như trong ca dao đã nói:

Đố ai đếm được lá rừng,
Đố ai đếm được mấy từng trời cao,
Đố ai đếm được những vì sao,
Đố ai đếm được, công lao mẫu từ.

Cuộc sống chúng ta có thể thiếu nhiều thứ nhưng tình mẹ nếu thiếu đi là một bất hạnh cho cuộc đời chúng ta. Vì chỉ cần có mẹ là ta có tất cả. Chỉ cần có mẹ thì mẹ sẽ lo cho ta mọi sự như ai đó đã nói: “Mẹ là người có thể thay thế tất cả những ai khác, nhưng không có ai có thể thay được vị trí của mẹ”.

Tình hiền mẫu ấy hôm nay đã được bà mẹ Canaan bộc lộ thật xúc động. Bà quá yêu thương cô con gái yếu đuối bị quỷ ám. Bà đã can đảm vượt qua cái hố ngăn cách bất thân thiện, thậm chí thù hận giữa dân Chúa và dân ngoại, hớt hải nhanh chân tìm đến với Chúa. Bà hoàn toàn tín thác, trông cậy, khẩn cầu, năn nỉ  Chúa đoái thương cứu giúp.

Bà công khai tuyên xưng đức tin, khi xướng lên thánh danh Đấng Messia. Rồi kể sự tình, không phải cầu xin cho bà, mà thành tâm khẩn khoản xin cho con gái đáng thương: “Lạy Ngài là Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi. Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”

 Mặc dù Người tảng lờ, như không nghe, không biết, không hề đáp lại, bà vẫn khiêm nhường, nhẫn nhục, vẫn không hề chao đảo, nhụt chí trước thái độ ghẻ lạnh của các môn đệ: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” (Mt 15, 23)

 Vượt qua thái độ từ khước công khai của Đức Giêsu, bà mẹ kính cẩn khấu đầu, quỳ sụp xuống, van lạy tha thiết khẩn cầu, càng mạnh dạn hơn nữa bà mẹ hoàn toàn tin cậy vào lòng thương xót vô biên của Đức Giêsu. Lời van xin đầy khiêm tốn của bà đến nỗi chỉ ao ước được tí bánh vụn của con cái vương vãi cũng đủ bà mãn nguyện.

   Cuối cùng trái tim thắm tình mẫu tử được toại nguyện. Đức Giêsu cảm động nhận lời giải thoát quỷ dữ khỏi con gái bà và còn khen ngợi đức tin bền vững và mạnh mẽ của bà. “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.” (Mt 15, 28)

 Cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những bà mẹ đã cạn kiệt nước mắt. Có biết bao bà mẹ đã khổ vì con cái hư hỏng. Có biết bao gia đình quá cơ cực vì một thành viên bước vào con đường truỵ lạc. Có biết bao cơn bệnh hiểm nghèo đang cướp dần sinh mạng của những người chúng ta thương. Nước mắt vẫn chảy cho những phận đời cơ cực, bị bỏ rơi, bị bội phản. Nước mắt vẫn tuôn chảy cho những trái ngang của cuộc đời, những bất hạnh, rủi ro trong cuộc sống.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: hãy tin tưởng và cầu xin giữa những thử thách gian nan cuộc đời. Thiên Chúa vẫn hiện diện. Thiên Chúa vẫn đang chờ một lời kinh, một lời cầu của chúng ta. Thiên Chúa cần lòng tin nơi chúng ta. Ngài có thể làm mọi sự. Nhưng Ngài lại bất lực trước sự cứng lòng tin của chúng ta. Phép lạ Chúa làm không nhằm mục đích phô diễn quyền năng của Thiên Chúa. Ngài càng không làm phép lạ vì sự hiếu kỳ của con người. Ngài chỉ có thể làm phép lạ vì đức tin chân thành, kiên nhẫn và tin tưởng của chúng ta.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn tin tưởng kêu cầu Chúa khi gặp những gian nan. Xin cho mỗi người chúng ta đừng đánh mất niềm tin khi gặp những thử thách trăm bề, nhưng luôn kiên nhẫn trong lời cầu xin. Vì sau đêm dài là ánh bình minh. Amen

Về mục lục

BÁM CHẮC VÀO CHÚA

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Người phụ nữ xứ Canaan bám chắc lấy Chúa để xin cứu chữa cho con gái bà. Giây phút  gặp Chúa và bám chắc vào Chúa là một kinh nghiệm để chiến thắng quá khứ và sống niềm tin vào tương lai.

Chúng ta trải qua ba bài học liên tiếp, cỏ lùng giữa lúa, bánh ra nhiều và đi trên mặt biển đến với Chúa. Cả ba đều là những thách đố của thời đại: Về lòng kiên nhẫn làm việc lành giữa sự dữ. Về những gì nhỏ bé có hãy cố làm cho nó sinh hoa kết trái. Hãy bước trên những nghịch cảnh và đến với Chúa. Và Chúa nhật này lại như bà góa xứ Canaan bám lấy Chúa để cầu cứu.

Có thể đúc kết,  chiến thắng sự dữ chung quanh, những nghịch cảnh không lường trước luôn đòi hỏi việc kiên trì cầu nguyện, bám chắc vào Chúa.

Hết lần này đến lần khác, người đàn bà kêu cầu dường như Chúa vẫn chưa nhận lời. Phải chăng Chúa bỏ mặc lời kêu cầu? Chẳng phải vậy! Chúa như muốn các tông đồ kêu cùng Chúa cho bà góa này. Như Chúa bảo: “Ở đâu có hai ba người họp nhau cầu nguyện nhân danh Thầy, Thầy ở giữa họ” (Mt 18, 19). Lời kêu cầu của một người sẽ chẳng bao giờ lẻ loi trong cộng đoàn hiệp thông, dù họ có ở nhà nằm trên giường bệnh một mình, hay dù họ có ở một nơi hẻo lánh hay ở một nơi thanh vắng, họ vẫn cầu nguyện trong cộng đoàn hiệp thông. Vì bản chất lời cầu nguyện là một hiệp thông, hiệp thông cùng các thánh trên trời, hiệp thông cùng bao người khác cũng đang cầu nguyện.

Chúa củng cố niềm tin cho con người bằng cách đối thoại với Chúa. Trong đối thoại, con người nói lên ước mong của mình và không chỉ cho mình còn đối thoại liên quan đến người người mình đang quan tâm. Chúa muốn lắng nghe, Chúa muốn con người thổ lộ tâm can. Không phải vì Chúa không biết, nhưng đối thoại là muốn nghe, muốn chia sẻ để cảm thông, dành thời gian cho con người.

