17/02/2024
219

CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY NĂM B

Lời Chúa: St 9,8-15; 1Pr 3,18-22; Mc 1,12-15
---------------------

Mục lục

1. Tội lỗi và tình thương (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Cám dỗ  (Lm. Thái Nguyên)

3. Giao ước: Ánh sáng để nhận ra Thần Khí Thiên Chúa  (Jorathe Nắng Tím)

4. Cám dỗ là gì?  (Lm. Tạ Duy Tuyền)

5. Cùng Chúa Giêsu lên Giêrusalem (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Thiên Chúa đơn phương tỏ tình với con người  (Lm. Giuse Lê Danh Tường)

7. Sức mạnh để chiến thắng cám dỗ   (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

8. Thao luyện  (Lm. Vũ Đình Tường)

9. Hiệp sĩ của Thiên Chúa (Thiên San, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

10. Sám hối để được hưởng giao ước (Maria Việt Trinh, Thanh tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

11. Sống với chính mình (Lm. Giuse Tạ Xuân Hòa)

12. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 1 Mùa Chay_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

13. Tam độc  (Trầm Thiên Thu)

14. Trung thành với lời giao ước Rửa tội  (Lm. Trần Bình Trọng)

15. Chiến thắng cám dỗ (Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP)

16. Chiến thắng sự xấu  (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

17. Cuộc chiến đấu thiêng liêng   (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

18. Cám dỗ thời nay  (Lm. Xuân Hy Vọng)

19. Tin mừng giúp hoán cải (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

20. Chiến thắng ma quỷ và cám dỗ của chúng  (Lm. Dương Trung Tín)

 

TỘI LỖI VÀ TÌNH THƯƠNG

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay. Đối với người tín hữu, đây là “thời Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6,2). Sống tinh thần Mùa Chay là khiêm tốn nhìn nhận mình còn nhiều tội lỗi, đồng thời nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa. Nhờ tình thương, chúng ta được canh tân đổi đời và nên giống Chúa Giêsu trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Mỗi khi Mùa Chay về, chúng ta được mời gọi thực hành những việc đạo đức truyền thống như chay tịnh, hãm mình, hy sinh, cầu nguyện. Thoạt nghĩ đến những thực hành này, chúng ta thường coi đó là những ràng buộc nặng nề, làm giảm tự do ngăn cản ham muốn hưởng thụ của chúng ta. Tuy vậy, những việc đạo đức của Mùa Chay, nếu được thực hiện có ý thức, sẽ giúp chúng ta hoàn thiện bản thân, sống đẹp lòng Chúa và sống tốt với anh chị em mình.

Bài đọc I trích sách Sáng thế giúp chúng ta rút ra bài học từ một biến cố trong quá khứ. Đây cũng là một kinh nghiệm về lòng từ bi hay thương xót của Thiên Chúa, mặc dù con người tội lỗi phản nghịch. Vào thời xa xưa, đã có lúc nhân loại trở nên xấu xa và đầy tội lỗi. Chúa đã muốn dùng cơn Đại hồng thủy để xóa đi cả dòng giống con người. Tác giả sách Sáng thế diễn tả với nỗi đau đớn: “Thiên Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất” (St 5,6). Ngài đã muốn dùng cơn Đại hồng thủy để xóa đi loài người và mọi loài thụ tạo, để thiết lập một dòng giống mới, tinh tuyền thánh thiện hơn. Dòng giống này phát sinh từ gia đình ông Nôê, người sống đạo đức và kính sợ Chúa. Bằng con tàu khổng lồ ông đã chuẩn bị theo lệnh truyền của Chúa, gia đình ông và các loại có cây, súc vật, chim trời đã trở thành những nhân tố đầu tiên của cuộc sáng tạo mới sau khi nước hồng thủy rút đi. Nước vừa có sức mạnh hung dữ nhấn chìm mọi tạo vật, vừa có khả năng làm sinh ra một thế hệ mới. Các hiền sĩ Do Thái đều nhìn nhận biến cố này diễn tả thân phận tội lỗi của con người và lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Đoạn sách Sáng thế chúng ta được nghe hôm nay là kế hoạch của Thiên Chúa sau khi nước hồng thủy đã rút đi. Thiên Chúa hứa với ông Nôê và các con ông: từ nay về sau sẽ không bao giờ tái diễn sự hủy diệt tàn khốc như vậy. Lời hứa của Chúa được gọi là giao ước, và được đánh dấu bằng cầu vồng trên các tầng mây. Sau này, thánh Phêrô và các nhà thần học đầu tiên của Giáo Hội đều giải thích Đại hồng thủy là hình bóng của bí tích Thánh tẩy (Bài đọc II). Thánh nhân còn diễn tả: “Lãnh nhận phép Rửa, không phải để được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô”. Nhờ dòng nước tái sinh, con người cũ của chúng ta đã chết đi để nhường chỗ cho con người mới, tức là con người được ân sủng của Chúa nâng đỡ và thánh hóa. Nhờ tình thương của Chúa, nhất là nhờ ơn cứu độ của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã ký kết giao ước với con người một giao ước mới. Đây là giao ước được ký kết trong máu của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, để quy tụ muôn dân về một mối, làm thành gia đình của Thiên Chúa có Chúa Giêsu là trưởng tử.

Việc cảm nhận thân phận tội lỗi sẽ dẫn chúng ta tới sự sám hối chân thành để cầu xin ơn tha thứ của Chúa. Những thực hành đạo đức của Mùa Chay sẽ giúp chúng ta lãnh nhận ơn tha tội, được trở nên con người mới. Chúa nhật đầu tiên này của Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng vào sa mạc với Chúa Giêsu để tìm lại chính mình. Bởi lẽ, giữa biết bao bon chen giành giật của cuộc sống, nhiều khi chúng ta trở thành vong bản, tức là đánh mất bản thân, sống trong lầm lạc, không có định hướng và tương lai. Khi diễn tả Đức Giêsu “sống giữa loài dã thú” trong sa mạc, Thánh Máccô giúp chúng ta liên tưởng tới khung cảnh vườn địa đàng thuở ban sơ, ở đó, mối tương quan Thiên Chúa – Con người và Tạo vật rất hài hòa êm đẹp, niềm vui và hạnh phúc luôn tràn trề viên mãn. Nếu biết sống tinh thần sa mạc giữa lòng đời, chúng ta sẽ được gặp Chúa, được tâm sự với Ngài và được Ngài hướng dẫn, giúp chúng ta bước theo đường ngay nẻo chính. Thực hành tốt những việc đạo đức của Mùa Chay (cầu nguyện, chay tịnh và bác ái) chính là sống tinh thần sa mạc, nhờ đó, chúng ta trở nên giống Chúa Giêsu, để cùng với Người đem phần rỗi cho anh chị em. Tinh thần sa mạc giúp ta có sức mạnh để chiến thắng cám dỗ đang bủa vây xung quanh chúng ta.

“Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Đó là lời rao giảng mở đầu trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Hai ngàn năm đã qua, lời kêu gọi này vẫn mang tính cấp bách. Bởi lẽ con người khước từ lời Chúa, chuộc sống gian dối hơn là sự thật; thích chiều theo lối sống thế gian hơn là hy sinh để nên trọn lành. Nhờ sám hối, chúng ta được hòa giải với Chúa và với anh chị em, để cùng nhau tiến bước trên con đường về nhà Cha, Đấng luôn yêu thương và chúc phúc cho chúng ta.

Về mục lục

CÁM DỖ

Lm. Thái Nguyên

Chúng ta bước vào Mùa Chay trải dài 40 ngày. Con số 40 trong Kinh Thánh có một ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ. Trước hết là nhắc nhớ  40 năm đầy thử thách của dân Israel trong sa mạc trước khi vào Đất Hứa; Luca cũng diễn tả việc Đức Giêsu cũng phải chịu thử thách và cám dỗ như là một biến cố để Ngài chuẩn bị cho sứ mạng theo kế hoạch của Thiên Chúa. 40 ngày ngôn sứ Êlia lặn lội tới núi Horeb, và ở đó ông được gặp Đức Chúa; đây cũng là thời gian hoàn toàn yên tịnh để Đức Giêsu sống với Thiên Chúa. 40 ngày Môsê chay tịnh trên núi Sinai để chờ đón nhận Giao ước, cũng là thời gian chay tịnh của Đức Giêsu để Ngài chuẩn bị trở thành Giao ước mới của Thiên Chúa với loài người. Điều đặc biệt ở đây là chính Thần Khí thúc đẩy Ngài vào hoang địa để chịu Satan cám dỗ, và Thánh Thần sẽ là Đấng điều dẫn Ngài trong mọi sự để thi hành và hoàn thành ý định cứu độ của Thiên Chúa.

Thánh Kinh đã ghi nhận từ buổi đầu sáng tạo đã có cám dỗ. Các thiên thần cũng phải đối đầu với cám dỗ, vì không vượt qua nổi nên Lucifer, một thiên thần sáng láng đã trở thành Satan tối tăm. Thụ tạo đầu tiên trong thế giới loài người là Ađam và Eva cũng đã gục ngã trước cám dỗ, nên đau khổ sự chết đã tràn vào thế gian. Trong cuộc hành trình về Đất Hứa, dân Israel đã không ngừng bị cám dỗ: cám dỗ trở lại Ai Cập làm nô lệ để có bánh ăn; cám dỗ thờ ngẫu tượng; cám dỗ thử thách Thiên Chúa. Vua Đavit cũng sa ngã trước cám dỗ sắc dục. Cám dỗ gắn liền với thân phận làm người.

Thánh Gioan Kim Khẩu đã quả quyết: “Trên đời này không ai mà không bị cám dỗ”. Người Việt Nam cũng thường nói “Con người ta, già cái lợi cái răng, nhưng ba cái lăng nhăng không già”. Cám dỗ là một điều dai dẳng và luôn lôi kéo mạnh mẽ. Chấp nhận làm người, Chúa Giêsu cũng chấp nhận đối đầu với cám dỗ, nhưng Ngài đã chiến thắng để mở đường cho chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Là những người theo Đức Kitô trên con đường về Nước Trời, đòi chúng ta cũng phải trải qua những thử thách và thanh luyện. Thời gian 40 ngày mùa chay thật quí giá để mỗi người nhìn lại bản thân, đánh giá lại chính mình, đừng chủ quan và ảo tưởng nữa, để có thể sống theo Lời Chúa mời gọi: “Anh em phải sám hối và tin vào Tin mừng”.

Mùa chay là mùa hồi tâm để sám hối. Sám hối trước hết là trở về với Chúa. Cũng là thời gian dừng lại để nhận ra những cám dỗ đang rình rập, những cạm bẫy đang bủa vây. Nếu cuộc đời là một chuỗi những lựa chọn, thì nó cũng là một chuỗi những cám dỗ: cám dỗ nào cũng khiến ta khép kín, chỉ nghĩ đến mình và sống cho mình.

Xã hội càng văn minh tiến bộ, con người càng gặp nhiều cám dỗ: cám dỗ hưởng thụ và chiếm đoạt; cám dỗ sống tầm thường và buông thả; cám dỗ cao ngạo, háo danh và trục lợi… Bao nhiêu giác quan là bấy nhiêu cánh cửa mở ra trước cạm bẫy. Nếu đời người như cây sậy trước gió dễ ngả nghiêng, chúng ta càng phải biết nương tựa vào Chúa. Nếu người đời tôn thờ khoái lạc, xa hoa hưởng thụ, chúng ta càng phải biết chay tịnh cõi lòng. Nếu thế giới đầy hình ảnh vẩn đục, phô bày thân xác, chúng ta càng phải biết giữ gìn con mắt. Quả thật,“Kitô giáo là một trận chiến, chứ không phải là một giấc mơ.” (Wendell Philips).

Nhưng nên nhớ, chúng ta không thể chiến đấu một mình trước sự ranh mãnh và sức mạnh của Satan. Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi cám dỗ bằng quyền năng Thánh Thần, bằng sức mạnh Lời Chúa, bằng sự chay tịnh và cầu nguyện. Ngài còn phải chiến đấu với cơn cám dỗ kinh khủng trong giờ phút cuối cùng, nhưng cũng đã chiến thắng, bằng cách vâng theo ý Cha để chọn chén đắng, chọn thập giá, chọn cái chết, để ý định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn thành. Đó cũng là cách chọn lựa của chúng ta để có thể chiến thắng mọi cám dỗ. Cần sống thân tình với Chúa Giêsu, nhìn ngắm Ngài, theo gương Ngài, và nương mình theo sự tác động của Chúa Thánh Thần, để ta có được nội lực thâm hậu, hầu chiến thắng tội lỗi và vượt qua mọi cạm bẫy của ma quỉ.

Cầu nguyện

Lạy Cha!
Như Chúa Giêsu ngày xưa vào hoang mạc,
theo ánh sáng thúc đẩy của Thánh Linh,
để sống bốn mươi ngày trong cô tịch,
trong chay tịnh và kết hiệp với Cha,
để chuẩn đi ra với sứ vụ cứu đời.

Mỗi khi mùa chay tới,
con cũng được thúc giục đến một nơi,
không phải du lịch tâm linh để xả hơi,
nhưng là được kêu mời vào thinh lặng,
để trở về với Cha trong tình yêu sâu lắng,
tìm lại cân bằng và chỉnh đốn lại hướng đi.

Nhưng chính khi an tĩnh và chay tịnh,
mà Chúa Giêsu thấy mình bị cám dỗ,
con cũng thấy mình bị thách đố liên hồi,
luôn ham muốn để sống với “cái tôi”,
nên khiến đời con luôn trôi nổi,
và cám dỗ luôn kéo lôi tứ phía,
làm cuộc sống dần dà xa cách Chúa,
có nguy cơ tàn úa theo tháng ngày.

Xin cho con đôi mắt sáng của trái tim,
đừng mềm yếu để khỏi bị sa chìm,
đừng cứng cỏi và cố chấp trong suy nghĩ,
nhưng biết khiêm nhu mở ra trước chân lý,
đừng để con vô tri và ù lì trong lối sống,
nhưng luôn theo tác động của Thánh Thần.

Xin cho con biết thật tâm tu luyện,
biết ăn chay và cầu nguyện hằng ngày,
để vững mạnh trên con đường sứ mạng,
hầu đi từ thập giá đến vinh quang. Amen.

Về mục lục

GIAO ƯỚC: ÁNH SÁNG ĐỂ NHẬN RA

THẦN KHÍ THIÊN CHÚA

Jorathe Nắng Tím

Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều tường thuật biến cố Đức Giêsu chịu cám dỗ trong sa mạc, và cả ba đều bắt đầu bằng sự có mặt và hoạt động của Thần Khí Thiên Chúa, tức Chúa Thánh Thần trên Đức Giêsu : thánh Mátthêu và Máccô  dùng từ Thần Khí : “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa…” (Mc 1,12) ; “Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa” (Mt 4,1) ; riêng thánh Luca thì chọn từ Thánh Thần : “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần.. Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu qủy cám dỗ” (Lc 4,1-2).

Để hiểu thế nào là Thần Khí, chúng ta cùng đọc tài liệu “Các loại thần khí” của tác giả Hàn Cư Sĩ được đăng trên trang mạng của Dòng Tên Việt Nam ngày 4.5.2017, một bài nghiên cứu có giá trị, mà người viết trân trọng giới thiệu cùng qúy Bạn.

Theo tác giả, “Thần khí là một năng lực vô hình mang tính thiêng liêng, vượt khỏi không gian và thời gian, một sức mạnh tự than có tính siêu phàm, tác động cả bên trong lẫn bên ngoài, có sức mạnh đẩy con người phải làm theo và có thể bị lệ thuộc hoàn toàn. Trong đời sống tâm linh, mỗi Kitô hữu có những lúc phải đối mặt với những thử thách, có thể làm đức tin của con người bị chao đảo, tê liệt hay tắt lịm. Những lúc như thế, con người rất cần phải phân định để biết rõ thần khí nào đang hoạt động nơi linh hồn.

Theo cha Jordan Anmaun o.p, các thần khí có thể được sắp thành ba loai : thần khí của Thiên Chúa, thần khí của ma qủy, thần khí của con người. Thiên Chúa luôn hướng chúng ta về điều thiện hoăc trực tiếp hoặc gián tiếp qua các nguyên nhân phụ. Ma qủy luôn xúi giục chúng ta làm điều xấu, nó hoạt động bằng sức riêng của mình hoặc qua vẻ quyến rũ của những sự vật trần thế. Thần khí của con người có thể hướng về điều xấu hoặc điều tốt, tùy theo cá nhân đó trong lẽ phải hay theo những ước muốn vị kỷ”.

Tin Mừng khẳng định Đức Giêsu được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, thúc đẩy vào hoang địa để chịu qủy cám dỗ. Như thế, mục đích của hành trình vào hoang địa là để chịu cám dỗ bởi Xatan, có biệt danh là “Tên Cám Dỗ” (Mt 4,3) : Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người mà nói : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!” (Mt 4,3).

Khi nói với Đức Giêsu điều này, Xatan tỏ ra biết rất rõ  Đức Giêsu là Thiên Chúa. Nói cách khác, vì là thụ tạo thiêng liêng, thần khí của ma qủy không lệ thuộc không gian, thời gian, nên biết chính xác Đức Giêsu là Thiên Chúa, mà không cần phải đi tìm, hay chờ được mạc khải như loài người chúng ta. Ma qủy biết rõ Thiên Chúa, nhưng cái biết Thiên Chúa của ma qủy không là cái biết của con cái biết cha, cái biết của trái tim biết ơn, yêu mến, phụng thờ Thiên Chúa của người môn đệ. Trái lại, cái biết của ma qủy chỉ nhắm đến mục đích phá hoại công trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa. Đó là tình trạng của nhiều người bị thần khí ma qủy hướng dẫn, thúc đẩy đi “tìm tòi Thiên Chúa, học hỏi giáo huấn của Ngài” nhưng  không vì yêu mến và để tuân giữ, mà để bôi bác, phá hoại và làm cho nhiều người khác thù ghét, khinh mạn, bất tuân Thiên Chúa như mình.

Xatan còn dùng chính Lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh để cám dỗ Đức Giêsu khi nói với Ngài : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Mt 4,6). Khi trích dẫn chính xác Lời Chúa trong Kinh Thánh, ma qủy tự hào hiểu thấu đáo Kinh Thánh, thuộc lòng Kinh Thánh, rành rẽ từng câu, từng đọan Kinh Thánh, lại còn biết xử dụng Kinh Thánh đúng người đúng việc, đúng nơi đúng lúc, nhưng mục đích của kiến thức Kinh Thánh nơi ma qủy không để giúp người ta yêu mến Thiên Chúa, làm điều thiện, giúp con người sống tốt, trái lại  chúng chỉ tìm đạt một mục tiêu duy nhất là làm hư hỏng con người, đẩy con người vào mê lộ, để tự chuốc lấy bất hạnh, hư vong, và mãi mãi cho đến tận thế, ma qủy quyết tâm thực hiện cho kỳ được muc tiêu này.