Có hai loại thời gian. Thời gian của những công việc, lịch trình, và một thời gian của tâm hồn. Thời gian tâm hồn dễ bị xao lãng bởi những công việc và theo đó công việc, lịch trình trở nên nặng nề, vất vả, nhiều chuyện mà chẳng nên cơm cháo gì. Thời gian tâm hồn không chỉ là thời gian dành ra cầu nguyện mỗi ngày mà còn là thời gian tràn ngập vào cả trong những lúc làm việc, bận rộn lao động. Có một câu hỏi trả lời thú vị rằng, trong lúc cầu nguyện không được làm việc, nhưng trong lúc làm việc vẫn có thể cầu nguyện. Chúa muốn lắng nghe chúng ta. Hãy thưa chuyện với Chúa cả những lúc nghỉ ngơi và làm việc.

Bám chắc vào Chúa là một kinh nghiệm sống mà Chúa đã dạy: “Hãy đến với Ta, hết thảy những kẻ lao đao và vác nặng”. Và Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức: Hãy mang lấy ách của Ta vào mình, hãy thụ giáo với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và các ngươi sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn. Vì chưng ách Ta thì êm ái, và gánh Ta lại nhẹ nhàng”. (Mt 11, 28 – 30)

Về mục lục

CHO CON VỮNG TIN

Bông hồng nhỏ

Trong hành trình bước theo chân Thầy, ta được chứng kiến bao cảnh đời bất hạnh, đã bao lần ta ngậm ngùi trước nỗi thống khổ của họ. Trái tim ta cũng biết chạnh lòng thương, biết bận tâm đến nỗi đau khổ của những người anh em. Hôm nay, theo chân Thầy Giêsu, ta được cùng Người lui về miền Tia và Xiđôn. Này, có người đàn bà xứ Canaan cứ theo Người mà kêu xin mãi. Bà là một người dân ngoại nhưng đã làm cho ta cảm phục và ngưỡng mộ về một lòng tin mạnh mẽ, lòng cậy trông vững vàng.

 Khi một người phụ nữ đang yêu, nhất là khi họ yêu bằng trái tim của một người mẹ thì nghị lực yêu thương trong họ thật phi thường. Quả thế, đôi chân người mẹ xứ Canaan cứ mải miết bước theo chân Thầy Giêsu, mải miết kêu xin Người dù bà chỉ nhận lại một thái độ dường như là quá lạnh lùng. “Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm” (Mt 15, 22). Nhìn thấy dáng vẻ hao gầy của người mẹ đã một đời lo lắng cho đứa con bệnh tật ấy, nghe tiếng kêu xin thảm thiết của người mẹ khốn khổ ấy, ai mà không chạnh lòng thương. Vì đâu mà Thầy Giêsu- Đấng giàu lòng thương xót lại chỉ lặng thinh không đáp lời? Các môn đệ đến gần xin với Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ đi theo sau chúng ta mà kêu xin mãi!” (Mt 15, 23). Chỉ đến khi các môn đệ lên tiếng, Thầy Giêsu mới đáp: “Thầy chỉ được sai đến với các con chiên lạc nhà Ítraen mà thôi (Mt 15, 24). Phải chăng, Thầy đang chờ đợi các môn đệ của mình lên tiếng? Hơn ai hết, Người nhìn thấy và cảm nhận được nỗi đau khổ của bà nhưng dường như người đang chờ đợi các môn đệ của mình lưu tâm đến người phụ nữ khốn khổ này. Người cũng muốn dành cho bà ấy một niềm hạnh phúc lớn lao, niềm hạnh phúc ấy được sinh ra từ những đau khổ và thử thách mà bà đã và đang trải qua; nó cũng là hoa trái của những cái rễ đắng cay từ những tủi nhục và đau khổ mà bà đã phải mang trên đôi vai nhỏ bé và nó cũng đã từng bao lần làm trái tim bà tổn thương.

Câu nói của Người không làm bà chùn bước, không làm bà mất hy vọng. Bà biết mình là người dân ngoại và bà lại càng cầu xin tha thiết hơn: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” (Mt 15, 25). Người đáp: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con” (Mt 15, 26). Chỉ có dân Ítraen mới xứng đáng được lãnh nhận tình thương của Thiên Chúa hay sao? Chấp nhận thân phận bị khinh chê, bà vẫn kiên cường đáp lại trong thái độ nhẫn nhục: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống” (Mt 15, 27). Câu trả lời của bà khiến cho ta rất đỗi ngạc nhiên và cũng đầy cảm phục. Bấy giờ, câu trả lời của Thầy Giêsu như dòng nước trong lành và ngọt ngào chảy vào đôi tai bà, rung động tâm trí bà và tràn đến chữa lành trái tim bà. “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi (Mt 15, 28).

Càng trải qua những đau khổ và thử thách, niềm tin trong bà càng mạnh mẽ và nó đã giúp bà lãnh nhận niềm hạnh phúc mà bà hằng khát mong. Đức tin của ta cũng sẽ phải được tôi luyện mỗi ngày. Chung chia niềm vui với bà mẹ xứ Canaan, ta cũng được tiếp thêm niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa. Thiên Chúa hằng xót thương những ai cậy trông và tin tưởng nơi Người. “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2 Cr 1, 3-4) .

Lạy Chúa Giêsu! Chúa biết con cần Chúa. Giữa những đau khổ và thử thách trong cuộc sống, xin cho con biết hướng nhìn lên Chúa, kiên trì bước theo đường lối Chúa mời gọi, để nhờ đặt trọn niềm tin và hy vọng nơi Chúa, con cũng được cùng Người hưởng phúc vinh quang. Amen.

Về mục lục

NHẬN BIẾT MÌNH

Anna Cỏ may

Khi các em nhỏ khi xin cha mẹ điều gì mà không được, các em sẽ khóc òa lên. Cha mẹ đi đâu em theo đó cho đến khi em đạt được như ý muốn. Khi lớn lên, em xin cha mẹ mà không được, em tỏ ra thái độ tức giận và bỏ đi chỗ khác hay tìm cách để có được. Như thế, em đã không có được điều em mong muốn từ bố mẹ. Vì sao vậy?

Tin Mừng theo thánh sử Mátthêu thuật lại câu chuyện người đàn bà Canaan có đứa con bị quỷ ám, bà đã chạy đến gặp Đức Giêsu để xin Người chữa cho con mình. Bà vừa đi vừa kêu xin Đức Giêsu nhưng Người không đáp lại một lời. Các môn đệ lại gần xin Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” (Mt 15,21-28). Đức Giêsu đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi” (Mt 15,24). Dầu bà chỉ nhận được sự thinh lặng và câu nói lạnh lùng của Đức Giêsu, nhưng bà vẫn tiếp tục kêu xin. Bà nhận ra mình thật sự chẳng đáng phúc được nhận lòng thương xót của Đức Giêsu vì bà không thuộc đoàn chiên nhà Ítraen. Dầu thế, bà vẫn kiên trì kêu xin. Bà đặt niềm hy vọng, sự tin tưởng vào Đấng duy nhất sẽ cứu được con bà. Bà nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống” (Mt 15,27). Nhờ thái độ vừa đi vừa kêu xin cùng sự tin tưởng vào lòng thương xót và quyền năng của Đức Giêsu, bà đã được như ý muốn: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy” (Mt 15,28).