Thực vậy, chúng ta đừng tưởng thần khí của ma qủy ngu dốt, đần độn, và hậu đậu, ngay ngô. Trái lại, thần khí của chúng rất tinh ranh, bén nhạy,  xảo quyệt, nhanh như chớp, biến hoá muôn hình trạng, để lôi cuốn, thu hút thần khí của con người vốn dễ chao đảo, lung lay vì dục vọng ích kỷ. Chúng ta cũng đừng lầm tưởng thần khí của ma qủy không biết gì về Lời Chúa. Bằng chứng là Xatan dã vanh vách trích dẫn Lời Thiên Chúa khi cám dỗ Con Thiên Chúa những ngày trong hoang địa.

Tóm lại, Tin Mừng chúa nhật thứ nhất Mùa Chay cho chúng ta thấy cuộc chiến gay go giữa Thần Khí của Thiên Chúa và thần khí của Xatan, nhằm thu phục thần khí của con người.

Chiêm ngắm Đức Giêsu khi vào hoang địa để chịu qủy cám dỗ, chúng ta thấy Ngài đã mang lấy tất cả những gì của con người, kể cả yếu đuối của con người trong những cơn cám dỗ dữ dội, bởi Ngài muốn trở nên như con người trong mọi sự, mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện của đời sống, ngoại trừ tội lỗi  để thông cảm với chúng ta trong vất vả chiến đấu, để thương xót chúng ta trong yếu đuối, thất bại, nhất là để dậy chúng ta phân định đâu là thần khí của Thiên Chúa, đâu là thần khí của ma qủy trong  mọi lựa chọn. Chúng ta cũng có thể nói : khi vào hoang địa để chịu  qủy cám dỗ, Ngôi Lời Thiên Chúa đã mang lấy hết nhân loại trong trái tim Ngài, đã gánh vác hết loài người trên thân xác “cảm thấy đói sau bốn mươi đêm ngày ăn chay ròng rã” (Mt 4,2) của Ngài, để cùng con người chiến đấu, và dậy con người chiến đấu với thần khí của ma qủy.

Ngài muốn mỗi người cũng như Ngài được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trên mọi nẻo đường, cùng được đầy ơn Thánh Thần như Ngài ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh vui buồn, hạnh thông, thử thách, mạnh dạn, yếu đuối, thất bại thành công.

Ngài muốn mỗi người cũng như Ngài  dựa vào Lời Chúa để phân định trái phải, xấu tốt, với một trái tim gắn bó với Thần Khí của Thiên Chúa, Thần Khí ấy luôn hướng tâm hồn mỗi người về điều thiện trong tinh thần tự do của con cái Chúa, với ước muốn đi theo Đức Giêsu và thực hiện tình yêu vô vị lợi đối với mọi người.

Ngài bảo đảm : Thần Khí Thiên Chúa luôn mang lại cho chúng ta : “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23), là hoa trái của Thánh Thần Tình Yêu.

Nhưng quan trọng hơn cả, Đức Giêsu dậy chúng ta chọn lựa giữa các thần khí, bằng nhớ lại “Giao Ước Thiên Chúa đã ký kết với chúng ta”, bởi chỉ quy chiếu vào Giao Ước khi bị ma qủy, thế gian cám dỗ, chúng ta mới kiên định ở lại trong Chúa, kiên tâm đi theo Chúa, kiên quyết nhận Chúa là Lẽ Sống, Gia Nghiệp đời đời.

Thực vậy, khi bị ma qủy cám dỗ, Đức Giêsu đã không chỉ lấy Lời Thiên Chúa để giập tắt lửa kiêu căng, tham vọng ma qủy đốt lên cám dỗ Ngài, mà còn bám chặt vào Giao Ước giữa Ngài với Chúa Cha, khi cho Xatan biết Ngài đến để thi hành Thánh Ý Chúa Cha như người con hiếu thảo, như người tôi tớ trung thành, chứ không như đối thủ kiêu căng, ngạo mạn, và thụ tạo vô ơn, phản bội của Thiên Chúa như chúng. Bằng chứng là trong cả ba câu trả lời của Đức Giêsu, Ngài đều xác định và tuyên xưng : Thiên Chúa là Thiên Chúa của Ngài, và Ngài tuyệt đối tin tưởng, yêu mến, phụng thờ và tuân phục : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi léơi từ miệng Thiên Chúa phán ra”, “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”, “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,4.7.10).

Cũng như ông Noê đã nhận ra Thần Khí của Thiên Chúa trong trận hồng thủy tiêu diệt loài người, trừ tám người thuộc gia đình ông, qua cầu vồng là dấu  hiệu của Giao Ước Thiên Chúa thiết lập với ông : “Ta lập giao ước của Ta với các ngươi : mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa”,“Ta gác cây cung của Ta lên mây, và đó sẽ là dấu hiệu giao ước của Ta với cõi đất… Cây cung sẽ ở trong mây. Ta sẽ nhìn nó để nhớ lại giao ước vĩnh cửu giữa Thiên Chúa với mọi sinh vật, nghiã là với mọi xác phàm trên mặt đất” (St 9,11.13.16). Cây cung Thiên Chuá gác trên mây đây chính là cầu vồng nối đất với Trời.

Với chúng ta hôm nay, giữa một  thế giới đang bị thần khí ma qủy khuynh đảo, chúng ta rất cần ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần để phân định  thần khí nào là Thần Khí của Thiên Chúa, thần khí nào là thần khí của ma qủy, thế gian. Và để phân định, Đức Giêsu dậy chúng ta quy hướng và bám chặt vào Giao Ước mà mỗi người tín hữu đã ký kết với Thiên Chúa khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, giao ước mà thánh Tông Đồ trưởng Phêrô đã qủang diễn trong thư của ngài : “Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời…” (1P3,21-22).

Một cách cụ thể, người Kitô hữu được đi vào Giao Ước vĩnh cửu với Thiên Chúa qua bí tích  rửa tội,  để trở thành chi thể của Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô là Giáo Hội. Chính Giáo Hội là dấu hiệu của Giao Ước giữa mỗi người Kitô hữu với Đức Giêsu Thiên Chúa, và nhờ dấu hiệu của Giao Ước là Bí Tích Giáo Hội, chúng ta không lạc lối, lầm đường khi bị thần khí ma qủy, thế gian  cám dỗ, bởi Thần Khí Thiên Chúa luôn có mặt và hoạt động trong Giáo Hội của Đức Giêsu.

Mùa Chay là mùa Trở Về, nhưng đường về chỉ thực sự được mở ra và chúng ta chỉ có thể lên đường dưới sự hướng dẫn, thúc đẩy của Thần Khí Thiên Chúa, mà Thần Khí Thiên Chúa luôn đợi chờ chúng ta ở trong Giáo Hội là Nhà của Thiên Chúa giữa con người, là Hiền Thê yêu dấu, và Thân Thể của Đức Giêsu Kitô, Đấng chúng ta yêu mến, tôn thờ, phụng sự.

Về mục lục

CÁM DỖ LÀ GÌ?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Từ xa xưa cha ông ta đã sử dụng 2 từ cám dỗ, và cho đến hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục sử dụng nó như một tiếp nối của truyền thống. Cám dỗ là sự lôi kéo thúc dục, khơi gợi lòng ham muốn của con người và khiến họ thực hiện một điều gì đó sai trái, sa ngã vào nó. Cám dỗ cũng có thể hiểu là một hiện tượng nổi lên trong cuộc sống khiến bạn chạy theo nó mà không nghĩ đến hậu quả sau này.

Và như vậy, cám dỗ là một phần trong cuộc sống, cám dỗ là gia vị cho cuộc sống mình. Dùng gia vị không đúng thì cuộc sống chua cay bất hạnh. Biềt điều tiết gia vị thì cuộc sống có hương vị tốt hơn.

Như trong tình yêu luôn có cám dỗ mời gọi con người phản bội với người mình yêu. Nếu biết dừng đúng lúc thì tình yêu càng hạnh phúc hơn, người được yêu càng tin tưởng hơn. Ngược lại, nếu đã từng nếm thử sự cám dỗ của phản bội, người ta mới thấy sự hổ thẹn, và tình yêu trở thành bất hạnh cho tất cả những người liên quan.

Cám dỗ luôn dẫn dụ chúng ta nổi loạn để sống theo ý thích của mình, nó kích thíc dục vọng khiến con người vì ham muốn hưởng thụ mà bất chấp hậu quả và ngay cả bất chấp luật pháp và luân thường đạo lý.

Thông thường ta thấy có những cám dỗ như sau:

Có người bị cám dỗ bởi tham lam. Lòng tham thường không đáy. Lòng tham luôn tìm cách mở rộng lãnh địa để chiếm lĩnh mọi sự về mình. Sự cám dỗ của lòng tham đã gây nên biết bao đau thương cho nhân thế qua nhiều thế hệ bởi tranh giành, chiếm đoạt có khi dẫn đến chiến tranh điêu tàn, cướp phá đói nghèo. . .

Có người bị cám dỗ luôn cho mình hơn người khác nên dễ tức giận và nổi nóng. Nổi nóng quạt nạt khi người khác sai. Đây cũng là biểu hiện của sự kiêu căng. Kiêu căng đi đến thái quá sẽ tìm mọi cách để hơn người khác bằng sự đê tiện bỉ ổi như vu khống và gian lận.

Con người luôn đối diện với cám dỗ, nhưng người bị cám dỗ thì không xấu nếu biết kiểm soát cám dỗ để luôn đi theo luân thường đạo lý. Nếu con người biết tự chủ trước cám dỗ thì chính cám dỗ lại là động lực để mình sống tốt hơn và thánh thiện hơn.

Bài phúc âm hôm nay, thánh Marco nói về việc Chúa Giêsu chiến thắng cám dỗ. Ma qủy đã tìm cách lôi kéo Chuá Giêsu quay lưng lại với Chuá Cha. Từ khước sống vâng phục thánh ý Chúa để được thoả mãn cái bụng của mình. Nó hướng mở cho Chúa một tương lai đầy hứa hẹn không chỉ có của ăn dư đầy từ những hòn đất hòn đá cũng biến thành của ăn, từ sỏi đá cũng thành cơm, mà vượt xa hơn nữa là nắm gọn trong tay thiên hạ, kẻ hầu người hạ và thừa hưởng mọi vinh hoa lợi lộc trần gian.

Chúa Giê-su không những đã khước từ những lời mời mọc của ma quỷ và còn cho ma qủy nhận ra rằng không có gì cao qúy hơn là được sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, sống trong sự quy phục Thiên Chúa, vì người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Những cám dỗ mà ma qủy tuy đã thất bại với Chúa Giêsu nhưng nó vẫn dung con mồi này để quyến rũ chúng ta là: danh vọng, tiền tài, địa vị, thú vui xác thịt. Kết quả là nhiều người vì ham tiền, ham lợi lộc đã trở thành tay sai cho ma qủy, không chỉ mình làm điều ác mà còn lôi kéo, dẫn dụ nhiều người khác đi vào con đường tội lỗi. Ma qủy đã thành công khi sai khiến chúng ta làm sự dữ, là những điều trái với luân thường đạo lý như: trộm cắp, đánh nhau, hận thù ghen ghét, tự cao tự đại .. . Đó là những mối tội đầu đã gây nên biết bao đau khổ cho chính mình và những người chung quanh.

Ở khởi đầu mùa chay khi cho chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu bị ma qủy cám dỗ, Giáo hội mời gọi chúng ta ý thức về thân phận tội lỗi của mình và sức mạnh của sự dữ, của ma qủy luôn rình rập để lôi kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa, đi trong tối tăm của đam mê lầm lạc. Vì thế, chúng ta cần nhận ra sự giới hạn của kiếp người để nhờ ơn Chúa giúp mới chiến thắng cám dỗ và trung thành với Chúa. Amen

Về mục lục

CÙNG CHÚA GIÊSU LÊN GIÊRUSALEM

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Lễ Tro khai mạc Mùa Chay Thánh, đánh dấu 40 ngày (không kể ngày Chúa nhật) chuẩn bị đến lễ Phục Sinh.

40 ngày Chay Thánh

Trong Kinh Thánh, con số 40 ngày là một khoảng thời gian chờ đợi, một quá trình, tượng trưng cho việc chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa. Số 40 còn diễn tả hành trình trong sa mạc trên đường về Đất hứa của Dân Do thái kéo dài 40 năm. Ông Môisen đã ở trên núi Chúa 40 ngày (x. Xh 24, 18; 34,28). Những người trinh sát đã ở trong vùng đấy 40 ngày (x. Ds 13, 25). Elia đã đi 40 ngày trước khi tới được hang ở đó Ngài được thị kiến (x. 1V 19, 8). Ninivê đã được cho 40 ngày để sám hối (x. Gn 3, 4). Và quan trọng nhất là Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy vào trong hoang địa 40 ngày để ăn chay cầu nguyện trước khi thi hành sứ vụ công khai (x. Mt 4,2).

Như vậy, 40 ngày chay thánh gợi cho chúng ta nhớ lại 40 năm hành trình trong sa mạc của dân Do Thái, 40 ngày trong hoang địa của Chúa Giêsu. Con số 40 ngày, là thời gian đi vào hoang địa của cõi lòng, thinh lặng để chuẩn bị gặp gỡ Chúa. Đây là thời gian phụng vụ cao điểm thuận tiện thích hợp cho các kitô hữu noi gương Đức Kitô dùng 40 ngày để ăn năn đền tội và dấn thân phục vụ anh chị em. Và bằng 40 ngày long trọng của Mùa Chay, mỗi người được liên kết mật thiết hơn với các Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, Đấng đang tiến đến cái chết và sự sống lại.

40 ngày Chúa Giêsu trải qua trong hoang địa

Sau khi chịu phép rửa nơi sông Giordan “Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và Người ở đó suốt bốn mươi đêm ngày, chịu Satan cám dỗ, sống chung với các dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Người” (Mc 1,12-13).

Với những lời trên cho thấy, trước khi khai mào sứ vụ cứu thế, Chúa Giêsu đương đầu “giáp lá cà” với Satan trong 40 ngày cô tịch, một khoảng thời gian đầy thử thách. Nhưng Chúa Giêsu đã đã chiến thắng khi vạch trần Tên Cám Dỗ, đem lại cho chúng niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng để chiến thắng trong cuộc sống đầy những cám dỗ hàng ngày bủa vây quanh chúng ta.

Satan là kẻ thù lớn nhất của chúng ta. Nó đã cám dỗ Chúa Giêsu đi khác đường lối của Chúa Cha, giống như con rắn xưa đã cám dỗ Ađam và Evà. Chúa Giêsu đã bị cám dỗ bất tuân lệnh truyền của Chúa Cha, Người đã chống trả quyết liệt và đã vâng phục cho đến chết. Chúa Giêsu đã dựa vào Lời Chúa và sức mạnh của Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần để chiến đấu. Người đã chiến thắng, ma quỷ đã phải rút lui, và các các thiên sứ đến hầu hạ Người (x. Mc 1,13). Những quỉ kế mà Satan dùng để cám dỗ Chúa Giêsu, cũng là những cách hắn dùng để cám dỗ chúng ta ngày hôm nay. Noi gương Chúa Giêsu chúng ta sống triệt để Lời Chúa dạy.

Theo Chúa lên Giêrusalem

Chủ đề sứ điệp Mùa Chay năm 2021 này là: “Này chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20,18). Mùa Chay: Thời gian làm tươi mới Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu.

Bước vào Mùa Chay 2021, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta cùng lên Giêrusalem với Chúa trong niềm tin, yêu, và hy vọng mới. Đức Thánh Cha viết: “Mỗi giây phút của cuộc đời đều là thời gian để chúng ta tin tưởng, hy vọng và yêu thương. Lời kêu gọi sống Mùa Chay như hành trình hoán cải, cầu nguyện và làm phúc, giúp cho niềm tin đến từ Chúa Kitô hằng sống, niềm hy vọng được cảm hứng do hơi thở của Chúa Thánh Thần và tình yêu chảy tràn từ trái tim nhân hậu của Chúa Cha được sống động trở lại nơi cộng đồng và cá nhân mỗi người chúng ta” (Trích sứ điệp Mùa Chay 2021).

Vậy chúng ta bước vào Mùa Chay với một thái độ như thế nào? Chúng ta chuẩn bị ra làm sao để cho việc cử hành Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đạt được nhiều ý nghĩa và sinh ích lợi cho đời sống chúng ta? Nói khác đi, chúng ta lên Giêrusalem với Chúa bằng tâm tình nào, vui hay buồn, hy vọng hay thất vọng, yêu thương hay hận thù?

Hướng về lễ Phục Sinh, cuộc chiến thắng chung kết của Chúa Giêsu chống lại Ma Quỷ, chống lại tội lỗi và chống lại sự chết là ý nghĩa Chúa Nhật thứ I Mùa Chay. Chúng ta nhất quyết bước theo Chúa Giêsu trên con đường dẫn đến sự sống, theo Chúa tiến qua hoang địa của lòng ta. Nơi đây, ta có thể lắng nghe tiếng Thiên Chúa và cũng nghe thấy cả tiếng nói của Tên Cám Dỗ.

Nơi hoang địa, giúp chúng ta chống lại những điều trần tục, giúp chúng ta đi tới những chọn lựa can đảm phù hợp với Tin Mừng và củng cố tình liên đới với anh chị em chúng ta.

Theo Chúa Giêsu vào hoang địa. Chúng ta có Chúa Giêsu, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ðúng hơn, Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn chúng ta từng bước trong Mùa Chay này.

Chúng ta cầu xin Ðức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse trợ giúp, để chúng ta có thể lắng nghe tiếng Chúa Giêsu và sửa chữa những khuyết điểm để đương đầu với những cám dỗ hằng ngày tấn công chúng ta.

Về mục lục

THIÊN CHÚA ĐƠN PHƯƠNG TỎ TÌNH VỚI CON NGƯỜI

Lm. Giuse Lê Danh Tường

Thiên, địa, nhân hay Trời, đất, và con người mang một mối dây liên kết kỳ diệu. Một khi Thiên thời địa lợi nhân hòa thì mọi sự hanh thông. Con người được đặt để giữa trời và đất: đầu đội trời, chân đạp đất. Ông Trời đã tác tạo nên con người và làm mọi sự cho con người. Ông Trời cũng dựng nên đất để đất phục vụ con người. Trời và đất luôn nặng tình với con người. Mùa Chay về, chúng ta cùng ngồi lại ngẫm về tình Trời với người. Trong Chúa nhật thứ nhất này, Sách Thánh bộc lộ một cuộc tình đơn phương của Thiên Chúa với con người.