Đức Giêsu đã nói: “Tôi là mục tử nhân lành”(Ga 10,11); “Cha tôi, Đấng đã ban cho tôi, thì còn lớn hơn tất cả và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha” (Ga 10,29). Vì vậy, đứng trước thử thách và gian nan của cuộc sống, chúng ta hãy kiên trì kêu xin Chúa, dù Ngài vẫn lặng thinh. Sự lặng thinh của Ngài có thể là đang lắng nghe lời chúng ta xin và xem ơn chúng ta xin có đem lại điều tốt nhất không? Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói với một Tập sinh rằng: “Nếu ta cậy trông Chúa ban cho ta một ơn gì mà Ngài không định ban, thì Ngài rất quyền thế và giàu có, vì danh dự, Ngài chẳng để ta thất vọng, và Ngài sẽ ban cho” (Hoàng Trọng, Tinh thần, Đan viện Cát Minh Sài Gòn, chương II đoạn 6, 1970).). Vậy chúng ta hãy nhận biết mình là kẻ tội lỗi mà đặt niềm tin vào Ngài trong mỗi giây phút. Để rồi, chúng ta cũng được nghe ngài nói: “Con muốn thế nào, sẽ được như vậy” (x. Mt 15,28).

Lạy Chúa, Chúa biết rõ tình trạng, hoàn cảnh cùng nỗi âu lo hiện tại của con. Con chẳng xứng đáng với những điều con ước mong. Vậy, con xin dâng lên Chúa tất cả con người tội lỗi này. Nguyện xin lòng thương xót của Ngài bao bọc con suốt cả cuộc đời. Bởi vì Ngài đã dựng nên con và con đã là con của Ngài. Amen.

Về mục lục

SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN

Maria. Phạm Anh

Khi khởi sự làm bất cứ một công việc nào, chúng ta mong ước hoàn thành nó một cách tốt đẹp. Người nông dân chăm chút cho cây trồng mong đến mùa bội thu. Những học viên ngày đêm miệt mài sách vở chờ đến lúc đỗ đạt. Những công nhân, bác sĩ, kỹ sư,…nỗ lực hành nghề, nghiên cứu để nâng cao tay nghề, kinh nghiệm,… Những mong ước, chờ đợi ấy không chỉ dừng lại trên những thành quả, nhưng ẩn chứa là một lòng tin, sâu xa hơn là lòng tin chúng ta sẽ được hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc thật sự chỉ có ở nơi Thiên Chúa. Hôm nay, người phụ nữ miền Canaan là người hạnh phúc nhất. Bà hạnh phúc không chỉ vì con gái bà được khỏi bệnh, nhưng bà đã gặp được Đấng Toàn Năng, và chứng kiến việc lạ Người làm mà bấy lâu nay bà mới chỉ nghe biết. Tất cả điều ấy xảy ra vì bà đã tin: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy” (Mt 15, 28 ).

Hạnh phúc là một thực tại chúng ta chẳng dễ gì nắm bắt trong tay được. Thật vậy, trong cuộc sống trần gian với biết bao là khó khăn, thử thách, hay những đau khổ, bệnh tật, những nghịch lý, những trái ý,… làm sao chúng ta có thể cảm nhận được hạnh phúc? Lòng tin sẽ giúp chúng ta vượt qua những trở ngại ấy mà đến được những điều tốt đẹp, hạnh phúc theo kế hoạch mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta. Chúng ta thấy rõ điều này qua tấm gương người phụ nữ dân ngoại miền Canaan. Trước lời cầu khẩn của bà, Đức Giêsu đã lặng thinh, không những thế, dường như bà đang bị từ chối: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” (Mt 15, 26). Dù vậy, bà vẫn tin. Thật ngạc nhiên! Niềm tin của bà càng thêm mạnh mẽ và xác tín hơn, khi bà đáp: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rớt xuống” (Mt 15, 27). Bà tin vào chính Đấng bà đang cầu xin, dù bà chưa nhận biết Người, nhưng bà vẫn tin, Người sẽ đoái thương đến bà. Thật vậy, chẳng có gì ngăn cản được Thiên Chúa thương xót, ban ơn cho con người, dù người được nhận ơn là ai đi nữa: “ hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta” (Is 56, 6-7).

Tin là chúng ta trao phó cuộc đời mình cho Thiên Chúa, Người sẽ thực hiện  những điều tốt đẹp trong cuộc đời chúng ta. Nhưng thật là nghịch lý, khi chúng ta nói chúng ta tin, nhưng chính chúng ta lại không làm gì, như dân gian có câu: há miệng chờ sung rụng. Chúng ta tin sẽ thu hoạch được một vụ mùa tốt, nhưng chúng ta lại chẳng đem hết tâm huyết để chăm bón cây trồng thì làm sao có được. Hay muốn trình độ nghiệp vụ được nâng cao nhưng lại không cất công học hỏi, nghiên cứu, thì cũng không có kết quả gì. Hoặc chúng ta tin Thiên Chúa là Đấng yêu thương, nhưng chúng ta lại làm ngơ trước những khó khăn, đau khổ của người khác. Dường như chúng ta chưa thể hiện được lòng tin của chúng ta. Phải chăng chúng ta đang trưng diễn sự kiêu ngạo của chúng ta để thách thức nhiều hơn là tin tưởng, phó thác nơi Chúa. Thật vậy, khi chúng ta tin, chúng ta sẽ đem hết cả tâm trí, con người để chúng ta thực hiện những điều ấy, trong niềm xác tín: Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng luôn thực hiện những điều tốt nhất trong cuộc đời chúng ta. Như thế, chúng ta cảm thấy thật hạnh phúc.

Một khi lòng tin của chúng ta đơm bông kết trái, chúng ta cũng muốn cho người khác cũng được như vậy. Chúng ta đã cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc khi được làm con Chúa, được hưởng dư đầy những ân lộc Chúa ban, chúng ta muốn cho những người chưa nhận biết Chúa cũng nhận được hồng ân ấy. Chúng ta nên từ bỏ não trạng “loại trừ” khi những người khác không giống, không cùng tín ngưỡng với chúng ta. Thay vào đó, chúng ta phải có bổn phận khơi lên lòng tin nơi họ qua đời sống bác ái, yêu thương, chia sẻ. Nếu chúng ta không làm được những việc cao cả lớn lao, thì hãy bắt đầu với những hành động nhỏ bé. Như vậy, chúng ta làm cho người khác phải thắc mắc về chúng ta: đây là đạo yêu thương! Chẳng hạn, chúng ta đến nhà để thăm hỏi, trò chuyện, mời người khác đến tham dự Thánh lễ và dùng cơm trong các dịp lễ lớn, trao gửi những nụ cười thân thiện, nói những lời yêu thương,… Tất cả những việc ấy đều nằm trong khả năng của chúng ta. Khi làm như vậy, chúng ta đang sống niềm tin của chúng ta ngay trong cuộc sống hằng ngày.

Lạy Chúa, con tin, con tin Thiên Chúa luôn yêu thương, quan phòng và thực hiện những gì tốt đẹp nhất cho con. Xin cho con biết thể hiện niềm tin ấy qua việc không ngừng nỗ lực đem hết khả năng, nhiệt huyết mà cộng tác với ơn Chúa ban để sinh hoa trái trong đời sống đức tin thường ngày. Nhờ đó, con sẽ trở thành nhân chứng của Chúa cho tha nhân. Amen.

Về mục lục

CẢM THẤU NỖI ĐAU

Maria. Nguyễn Huệ

Qua những phương tiện truyền thông, hằng ngày, có hàng chục bài viết, những video clip nói về tình trạng hỗn loạn, khó khăn, mất bình an của xã hội chúng ta đang trong thời gian dịch bệnh Covid hoành hành. Qua thông tin mỗi ngày, chúng ta biết Giáo hội của Chúa đang bị bách hại, bôi nhọ, xúc phạm. Bối cảnh ấy hiện lên biết bao nỗi đau, lo lắng, sợ hãi, bệnh tật của con người, đặc biệt là khát khao một cuộc sống bình thường, hạnh phúc. Ánh sáng Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đối diện với nhu cầu của bản thân, tha nhân trong đức tin, qua thái độ khiêm tốn của người phụ nữ Canaan nài xin Chúa Giêsu cứu con gái của bà: “Lạy con vua Đavit, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khỏ sở lắm!” (Mt 15, 22).

Chúng ta thấy thái độ nài xin của bà thật khác lạ! Bà xin Chúa thương xót bà trong khi chính con gái của bà mới là người đau khổ đang bị quỷ ám. Trong trình thật khác của Tin Mừng, Mt 17,14-15  người cha đến cầu xin Chúa Giêsu chữa con trai mình và nói lên nỗi đau khổ của trai “ thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm”( Mt17,15)  . Vậy tại sao bà lại thưa lên với Đức Giêsu như vậy? Phải chăng là tình mẫu tử thiêng liêng và chính nỗi đau khổ của con bà đã trở thành nỗi đau khổ của bà. Bởi bà đã cảm được, đã thấu hiểu được nỗi đau ấy. Dù bà là dân ngoại nhưng đã thấm nhuần tinh thần đức ái của Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta có rung cảm trước những nỗi đau khổ của những người đang sống quanh chúng ta, ngay cả với những người trong gia đình? Chúng ta có hiểu được áp lực về bổn phận, trách nhiệm của người chồng (người vợ) , hay những nỗi sợ hãi, lo lắng, đòi hỏi trong học hành của con cái? Dường như những điều ấy thật xa lạ trong cuộc sống của chúng ta! Khi về đến nhà, thường chúng ta chỉ quan tâm tới những vấn đề trên mạng xã hội facebook mà quên đi những người đang sống bên cạnh chúng ta: họ là ai, họ đang có những tâm tư, tình cảm gì, khó khăn gì… Với những người trong gia đình đã khó làm sao chúng ta có thể có thời gian quan tâm tới những người khác?

Qua sứ điệp Lời Chúa hôm nay, Chúa vẫn đang mời gọi  Chúng ta hãy quan tâm người khác qua những điều nhỏ nhặt nhất: chăm chút cho những bữa ăn chung của gia đình, cùng nhau trò chuyện về ngày sống đã qua, và cả những khó khăn đang gặp phải trong cuộc sống,… Đặc biệt, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa những ưu tư, trăn trở trong cuộc sống và chúng ta cũng không quên  dâng lên Chúa những nỗi đau khổ của anh chị em  đang gặp phải vì bệnh tật, chiến tranh, nghèo đói, những khó khăn bất ổn trong đời sống,… Chúng ta hãy  tin tưởng, phó thác nơi Chúa tất cả thao thức cuả chúng ta. Bởi chúng ta đã, đang và sẽ cảm thấu những nỗi đau ấy. Và, chúng ta có thể giúp đỡ người khác trong khả năng về vật chất cũng như tinh thần. Như vậy, chúng ta đang ôm những nỗi đau của người khác và được chính Chúa Giêsu ôm trọn cả chúng ta và những anh chị em khác đến với Người.

Lạy Chúa, trên thế giới còn rất nhiều người đang chịu sự đau khổ. Chúng con tin rằng Chúa biết điều con cái của Ngài đang gánh chịu. Xin Chúa mau đến cứu giúp chúng con. Đồng thời, xin Chúa ban ơn can đảm để giúp chúng con biết sống tâm tình hoán cải và phó thác để đón nhận những khó khăn, thử thách và không ngừng nỗ lực cộng tác với ơn Chúa ban với niềm xác tin rằng: “Thiên Chúa có thể biến  những điều chưa tốt thành những điều lành”. Amen.

Về mục lục

ƠN CỨU ĐỘ ĐẾN VỚI DÂN NGOẠI

Lm Trần Bình Trọng

Người Do thái thời Chúa Giêsu coi tất cả những ai không có máu Do thái đều là dân ngoại. Ngay cả những người có máu Do thái, nhưng nếu bị tiêm nhiễm bởi những thói hư nết xấu của dân ngoại bang thì cũng bị liệt kê vào sổ dân ngoại như người Samari chẳng hạn.

Tuy nhiên người đàn bà Canaan ngoại đạo trong miền Tia và Xiđôn đã không sợ đến với Chúa để xin một ân huệ. Các môn đệ Chúa toan đuổi bà đi, vì bà có vẻ quấy rầy. Ðể thử đức tin của bà, ngay cả chính Chúa cũng toan đặt cản trở cho lòng tin của bà lúc ban đầu, khi bảo bà rằng sứ mệnh của Người là được sai đến với những chiên lạc nhà Ít-ra-en (Mt 15:24) mà thôi, nghĩa là sứ mệnh của Người không đến với dân ngoại như bà.

Lúc đầu Chúa tỏ vẻ lãnh đạm, lại còn dùng từ ngữ không đẹp của thời đại mà ám chỉ về dân ngoại như là chó khi nói với bà: Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con (Mt 15:26). Thời bấy giờ người cận đông có thói quen dùng kiểu nói mà ám chỉ về dân tộc khác. Và người Do thái ví dân ngoại như chó. Từ ngữ chó ở đây không mang ý nghĩa nhục mạ trong ngôn ngữ Aram như trong Việt ngữ. Và người đàn bà cũng tỏ ra tài khéo trong cách chơi chữ đối đáp, lặp lại chính kiểu nói chỉ về dân ngoại mà Chúa đã dùng: Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống (Mt 15:27). Lời đối đáp của bà có nghĩa là bà thừa nhận quyền ưu tiên của người Do thái trong việc nhận lãnh ơn cứu độ và khiêm tốn sẵn sàng lượm nhặt những gì con cái sa thải để nhận một ơn huệ nhỏ bé Chúa ban cũng được vậy.