Đơn phương tỏ tình

Bài đọc thứ nhất trích từ sách Sáng Thế (St 9, 8-15) là trình thuật về việc Thiên Chúa ký kết với ông Noe sau trận Đại Hồng Thủy. Gọi là ký kết, nhưng thực ra chỉ có một mình Thiên Chúa đơn phương kết ước với ông Noe cũng như với toàn thể sinh vật trên mặt đất. Ông Noe đã chẳng nói gì, chẳng thề hứa gì với Chúa. Còn Thiên Chúa thì hứa bảo vệ ông cũng như mọi loài: “Ðây Ta ký kết giao ước của Ta với các ngươi và con cháu các ngươi, với tất cả sinh vật đang sống với các ngươi…: nước lụt không còn tiêu diệt mọi loài nữa, cũng không khi nào còn lụt tàn phá trái đất nữa”.

Không những Chúa đã tự đưa ra lời hứa mà còn đặt để một dấu chỉ để không quên lời kết ước: “Ta sẽ đặt trên trời một cái mống, và nó sẽ là dấu chỉ giao ước giữa Ta với trái đất. Khi Ta quy tụ mây lại trên trời, mống sẽ xuất hiện trên mây, và Ta sẽ nhớ lại giao ước đã ký kết giữa Ta với các ngươi và mọi sinh vật”.

Từ ngày con người phạm tội, muốn ngoi lên bằng Trời thì con người đã trở nên sa đọa. Nó không còn được sống trong cảnh thái bình của vườn Địa Đàng nữa. Con người lang thang vô định và ngày càng trở nên tồi tệ, tội lỗi lan tràn khắp mặt đất. Lụt Hồng thủy là phương thế để Chúa Cả trời đất dùng mà tẩy xóa tội lỗi của con người. Nhưng cho dù thế nào, Thiên Chúa vẫn giữ lại dòng giống loài người, giữ lại gia đình ông Noe. Với số sót ấy, Thiên Chúa gầy dựng lại dân của Ngài.

Cho dù con người đã chống lại Ngài, nhưng Thiên Chúa đã không tận diệt con người. Ngài vẫn âm thầm, lẽo đẽo đi theo con người, tìm cách giúp đỡ con người. Ta chỉ có thể cắt nghĩa hành vi ấy là vì tình yêu. Chỉ có thể là vì yêu con người thì Chúa mới làm như vậy. Mà quả thực, Thiên Chúa đã mặc khải rất rõ cho con người trong Tin mừng Gioan “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Với việc ký kết với ông Noel, Thiên Chúa đã tỏ tình với con người; Với hình ảnh cầu vồng làm dấu chỉ để hằng nhắc lại lời kết ước, Thiên Chúa đã đặt nơi con người nguồn hy vọng lớn lao; Việc con người im lặng trong nghi lễ kết ước càng làm cho Thiên Chúa hiện lên với hình ảnh đơn độc, hình ảnh của một người tình đơn phương đang bị người mình yêu ngó lơ.

Hiện thực hóa lời hứa

Dọc theo chiều dài của Cựu Ước là hành trình Thiên Chúa tìm đến với con người. Bước sang Tân Ước, với sự hiện diện của chính Thiên Chúa trong thân phận một con người, chúng ta được chiêm ngắm hiện thực của tất cả những lời hứa của Chúa trong Cựu Ước.

Bài Tin mừng theo thánh Marco trong Chúa nhật này (Mc 1, 12-15) là trình thuật về việc Chúa Giêsu ở trong sa mạc 40 ngày.

Hình ảnh sa mạc với con số 40 gợi lại khung cảnh dân Do thái đi trong sa mạc suốt 40 năm. Chính 40 năm trong sa mạc là thời gian dân cảm nếm lòng trung thành và sự yêu thương dìu dắt của Thiên Chúa đối với họ. Nhưng cũng nơi ấy đã chứng kiến biết bao lần dân xa ngã trước cám dỗ, bao lần rời bỏ Thiên Chúa, bao lần phản bội Đấng hằng yêu họ hết lòng.

Trước khi công khai rao giảng về Trời, Đức Giêsu đã ở trong sa mạc 40 ngày. Ngài đã cảm nếm mọi cung bậc tình cảm của con người trong sa mạc 40 năm xưa kia với sự khắt khe của thiếu thốn, sự cám dỗ của ma quỷ, sự rình rập của thú dữ. Nhưng với sự xuất hiện của các thiên thần đến hầu hạ Ngài ở cuối trình thuật đã khiến ta gợi nhớ đến một khung cảnh khác. Nó không còn là sự ô nhục của cảnh xa ngã và phản bội, nhưng là cảnh thái bình mà tiên tri Isaia đã tiên báo về khung cảnh ngày cứu độ: “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ.” (Is 11,6).

Ngày mà Thiên Chúa công khai ngỏ lời với con người qua chính Ngôi Lời làm người, Thánh Marco đặt để Đức Giêsu trong một khung cảnh cô đơn thực sự. Chúa Giêsu đã đơn thân một mình trong sa mạc. Một Thiên Chúa xuống thế làm người để ngỏ lời với con người, để tỏ tình với con người. Nhưng ngày ngỏ lời lần đầu công khai ấy sao cô đơn vắng lặng một tình yêu đơn phương.

Ngẫm

Hỏi tại sao Thiên Chúa yêu con người. Khi hỏi như vậy dường như tôi đã xúc phạm đến chính Ngài. Làm sao tôi có thể hiểu được tại sao Thiên Chúa yêu con người. Nếu như tôi cố tình tìm câu trả lời thì chính khi tôi trả lời là tôi đã khuôn đúc tình yêu của Ngài vào một cái khuôn cứng nhắc của lý trí. Tình yêu không phải là những phạm trù của lý trí. Nó là những rung cảm của những thớ thịt nóng bỏng của một trái tim đang sống. Khi lý giải tình yêu là tôi không còn coi tình yêu ấy mang đầy sức sống.

Thánh Gioan tông đồ là người được mô tả đã gục đầu vào ngực Chúa trong bữa Ăn cuối cùng; Là người được gọi là “Người môn đệ Chúa yêu”; Và cũng là người môn đệ duy nhất được nhắc đến dưới chân cây Thập tự. Ngài đã cảm nhận tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mình, một Thiên chúa trong hiện thân là chính Đức Giêsu. Chính ngài đã chốt hạ cho chúng ta câu trả lời tại sao Thiên Chúa lại yêu con người. Câu trả lời đơn giản là: Bởi “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,16).

Lạy Chúa, khi dừng lại suy tư con nhận biết Chúa đã yêu con. Chúa đã yêu con từ ngàn đời xa trước. Nhưng vì quá đam mê trần thế, vì quá ham vui thế gian nên trái tim con thường xuyên loạn nhịp rời xa nhịp đập với trái tim Ngài. Xin Chúa hãy ôm ghì lấy con, cho con được cảm nếm tình yêu của Ngài, để trái tim con luôn hòa cùng nhịp đập với tình yêu nồng nàn trong trái tim Tình Yêu viên mãn.

Về mục lục

SỨC MẠNH ĐỂ CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu được Thánh Thần thúc đẩy đi vào hoang địa. Sau bốn mươi đêm ngày ăn chay và cầu nguyện, Người cảm thấy đói. Satan xuất hiện, mon men lại gần để cám dỗ. Chúa đã chiến thắng Satan bằng sức mạnh Thánh Thần và Lời Thiên Chúa.

  1. Ba cơn cám dỗ

– Cơn cám dỗ thứ nhất phát xuất từ cái đói. Ma quỷ gợi ý cho Chúa Giêsu “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi” (Mt 4,3). Cơn cám dỗ về bánh nói lên ước muốn căn bản nhất là bản năng sinh tồn của con người. Thân xác với những khát khao thèm muốn luôn đòi hỏi phải được nuôi nấng, chiều chuộng và vỗ về.

– Trong cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ đưa Chúa Giêsu lên thượng đỉnh đền thờ và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống coi! Bởi đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Mt 4,5). Ma quỷ dùng Tv 91,11 để gợi ý cho Chúa Giêsu nhảy từ nóc đền thờ xuống, xem Thiên Chúa có biểu lộ quyền năng của Người hay không. Cám dỗ thách đố Thiên Chúa biểu lộ quyền năng để tìm vinh quang cá nhân. Đó là bản năng đối kháng lại những giới hạn của cuộc sống nhân sinh. Con người thường muốn quên đi những điều kiện sinh sống giới hạn của mình. Họ muốn cất cánh bay lên cõi thần tiên bằng men rượu, ma túy, lạc thú…

– Trong cơn cám dỗ thứ ba, ma quỷ đem Chúa Giêsu lên một ngọn núi cao và chỉ cho Người thấy các nước thiên hạ và các thứ phú quý, rồi nói: “Tôi sẽ cho ông tất cả những cái ấy, nếu ông sấp mình thờ lạy tôi…” (Mt 4,9). Một cơn cám dỗ đã hằng theo đuổi dân Israel, chẳng những trong thời gian hành trình sa mạc mà cả khi định cư trên đất Palestina. Đó là thờ lạy các tà thần mong được giàu sang, quyền thế, có khả năng thống trị các quốc gia khác. Bản năng thống trị, cái “ý chí quyền lực” nằm sẵn trong mỗi một con người. Người ta thường muốn cai trị và sai khiến những người yếu hơn mình. Xưa dân Do thái đã tạc tượng bò vàng và thờ lạy nó. Ngày nay, ngẫu tượng hay bò vàng chính là tiền tài, danh vọng, lạc thú, vật chất, tiện nghi, sắc dục.

Ba cơn cám dỗ của Chúa Giêsu đều đã bắt đầu bằng chữ “nếu”. Chúng khởi sự bằng một lý luận với những lý do có vẻ chính đáng, hợp lý và đáng ao ước để tấn công vào những đòi hỏi của bản năng con người Giêsu.

Tuy là ba cơn cám dỗ, nhưng vẫn chỉ là một. Bởi trọng tâm của vấn đề chính là gieo rắc sự khủng hoảng của niềm tin. Chúa Giêsu bị cám dỗ nghi ngờ về căn tính Con Thiên Chúa của chính mình. Cả ba Phúc âm Mátthêu, Máccô, Luca đều mô tả cơn cám dỗ ngay sau khi Chúa chịu phép Rửa ở sông Giođan, và có tiếng từ trời phán “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3.17). Ma qủy cám dỗ Chúa Giêsu quay lưng lại với sứ mạng đã nhận từ nơi Chúa Cha (GLTC #394).

Cơn cám dỗ Chúa Giêsu cũng giống như cơn cám dỗ của Ađam và Eva trong bài đọc một (St 2,7-9;3,1-7). Ma qủy gieo sự nghi ngờ và mất niềm tin nơi những kẻ được gọi là con cái Thiên Chúa. Qua bản năng ăn uống thèm khát của thể xác, nó khơi dậy bản năng phản kháng bất tuân lệnh Chúa và sau cùng, con người sa ngã ở “ý chí quyền lực”, bản năng đòi bá chủ và thống trị vì muốn ngang hàng với Thiên Chúa.

Thụ tạo đầu tiên trong hàng các thiên thần đối diện với cám dỗ là Lucifer. Không vượt qua được cơn cám dỗ, Lucifer đã trở thành Satan.

Thụ tạo đầu tiên trong con người là Ađam và Evà cũng đã nếm mùi cám dỗ. Và hai Nguyên Tổ này cũng đã gục ngã thảm thương trước cám dỗ.

Như vậy cám dỗ là một cái gì hết sức mạnh mẽ, hết sức lôi cuốn, và rất khó chống cự.

Chúa Giêsu sau khi đã trải qua những cám dỗ và thắng các cám dỗ cũng thấy được điều này, nên Người đã dạy các môn đệ không được coi thường bằng cách dựa vào sức lực, tài trí, và khả năng của riêng mình. Người dạy phải cầu nguyện và xin ơn Chúa Thánh Thần: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Nhưng cứu chúng con khỏi sự dữ”.

  1. Sức mạnh nào giúp vượt thắng cám dỗ?

Cả ba Phúc Âm đều đề cập đến một chi tiết rất thú vị, đó là Chúa Giêsu không đi vào hoang địa một mình, nhưng mà Người đi cùng với Chúa Thánh Thần.

– “Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ” (Mt 4,1)

– “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1,12-13).

– “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về. Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ” (Lc 4,1-2).

Khi vào hoang địa, khi bị ma quỷ cám dỗ, Chúa Giêsu cần đến sự nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu đã dựa vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần và Lời của Thiên Chúa để đối đáp với ma quỷ và đã chiến thắng.

Khi chúng ta lâm vào những cuộc thử thách, phải đối diện với những mưu chước của Satan, rất cần ơn Chúa Thánh Thần trợ lực. Chúa Giêsu mà còn cần đến Chúa Thánh Thần nữa, thì huống hồ là chúng ta.

Cần phải cầu nguyện (Lc 22,40; Cv 2,42; LGTC #2612,2742). Nhờ cầu nguyện, Chúa Giêsu đã không cô đơn một mình, nhưng “được Thánh Thần hướng dẫn” (Mt 4,1). Nhờ cầu nguyện chúng ta được liên kết với sức mạnh của Thánh Thần và với các thánh trên trời.

Vai trò của Chúa Thánh Thần thật quan trọng trong đời sống của chúng ta. Những lúc bị cám dỗ, những khi sống trong cô đơn, buồn chán và thất vọng…hãy cậy trông và khẩn cầu với Chúa Thánh Thần xin ơn phù trợ. Chúa Giêsu đã hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy các con mọi điều” (Ga 14,26).

  1. Cầu khẩn và kêu xin Chúa Thánh Thần bằng cách nào?

– Khi thằng quỷ dâm ô xúi tôi mở những emails lạ, dụ dỗ tôi tò mò đi vào những websites của Trư Bát Giới… Tôi phải mau mắn và thành tâm xin Chúa Thánh Thần soi lòng mở trí để tôi nhận ra rằng: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục (Mt 5,28-29).

– Khi thằng quỷ gian dối xúi tôi nói dóc, nói xạo, nói quanh co, nói sai sự thật, lừa bịp thiên hạ … tôi phải lập tức xin Chúa Thánh Thần ban ơn khôn ngoan để tôi có thể nhớ lời của Chúa Giêsu phán dạy tôi rằng: “Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không.’ Thêm thắt điều gì là do ác quỷ mà ra!” (Mt 5,37).

– Khi thằng quỷ kiêu căng, ngạo mạn xúi tôi phê bình chỉ trích người này, xét đoán người kia, lên án người nọ … thì tôi phải lập tức xin Chúa Thánh Thần giúp tôi nhớ rằng: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án” (Lc 6,37).

– Khi bị thằng quỷ dâm ô xúi tôi ly dị, bỏ chồng, phụ vợ, làm giấy ly dị giả … tôi phải cầu xin với Chúa Thánh Thần ngay để Ngài giúp cho tôi hiểu rằng “[Tôi và người bạn đời của tôi] không còn là hai [nữa], nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,8-9).

– Khi thằng quỷ kiêu căng xúi tôi khoe khoang, tự kiêu tự đại … thì tôi xin Chúa Thánh Thần nhắc nhở cho tôi rằng: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục … kiêu căng đưa đến sụp đổ, ngạo mạn dẫn đến té nhào” (Cn 11,2; 16,18).

– Khi thằng quỷ giận hờn xúi tôi giận người này, ghét người kia, thù người nọ … thì tôi phải cần đến sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, xin Ngài soi sáng để tôi hiểu rằng: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt (Mt 5,22).

– Khi thằng quỷ dâm dục xúi bẩy tôi đi ngoại tình, ăn chơi trác táng, quan hệ bừa bãi … tôi phải van nài Chúa Thánh Thần, xin Ngài nhắc nhở cho tôi nhớ rằng: “Thân xác [của con] là Đền Thờ của [Ta đấy nhé! Chớ có làm cho nó ra ô uế!]” (1 Cr 6,19).

Sau khi chịu phép Rửa tội để trở nên một Kitô hữu, chúng ta dấn thân vào đời với nhiều thử thách của niềm tin, phải chịu nhiều cám dỗ của phận người lữ thứ. Nếu chúng ta tin rằng “Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3,6) thì hãy vững tâm và tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ngài sẽ không bao giờ xa rời chúng ta đâu! Điều quan trọng là chúng ta có thánh tâm để cầu xin và nhờ cậy Ngài, hay là không thôi!

Hãy tin tưởng và trông cậy vào Chúa Thánh Thần. Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần luôn trao ban cho người: ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn nhận thức, ơn chỉ bảo, ơn dũng mạnh, ơn thánh thiện và ơn kính sợ Thiên Chúa.

Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa Thánh Thần và hăng hái cộng tác với chương trình của Ngài, nhờ đó “Hoa trái của Thần Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23) sẽ tràn đầy trong tâm hồn và đời sống của chúng ta.

Việc gặp gỡ Chúa Thánh Thần rất dễ dàng. Chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Chúa Thánh Thần sẽ mở tung cánh cửa ích kỷ. Ngài sẽ phá tan cánh cửa hẹp hòi. Ngài sẽ ban thêm sức mạnh. Ngài sẽ quét sạch mọi lớp bụi bặm rêu phong. Ngài sẽ đổ tràn vào hồn chúng ta nguồn sống mới giúp chúng ta chiến thắng mọi cám dỗ và hăng hái lên đường.

Về mục lục

THAO LUYỆN

Lm Vũđình Tường

Samạc là hầm mỏ của hiểm nguy. Tai vạ tràn lan, vận may khan hiếm. Cuộc sống samạc bị thử thách tận tâm can. Những ai chịu cực, chịu khổ được một thời gian dài trong samạc được coi như người có í chí sắt đá, bền gan, kiên tâm, bền chí trong trường đời. Đại đa số trong chúng ta khi cuộc sống gặp khó khăn, nghịch cảnh, cách thông thường là tháo lui, chạy trốn, mong được an toàn, tồn tại, sống sót. Chúng ta coi nhẹ cân nhắc hơn thiệt, lợi hại người khác trong chọn lựa, và không ngại chọn ngay cả việc làm bất lợi, điều xấu, điều tệ miễn là giảm bớt hoàn cảnh cơ cực chính mình đang trải qua. Đau khổ, khó khăn, sợ hãi là những yếu tố làm nhụt í chí phấn đấu. Tệ hại nhất là không lượng được sức mạnh bản thân, tự tin vào khôn ngoan cá nhân. Phấn đấu không dựa vào sức mạnh Thiên Chúa. Bất cứ hành động, quyết định lớn nhỏ nào, sức mạnh Thiên Chúa là thứ yếu; hành động đó, quyết định đó đều sai lầm. Cái lợi ngay lúc đó, lợi trước mắt làm lu mờ, che khuất thấy cái hại khổng lồ trong tương lai. Nguy hiểm hơn cả khi vấn đề đó hại đức tin. Hại niềm tin đi chung với hại sự sống vĩnh cửu. Đức Kitô chọn đối đầu với nghịch cảnh. Thay vì đầu hàng, Đức Kitô đối chọi nghịch cảnh mong tìm phương thế thi hành thánh í Chúa Cha.