Thấy bà có lòng tin khiêm tốn và vững mạnh, Chúa lên tiếng ca ngợi đức tin của bà. Lòng khiêm tốn và đức tin bất khuất của bà khiến Chúa mủi lòng và ban cho bà được toại nguyện: cho con gái bà được thoát khỏi quỉ ám. Dân riêng của Chúa có được cơ hội trước để nhận lãnh ơn cứu độ, rồi sau đó đến lượt dân ngoại. Bằng việc Chúa ban cho người đàn bà dân ngoại xứ Canaan có lòng tin được hưởng ân huệ, cho viên sĩ quan đội trưởng dân ngoại La mã, cho người phụ nữ Samari dân ngoại ở giếng Giacóp, các môn đệ hiểu được sứ mệnh của Chúa bao quát hơn, rộng lớn hơn, không chỉ giới hạn về một dòng giống hay một dân tộc mà thôi.

Trước những biến cố này, đức tin vào Ðấng cứu thế chỉ giới hạn đến một dân tộc Chúa chọn. Và sứ mệnh của Chúa là giảng dạy và chữa lành dân riêng của Người. Tại sao trước đó Chúa phải chọn một dân tộc làm dân riêng? Chọn một dân tộc làm dân riêng là để Chúa có cơ hội thử thách, luyện lọc và thanh tẩy họ, chỉ cho họ đường lối của Chúa và dạy họ sống thế nào để được gọi là dân riêng. Trong suốt dòng lịch sử Cựu ước, nhiều lần dân riêng của Chúa đã tỏ ra bất trung, phản nghịch cùng Chúa, họ bỏ Chúa để đi thờ các thần ngoại lai. Tuy nhiên khi họ ăn năn sám hối, thì Chúa lại sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm của họ. Thánh Phaolô là người Do thái, nhiệt thành theo đạo Do thái đến độ cuồng tín. Chẳng thế mà ông đã xin trát của quan toà để đi bách hại đạo mới là Kitô giáo. Khi được ơn trở lại, thánh Phaolô đã nhiệt thành rao giảng đạo Kitô giáo cho người Do thái. Chỉ khi người Do thái không chịu chấp nhận tin mừng Phúc âm của đạo mới, thì thánh Phaolô mới tìm đến rao giảng giáo lý Phúc âm cho dân ngoại mà  thôi (Rm 11:31).

Thiết tưởng câu chuyện Chúa thử thách đức tin của người đàn bà ngoại giáo phải dạy ta  bài học về đức tin. Những cử chỉ khó chịu của các tông đồ, cộng thêm thái độ hờ hững của Chúa lúc ban đầu, cũng không làm nản lòng bà. Lời từ chối ban đầu của Chúa với người phụ nữ chỉ là hình thức thử thách đức tin khiêm tốn và lòng kiên trung của bà. Vậy để được đến với Chúa, người ta phải có lòng tin quả quyết như đức tin của viên đội trưởng ngoại đạo người La mã. Ông còn tỏ lòng khiêm tốn, không dám mời Chúa đến nhà, mà chỉ xin Chúa phán một lời thì đầy tớ ông được lành mạnh (Mt 8:5-13). Ðến với Chúa cũng cần biết phục thiện và chấp nhận sự thực như người phụ nữ ngoại đạo Samari. Người phụ nữ Samari lúc đầu tỏ vẻ khép kín khi gặp Chúa và trong cuộc đàm thoại với Chúa còn tỏ ra đanh đá nữa. Tuy nhiên chị ta cũng biết phục thiện và chấp nhận sự thực về mình, mặc dầu sự thật có làm đau lòng (Ga 4:7-42).

Ðối với đạo cũ là đạo Do thái thì ta cũng một thời bị coi là dân ngoại đạo. Bằng việc chấp nhận đức tin vào Chúa cứu thế và sống theo đường lối của Người, ta được trở nên dân  mới được chọn làm dân riêng. Bài trích sách ngôn sứ Isaia hôm nay ghi lại: Người ngoại bang nào gắn bó cùng Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, thì Ta sẽ dẫn chúng lên núi thánh (Is 56:6a-7a). Lời ngôn sứ này ám chỉ về những người sẽ tìm đến Chúa để phụng sự, yêu mến Người và trở nên tôi tớ của Người, đều được Người đưa lên núi thánh.

Lời cầu nguyện xin cho được hưởng ơn cứu độ:

Lạy Chúa là Ðấng ban phát mọi ơn lành.

Xin dạy con biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn lành của Chúa.

Xin ban cho con một lòng khiêm tốn, một đức tin quả quyết

của  viên sĩ quan La mã và người phụ nữ Canaan,

để ơn Chúa có thể tác động tâm hồn con.

Xin ban cho con một tâm hồn biết phục thiện,

biết chấp nhận sự thực về mình: ưu điểm cũng như khuyết điểm

của người phụ nữ ngoại đạo Samari

hầu ơn Chúa có thể biến đổi và cải hoá tâm hồn con. Amen.

Về mục lục

ƠN CỨU ĐỘ ĐƯỢC BAN CHO MỌI NGƯỜI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Trong tập sách “Những mẩu bánh vụn” của Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, đã kể lại một câu chuyện: Một người bạn tù với Ngài là người ngoại giáo, nhưng ông ta rất cảm mến Đức Hồng Y.

Ông ta được ra tù trước và sau này kể lại: Nhà ông ở gần Trung tâm Lavang, vì thế mỗi ngày, ông đều đến với Đức Mẹ Lavang để cầu nguyện cho Đức Hồng Y Thuận. Khi được hỏi: Ông là người ngoại, ông cầu nguyện thế nào? Ông đáp: Tôi nói với Bà Ấy (Đức Mẹ) rằng: Thưa bà, tôi chưa biết Bà là ai, song tôi đến đây để cầu xin Bà thương đến một người bạn của tôi là ông Thuận còn ở trong tù, xin Bà thương cứu giúp ông ấy. Thế là không bao lâu sau, Đức Hồng Y Thuận cũng được ra tù và hai người gặp lại nhau trong sự xúc động.

Người ngoại có tin Chúa và có cầu nguyện không? Trong thực tế, có nhiều người được gọi là ‘bên lương”, là dân ngoại, song họ lại có một niềm tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa, mặc dù họ chưa thực sự theo Chúa. Đối với những người dân ngoại này, chỉ cần một lòng tin đơn sơ chân thành, thì Thiên Chúa vẫn ghi nhận sự chân thành ấy và ban ơn trợ giúp cho họ. Nếu có dịp đến Lavang, Tàpao, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự thành tâm của những người ngoài Công Giáo. Họ đến đây với lòng tin vào quyền năng của Thiên Chúa và sự trợ giúp của Đức Mẹ. Họ thành tâm xin Chúa và Đức Mẹ che chở, chữa lành.

Có một suy nghĩ thường xảy ra nơi người Do Thái và nơi chúng ta hôm nay, đó là chúng ta thường đóng khung Thiên Chúa trong những người có đạo, cho mình là những người độc quyền chiếm giữ Thiên Chúa và loại trừ người khác ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Tuy nhiên Lời Chúa hôm nay cho thấy, Thiên Chúa không hề giới hạn tình yêu của Ngài. Bất cứ ai, dù là là dân ngoại hay Do Thái, nếu tin tưởng vào Thiên Chúa, thì đều được Ngài ra tay cứu độ. Tiên tri Isai đã loan báo về ơn cứu độ của Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại, không chỉ người Do Thái, mà người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa, phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cũng trở nên tôi tớ của Người. Những ai tuân giữ lề luật, thì cũng được lên núi thánh của Chúa… và Thiên Chúa sẽ ưng nhận lễ toàn thiêu của họ. Với lời này của Isai, quả thật đã phá đổ hoàn toàn suy nghĩ của người Do Thái, vì họ tự hào mình là dân riêng của Chúa, và ngược lại, Chúa là của riêng Israel mà thôi. Isai cho thấy, Thiên Chúa không hề bị giới hạn, hay nói đúng hơn, ơn cứu độ của Thiên Chúa được ban tặng không chỉ cho Israel, mà là cho tất cả nhân loại. Những ai tin và tuân giữ giới răn lề luật của Chúa thì trở thành dân của Chúa.

Câu chuyện Thánh Matthew thuật lại hôm nay khiến cho nhiều người thắc mắc: Chúa Giêsu đi về vùng Tia và Sidon, tức là vùng đất của dân ngoại, thì có một người đàn bà chạy đến và kêu lên: Lạy Ngài là Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm. Với lời kêu cầu này, bà đã thể hiện lòng tin vào Đức Giêsu. Bà tin Đức Giêsu là Con vua Đavít, tức là Đấng cứu thế. Tuy nhiên Thánh Matthew cho thấy, Chúa Giêsu dường như dửng dưng trước lời kêu cầu này. Khi các môn đệ lên tiếng giùm bà, thì Chúa Giêsu còn trả lời: Thày chỉ được sai đến với con chiên lạc nhà Israel thôi. Đến khi bà ấy nài nỉ thì Chúa đã nói với bà: Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con.

Có nhiều nhà chú giải đã cố gắng giải thích những lời lẽ xem ra từ chối nặng nề này của Chúa Giêsu. Chúng ta không đi sâu và những giải thích này, nhưng chúng ta nhìn vào đức tin và sự kiên nhẫn của người phụ nữ trong khi cầu xin. Người đàn bà này đang gặp đau khổ, đó là con bà đau bệnh gần chết. Trong lúc tuyệt vọng, bà chỉ còn biết chạy đến với Thày Giêsu, mà có lẽ bà đã từng nghe biết về Ngài. Tuy nhiên khi đến với Chúa Giêsu, bà dường như lại gặp một thử thách khác, đó là sự im lặng làm ngơ của Thiên Chúa trước lời cầu xin của bà. Người phụ nữ này vẫn không thất vọng, dù có lúc bà như bị Thiên Chúa không chỉ im lặng mà còn từ chối thẳng thừng lời cầu xin của bà. Thế nhưng, bà vẫn kiên trì trước câu trả lời của Chúa, bà thưa lại với Chúa: Thưa Ngài đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống. Với câu trả lời này, bà đã thể hiện lòng tin của bà nơi Chúa Giêsu dù trước đó bà đã bị từ chối.

Người phụ nữ Canaan không hề tự ái trước lời từ chối của Chúa. Trái lại, bà càng khiêm tốn hơn để “lý lẽ” với Chúa như thế, vì tin rằng con của bà chỉ có thể được chữa lành nhờ quyền năng “dư thừa” của Thày Giêsu. Bà còn nhận mình không xứng đáng được đồng bàn hoặc được chia sẻ tấm bánh ân phúc của Chúa, mà chỉ dám nhận mình là đám chó con, chờ đợi và cầu xin một chút ân lộc dư thừa từ bàn ăn của chủ rơi xuống, chứ cũng không dám mong được ông chủ ném cho một miếng bánh. Chúa Giêsu hết sức ngạc nhiên trước lý lẽ và lòng tin của bà và ngài đã không thể không đáp ứng lời cầu xin của bà: Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy. Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh. Có thể nói, Chúa Giêsu đã phải xiêu lòng và chịu thua trước đức tin mạnh mẽ của một người phụ nữ như thế.

Thánh Phaolô đã nhận ra sự kỳ diệu trong kế hoạch của Thiên Chúa, khi dân ngoại được mời gọi chia sẻ niềm tin và thừa hưởng lời hứa ban ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho người Do Thái. Mặc dù dân Do Thái đã được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn để thừa hưởng gia nghiệp Nước Trời, thế nhưng dường như, họ đã coi thường ân phúc này. Họ đã từ chối ân huệ của Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã dành ân huệ ấy cho dân ngoại và cho tất cả những ai có lòng tin. Phúc lành mà Thiên Chúa hứa ban cho dân Do Thái qua các tổ phụ, giờ đây lại được ban cho dân ngoại. Theo Thánh Phaolô, những người Do Thái muốn được hưởng ân phúc này đòi phải có một điều kiện tiên quyết, đó là quay trở lại với thái độ vâng phục Thiên Chúa.

Thưa quý OBACE, cũng đã có một thời, vì tự mãn với ơn gọi làm con Thiên Chúa, được hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Giáo Hội, chúng ta cũng rơi vào tình trạng cực đoan, loại trừ những người dân ngoại, khi tuyên bố rằng: Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi. Từ quan niệm này, nhiều người sống đạo không khác gì dân Do Thái, tức là giữ đạo thụ động, không cố gắng, không hoán cải. Nhiều người khác rơi vào tình trạng giữ đạo theo công thức, theo thói quen, thiếu chiều sâu của đức tin, không thực hành đạo, vì thế khi gặp khó khăn thử thách, họ thất vọng oán trách Thiên Chúa.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào đức tin của những người bị coi là dân ngoại, để biết tôn trọng đức tin chân thành của họ và còn để rà xét lại đời sống đạo và đức tin của mình. Thiên Chúa cho chúng ta rất nhiều cơ hội và ân phúc, nhưng nhiều khi chúng ta lại coi đó là những điều tự nhiên, may mắn, hơn là nhận ra tình yêu thương ban tặng của Chúa. Giống như người Do Thái, chúng ta thờ ơ với ơn cứu độ của mình, từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa. Nếu chúng ta không hoán cải đời sống, thì cũng sẽ có ngày người từ đông chí tây được mời vào dự tiệc nước Thiên Chúa, còn chúng ta bị loại ra ngoài.