Đức Kitô sống bốn mươi ngày trong samạc. Con số ‘bốn mươi’ cho biết nghịch cảnh nào cũng có điểm khởi hành và điểm kết. Thử thách nào cũng có đoạn kết. Samạc đời người cũng như samạc tâm linh đều có điểm kết. Khi đối diện với samạc tâm linh, thay vì than thân, trách phận, than khóc, vật vã, so sánh; hãy dùng thời gian đó củng cố niềm tin, tịnh dưỡng, tăng sức cho ơn gọi. Biến nghịch cảnh thành cơ hội thuận tiện cho việc củng cố tâm linh.

Trước khi bước vào cuộc sống rao giảng, Thánh Thần Chúa dẫn Đức Kitô vào hoang địa. Nơi đó Đức Kitô sống qua nghịch cảnh để nhận biết khả năng mạnh yếu khi thân xác đối diện với nghịch cảnh. Đây cũng là thời gian ước định sức mạnh tâm linh. Samạc là đấu trường khắc nghiệt không biên giới, không thời gian. Ngày cũng như đêm, cần đề phòng, chuẩn bị, sẵn sàng chống lại tấn công bất cứ khi nào nó đến. Sống sót khỏi nanh vuốt ban ngày, chưa chắc đã thoát nọc độc ban đêm. Ngoài sức nóng rát mặt ban ngày, cơn lạnh căng da về đêm, còn phải chịu cảnh thực phẩm khan hiếm, nước uống hạn chế; bệnh không thuốc, thương tật không băng bó. Tất cả những điều trên ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ. Mệt mỏi, lo lắng, bất an đều làm cho cơ thể rã rời. Tỉnh thức cầu nguyện lúc bình thường đã khó, nói chi đến tỉnh thức, yên tâm cầu nguyện khi cơ thể rã rời. Đức kitô đã trải qua hoàn cảnh này. Kinh nghiệm Ngài sống nơi samạc giúp ích rất nhiều trong chiến trường tâm linh, chống lại sức mạnh ác thần. Đức Kitô vào hoang địa với một mục đích duy nhất, suy gẫm về sứ mạng cứu thế của Ngài. Đó là hoàn thành thánh í Chúa Cha, giải thoát nhân loại khỏi bóng tối ác thần.

Kinh nghiệm chống lại nghịch cảnh, đói khát, giá lạnh, đau khổ, sợ sệt đều là những kinh nghiệm thật của một con người. Ngài bộc lộ những kinh nghiệm bản thân trên qua các dụ ngôn. Từ đó chúng ta nhận biết Đức Kitô tận dụng thời gian samạc là thời gian suy gẫm về kế hoạch. Tìm phương thế vẹn toàn, trọn hảo, thực hành thánh í Chúa Cha. Sách lược rao giảng nước Thiên Chúa. Hoạch định phương sách tiêu diệt ác thần. Tìm biện pháp chống lại cơn cám dỗ bằng cách dựa vào sức mạnh Lời Chúa.

Đức kitô loan báo trước Ngài sẽ chiến thắng ma quỉ, chiến thắng ác thần, nhưng cuộc chiến nhiều cam go, đau khổ chồng chất. Trước khi ma quỉ đầu hàng, bị tiêu diệt, chúng sẽ giẫy chết vừa bạo động, vừa hung tàn. Đức Kitô chiến thắng ác thần. Môn đệ trung tín Đức Kitô sẽ được Ngài hỗ trợ, ban sức chiến thắng ác thần, và vào chung hưởng vinh quang trong nước Chúa.

Bước theo Đức Kitô, chúng ta có kinh nghiệm đôi khi chiến thắng ma quỉ; đôi khi thất bại trong tội lỗi. Đức Kitô không bao giờ thất bại. Ngài luôn đứng vững trước cám dỗ, thử thách. Ngài không trốn chạy nhưng ngang nghiên đương đầu với mọi nghịch cảnh. Ngài kiêu hùng dối diện với đóng đanh thập giá. Trung tín vâng phục Chúa Cha đến hơi thở cuối cùng.
‘Lậy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha’ Lk 23,46.
Nói xong Ngài tắt thở.

Samạc với ta là nơi sức sống héo tàn; tương lai màu cát xám. Đức kitô vào samạc chỉ cho nhân loại con đường sống, cách sống vui, sống mạnh, sống vĩnh cửu. Ngài vạch ra con đường tương lai tươi sáng cho ai bước theo con đường Ngài đi qua. Ngài đến loan báo khởi đầu nước Thiên Chúa nơi trần gian. Những ai bước theo con đường Samạc Kitô sẽ tiến vào nước Thiên Chúa khi hoàn thành cuộc lữ hành trần gian:

‘Thời kì đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’. Mk 1,15.

Nước Thiên Chúa đến cho những ai đón nhận Đức Kitô làm chủ đời mình. Tìm kiếm nước Thiên Chúa mà từ chối đón nhận Đức Kitô là một cám dỗ lớn. Tìm kiếm nước Thiên Chúa hàng ngày chính là một phần của cuộc sống Kitô hữu. Mọi chiến thắng lớn nhỏ đều trông cậy vào ơn Chúa giúp sức, phù trợ, ban ơn. Ngoài ra đều là tìm vinh danh cho chính mình.

Về mục lục

HIỆP SĨ CỦA THIÊN CHÚA

Thiên San

Tin Mừng thánh Maccô kể lại rất gắn gọn việc Đức Giêsu vào hoang địa chịu quỷ cám dỗ. Sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Đức Giêsu được Thần Khí đẩy vào hoang địa. Người ở đó bốn mươi ngày, chịu quỷ cám dỗ, sống giũa loài dã thú và được các thiên sứ hầu hạ. Sau đó, người đi rao giảng Tin Mừng, kêu gọi người ta sám hối ăn năn vì Nước Trời đã đến gần (x. Mc 1, 12-15).

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu hoàn toàn để cho Thần Khi đẩy Người vào hoang địa. Ở đó, Người trải qua bao thử thách, cám dỗ của xa tan nhưng Người đã chiến thắng nhờ Lời Thiên Chúa (Mt 4, 1-11). Cuộc sống của chúng ta nơi trần gian này cũng tựa như một hoang địa, bủa vây bao cám dỗ. Chúng ta hãy bước vào hoang địa ấy với tâm thế sẵn sàng chiến đấu của Đức Giêsu, trong sự thúc đẩy của Thánh Thần. Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta cũng được đầy tràn Thánh Thần và trở nên con cái Thiên Chúa. Chúng ta hãy bước vào cuộc chiến ấy như một “hiệp sĩ” của Thiên Chúa. Nếu chiến đấu với sức riêng, ta sẽ dễ dàng bị đánh gục.

Đức Giêsu cũng bước vào cuộc chiến ấy với bản tính con người thật sự. Người chia sẻ thân phận con người với chúng ta. Bởi đó, người cũng hiểu rất rõ những khó khăn khi phải chiến đấu với ba thù: thế gian, ma quỷ, xác thịt. Cũng trong cuộc chiến này, Đức Giêsu dạy ta hiểu rằng, là hiệp sĩ của Thiên Chúa thì phải chiến đấu bằng vũ khí của Thiên Chúa ban cho là Lời của Người. Đó cũng là vũ khí của sự sáng: “Chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu” (Rm 13, 12). Mục đích của cuộc chiến nhằm giúp ta tôi luyện khả năng sống theo thánh ý Thiên Chúa.

Hình ảnh Đức Giêsu sống giữa loài dã thú cách hài hòa là hình ảnh rất đẹp. Nếu ta sống trong sự hướng dẫn của Thần Khí, chiến đấu như một hiệp sĩ đích thực của Thiên Chúa chúng ta sẽ dành được chiến thắng. Các thế lực của sự dữ sẽ không làm chủ được ta. Khi ấy, ta sẽ có khả năng sống hài hòa với mọi người, với mọi sinh vật và với thiên nhiên. Hoa quả của Thần Khí chẳng phải là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ (Gl 5, 22). Còn nếu sống theo sự thúc đẩy của xác thịt, thế gian hay “bán linh hồn cho quỷ dữ” chúng ta sẽ không có khả năng sống hài hòa như vậy, ngay cả với chính mình. “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng,thờ quấy,phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (Gl 5, 19-21).

Chúng ta là những “hiệp sỹ” của Thiên Chúa. Chúng ta không được chủ quan vì “ma quỷ không bao giờ ngủ”. Trên tay của chúng phải luôn trang bị đầy đủ khí giới của Thiên Chúa. Lời Chúa có khả năng giúp ta chiến thắng. Ta hãy sống Lời Chúa mỗi ngày để Lời của Người trở thành lợi khí trong cuộc chiến nơi hoang địa của ta. Thánh Thần sẽ luôn hướng dẫn ta “dàn binh bố trận”.  Hãy để Thánh Thần đẩy ta đi. Can đảm lên hỡi những “hiệp sĩ” của Thiên Chúa!

Về mục lục

SÁM HỐI ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG GIAO ƯỚC

Maria Việt Trinh

Bước vào Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay, bài đọc 1 nhắc lại sự kiện Thiên Chúa cho Đại Lụt Hồng Thủy để thanh tẩy mặt đất, đưa cuộc sống muôn loài trở lại như trước qua giao ước với ông Nô-ê, với con cái cùng với muôn loài ở với ông (x. St 9, 8-15). Bài đọc 2 của vị Tông đồ trưởng Phêrô gửi cho các tín hữu để khích lệ, củng cố niềm tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh của họ. Cả ba bài đọc đều diễn tả chân dung tuyệt hảo của Thiên Chúa.

Thật vậy, vì yêu nên Thiên Chúa đã kí kết giao ước với dòng dõi ông Nô-ê và hứa sẽ không còn cho nước trở lại trong cơn Hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa. Vì yêu nên Thiên Chúa đã để Đức Ki-tô đến thế gian cùng sống, cùng chung chia kiếp sống nhân sinh, và cuối cùng chịu sỉ nhục, chịu chết đau đớn trên cây Thập giá vì tội lỗi chúng ta.

Thiên Chúa đã yêu chúng ta quá nhiều. Tình yêu Ngài dành cho tôi, cho bạn luôn trọn vẹn, mãi mãi, không thể nào nhiều hơn và cũng không thể ít đi. Vì thế, chúng ta được mời gọi hãy đến gần hơn với Thiên Chúa, hãy đáp trả tình yêu của Ngài, dành cho Ngài trọn tâm trí, trái tim, cuộc đời, cái mà đáng lẽ Ngài luôn xứng đáng được hiện diện. Sự gắn kết giữa chúng ta với Thiên Chúa không đem lại vinh quang mới nào cho Ngài, nhưng đem lại cho chúng ta mối tương quan đằm thắm và hạnh phúc vững bền ngàn đời, đó là được Ơn Cứu Độ. Hãy bắt chước Đức Giêsu-Kitô, tuy là ngôi Hai Thiên Chúa, cùng chung một tinh thần kết hợp mật thiết giữa ba Ngôi với nhau, nhưng Người vẫn hằng liên lỉ cầu nguyện, thinh lặng để gặp gỡ, lắng nghe Thiên Chúa Cha dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần.

Thiên Chúa vì yêu mà sáng kiến ra giao ước. Con người vì được Chúa yêu mà cam kết hãm mình ăn năn, một lòng hướng về Thiên Chúa duy nhất. Thế nhưng, trải qua bao thế hệ, con người vẫn sa đi ngã lại trước cám dỗ, vì sự yếu đuối của mình mà đánh mất ân nghĩa với Thiên Chúa, phản bội Giao ước đã thiết lập từ xưa. Nhưng Ngài vẫn chờ đợi, lại còn đặt để các ngôn sứ đến thúc bách, kêu gọi con người ăn năn sám hối để được tha tội. Cuối cùng, Ngài đã sai chính Con một mình là Đức Giêsu-Kitô đến. Người đã lui mình vào hoang địa bốn mươi ngày để cầu nguyện; sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, khi hay tin Gioan Tẩy giả đã bị nộp, Người mới bắt đầu rời hoang địa, đến miền Galilê kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta khi muốn khởi sự bất cứ công việc gì, dù lớn hay nhỏ, đừng quá vội vàng làm mà quên tĩnh lặng cầu nguyện với Thiên Chúa. Vì chính Ngài mới có thể giúp chúng ta hoàn tất mọi công việc cách hoàn hảo nhất.

Hãy sám hối để được hưởng giao ước. Thiên Chúa vẫn cho chúng ta cơ hội và chờ đợi chúng ta. Nhưng vào ngày sau hết, chính Ngài sẽ phán xử công minh với mỗi người. Đừng để ngày tàn mới biết trời từng sáng; đừng để cái chết ập đến mới biết mình từng có cơ hội sửa saiLạy Chúa! Ngay chính khi tâm hồn con hối lỗi ăn năn trở lại, vẫn là nhờ ơn Ngài. Xin thương xót mà đánh thức tâm hồn mỗi chúng con, kẻo quá muộn!.

Về mục lục

SỐNG VỚI CHÍNH MÌNH

Lm. Giuse Tạ Xuân Hòa

Tôi lạc quan giữa đám đông, nhưng khi một mình thì lại không
Cố tỏ ra là mình ổn, nhưng sâu bên trong nước mắt là bể rộng”.

Đây là những lời mở đầu trong đoạn rap của ca khúc “Người lạ ơi” một thời được bao bạn trẻ yêu thích. Lần đầu tiên tôi nghe ca khúc này, tôi rất ấn tượng với những lời trên đây. Nhạc sĩ Châu Đăng Khoa đã diễn tả tuyệt vời tâm trạng của phần đông chúng ta. Chúng ta hay cảm thấy rất ổn khi sống với đám đông. Nhưng khi trở về với chính mình, chúng ta lại thấy vô cùng bất ổn. Có cái gì đó khiến ta luôn không hài lòng với chính bản thân mình.

Mười hai năm học phổ thông, và đôi khi là cả bốn năm đại học, chúng ta đã được nhồi nhét đủ thứ kiến thức. Những kiến thức ấy khiến chúng ta có khả năng làm việc và hòa nhập với cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, không một thầy cô giáo nào dạy chúng ta học sống với chính mình. Không có ai gần gũi mình cho bằng chính bản thân mình, thế mà chúng ta luôn lãng quên điều đó. Chúng ta học sống với tha nhân, với bạn bè, với cộng đồng. Chúng ta được dạy để tranh đoạt, để làm cho mình thành công trong mọi lãnh vực. Có một nhận xét rất sâu sắc của một tác giả mà tôi không thể nhớ được tên của ông. Đại khái ông nói rằng nền giáo dục vô thần của chúng ta đã tước đoạt đi của các em một cái gì đó thiêng liêng. Thay vì nở hoa thì tâm hồn các trẻ em lại mọc lên những gai cùng góc. Tôi thấy thật chí lý. Con em của chúng ta đã bị nhồi sọ và đánh mất đi cái phần Thần Linh, cái làm cho con người thực sự là con người.

Chúa Nhật thứ nhất mùa chay năm B, Chúa Giê-su dạy ta cách sống với chính mình. Ngài được Thánh Thần dẫn vào hoang địa để ăn chay và chịu Satan cám dỗ 40 đêm ngày. Thánh Marcô chỉ mô tả vắn gọn rằng Chúa sống chung với dã thú và được các Thiên Thần hầu hạ Người (Mc 1,12). Có một chi tiết mà cả ba Tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều nhắc đến đó là Chúa được Thánh Thần dẫn vào hoang địa. Đây là chi tiết rất quan trọng. Con người chúng ta thường lãng quên Thánh Thần. Chúng ta để cho bao thứ hướng dẫn và thúc đẩy chúng ta. Điều đó khiến con người chúng ta cứ loay hoay không biết đâu là bến bờ. Chúa được Thánh Thần đưa vào hoang địa. Suốt 40 ngày, Chúa ở đó trong thinh lặng cô tịch. Hoang địa là vùng đất không có người ở. Nhưng lại có dã thú đến sống chung với Chúa. Và cả các Thiên Thần hầu hạ Chúa. Có một cái gì đó thật đẹp đã xảy ra. Khi con người để cho Thần Linh hướng dẫn, con người sẽ sống hòa hợp với mọi tạo vật. Ngay cả dã thú cũng trở thành bạn. Không có chiến tranh và thù hận mà chỉ có tình yêu thương ngự trị.

Giữa cuộc sống xô bồ hôm nay, con người đã dần lãng quên Thiên Chúa. Cũng như thời Nôe, tội lỗi đã lan tràn (St 9,8-15). Điều đó khiến Thiên Chúa phải thanh lọc. Ngài chọn Nôe để làm mới lại tương quan với con người. Ngài nhắc lại giao ước từ ngàn xưa với con người để tái tạo một nhân loại mới. Nhưng rồi con người lại sa ngã và cứ đi sai đường lối Chúa. Chúa đã sai chính Con Một của mình đến để nhắc lại một lần cho tất cả rằng con người chỉ có thể hạnh phúc khi trở với với Chúa. Trước khi công bố sứ điệp Tin Mừng, hôm nay Chúa vào hoang địa để sống thân mật với Chúa Cha. Chúa dạy ta một bài học vô cùng quan trọng. Trước khi đi vào hội nhập với cuộc sống xã hội, con người cần phải hòa hợp với Tạo Hóa. Khi con người hòa hợp với Tạo Hóa, con người sẽ thông suốt để hòa hợp với bản thân và với muôn loài muôn vật.

“Người lạ ơi xin giúp tôi mượn bờ vai, người lạ ơi xin giúp tôi mượn niềm vui…”. Nhạc sĩ Châu Đăng Khoa đã kêu gọi người lạ đến trợ giúp mình. Nhưng chẳng người lạ nào làm được. Người lạ có đến thì rồi cũng sẽ bỏ đi để lại ta một mình. Hôm nay tôi muốn chỉ cho các bạn người lạ đó không ai khác mà chính là Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện kín ẩn trong chính cung lòng của các bạn. Đấng đó hằng yêu thương bạn. Bạn đã lãng quên Ngài. Tôi muốn mời bạn trong mùa chay thánh này, hãy quay trở lại với chính bản thân mình. Hãy tự tạo ra sa mạc của cuộc đời mình. Trong thinh lặng nội tâm, bạn sẽ tìm được sự thanh thản và bình yên. Hãy trân trọng và yêu thương bản thân mình. Đừng tự đầy đọa chính mình. Học sống với chính mình là bước nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất của con người. Đừng lãng quên điều đó.

Lạy Chúa, xin giúp con kết nối lại với Chúa để con không bao giờ lạc lõng cô đơn giữa cuộc đời này. Amen.

Về mục lục

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY_B

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật I Mùa Chay năm B nêu bật Phép Rửa, tức là cuộc vượt qua từ cõi chết để bước vào cõi sống.

St 9: 8-15

Đoạn trích sách Sáng Thế gợi lên hình bóng của Phép Rửa qua việc một nhân loại mới được cứu thoát khỏi trận Hồng Thủy. Thiên Chúa lập giao ước với nhân loại mới này qua ông Nô-ê.

1Pr 3: 18-22

Trong thư thứ nhất của mình, thánh Phê-rô muốn những người lãnh nhận Phép Rửa hiểu rằng việc vượt qua nước là dấu chỉ việc họ tham dự vào cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô và đó cũng là dấn thân vào giao ước với Thiên Chúa.

Mc 1: 12-15

Tin Mừng Mác-cô tường thuật rất ngắn gọn cuộc thử thách mà Đức Giê-su đã kinh qua trong hoang địa: Ngài chiến thắng các chước cám dỗ, tức thế lực của sự Ác.

BÀI ĐỌC I (St 9: 8-15)

Chữ “Ước”, để chỉ hai phần của bộ Kinh Thánh: “Cựu Ước và Tân Ước”, được dịch từ nguyên ngữ Hy-lạp sang tiếng La-tin: “Testamentum”, có nghĩa là “Giao Ước”. Vì thế, “Cựu Ước và Tân Ước” phải được hiểu trọn nghĩa là “Giao Ước Cũ và Giao Ước Mới”.

Quả thật, chữ “Giao Ước” tóm gọn tinh thần của toàn bộ Kinh Thánh, nghĩa là, những quan hệ giữa Thiên Chúa và con người chạy xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh. Ấy vậy, có một chỗ đứt đoạn giữa công việc của Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và thi ân, và cách hành xử của con người, tội nhân. Nhưng chỗ đứt đoạn này về phương diện lịch sử được lòng xót thương của Thiên Chúa chắp lại: sau vài án phạt điển hình, Thiên Chúa tha thứ và tái lập giao ước với nhân loại.

  1. Giao Ước với ông Nô-ê

Đây là Giao Ước mà Thiên Chúa đã thiết lập sau trận Hồng Thủy như án phạt của Thiên Chúa trên khắp toàn cõi địa cầu. Giao Ước với hai ông bà nguyên tổ, A-đam và E-và, được thiết lập cách mặc nhiên; Giao Ước với ông Nô-ê được thiết lập cách minh nhiên. Qua ông Nô-ê và hậu duệ của ông, Thiên Chúa giao ước với toàn thể nhân loại.

Chiều kích hoàn vũ của Giao Ước với ông Nô-ê này càng đáng chú ý hơn khi so sánh với những giao ước sau này. Thật vậy, Giao Ước với tổ phụ Áp-ra-ham cũng như Giao Ước với ông Mô-sê bị thu hẹp, chỉ còn liên quan đến một dân tộc được tuyển chọn giữa muôn dân (thực ra, dân Chúa chọn này có sứ mạng chuẩn bị ơn cứu độ cho hết mọi người).

Mặt khác, sau trận Hồng Thủy, Thiên Chúa ban cho cuộc sáng tạo một khởi điểm mới, một nhân loại mới lại bắt đầu. Ông Nô-ê là một người công chính, như A-đam trước đây đã là người công chính khi xuất ra từ bàn tay của Đấng Tạo Hóa. Vì thế, đây đích thật là một công trình sáng tạo mới.

  1. Ơn cứu độ phổ quát dưới dấu chỉ của nước

Tác giả soạn thảo chuyện tích trận Hồng Thủy này dựa trên những truyền thống xưa và những dữ kiện huyền thoại. Phải nói có hai chuyện tích về trận Hồng Thủy được đan quyện vào nhau. Một chuyện tích xưa thuộc truyền thống Gia-vít không biết đến đề tài Giao Ước và một chuyện tích khác muộn thời hơn thuộc truyền thống tư tế (có lẽ trong thời kỳ lưu đày hay sau đó ít lâu) nêu bật đề tài Giao Ước.

Bài Đọc I được trích từ chuyện tích thuộc truyền thống tư tế này, trong đó chúng ta gặp thấy đề tài Giao Ước. Tác giả của chuyện tích này khoác cho chuyện tích xưa thuộc truyền thống Gia-vít một quan niệm thần học. Khi phân biệt giáo huấn của Thiên Chúa trong chuyện tích thuộc truyền thống Gia-vít, tác giả tư tế đã đọc thấy dấu chỉ của ơn cứu độ được dâng hiến cho hết mọi người, ở đó nước sẽ đóng một vai trò quan trọng. Nếu toàn thể nhân loại đã bị trừng phạt, thì cũng chính toàn thể nhân loại sẽ được cứu, vì lòng xót thương của Thiên Chúa còn lớn hơn cả tội lỗi nữa. Ơn cứu độ sẽ được thực hiện dưới dấu chỉ của nước, biểu tượng của cuộc tái sinh. Thánh Phê-rô, trong thư mà chúng ta đọc vào Chúa Nhật này, gợi lên chuyện tích này là hình bóng Phép Rửa.

  1. Giao ước với tất cả mọi sinh vật

Giao Ước của Thiên Chúa trải rộng cho hết mọi sinh vật. Cử chỉ này là một hành vi sáng tạo trong các chuyện tích về nguồn gốc nhân loại (St 1-11). Ông Nô-ê, A-đam mới, cũng như những sinh vật đều đã được cứu thoát, từ nay được bảo tồn. Thiên Chúa không từ bỏ bất cứ gì từ cuộc sáng tạo ban đầu.

Chúng ta có thể nhấn mạnh thêm rằng đại họa Hồng Thủy đã đến hồi kết thúc, nước phía trên đã được phân rẽ khỏi nước phía dưới, và đất trồi lên, như trong cuộc sáng tạo đầu tiên. Mọi sự lại bắt đầu. Như vậy, Phép Rửa có ý nghĩa của một cuộc vượt qua từ cõi chết bước vào cõi sống.

  1. Cầu vồng

Dân Hy-lạp xem cầu vồng là khăn quàng của nữ thần Iris, sứ giả của các thần linh. Dân Do thái đặt trọng tâm trên vấn đề về những mối quan hệ giữa trời và đất, vì thế thấy ở đây một dấu chỉ của việc Thiên Chúa giao hòa với nhân loại. Chiếc cầu vồng nối liền trời với đất biểu thị chiều kích phổ quát của Giao Ước, một lời giải thích mang đậm nét thi ca về lời hứa của Thiên Chúa. Từ nay, Thiên Chúa “gác cây cung lên mây”, tức là không còn dùng khí cụ tiêu diệt nữa. Việc cầu vòng xuất hiện trên không trung loan báo điềm lành: cơn mưa đã tạnh.

BÀI ĐỌC II (1Pr 3: 18-22)

Đoạn trích thư này vang dội Bài Đọc I, nhắc lại trận Hồng Thủy và Giao Ước mà Thiên Chúa thiết lập với ông Nô-ê. Qua đó, thánh Phê-rô nêu bật hình bóng Phép Rửa.

  1. Hoàn cảnh   

Thư thứ nhất của thánh Phê-rô này được viết ở Rô-ma vào những năm 60-64 (thánh nhân được phúc tử đạo vào năm 64). Thư được gửi đến cho tất cả Ki-tô hữu bị phân tán khắp miền Tiểu Á vì bị quấy nhiễu hay bị bách hại. Vị lãnh đạo Giáo Hội quan tâm đến đoàn chiên của mình. Trong thư, thánh nhân nhắc nhớ những chân lý cốt yếu của đức tin.

Bức thư này đã được một cộng tác viên của thánh Phê-rô là ông Xin-va-nô biên soạn: “Nhờ tay anh Xin-va-nô mà tôi coi là một người anh em trung tín, tôi viết ít lời để khuyên nhủ anh em…” (5: 12). Ông này cũng là người bạn đồng hành thân tín của thánh Phao-lô. Có lẽ vì thế mà những dấu ấn của thánh Phao-lô được gặp thấy ở nhiều đoạn trong thư này; như trong đoạn trích hôm nay, chúng ta ghi nhận “chết vì tội lỗi chúng ta”, hay việc đối lập giữa “thân xác và thần khí”, hoặc “Phép Rửa” đồng nghĩa với việc “tham dự vào cuộc Phục Sinh của Đức Ki tô”.

Thánh Phê-rô ngỏ lời với những người Ki-tô hữu đang phải hứng chịu những lời chế nhạo và vu khống của dân ngoại. Thánh Tông Đồ khuyên họ hãy can đảm theo gương Đức Ki-tô, Người đã chịu đau khổ dù vô tội. Từ đó, thánh nhân gợi lên ơn Cứu Độ và những ân phúc của nó đối với những người đã qua đời cũng như những người đang sống.

  1. Đối với những người đã qua đời

Đây là một đoạn văn đặc thù trong các bản văn Tân Ước gợi lên Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông. Việc Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông muốn nói lên rằng việc cứu độ những tội nhân không chỉ có giá trị đối với những ai đã qua đời sau biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô, nhưng cũng có hiệu lực trở về trước nữa. Đức Ki-tô đã đến “loan báo Tin Mừng” cho các vong nhân, và đặc biệt hơn nữa, cho những vong nhân bị quên lãng và bị nguyền rủa, thậm chí vào thời ông Nô-ê, ông là người công chính duy nhất (3: 19-20). Những vong nhân này xuất hiện trong truyền thống Do thái (và đặc biệt trong văn chương khải huyền) như những kẻ nổi loạn. Chắc chắn đó là lý do mà thánh Phê-rô viện dẫn họ để ca ngợi quyền năng Cứu Độ và lòng xót thương vô lượng hải hà của Thiên Chúa.

Mặt khác, việc Đức Giê-su xuống cõi âm ty nêu bật giá trị của việc Ngài lên trời trong vinh quang. Đấng xuống cõi âm ty chính là “Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền”. Vinh quang tuyệt mức tương ứng với sự khiêm hạ tột cùng của Con Thiên Chúa, Đấng đã dự phần vào cõi hư vô của sự chết.

  1. Đối với những người đang sống

Đối với những ai hiện đang sống (và đối với những ai sinh ra sau này), biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki tô dâng hiến ơn cứu độ dưới dấu chỉ Phép Rửa. Thánh Tông Đồ nhấn mạnh không cốt “được tẩy sạch vết nhơ thể xác” như trong các nghi thức thanh tẩy của lương dân, nhưng nhất là “cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô”.

Cùng với những bản văn của thánh Phao-lô, bản văn này làm chứng rằng vào những năm 60, thần học Phép Rửa đã được bày tỏ và khẳng định rất rõ nét.

TIN MỪNG (Mc 1: 12-15)

Đoạn trích Tin Mừng Mác-cô hôm nay gồm có hai phần: phần thứ nhất (1: 12-13) tường thuật việc Đức Giê-su chuẩn bị cần thiết cho sứ vụ công khai của Ngài; phần thứ hai (1: 14-15) tường thuật việc Đức Giê-su bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài.

  1. Đức Giê-su chuẩn bị cần thiết cho sứ vụ công khai (1: 12-13)

Tin Mừng Mác-cô thuật lại cuộc thử thách của Đức Giê-su trong hoang địa. Dù bài trình thuật của thánh Mác-cô rất giản dị so với thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca, nhưng những điều cốt yếu đều được nói ở đây: Thánh Thần thúc đẩy; bốn mươi ngày trong hoang địa, chịu Xa-tan cám dỗ; Đức Giê-su chiến thắng thế lực sự Dữ. Trong phần thứ nhất này, thiết tưởng phải phân biệt hai khía cạnh: rút vào hoang địa và chịu Sa-tan thử thách.

A. Rút vào hoang địa (1: 12)

Ngay sau khi chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả và trước khi bắt đầu sứ vụ của mình, Đức Giê-su rút vào hoang địa để chuẩn bị sứ vụ của mình trong chiêm niệm, cầu nguyện và chay tịnh. Trước khi khởi sự cuộc đời của một nhà giảng thuyết lưu động, khiêm hạ và hoàn toàn tuân phục mọi hướng dẫn của Chúa Cha, Đức Giê-su sống trong sự mật thiết với Cha Ngài và trang bị cho mình sức mạnh Thánh Thần.

Về phương diện nhân loại, Đức Giê-su chắc hẳn đã kinh qua nỗi sợ hãi và xao xuyến, bởi lẽ Ngài đã gánh lấy thân phận yếu hèn của chúng ta. Ngài đặt mình vào trong sự liên đới với những âu lo của chúng ta. Ngài tăng cường lời cầu nguyện của mình bằng chay tịnh như cách thức huấn luyện mình để “làm chủ bản thân mình”, đồng thời như một hành vi “phụ thuộc vào Thiên Chúa”.

Trong cuộc đời của mình, vào những giây phút mang tính quyết định, Đức Giê-su nhiều lần rút vào nơi cô tịch để cầu nguyện. Ngài đã cầu nguyện thâu đêm trước khi chọn các Tông Đồ của mình (Lc 6: 12). Ngài đã cầu nguyện lâu giờ trước khi hỏi các môn đệ Ngài là ai và đón nhận lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô (Lc 9: 18). Ngài cũng đã thức suốt đêm cầu nguyện (Ga 6: 15) trước khi công bố rằng bánh mà Ngài ban chính là Mình Ngài làm của ăn để nuôi sống chúng ta (Ga 6: 51).

B. Chịu Xa-tan thử thách (1: 13)

Tại sao Đức Giê-su phải chịu Xa-tan thử thách? Xin được đưa ra ba lý do để soi sáng vấn đề này.

a). Chấp nhận thân phận con người

Việc Đức Giê-su chịu ma quỷ cám dỗ theo tiến trình hợp lý về ơn gọi của Ngài: Ngài đã đồng hóa mình với nhân loại tội lỗi bằng cách chấp nhận phép rửa sám hối bởi Gioan Tẩy Giả. Ngài đã đi cho đến tận cùng của sự đồng hóa này khi chấp nhận chịu những cơn cám dỗ như số phận của con cái A-đam và E-và. Qua kinh nghiệm của mình, Ngài chỉ cho chúng ta thấy làm thế nào chiến thắng những chước cám dỗ. Và chính nhờ mẫu gương của Ngài, chúng ta, được ơn phù trợ của Thánh Thần như Ngài, có thể lập lại lời khẩn cầu mà Ngài đã dạy: “Lạy Cha… xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ…” (Mt 6: 13).

b). Kinh qua những cơn cám dỗ của Dân Chúa

Nếu Đức Giê-su là một A-đam mới, một A-đam khải hoàn, thì Ngài cũng là một Mô-sê mới. Đức Giê-su đã muốn đồng hóa mình với dân Ngài bằng cách sống lại những cơn cám dỗ của họ trong hoang địa. Ngài đã trải qua cuộc lưu đày ở Ai-cập khi vừa mới chào đời. Ngài cũng đã kinh qua những chước cám dỗ trong hoang địa. Bốn mươi ngày chay tịnh và cầu nguyện của Ngài nhắc nhớ không chỉ bốn mươi ngày chay tịnh và cầu nguyện của ông Mô-sê trên núi Xi-nai, trước khi đón nhận những lời Giao Ước, nhưng cũng bốn mươi năm truân chuyên mà dân Do thái đã trải qua trong hoang địa.

c). Khúc dạo đầu cho cuộc chiến thắng tối hậu

Cuộc đời của Đức Giê-su đầy những dấu chỉ. Cuộc thử thách trong hoang địa là một trong những dấu chỉ lớn lao. Đây là khúc dạo đầu cho một cuộc chiến vĩ đại chống lại quyền lực sự Dữ. Về phía mình, Xa-tan đã tiên cảm rằng Đức Giê-su là một đối thủ đáng gờm; vì thế nó sẽ tăng gấp bội nổ lực của mình, sẽ gây ra những phản bội và bỏ rơi, và bên ngoài có vẽ chiến thắng vào ngày thứ sáu Thương Khó của Ngài. Nhưng cuối cùng, cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài đã chiến thắng trên mọi quyền lực của sự ác.

  1. Đức Giê-su bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài (1: 14-15)

Phần thứ hai cũng gồm có hai khía cạnh: Khung cảnh (1: 14) và sứ điệp đầu tiên của Đức Giê-su (1: 15):

A- Khung cảnh (1: 14)

Sau khi nghe tin “ông Gioan bị nộp”, Đức Giê-su biết rằng sứ vụ của Ngài bắt đầu. Thông tin này cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ công khai của Ngài khi vị Tiền Hô chấm dứt sự vụ của thánh nhân. Như vậy, có một mối quan hệ mật thiết giữa sứ vụ của vị Tiền Hô và sứ vụ của Đấng mà vị Tiền Hô có sứ mạng dọn đường. Trong Tin Mừng Mác-cô, động từ “bị nộp” nêu bật cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Đức Giê-su. Động tự này xuất hiện ở đây cho thấy số phận của thánh Gioan báo trước số phận của Đức Giê-su.

– “Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê”: Đức Giê-su đã đến bờ sông Gio-đan để chịu phép rửa của thánh Gioan Tẩy Giả; sau đó, Ngài đi vào hoang địa Giu-đê để chịu những chước cám dỗ; giờ đây, Ngài trở về miền Ga-li-lê để khởi đầu sứ vụ của mình. Nói chung, miền Ga-li-lê thuận tiện cho sứ vụ của Đức Giê-su hơn miền Giu-đê. Miền Ga-li-lê là ngã tư quốc tế, là nơi giao thương giữa các dân tộc chung quanh, là nơi người Do thái không chỉ sống chung với lương dân nhưng còn là nơi giao tiếp với muôn dân, nên từ xưa miền này được ngôn sứ I-sai-a gọi là “miền đất ngoại bang” (Is 8: 23). Vì thế, khi coi miền Ga-li-lê là địa bàn hoạt động chính của Đức Giê-su, thánh Mác-cô muốn nhấn mạnh sứ điệp phổ quát của Đức Giê-su.

– “Rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa”: Diễn ngữ: “Tin Mừng của Thiên Chúa” muốn nói rằng Tin Mừng xuất phát từ Thiên Chúa. Đức Giê-su là hiện thân của Tin Mừng này. Vì thế, Tin Mừng xuất phát từ Thiên Chúa chính là Đức Giê-su Ki-tô; nói cách khác, Đức Giê-su Ki-tô chính là Tin Mừng của Thiên Chúa.

B- Sứ điệp đầu tiên của Đức Giê-su (1: 15):

Sứ điệp đầu tiên của Đức Giê-su được tóm kết ở đây: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.