Kế đến, hãy học nơi tấm gương tin tưởng kiên trì và khiêm tốn của người phụ nữ Canaan hôm nay: đừng bao giờ thất vọng trước sự im lặng của Thiên Chúa. Vì để tôi luyện, thử thách đức tin của chúng ta, đôi khi Chúa dường như im lặng hoặc từ chối lời kêu cầu của chúng ta; nhưng nếu chúng ta cứ kiên trì, cứ nài xin, chắc chắn Chúa sẽ ra tay và cho chúng ta được như sự thỉnh cầu.

Người phụ nữ hôm nay quả là tấm gương cho các bậc làm cha mẹ. Nhiều người, nhiều gia đình đang rơi vào cảnh cùng quẫn, đau khổ vì vợ chồng đau yếu, con cái ngỗ nghịch hư hỏng; nhiều người đã ngã lòng vì thấy lời cầu xin của mình chưa được Chúa nhận lời. Họ trách Thiên Chúa: Tôi đi lễ mỗi ngày, đã đi xin khấn ở nhiều nơi mà vẫn chẳng được… Nhiều người thì xin những người đạo đức, thánh thiện thêm lời kêu khấn cho mình. Đó là điều tốt, thế nhưng đừng quên chính bản thân cần phải hoán cải, cần lắng nghe để nhận ra tiếng nói và sự chỉ dẫn của Chúa qua từng biến cố xảy ra trong cuộc sống. Hãy tin tưởng, kiên trì để thưa với Chúa: Lạy Chúa, xin dủ lòng thương con và gia đình con. Chúa sẽ nghe lời chúng ta.

Nhiều người trẻ vì bị mê hoặc bởi khoa học công nghệ, bị mãnh lực của đồng tiền chiếm trọn cả thời giờ và ưu tư, khiến họ không còn chỗ cho Thiên Chúa. Họ đã để cho đức tin của mình bị mờ nhạt, èo uột khi rời xa gia đình hoặc khi lăn xả vào vòng quay của xã hội. Họ đánh mất thói quen cầu nguyện mỗi ngày, bỏ qua việc xưng tội rước lễ, xa rời với những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ. Những dấu hiệu ấy cho thấy một đức tin đang bị khô héo, mất sức sống. Chúng ta cùng cầu xin Chúa củng cố đức tin của chúng ta, đặc biệt cho những người đang lung lạc đức tin vì thử thách, và xin Chúa giúp chúng ta luôn tin tưởng, cậy trông nơi Chúa dù lúc vui hay lúc buồn, khi thành công hay thất bại. Chúng ta tin rằng, Thiên Chúa luôn ở bên và sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Amen.

Về mục lục

MẢNH VỤN KHÔNG THỪA

Trầm Thiên Thu

Những thứ thừa thì chắc chắn dư, và là thứ bỏ đi, nhưng có những thứ dư mà lại không thừa, nghĩa là vẫn có ích. Rác rưởi có khắp nơi, nhưng chính những đống rác đó vẫn sinh ích bằng cách nuôi sống nhiều người khác…

Không ai đầy đủ đến mức không phải xin ai, cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Thật vậy, đối với con người với nhau còn vậy huống chi phàm nhân đối với Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều là những kẻ ăn mày lòng thương xót của Thiên Chúa, cụ thể là những lúc đi xưng tội. Và mỗi ngày chúng ta cũng “ăn xin” Ngài nhiều lần, nhất là trong hoàn cảnh đại dịch corona hiện nay.

Thế giới có nhiều quốc gia, gọi là đất nước, phân định bằng biên giới, với khoảng trời và quốc kỳ riêng. Nhưng thế gian chỉ có hai lãnh thổ – miền sinh và cõi tử. Mọi người chung một dòng sông (nước) gọi là Thời Gian – khi sống, và chung một ngôi nhà gọi là Đất – khi chết. Cuộc sống nhiêu khê hơn chúng ta tưởng, như biển cả luôn động dù nhìn bề ngoài rất tĩnh. Tất nhiên luôn phải chiến đấu, trước tiên chiến đấu với chính mình. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Tiền nhân đã xác định như vậy. Ngạn ngữ Phi châu nói: “Biển lặng chẳng tạo nên thủy thủ tài ba.” Thật vậy, thử thách càng cao thì cơ hội càng lớn. Thời thế tạo anh hùng nhiều hơn là anh hùng tạo thời thế. Chí sĩ Phan Bội Châu (1867-1940) đặt vấn đề: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?” Đau khổ và khó khăn là “bằng cấp sống” chứng minh một con người tài giỏi thực sự.

Thật tuyệt vời với cách so sánh của Garrison Keillor: “Cuộc sống cũng như cuộc chiến, nếu mọi thứ bỗng trở nên yên lặng thì có nghĩa là bạn đang thua trận.” Cuộc sống luôn đầy những thử thách, kinh nghiệm này ai cũng có thể tích lũy theo thời gian. Nếu không có thử thách, người ta không thể nhận ra sức mạnh kỳ lạ vẫn đang tiềm ẩn trong chính mình. Vả lại, cuộc sống bình lặng sẽ đơn điệu, gây nhàm chán. Toni Malliet nói: “Thử thách không là gì cả, nhưng cơ hội ẩn chứa đằng sau thử thách đó mới là điều đáng nói.” Chất liệu sống hơn hoặc kém là chất lượng của sự kiên trì, các thiên tài đều có chất này.

Đối mặt với thử thách, con người cảm thấy thật bé nhỏ và sức mạnh dường như trở thành yếu đuối. Vì thế mà cần can đảm. Chẳng lạ gì khi Chúa Giêsu luôn động viên chúng ta cố gắng “đi qua cửa hẹp,” (Mt 7:13-14; Lc 13:24) để tự tôi luyện trong gian khổ chứ không hèn nhát buông xuôi. Chắc chắn mọi thử thách đều có giá trị cao, vì chính những gian nan mới khiến người ta trưởng thành đúng nghĩa, thực sự thành nhân – nên người.

Chính Thiên Chúa truyền lệnh: “Hãy tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công minh, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới, và đức công chính của Ta sắp được biểu lộ.” (Is 56:1) Thời gian là của Chúa, chúng ta chỉ là những người quản lý, không thể biết thời gian còn dài hay ngắn. Tất cả là quyền của Chúa: “Nếu Người muốn rút sinh khí lại và quy tụ hơi thở về mình, mọi sinh vật sẽ tắt thở cùng một lúc và phàm nhân sẽ trở về cát bụi.” (G 34:14-15) Do đó, ai cũng phải tỉnh thức, và đó là một dạng thử thách. Chính sự thử thách khiến chúng ta phải coi chừng để mà sống ngoan, xử khéo.