– “Thời kỳ đã mãn”: Các ngôn sứ chia thời gian làm hai thời kỳ: thời hiện tại và thời sẽ đến. Thời sẽ đến là thời điểm quyết định dứt khoát của Thiên Chúa, mọi sự đều tùy thuộc thời điểm này (x. Đn 7: 22; Ed 7: 12; 9: 1; Ac 4: 18; Kh 1: 3; 1Pr 1: 1). Với động từ: “đã mãn”, Chúa Giê-su loan báo thời hiện nay đến hồi chấm dứt và một thời đại mới, thời đại cuối cùng, thời cánh chung đã tới. Đó là thời Thiên Chúa ấn định để thực hiện và thành tựu các lời hứa và các sấm ngôn của Ngài.

– “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”: Kể từ ngày thoát khỏi cảnh lưu đày Ba-by-lon, dân Do thái đặt tất cả mọi hy vọng vào việc Thiên Chúa đích thân ngự đến và thiết lập Vương Quyền của Ngài trên mọi dân tộc (Mk 4: 7; So 3: 15b; Dcr 14: 9; vân vân). Ở đây, Đức Giê-su khẳng định rằng với sự hiện diện của Ngài, “Triều Đại Thiên Chúa” đã đến và đang có mặt ở đây. Như thế, Triều Đại Thiên Chúa đã đến rồi, đến trong con người của Đức Giê-su.

– “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”: Triều Đại Thiên Chúa đòi hỏi thay đổi đời sống, như thánh Gioan Tẩy Giả đã nói rõ ra: “chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (1: 4). Trong lời rao giảng của mình, Đức Giê-su mời gọi “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”, nghĩa là “Hãy sám hối tức là tin vào Tin Mừng”. Lòng sám hối phải được bày tỏ ra qua việc tin vào Tin Mừng, mà tin vào Tin Mừng đồng nghĩa với việc tin vào Đức Giê-su, Đấng là hiện thân Tin Mừng của Thiên Chúa. Đó cũng là lời rao giảng đầu tiên của các Tông Đồ: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ được ân huệ là Chúa Thánh Thần” (Cv 2: 38). Đó cũng là lời rao giảng của thánh Phao-lô như ở Ê-phê-xô: “Tôi kêu nài những người Do thái và Hy-lạp trở lại với Thiên Chúa và tin vào Chúa Giê-su” (Cv 20: 21).

Về mục lục

TAM ĐỘC

Trầm Thiên Thu

Có nhiều thứ độc hại, nhưng ba thứ nguy hiểm là ba thù – ma quỷ, thế gian, xác thịt. Ba thứ cám dỗ “độc hại” là ăn uống, kiêu ngạo, danh vọng. Nói chung cũng bởi “cái tôi” mà thôi.

Thánh Maximus hiển tu nhận định: “Ma quỷ đích thân đến cám dỗ chúng ta hoặc xui xiểm những người không có lòng kính sợ Thiên Chúa chống lại chúng ta. Chúng đích thân cám dỗ khi chúng ta rút vào những nơi xa cách với đời, vì chính Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ trong hoang mạc. Chúng dùng người khác để cám dỗ khi chúng ta có những giao tiếp với đời, như chúng đã từng cám dỗ Chúa Giêsu qua những người Biệt Phái – Pharisêu. Nhưng nếu chăm chú nhìn ngắm Chúa Giêsu, chúng ta sẽ xua đuổi được chúng trong từng trường hợp.” Thánh Lêô Cả nói: “Tên cám dỗ lúc nào cũng tỉnh táo, khai chiến thật dữ dội để chống lại những người mà nó thấy rất cẩn trọng tránh tội.”

Ma quỷ rất tinh ranh, những kẻ theo phe chúng cũng ranh mãnh chẳng kém. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.” (Lc 16:8) Sự khôn khéo ở đây mang ý nghĩa xấu xa, tức là mưu mô, mưu mẹo, toan tính và sắp đặt ngầm để thực hiện điều bất chính – được gọi là mưu ma chước quỷ. Là sinh vật cao cấp nhất nhưng con người cũng nhiêu khê vì luôn “biến hóa” với thất tình và lục dục, [*] thậm chí còn cảm thấy sợ chính mình.

Một ký ức buồn là Đại Hồng Thủy, sự kiện “rửa đất” hoàn toàn, xảy ra ngày 17 tháng 02 năm 600. (St 7:11) Chương 7 của sách Sáng Thế miêu tả Đại Hồng Thủy xảy ra là sự trừng phạt của Thiên Chúa vì sự suy thoái đạo đức của loài người. Khi ông Nôê được 600 tuổi, Thiên Chúa cho mưa tuôn suốt 40 ngày đêm, nước dâng lên ngập cả những đỉnh núi cao nhất, nước ngập suốt 150 ngày. (St 7:24) Sau Đại Hồng Thủy, chỉ có gia đình ông Nôê còn sống sót trên một con tàu lớn cùng với các loài vật – 1 đực và 1 cái, loài thanh sạch 7 đôi, loài không thanh sạch 1 đôi.

Sau đó Thiên Chúa phán với ông Nôê và các con ông: “Đây Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, với dòng dõi các ngươi sau này, và tất cả mọi sinh vật ở với các ngươi: chim chóc, gia súc, dã thú ở với các ngươi, nghĩa là mọi vật ở trong tàu đi ra, kể cả dã thú. Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy huỷ diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa.” (St 9:8-11) Lời hứa đó của Thiên Chúa là điều diễm phúc cho cả nhân loại, vì không còn cảnh “tẩy rửa” địa cầu như thời Cựu Ước.

Ngài cho dấu chỉ cụ thể, rõ ràng: “Đây là dấu hiệu giao ước Ta đặt giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật ở với các ngươi, cho đến muôn thế hệ mai sau: Ta gác cây cung của Ta lên mây, và đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với cõi đất. Khi Ta cho mây kéo đến trên mặt đất và cây cung xuất hiện trong mây, Ta sẽ nhớ lại giao ước giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật, nghĩa là với mọi xác phàm; và nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa.” (St 9:12-15) Ngày nay, chúng ta thường thấy “cây cung” đó sau những cơn mưa to, gọi là Cầu Vồng, với bảy sắc màu lung linh rất đẹp, rất kỳ diệu, chứng tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa.

Ngày nay, mỗi khi nhìn thấy Cầu Vồng, chúng ta lại được nhắc nhở về giao ước xưa, về ơn thứ tha của Thiên Chúa nhân lành, Ngài không trừng phạt nhãn tiền nữa. Tuy nhiên, đừng vì thế mà ỷ lại, luôn cần phải noi gương Thánh Vịnh gia cầu xin: “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con. Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái.” (Tv 25:4-5)

Mùa Chay là lời nhắc nhở không chỉ về lòng sám hối mà cả tâm tình biết ơn: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng. Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người.” (Tv 25:6-9) Nếu mà Thiên Chúa chấp tội thì chẳng ai được cứu rỗi. (Tv 130:3) Thật diễm phúc cho chúng ta vì Ngài hằng thương xót và tha thứ.

Giá cứu chuộc chúng ta được tận hưởng là Bửu Huyết của Đức Giêsu Kitô, và mọi vết tội được tẩy sạch. Thánh Phaolô xác định: “Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương – hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh. Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm, tức là những người xưa đã không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Nôê đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước.” (1 Pr 3:18-20) Nước bình thường mà kỳ diệu, rất mềm mà rất cứng, người ta có thể “cắt” nước nhưng không thể làm “đứt” nước. Vô cùng lạ lùng!

Từ nước của Đại Hồng Thủy tới nước của Phép Rửa, rồi Nước (và Máu) từ Thánh Tâm Chúa Giêsu khi bị lưỡi giáo đâm thâu. Thánh Phêrô cho biết: “Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em. Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền.” (1 Pr 3:21-22) Chuỗi liên kết thật tuyệt vời!

Ai cũng biết tội lỗi là điều ghê tởm, rất ô uế, nhưng chúng ta lại được rửa sạch nhờ Bí tích Thánh Tẩy. Và rồi vì yếu đuối, chiếc “áo trắng” của chúng ta lại vấy bẩn, nhưng vẫn tiếp tục được “giặt sạch” nhờ Bí tích Hòa Giải. Tội chồng lên tội, mà phúc lại chồng lên phúc. Xui mà lại hên! Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tiếp tục ăn chay và sám hối. Ăn chay và đền tội không chỉ cho chính mình, mà còn cho cả người khác trong tình liên đới Kitô giáo. Thiên Chúa chuẩn bị cho chúng ta mọi thứ thuận lợi, rõ ràng Ngài muốn chúng ta hoàn thiện để nên thánh, để được ở bên Ngài mãi mãi.

Cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu chịu sau khi đã ăn chay ròng rã suốt 40 đêm ngày được nói ngắn gọn: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.” (Mc 1:12-13) Trong Mt 4:1-11 và Lc 4:1-13 nói chi tiết hơn: Cám dỗ thứ nhất về sự ăn uống – đệ nhất khoái trong tứ khoái của con người; cám dỗ thứ nhì về tính kiêu ngạo – “cái tôi” nhỏ bé mà cồng kềnh, nó có thể nổi dậy bất cứ lúc nào; cám dỗ thứ ba về danh vọng và chức quyền – ai cũng muốn để chứng tỏ mình tài giỏi và bản lĩnh hơn người. Rất đáng quan ngại!

Trước khi thi hành sứ vụ công khai mạc, Chúa Giêsu đã ăn chay dài ngày, điều đó cho thấy việc ăn chay luôn gắn liền với việc cầu nguyện, và rất cần thiết. Trước khi hành động bất cứ điều gì đều cần phải cầu nguyện. Một trong những điều quan trọng ai cũng cần cầu xin: “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ.” (Kinh Lạy Cha) Điều này đã được chính Chúa Giêsu dạy khi các môn đệ xin Sư Phụ dạy cách cầu nguyện. Trong đó, Chúa dạy không chỉ xin cho mình mà cho cả người khác, dùng “chúng con” – đại từ số nhiều, chứ không dùng “con” – đại từ số ít.

Ông Gioan bị bắt, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy SÁM HỐI và TIN vào Tin Mừng.” (Mc 1:15) Chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối. Ngày nay, người ta thường than “đạo đức xuống cấp” hoặc “suy thoái nhân bản.” Thật vậy, chưa cần va quẹt nhau, chỉ cần nhìn thôi, người ta đã có thể to tiếng hoặc ẩu đả nhau, thậm chí là rút dao đâm ngay, không hề gớm tay. Vậy thì không thể hiện tinh thần sám hối của Đức Kitô, thậm chí còn hành động trái ngược với lời Ngài khuyên.

Thật vậy, ngày nay người ta mưu mô và thủ đoạn rất tinh vi. Khoa học càng tiến bộ thì tội lỗi càng tinh vi. Thế thì việc ăn chay, sám hối và đền tội càng cần hơn nhiều. Ước gì mỗi chúng ta đều biết chân thành thú tội để được Thiên Chúa đại xá: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.” (Tv 51:6)

Lời nói của cổ nhân không bao giờ lỗi thời: “Hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu.” (Ngậm máu phun người thì bẩn miệng mình trước.) Thế nhưng kẻ xấu vẫn bất chấp. Suy nghĩ xấu dẫn tới ước muốn xấu, ước muốn xấu dẫn tới hành động xấu, hành động mãi thành thói quen, và thói quen trở thành số phận. Vô cùng nguy hiểm!

Người ta thường nói màu sắc. Màu liên quan Sắc. Cái gì Đen thì Tối. Việt ngữ rất thâm thúy. Thánh Phaolô cảnh báo: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.” (Rm 13:12) Đó là động thái đặc biệt của Mùa Chay Thánh – cơ hội nên thánh.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con nhận biết Ngài, nhận biết mình, và nhận biết mưu ma chước quỷ, để chúng con đủ can đảm sống ngay thẳng và sám hối suốt đời. Xin Ngài gia ân nâng đỡ và bảo vệ chúng con trên suốt hành trình sám hối và hành trình đức tin. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

 [*] Thất tình: Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục. Lục dục: (1) Sắc dục: ham muốn nhìn thấy sắc đẹp; (2) Thính dục: ham muốn nghe âm thanh êm tai; (3) Hương dục: ham muốn ngửi mùi thơm dễ chịu; (4) Vị dục: ham muốn món ăn ngon miệng; (5) Xúc dục: ham muốn xác thân sung sướng; (6) Pháp dục: ham muốn ý nghĩ được thỏa mãn.

Về mục lục

TRUNG THÀNH VỚI LỜI GIAO ƯỚC RỬA TỘI

Lm Trần Bình Trọng

Theo Thánh kinh, thì mỗi khi Thiên Chúa có điều chi thoả thuận với dân mình, thì Người lập giao ước. Giao ước Thánh kinh khác với hợp đồng giữa hai phe nhóm hoặc hiệp định giữa hai quốc gia.

Một bên của hợp đồng hay hiệp định có thể giầu mạnh hoặc ảnh hưởng hơn bên kia, nhưng hai bên coi nhau như ngang hàng. Trong hợp đồng hay hiệp định, nếu một bên lỗi phạm, thì bên kia không phải tuân giữ. Còn giao ước Thánh kinh thì có tính cách đơn phương. Thiên Chúa luôn đứng chủ động để khởi sự giao ước bằng việc bày tỏ tình yêu của Người cho nhân loại. Và Thiên Chúa mời gọi loài người đáp trả lại tình yêu đó.

Giao ước đầu tiên được ghi lại trong Thánh kinh là giao ước giữa Thiên Chúa và ông Nô-ê khi Chúa phán: Ðây Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, với dòng dõi các ngươi sau này và tất cả mọi sinh vật ở với các ngươi (St 9:9-10). Bài trích sách Sáng thế hôm nay ghi lại: Sau khi Chúa cứu gia đình ông Nôê khỏi hồng thuỷ, thì Chúa cho cầu vồng xuất hiện như là một biểu hiệu của lòng nhân từ hay thương xót của Chúa. Cầu vồng là biểu hiệu của giao ước giữa Thiên Chúa và ông Nôê có nghĩa là bão táp đã qua đi và nước lụt đã rút xuống.

Còn giao ước quan trọng nhất trong thời Cựu ước là giao ước Chúa ban cho dân Người qua Môsê trên núi Sinai (Xh 20:1-21) khi Chúa ban Mười Giới luật cho dân Người và được phê chuẩn bằng máu chiên đổ trên bàn thờ (Xh 24). Trong thời Cựu ước, qua các ngôn sứ, Thiên Chúa luôn nhắc nhở cho dân Người phải trung thành với lời giao ước và Thiên Chúa luôn trung thành với lời giao ước. Tuy nhiên dân riêng Chúa không mấy khi giữ lời giao ước. Họ thường bất trung, phản bội. Lỗi lời giao ước thì Chúa chỉ phạt, rồi Chúa lại giang tay đón nhận họ trở về khi họ thực lòng ăn năn sám hối.

Sau cùng Thiên Chúa làm một giao ước vĩnh cửu với dân riêng qua chính Con Một của Người. Giao ước đó được kí kết, không phải bằng máu hiến tế của chiên cừu trong Cưu ước, nhưng bằng Máu Con Thiên Chúa như ta nghe linh mục chủ tế công bố lời Chúa truyền phép trên chén rượu trong thánh lễ: Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và muôn người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy (Mt 26:28; 1Cor 11:25).

Thư thứ nhất của Thánh Phêrô tông đồ cho thấy có sự song hành giữa giao ước của Thiên Chúa với ông Nôê và giao ước Chúa thiết lập trong Bí tích Rửa tội. Theo thánh Phêrô thì việc gia đình ông Nôê được cứu thoát khỏi nạn hồng thuỷ, là dấu báo hiệu người tín hữu cũng được cứu thoát qua nước rửa tội (1Pr 3:20-21).

 Hôm nay Giáo hội muốn nhắc nhở cho ta một biến cố đã xẩy ra cho mỗi người khi còn ở tuổi măng sữa: đó là Bí tích Rửa tội. Các nhà tâm lý học thường nhấn mạnh đến những gì ta có kinh nghiệm, ngay cả khi còn nhỏ tuổi, đều có ảnh hưỏng đến đời sống hiện tại. Bí tích rửa tội là một biến cố vĩ đại. Hoặc ta chịu phép Rửa tội khi còn ở tuổi măng sữa, hay khi đã lớn, ta phải tìm hiểu ý nghĩa của phép Rửa tội và sống phù hợp với ý nghĩa của Bí tích.. Bí tích Rửa tội là một giao ước giữa Thiên Chúa với loài người. Trong Bí tích Rửa tội, Thiên Chúa ban tình yêu và lòng thương xót, còn người chịu phép rửa tội hứa giữ lòng trung tín, lo tròn bổn phận làm con.

Theo truyền thống cổ xưa, thì Giáo hội luôn nhấn mạnh việc rửa tội người dự tòng trong mùa Chay. Ngay từ hồi khởi đầu, Giáo hội đòi hỏi người dự tòng phải dùng suốt mùa Chay để học đạo, sửa soạn cho việc rửa tội trong đêm thánh Vọng Phục sinh.

Giáo hội thiết lập mùa Chay kéo dài bốn mươi ngày để ghi nhớ 40 ngày Chúa Giêsu đi vào hoang địa, ăn chay và chịu Xa-tan cám dỗ (Mc 1:13). Ngày nay Giáo hội khuyến khích người tín hũu giữ truyền thống mùa Chay, thời gian cầu nguyện, ăn năn sám hối và làm việc từ thiện bác ái. Mùa Chay là thời giờ giúp ta từ bỏ tội lỗi và đền tội, cải tạo đời sống để trở về với Chúa. Ðể sửa soạn cho giao ước trên núi Sinai, Môsê cũng ăn chay 40 ngày (Xh 34:28; Ðnl 9:9). Êlia, một ngôn sứ có giọng thét ra lửa, ăn chay 40 ngày trong cuộc hành trình lên núi Khôrếp (1V 19:8). Theo truyền thống Kitô giáo, Gioan tiền hô, một đại ngôn sứ cuối cùng thời Cựu ước, cũng ăn chay 40 ngày trước khi được gọi để sửa soạn cho việc Chúa đến bằng cách kêu gọi dân chúng chịu phép rửa thống hối. Như vậy việc người tín hữu ăn chay, không phải là một hành động tách biệt riêng rẽ, nhưng là ăn chay cùng với Ðức Kitô và theo gương các ngôn sứ và đồng thời với các tín hữu khác.