Thiên Chúa chí nhân nhưng cũng tuyệt đối công bình và chính trực, đặc biệt là không thiên vị bất kỳ ai: “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân.” (Is 56:6-7) Dù là ai, từ giáo hoàng tới giáo dân, từ bề trên tới người giúp việc, từ tổng thống tới người ăn xin, vô gia cư,… không ai có thể viện cớ gì mà nói: Nếu, Tại, Vì, Bởi, Giả Sử, Giá Mà, Phải Chi,… Những chữ “viết hoa” đáng quan ngại lắm!

Thực sự thiếu gì thì cứ xin. Thiên Chúa muốn được chúng ta quấy rầy, bất cứ lúc nào. “Xin–Cho” là luật công bằng. Ở đây là “xin–cho” trong tương quan yêu thương và bác ái, chứ không “xin–cho” theo kiểu “chế độ” ban phát, hống hách, đàn áp. Tất cả chúng ta đều là những “người làm công” trong Vườn Nho của Chúa, chẳng ai có quyền gì mà “chảnh” với người khác. Ý thức được như vậy để có thể ước mong như Thánh Vịnh gia: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.” (Tv 67:2-3) Tin để hiểu, hiểu để tin hơn. (Thánh Augustinô)

Cuộc sống con người bất trác và bất túc nên luôn có nhiều ước mơ về mọi thứ – tinh thần và vật chất. Nhưng ước mong về tâm linh mới thực sự quan trọng: “Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này. Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài.” (Tv 67:5-6) Công lý và công bình phải có thì con người mới được tôn trọng đúng mức – về nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền. Đó là quyền sống do chính Thiên Chúa ban.

Những lời hay ý đẹp chúc nhau đôi khi chỉ là “xã giao” chứ chưa thật lòng. Trong Thánh Lễ có nghi thức “chúc bình an” nhưng một số người có vẻ vẫn thụ động khi cúi đầu chúc bình an, có người chỉ miễn cưỡng “co cái cổ” chút xíu. Ngay cả chủ tế cũng có người thụ động, gật đầu theo nghi thức, hai cậu lễ sinh hai bên chả sơ múi gì. Nghi thức để tránh lộn xộn, nhưng không nên câu nệ. Ước gì mọi người cùng chân thành với nhau: “Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!” (Tv 67:8) Có những thứ nhỏ mà cần thiết, vụn vặt mà quan trọng. Chúc bình an cũng là cách thể hiện tình hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.

Thánh Phaolô chia sẻ: “Tôi xin ngỏ lời với anh em là những người gốc dân ngoại. Với tư cách là Tông Đồ các dân ngoại, tôi coi trọng chức vụ của tôi, mong sao nhờ vậy mà tôi làm cho anh em đồng bào tôi phải ganh tị, và tôi cứu được một số anh em đó. Thật vậy, nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hoà giải với Thiên Chúa thì việc họ được thâu nhận lại là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống?” (Rm 11:13-15) Ông cựu Biệt Phái Saolê muốn người ta ganh tị chứ không ghen tị hoặc ghen ghét, nhưng phải là ganh tị về điều thánh đức, cứu các linh hồn, chứ không ganh tị về những thứ trần tục, hình thức. Trọng hình thức là giả hình.

Thánh Phaolô xác quyết: “Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi thì Người không hề đổi ý.” (Rm 11:29) Thật vậy, ông nói rằng “trước kia chúng ta đã không vâng phục Thiên Chúa, nhưng nay chúng ta đã được thương xót, vì họ không vâng phục; họ cũng thế: nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người thương xót chúng ta, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót. Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục để thương xót mọi người.” (Rm 11:30-32) Một triết lý đầy tính thần học với “chất Phaolô” rất đậm.

Từ xưa, người ta không ưa Chúa Giêsu vì Ngài có cách nói “khác người” và “gây sốc.” Khi Chúa Giêsu đang trên đường tới Tia và Xiđôn, có một người đàn bà Canaan kêu to: “Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” (Mt 15:22) Ngài vẫn làm ngơ, không nói nửa lời. Có lẽ các môn đệ nói gì đó nên Ngài xác định: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi.” (Mt 15:24) Bó tay!

Thế nhưng bà ấy vẫn kiên trì tin tưởng đến van xin: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” (Mt 15:25) Nhưng Ngài thẳng thắn nói: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” (Mt 15:26) Ôi, nghe “sốc” quá chừng! Vậy mà bà ấy vẫn không tự ái, thản nhiên nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bấy giờ Chúa Giêsu trìu mến nhìn bà ấy, vừa cười vừa nói: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” (Mt 15:28) Từ giờ đó, con gái bà được khỏi. Sự kiên trì có sức mạnh vô song. Đó không chỉ là “chất sống” mà còn là một nhân đức.

Thử thách thế thôi. Thử thách để người ta nhận ra chân giá trị của đức tin – càng kiên trì càng mạnh mẽ. Chúa Giêsu thử thách không phải là để “thăm dò” như chúng ta, vì Ngài đã biết lòng ai sâu hay rộng cỡ nào, tim ai cứng hay mềm, nghĩa là Ngài không cần thử thách. Ngài làm vậy để dạy chúng ta bài học vô giá của nỗi gian truân, đồng thời cũng tạo công trạng cho chính người chịu đựng thử thách. Thật tuyệt vời vì chúng ta bớt ngu muội nhờ kiên trì chứ không xơ cứng.

Rõ ràng thử thách và đau khổ là hồng ân. Chắc hẳn chúng ta cũng phải biết tạ ơn về loại hồng ân “dị biệt” như vậy. Thánh Phaolô khuyên: “Hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong đức tin, hãy sống cho đáng bậc nam nhi và ăn ở kiên cường.” (1 Cr 16:13) Một hệ lụy rất tuyệt vời là “đức tin phát triển thì đức ái cũng gia tăng.” (2 Tx 1:3) Cầu nguyện là điều cần thiết, có giá trị và hiệu quả, không chỉ cho mình mà cả những người mình cầu nguyện cho. Thật vậy, chính chúng ta cũng vẫn luôn phải xin Đức Mẹ và các thánh nguyện giúp cầu thay.

Lạy Thiên Chúa, con cũng chỉ là chó con yếu đuối và hôi hám, hoàn toàn bất xứng, cúi xin Ngài thương xót. Mặc dù vô duyên, bất tài, vô dụng, nhưng con luôn khao khát Ngài và tín thác nơi Ngài, xin cho con được hưởng những mảnh vụn bánh rơi xuống từ Bàn Tiệc Thương Xót để con được no thỏa ân tình Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...