Trong Đêm thánh vọng Phục sinh, Giáo hội mời gọi người tín hữu ôn lại lời hứa khi chịu Phép Rửa tội là từ bỏ Xa-tan, cùng những xúi giục và quyến rũ của nó. Xatan đã được nhắc đến trong Thánh kinh năm mươi bảy lần. Riêng bốn Phúc âm thì nhắc đến Satan mười bốn lần. Như vậy Xatan phải có thật. Xatan là tướng quỉ đã được phép cám dỗ Ðức Giêsu thì quỉ – hoặc qủi đực hay quỉ cái – lại càng nhất quyết tấn công loài người để lôi kéo người ta vào thế giới tối tăm. Theo các nhà dẫn đàng thiêng liêng và theo lời dạy bảo của thánh Giacôbê thì, nếu ta dứt khoát với Xatan một vài lần, quỉ dữ sẽ cụt hứng không còn dám bén bảng đến nữa (Gc 4:7). Ðể cho việc ôn lại lời hứa khi chịu phép rửa tội khỏi trở thành vô nghĩa, ta cần sống tinh thần mùa chay: đó là tinh thần cầu nguyện, tạ tội và làm việc từ thiện bác ái.

Lời cầu nguyện xin Chúa giúp chống trả cám dỗ:

Lạy Chúa, Chúa đã chịu để Xa-tan cám dỗ

và Chúa lướt thắng cám dỗ.

Xin tha thứ những lần con không tránh xa dịp tội,

những lần con không chịu kỉ luật hoá mình,

cho nên cám dỗ mới đến với con.

Xin dạy con biết luyện chưởng thiêng liêng

để con có thể chống trả cám dỗ. Amen.

Về mục lục

CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Năm nào cũng vậy, cứ vào Chúa nhật thứ nhất Mùa chay, Giáo hội cho chúng ta nghe đọc đoạn Tin Mừng kể về việc Chúa Giêsu bị cám dỗ và chiến thắng Satan. Năm A và C, đọc Tin Mừng của thánh Matthêu và thánh Luca, kể lại sự kiện này khá dài, kể rõ ba chước cám dỗ và ba lần Chúa Giêsu chiến thắng cám dỗ.

Năm nay năm B, đọc Tin Mừng của thánh Marcô, kể lại rất vắn tắt, chỉ cho biết: “Thần khí thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa. Người ở đó 40 ngày, chịu Satan cám dỗ”. Tuy thánh Marcô không trực tiếp cho biết Chúa Giêsu đã chiến thắng Satan, đã xua đuổi nó, nhưng suốt sách Tin Mừng, thánh Marcô sẽ cho thấy Chúa Giêsu đi tới đâu thì Satan bị đánh bại đến đấy. Giáo hội cho chúng ta nghe đọc đoạn Tin Mừng này để mời gọi chúng ta chiêm ngắm hình ảnh Chúa Giêsu như kiểu mẫu và bảo đảm cho chúng ta trong cuộc chiến đấu với Satan và những cám dỗ của nó.

Đời người được ví như một đấu trường, ở đó con người phải luôn chiến đấu: chiến đấu với ngoại cảnh, chiến đấu với nhiều thứ, nhất là chiến đấu với chính mình. Tại sao vậy? Bởi vì mang thân phận con người, ai ai cũng bị giằng co, xâu xé bởi hai khuynh hướng mâu thuẫn nhau: một cái kéo con người lên và một cái lôi con người xuống. Hai khuynh hướng đó đều nội tại trong con người, khiến cho nội tâm con người trở thành chiến trường, đôi khi rất cam go làm con người đau khổ.

Khuynh hướng đi lên là khuynh hướng căn bản của ý chí con người. Ai cũng muốn mình là người tốt, ai cũng muốn mình làm điều thiện, chứ không ai muốn mình xấu hay làm điều ác cả. Nhưng muốn là một chuyện, còn có làm điều tốt hay không lại là chuyện khác. Thánh Phaolô đã nói: “Tôi không hiểu nổi việc tôi làm: điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm”. Vì thế, muốn đi lên, con người phải cố gắng, phải dùng chính sức mạnh của mình, phải hao tổn năng lực của mình.

Còn khuynh hướng đi xuống cũng ở trong nội tâm, nhưng kể từ khi nguyên tổ phạm tội, khuynh hướng này đã được ma quỉ tăng cường làm cho mạnh lên, khiến con người muốn đi lên phải chiến đấu rất vất vả. Còn muốn đi xuống thì chẳng cần phải cố gắng gì cả, chỉ cần buông thả, không cố gắng nữa là tự động đi xuống. Chính vì thế làm thiện khó hơn làm ác rất nhiều. Và cái lực hấp dẫn mọi người làm ác hoặc không làm thiện là lực của ma quỉ.

Đúng vậy, đàng sau bối cảnh chiến trường mà con người phải chiến đấu, ẩn hiện chập chờn một nhân vật rất nguy hiểm mà Kinh thánh gọi là kẻ thù, ấy là satan. Satan là quỉ, nó là “xếp xòng” của loài quỉ. Satan hay quỉ trước kia là các thiên thần, nhưng vì làm loạn cùng Thiên Chúanên bị tống cổ ra khỏi thiên đàng và bị đày xuống hỏa ngục. Từ ngày thất thế, Satan và bè lũ trở nên những kẻ thù nguy hại của loài người. Chúng chuyên môn áp đảo, quấy phá để làm cho người ta hư hỏng theo chúng. Chúng đã làm hư hỏng biết bao nhiêu người. Chúng đã du nhập vào trần gian đủ thứ gian tham, lừa lọc, tội ác, bất công và những lối sống lố bịch, nham nhở, nhăng nhít… Tất nhiên có người sẽ nói: có thấy Satan hay quỉ nào công khai làm những chuyện đó đâu? Đúng thế, ngày nay chúng ta ít được chứng kiến những vụ quỉ ám nhãn tiền mà Kinh Thánh đã ghi lại. Ngày nay rất ít trường hợp Satan hiện nguyên hình trực tiếp tác oai tác quái nữa, nhưng gián tiếp điều khiển trong bóng tối. Đó là một sức mạnh vô hình luôn tác động trong tâm trí chúng ta: lôi kéo, xúi bẩy chúng ta đến chỗ hành động xấu xa, tội lỗi. Chiến thuật hay phương thế ma quỉ sử dụng là cám dỗ. Chúng không kiêng nể ai hay buông tha ai. Vì thế, không ai thoát khỏi cám dỗ của chúng.

Theo nghĩa thông thường chúng ta quen hiểu, cám dỗ là dịp phạm tội. Bị cám dỗ là khi chúng ta thấy mình hướng chiều về một điều ưa thích thuộc phạm vi cấm đoán. Chẳng hạn: một vẻ quyến rũ từ bên ngoài lôi cuốn, một sự xôn xao, rạo rực, thèm khát từ bên trong thúc đẩy; một âm mưu hay thủ đoạn bày vẽ ra trong trí khôn thúc đẩy chúng ta hành động; một sự nhắm mắt làm liều, một hành động nổi loạn của toàn thân từ chối ép mình trong trật tự… Đó là những phát hiện của cơn cám dỗ. Như vậy, bị cám dỗ, bất cứ là cám dỗ về phương diện gì, không phải là tội. Khi chúng ta bị cám dỗ thì chỉ có nghĩa là chúng ta bị thử thách thôi. Và chỉ khi nào chúng ta bị thua chước cám dỗ thì mới có tội.

Đành rằng ma quỉ cám dỗ chúng ta. Nhưng chúng chỉ là kẻ thù nguy hiểm thứ hai sau xác thịt của chúng ta: thế gian, ma quỉ và xác thịt. Đó là ba kẻ thù ghê gớm. Ma quỉ chỉ là kẻ xách động, cám dỗ, thúc đẩy, xúi giục chúng ta phạm tội, nhưng chúng có gặp được sự đồng tình đồng ý của chúng ta hay không? Tức là chúng ta có chấp nhận và chiều theo chước cám dỗ hay không? Nói khác đi, ma quỉ chỉ có thể cám dỗ được chúng ta khi chúng ta có nhu cầu, ham thích, đam mê đối với những thực tại trần gian. Chúng ta có làm chủ được những nhu cầu thể chất ấy chúng ta mới dễ dàng thắng lướt được những cám dỗ, và không để cho khuynh hướng xấu làm chủ mình. Từ ngày có trí khôn cho đến giờ, ai trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm về việc cám dỗ. Chúng ta đã bị cám dỗ nhiều lần. Có lần chúng ta đã vượt qua được, và nhiều lần đã bị vấp ngã. Đó chính là thân phận của con người yếu hèn và bất toàn. Không bao giờ vấp ngã, đó là chuyện khác thường, đặc biệt, vô cùng tạ ơn Chúa. Còn hay bị vấp ngã, đó là chuyện bình thường. Và điều quan trọng là chúng ta phải ăn năn sám hối ngay.

Về mục lục

CHIẾN THẮNG SỰ XẤU

Lm. Jos DĐH.

Xã hội thời nào cũng cần đến người tài giỏi đức độ, gia đình giầu nghèo, kiến thức hẹp hay rộng, đều cho thấy tính thời sự hết sức đẹp, khi quê hương đất nước mỗi ngày mỗi lúc được phồn vinh thịnh vượng. Sống trên đời này, tự nhiên người ta hướng đến hạnh phúc, và nghĩ đến công thành danh toại. Ở trong phạm vi cao sâu hơn, người ta luôn khao khát bình an, niềm vui, dù ước muốn hạnh phúc còn mờ ảo mông lung. Cùng chung mơ ước: cha mẹ giầu thì con có, bậc sinh thành đầu tư cho con cháu, xã hội luôn ưu đãi và thu phục người tài đức, mở ra một tương lai tươi sáng, xứng hợp với thiên ý: anh em bốn bể một nhà. Khởi đi từ Đức Giêsu, người tín hữu chúng ta được mời gọi đến sa-mạc, tiến sâu vào cõi lòng mình, mọi người sẽ được ơn soi sáng để biết, hiểu, và sống thánh ý Chúa cách trọn vẹn hơn.

Sau 30 năm chuẩn bị tại Nagiarét, Đức Giêsu đã thấy những khổ đau của con người, đã nghe biết Gioan hoàn tất sứ mạng làm chứng thật xuất sắc. Để diễn tả tình yêu thương của Thiên Chúa, cũng là thánh ý Chúa Cha được xác thực, Đức Giêsu được Thánh Thần dẫn vào hoang địa cầu nguyện, Ngài đã chiến thắng cám dỗ bằng sức mạnh của tình yêu và vâng phục. Người kitô hữu theo Đức Kitô hôm nay, ai ai cũng được mời gọi chiến đấu và chiến thắng, trước là bản thân mình, sau là thế gian và ma quỷ. Chiến thắng tội lỗi của mình, chiến thắng sự xấu nơi xung quanh mình, sẽ không giống như một công thức sẵn có: khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương. Tính chuẩn mực hay còn gọi là sức mạnh của niềm tin, chính là sự thinh lặng cầu nguyện, Đức Giêsu đã chiến đấu tại sa-mạc và chiến thắng xuyên suốt hành trình cứu nhân độ thế của Ngài.

Nếu ở đời cho rằng: to mập béo bền, ăn chắc mặc bền, một số khác lại nói: nhỏ gọn mới đẹp, mới phù hợp với con người hiện đại. Nơi sa-mạc cõi lòng, Đức Giêsu cho thấy sự “nên một trong cầu nguyện”, chính là điều cần thiết để hiểu và để sống thánh ý Chúa Cha rõ ràng nhất. Trong đời sống tự nhiên, chẳng ai đủ khôn khéo để né tránh đau khổ và nước mắt, hẳn trong đời sống thiêng liêng, ai cũng cần phải tập luyện nhân đức, cần đến sự kết hiệp cầu nguyện, hầu có thể chiến đấu, chiến thắng sự xấu, cám dỗ và quỷ thần ám ảnh. Nếu không hệ trọng trước thiên tính và nhân tính, Đức Giêsu đâu cần Thánh Thần dẫn vào sa-mạc, và Ngài cũng chẳng cần sống chay tịnh tới 40 đêm ngày. Chắc chắn việc ăn chay cầu nguyện phải hữu hiệu lắm, vì thế, khi kết thúc những ngày sống mật thiết với Chúa Cha tại sa-mạc, Đức Giêsu liền đi rao giảng: “…Triều đại Nước Thiên Chúa đã gần, anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng”.

Hiền nhân chúng ta ắt phải trải qua nhiều gian khổ, nên mới đủ kinh nghiệm nhắn gởi hậu thế: giới hạn cao nhất của lòng kiên nhẫn là, không nhiều lời, không cáu, không giận hờn. Đức Giêsu với tư cách là Thầy dạy đức tin, không những Ngài mặc khải tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, Ngài còn cho thấy tầm quan trọng của chay tịnh cầu nguyện là cần thiết, do đó, sám hối luôn thiết thực nhằm giúp ta sống đúng, sống đẹp, ý Chúa. Ngày hôm nay, ăn chay, kiêng thịt, nhiều tôn giáo vẫn đang thực hiện, nhưng người kitô giáo mời gọi sống chay tịnh, kiêng khem, với mục đích giúp tâm hồn thanh thản để cầu nguyện, gặp, hiểu thánh ý Chúa, hầu có thể đạt tới bình an và hạnh phúc thật.

Cuộc sống phức tạp đủ điều, rất cần đến sức mạnh của tình yêu, của ơn thánh Chúa, con người tự nhiên: nghèo sinh bệnh, giầu sinh tật, tài giỏi dễ mắc bệnh kiêu căng, dại khờ chút thì đầy mặc cảm tự ti. Nhà đạo có câu truyện như sau: một chàng trai trẻ sống vô kỷ luật, một hôm chàng gặp một tên quỷ hiện hình, nó đưa ra ba chọn lựa: uống rượu, giết người, đốt nhà, trong 3 điều đó phải chọn một. Chàng trai nghĩ nếu không thể né được, thôi thì ta chọn uống rượu chắc là ổn hơn. Tuy nhiên, sau khi uống rượu, chàng trai la hét đốt nhà, vợ can ngăn, anh ta điên lên giết vợ, sau đó là đốt nhà. Con người giới hạn, đôi khi vì thiếu khôn ngoan, không đủ bình tĩnh để xử trí vấn đề, có thể dẫn đến gục ngã bất cứ lúc nào.

Ngụ ý của câu truyện chắc chắn muốn nhắc đến: cám dỗ nào chẳng nguy hiểm, sự xấu nào cũng đáng sợ, chỉ khi người ta biết sống kỷ luật với bản thân, có đời sống kết hiệp cầu nguyện, có sức mạnh của tình yêu, kẻ ấy mới đủ sức chiến thắng sự xấu. Cha mẹ ông bà là chỗ dựa của con cháu, thì Chúa Giêsu chính là mục tử chăn dắt đoàn chiên. Mỗi người tín hữu trước hết phải có lòng mơ ước đủ ơn Chúa, đủ khôn ngoan của Chúa, người ấy mới thấy và hiểu cầu nguyện, chay tịnh là phương thế hữu hiệu để chiến thắng cám dỗ, chiến thắng sự dữ ở đời này. Amen.

Về mục lục

CUỘC CHIẾN ĐẤU THIÊNG LIÊNG

Bông hồng nhỏ

Bước vào Mùa Chay thánh, Lời Chúa mời gọi ta: cùng với Chúa Giêsu để Thần Khí đẩy vào hoang địa, nơi sâu thẳm của lòng mình để lắng nghe Thần Khí hướng dẫn, tìm kiếm và thi hành thánh ý Thiên Chúa.

Sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Chúa Giêsu liền được Thần Khí đẩy vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1, 12-13). Chúa Giêsu bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu thiêng liêng. Người mở đường cho những ai muốn được lớn lên trong ân nghĩa cùng Thiên Chúa. Cuộc chiến đầy thử thách ấy sẽ tôi luyện ý chí và nghị lực của Người. Bốn mươi ngày sống trong hoang địa, Người sống trong sự thiếu thốn, khắc khổ, nguy hiểm luôn rình rập. Đó cũng là những gì Người sẽ trải qua trong cuộc đời rao giảng của Người: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Người chia sẻ tất cả những khó khăn, thử thách với con người trong cuộc chiến đấu thiêng liêng ấy. Đã nhiều lần ta cũng phải trải qua cuộc chiến đấu dành cho chính mình. Ta cũng đã cảm nhận rằng những cám dỗ lôi cuốn ta cách mạnh mẽ. Ta yếu ớt chống chọi và dễ dàng quỵ ngã, buông theo dục vọng. Nếu không bám vào ơn Chúa, không để cho sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, ta sẽ bị Satan khuất phục. Mỗi lần vấp ngã, ta hãy khiên tốn để cho Thiên Chúa vực ta đứng dậy, để sức mạnh của người đẩy ta tiếp tục đứng lên. Đó là khi ta mau mắn đến với Bí tích Giải tội để được giao hòa cùng Thiên Chúa, siêng năng lãnh nhận các Bí tích, nhất là đón nhận Mình Thánh Chúa để có sức thiêng chống lại địch thù. Bản thân ta có rất nhiều nhu cầu, nếu không dừng lại để phân định và chọn lựa, ta sẽ vấp ngã ngay. Quá dễ dãi với chính mình thường đem đến nhưng chọn lựa sai lầm và làm ta phải hối hận. Ở trong Thần Khí, để Thần Khí hướng dẫn, Chúa Giêsu đã từng bước chiến thắng các cám dỗ. Chúa Giêsu dạy ta hãy mở lòng ra trước sức mạnh tình yêu của Thần Khí Thiên Chúa, Thần Khí sẽ lôi cuốn và đẩy ta tiến bước. Chúa Giêsu đã tự nguyện để Thầy Khí đẩy vào hoang địa, chịu thử thách, đón nhận sự thanh luyện của Thiên Chúa, luôn tìm kiếm và thi hành thánh ý Người. Ta có muốn chọn lựa cùng một hành động như Chúa Giêsu không?

Ta hãy chiêm ngắm gương Chúa Giêsu, chiêm ngắm mỗi ngày để thấy rõ từng hành động của Người và sống như Người đã sống. Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu loan báo: “Thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15). Ta có nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, ngay trong lòng mình không? Đứng trước lời mời gọi của Chúa, ta có vui mừng đón lấy vì Tin Mừng đang đến với ta và ở trong ta, hay ta buồn bực vì phải từ bỏ điều mình mong muốn. Chúa Giêsu đã chẳng dạy ta rằng nếu ta muốn theo Người, ta phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Người sao. Sám hối chính là thái độ ta cần phải có mỗi ngày. Đức Giáo hoàng Phanxicô từng khẳng định: Thiên Chúa không mệt mỏi khi tha thứ cho ta. Điều quan trọng là ta có đủ khiêm tốn để đón nhận lòng thương xót của Người không. Khi sám hối, ta hãy xin Chúa giúp ta biết diễn tả đức tin của mình cách sống động. Thánh Giacôbê tông đồ đã khuyên nhủ ta: Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Tình yêu không có hành động là tình yêu chóng tàn, nếu không muốn nói đó là một tình yêu giả dối. Mùa Chay, Hội Thánh mời gọi con cái mình thi hành ba việc: cầu nguyện, ăn chay, bố thí. Cầu nguyện giúp ta gắn bó mật thiết hơn với Thiên Chúa. Ăn chay giúp ta chế ngự con người tự nhiên trong ta, giúp ta khiêm tốn đón nhận giáo huấn của Chúa Giêsu. Làm việc bác ái giúp ta mở rộng trái tim, cảm thông và yêu thương anh chị em như Chúa mời gọi. Cả ba việc làm ấy được thực hiện với lòng yêu mến Chúa, được dẫn dắt bởi Thần Khí Tình yêu và để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi.

Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã đến và ở trong con mỗi ngày. Con tin rằng, ở trong Chúa, con sẽ mạnh mẽ và can trường hơn trong cuộc chiến đấu thiêng liêng, biết lắng nghe sự thúc đẩy của Thánh Thần và mau mắn thi hành thánh ý Thiên Chúa mỗi ngày. Amen.

Về mục lục

CÁM DỖ THỜI NAY

Lm. Xuân Hy Vọng

Nhiều người trong chúng ta có thể đã hỏi ít nhất một lần trong đời rằng: Đức Giê-su vào hoang địa, chịu cám dỗ để làm gì? Ngài là Ngôi Lời, là Thiên Chúa, thì chắc chắn sẽ chiến thắng mọi cơn xúi giục, lôi kéo, cám dỗ của ma quỷ, điều này không đúng sao? Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Nước Trời cách công khai, biến cố Đức Giê-su chịu cám dỗ có ý nghĩa gì? Hơn hết, cuộc chiến chống lại cám dỗ của Ngài có cần thiết và hệ trọng đối với chúng ta, đặc biệt trong đời sống đạo của mỗi người chúng ta chăng?

Đây chỉ là một số câu hỏi, thiết nghĩ chúng ta đôi lần cũng tự đặt ra cho mình, cũng như cho những ai có trách nhiệm giảng dạy, đào tạo và đồng hành thiêng liêng. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta không cố gắng tìm lời giải đáp cho tất cả mọi nghi vấn, câu hỏi mà chúng ta đặt ra. Cho bằng, chúng ta cùng đặt bản thân mình vào các bài đọc hôm nay, nhất là đoạn Tin Mừng ngắn ngủi này, hy vọng chúng ta sẽ tìm thấy, sẽ khám phá điều gì Chúa muốn nói với chúng ta trong Mùa Chay Thánh này: “Khi ấy, Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giê-su vào hoang địa và Ngài ở đó suốt bốn mươi đêm ngày, chịu Sa-tan cám dỗ, sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Ngài” (Mc 1, 12-13).

Như chúng ta biết, sau khi Chúa Giê-su chịu phép rửa tại sông Gio-đan, thì Ngài được Thần Khí thúc đẩy đưa vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ, nơi đó Ngài ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày (x. Mt 3, 16 – 4, 2; Lc 3, 21- 4, 2). Như thế, đây không đơn giản là cuộc chiến chống lại cơn cám dỗ đơn thuần, mà đúng hơn, qua biến cố này, Đức Giê-su để lại tấm gương quý giá, và bộc lộ khả năng thần thiêng nơi con người, bởi lẽ con người được Thiên Chúa dựng nên giống Ngài và theo hình ảnh Ngài (Imago Dei). Thật sự, con người đã sa ngã, phạm tội, không giữ lời hứa với Thiên Chúa (x. hình ảnh A-đam và E-và ăn trái cấm), nhưng tiềm ẩn trong con người vẫn không mất đi tính thần thiêng, cũng chẳng mất đi khả năng chống lại cơn cám dỗ của ma quỷ. Thánh Sử Mác-cô không kể chi tiết Đức Giê-su đã chịu cơn cám dỗ ra sao, và Ngài đã chiến đấu với những cơn cám dỗ thế nào; nhưng Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu và Lu-ca cho chúng ta thấy rõ ba loại cám dỗ chính liên quan đến vật chất (tiền bạc), quyền lực và danh vọng (x. Mt 4, 2-11; Lc 4, 2-13). Đức Giê-su đã dùng Lời Chúa, dùng việc ăn chay cầu nguyện và sự tín thác kiên vững của Ngài mà chống lại sự xúi giục của ma quỷ. Đây chính là cách chúng ta soi vào, noi gương Ngài mỗi khi bị cám dỗ, hoặc có những xu hướng lệch lạc, khiến chúng ta xa rời Thiên Chúa, hoặc đối nghịch với giáo lý Giáo Hội.

Giữa thời đại này, có quá nhiều kiểu cám dỗ, vô vàn loại hình lôi kéo chúng ta bỏ đàng công chính, sống buông thả theo lối ‘đến đâu hay đến đấy’. Một trong nhiều thứ cám dỗ mà chúng ta cảm nhận rõ rệt ngày nay, đó là: ‘chẳng sao đâu, anh (chị) vẫn còn nhiều thời gian/thời giờ mà!’, ‘để sau cũng được mà! Chứ vội vàng (xưng tội, ăn năn sám hối…) làm chi!’, ‘hôm nào tiện thì làm (ví dụ: chần chừ đi xưng tội, phạm hết tội nhẹ đến tội trọng, nhưng dự định gộp một lần rồi xưng tội) luôn một thể’, đặc biệt khi sống làm việc ở xứ người, vừa không biết ngôn ngữ vừa biếng nhác, chưa trưởng thành trong đời sống đạo. Ngoài ra, một loại cám dỗ khác cũng khá phổ biến thời nay, đó là: ‘hành vi/hành động sai/xấu nhưng nếu chẳng ai bắt được tận tay, thì xem như bình thường’, ví dụ: ăn cắp vặt, ăn trộm vặt, nếu không ai thấy thì hành vi sai trái ấy vẫn coi như chẳng có gì nghiêm trọng cả. Như chúng ta biết hành vi sai trái, tội lỗi ở bản chất nó thì cho dù khi thực hiện có ai bắt được hay có ai thấy hay không, hành vi đó vẫn sai trái, tội lỗi. Hơn thế, một thứ cám dỗ khác như thể ‘vàng thật vàng thau lẫn lộn’, ấy là: hành động sai ngay tại bản chất của nó, nhưng nếu nhiều người làm thì nó lại trở nên bình thường như ‘bình chân như vại’! Một hành vi xấu xa ở bản chất của nó, thì cho dù nhiều hay ít người làm đi chăng nữa, nó vẫn là hành vi sai trái. Tuy ba kiểu cám dỗ thời đại này tinh vi, và hầu như phải chiến đấu nội tâm, nhưng ở mức độ nào đó, chúng vẫn liên quan đến tiền-tài-tình hoặc tiền tài-quyền lực-danh vọng-sắc dục.

Với tấm gương kiên định chống lại cám dỗ của Đức Giê-su, và trong niềm tín thác “Chúa Ki-tô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta, Ngài là Đấng công chính thay cho kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa” (1Pr 3, 18), thì chúng ta vượt thắng mọi cơn cám dỗ. Nhờ vào lòng nhân từ Chúa, gia đình ông No-ê (gồm tám người) được cứu khỏi lụt đại hồng thuỷ (x. St 8-9) và Ngài đã ký kết giao ước với ông qua dấu chỉ ‘chiếc cầu vòng’ (‘cái mống’ hoặc ‘cây cung trên trời’ như một số bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt sử dụng), rằng: Thiên Chúa sẽ không trừng phạt như vậy nữa; thay vào đó, Ngài khoan dung, nhân từ, nhẫn nại, chờ đợi con người. Ngài thanh tẩy và ban cho con người một lương tâm ngay thẳng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô, Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa hằng sống (x. 1Pr 3, 21-22). Nhờ đó, chúng ta thêm mạnh sức, chống chọi với mọi cám dỗ, mọi xúi giục, mọi lôi kéo của ma quỷ, hòng tách rời chúng ta xa lìa Thiên Chúa. Với đời sống cầu nguyện liên lỉ bền bỉ, ăn chay hãm mình đền tội, và tận tâm làm việc bác ái yêu thương trong Mùa Chay Thánh này, chúng ta sẽ luôn cảm nghiệm Chúa nâng đỡ, và đồng hành qua Giáo Hội; chúng ta sẽ được thông phần vào mầu nhiệm Thương Khó-Tử Nạn-Phục Sinh của Đức Ki-tô.

Giờ đây, chúng ta thành tâm dâng lời nguyện cầu:

Chúa đã chiến thắng cám dỗ thế nào
Xin cho chúng con chẳng nao lòng vậy
Kiên vững chống lại ma quỷ xấu thay
An chay, cầu nguyện, tháng ngày yêu thương. Amen!

Về mục lục

TIN MỪNG GIÚP HOÁN CẢI

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

“Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”(Mc 1,1..). Nội dung lời rao giảng của Đấng Cứu Thế, Giêsu Kitô thật ngắn gọn mà rõ ràng và đủ đầy ý nghĩa. Đang bước vào Mùa Chay thánh, xin được sẻ chia đôi tâm tình liên hệ đến vế sau lời rao giảng của Chúa Kitô: “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng. Thử hỏi rằng phải chăng nhờ ăn năn sám hối nên chúng ta tin vào Tin Mừng hay nhờ tin vào Tin Mừng nên chúng ta sám hối ăn năn?

Để có được câu trả lời mang tính khả tín thì chúng ta cần làm rõ nội hàm của hai từ Tin Mừng. Hai từ Tin Mừng vừa nói lên sứ điệp gieo rắc niềm vui đích thực vừa nói đến chính niềm hạnh phúc, niềm vui trọn hảo. Như thế Tin Mừng ở đây chính là Chúa Kitô, là con người, cuộc đời, các hoạt động và lời giảng dạy của Người. Nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta. Nước Trời chính là Chúa Kitô và Tin Mừng cũng chính là Người. Và ai thấy Người là thấy Chúa Cha (x.Ga 14,9).

Đến thế gian này sứ mạng chủ yếu của Chúa Kitô là tỏ bày cho nhân loại nhận biết chân dung đích thực của Thiên Chúa tối cao cũng như chương trình ý định của Ngài trên toàn thể thụ tạo, cách riêng trên loài người chúng ta.

Bài đọc thứ nhất trích sách Sáng thế nói đến một Thiên Chúa tự nguyện ký kết giao ước với nhân loại. Người tự nguyện cam kết rằng sẽ không trừng phạt con người: “Ta lập giao ước của ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thuỷ huỷ diệt…”(St 9,11). Thiên Chúa sẽ không bao giờ quên giao ước Người đã lập. Và mọi đường lối của Người đều là yêu thương và thành tín (x.Tv 24). Lòng thành tín của Thiên Chúa đã hiện lộ cách rõ nét khi đến thời viên mãn với công cuộc nhập thể cứu độ của Chúa Kitô.

Để giúp con người từ bỏ tội lỗi, ăn năn sám hối và đổi thay nếu sử dụng phương pháp hù doạ, nghĩa là trình bày các hậu quả xấu xa phải gánh chịu, thi dường như dễ có kết quả tức thời nhưng lại không bền. Bên cạnh đó cái phương pháp này nhiều khi làm méo mó chân dung Thiên Chúa, Đấng tốt lành vô cùng, là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương.

Khởi đầu sứ vụ rao giảng tin mừng, Chúa Kitô đã xác nhận lời tiên tri Isaia ứng vào sứ mạng của mình: “Thần Khí chúa ngự trên tôi, vì chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn…” (Lc 4,18-19). Một nội dung chính của Tin Mừng đó là :“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Mùa Chay thánh đã về, đoàn Kitô hữu thường được nghe các vị chủ chăn nói đến chủ đề tội lỗi. Đây là một việc làm chính đáng. Thế nhưng nếu quá chăm chăm dán mắt vào cái được gọi là tội lỗi thì nhiều khi chúng ta sẽ bị lệch lạc trong cái nhìn. Mầu nhiệm tội lỗi chỉ được sáng tỏ khi chúng ta quy chiếu cái nhìn vào Thiên Chúa và tình yêu Người đã dành cho chúng ta. Thiên Chúa, Đấng Tối Cao và giàu lòng xót thương là khởi điểm để chúng ta nhận ra thân phận tội lỗi của mình và cũng là đích đến khi chúng ta nỗ lực ăn năn hoán cải, đổi thay, trở về.

Một thực tế của Mùa Chay: Nơi nơi, xứ xứ đều có lời mời gọi sám hối và các cử hành bí tích Hoà Giải. Chuyện các Kitô hữu Công Giáo, cách riêng người Công Giáo Việt Nam chen nhau đến toà giải tội dịp Mùa Chay là chuyện quá phổ biến, ít ai chối cãi. Các vị mục tử có nơi phải sắp xếp lịch trình hợp lý mới có thể đáp ứng được nhu cầu này của đoàn tín hữu. Thế nhưng có chăng việc xưng thú lỗi lầm ấy chẳng qua là chỉ để thanh thản lương tâm chút nào đó hầu tham dự các Lễ nghi của Tuần Thánh và để đủ điều kiện rước Thánh Thể dịp Phục sinh? Đại Lễ Phục sinh đến thì mọi sự lại trở về như xưa. Mùa Chay vội qua như nó chưa từng đến. Một sự đổi thay mang tính tích cực và lâu bền chỉ có thể đặt trên nền tảng một cảm nghiệm sâu xa về Tin Mừng là tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Không phải chúng ta sám hối ăn năn rồi chúng ta mới tin vào Tin Mừng là Thiên Chúa Tình Yêu, nhưng nhờ tin vào Tin Mừng là Thiên Chúa giàu lòng xót thương thì chúng ta mới thành tâm ăn năn sám hối, thay đổi đời sống cách cụ thể thiết thực và lâu bền. Ước gì chân dung Thiên Chúa Tình yêu được tỏ lộ nơi đoàn tín hữu Kitô, đặc biệt nơi các vị mục tử để nhiều tâm hồn lầm lạc biết ăn năn trở về. Và khi ấy chúng ta có thể nói rằng Mùa Chay không phải là mùa của sầu khổ, đau buồn mà đich thực là Mùa của hồng ân.

Mong sao không chỉ các đấng bậc trong Hội thánh mà cả đoàn tín hữu Kitô nhiệt thành loan Tin Mừng để tội nhân khi “tin vào Tin Mừng, thì biết sám hối ăn năn”. Tin Mừng cần được loan báo ở đây đó là: làm cho kẻ bị giam cầm thoát khỏi xiềng xích ngục tù, làm cho người mù được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức, làm cho người nghèo hèn, kém phận biết họ được ưu ái, cho người tội lỗi biết họ luôn được đón chờ và thứ tha…

Về mục lục

CHIẾN THẮNG MA QUỶ VÀ CÁM DỖ CỦA CHÚNG

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

“Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”(Mc 1,1..). Nội dung lời rao giảng của Đấng Cứu Thế, Giêsu Kitô thật ngắn gọn mà rõ ràng và đủ đầy ý nghĩa. Đang bước vào Mùa Chay thánh, xin được sẻ chia đôi tâm tình liên hệ đến vế sau lời rao giảng của Chúa Kitô: “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng. Thử hỏi rằng phải chăng nhờ ăn năn sám hối nên chúng ta tin vào Tin Mừng hay nhờ tin vào Tin Mừng nên chúng ta sám hối ăn năn?

Để có được câu trả lời mang tính khả tín thì chúng ta cần làm rõ nội hàm của hai từ Tin Mừng. Hai từ Tin Mừng vừa nói lên sứ điệp gieo rắc niềm vui đích thực vừa nói đến chính niềm hạnh phúc, niềm vui trọn hảo. Như thế Tin Mừng ở đây chính là Chúa Kitô, là con người, cuộc đời, các hoạt động và lời giảng dạy của Người. Nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta. Nước Trời chính là Chúa Kitô và Tin Mừng cũng chính là Người. Và ai thấy Người là thấy Chúa Cha (x.Ga 14,9).

Đến thế gian này sứ mạng chủ yếu của Chúa Kitô là tỏ bày cho nhân loại nhận biết chân dung đích thực của Thiên Chúa tối cao cũng như chương trình ý định của Ngài trên toàn thể thụ tạo, cách riêng trên loài người chúng ta.

Bài đọc thứ nhất trích sách Sáng thế nói đến một Thiên Chúa tự nguyện ký kết giao ước với nhân loại. Người tự nguyện cam kết rằng sẽ không trừng phạt con người: “Ta lập giao ước của ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thuỷ huỷ diệt…”(St 9,11). Thiên Chúa sẽ không bao giờ quên giao ước Người đã lập. Và mọi đường lối của Người đều là yêu thương và thành tín (x.Tv 24). Lòng thành tín của Thiên Chúa đã hiện lộ cách rõ nét khi đến thời viên mãn với công cuộc nhập thể cứu độ của Chúa Kitô.

Để giúp con người từ bỏ tội lỗi, ăn năn sám hối và đổi thay nếu sử dụng phương pháp hù doạ, nghĩa là trình bày các hậu quả xấu xa phải gánh chịu, thi dường như dễ có kết quả tức thời nhưng lại không bền. Bên cạnh đó cái phương pháp này nhiều khi làm méo mó chân dung Thiên Chúa, Đấng tốt lành vô cùng, là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương.

Khởi đầu sứ vụ rao giảng tin mừng, Chúa Kitô đã xác nhận lời tiên tri Isaia ứng vào sứ mạng của mình: “Thần Khí chúa ngự trên tôi, vì chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn…” (Lc 4,18-19). Một nội dung chính của Tin Mừng đó là :“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Mùa Chay thánh đã về, đoàn Kitô hữu thường được nghe các vị chủ chăn nói đến chủ đề tội lỗi. Đây là một việc làm chính đáng. Thế nhưng nếu quá chăm chăm dán mắt vào cái được gọi là tội lỗi thì nhiều khi chúng ta sẽ bị lệch lạc trong cái nhìn. Mầu nhiệm tội lỗi chỉ được sáng tỏ khi chúng ta quy chiếu cái nhìn vào Thiên Chúa và tình yêu Người đã dành cho chúng ta. Thiên Chúa, Đấng Tối Cao và giàu lòng xót thương là khởi điểm để chúng ta nhận ra thân phận tội lỗi của mình và cũng là đích đến khi chúng ta nỗ lực ăn năn hoán cải, đổi thay, trở về.

Một thực tế của Mùa Chay: Nơi nơi, xứ xứ đều có lời mời gọi sám hối và các cử hành bí tích Hoà Giải. Chuyện các Kitô hữu Công Giáo, cách riêng người Công Giáo Việt Nam chen nhau đến toà giải tội dịp Mùa Chay là chuyện quá phổ biến, ít ai chối cãi. Các vị mục tử có nơi phải sắp xếp lịch trình hợp lý mới có thể đáp ứng được nhu cầu này của đoàn tín hữu. Thế nhưng có chăng việc xưng thú lỗi lầm ấy chẳng qua là chỉ để thanh thản lương tâm chút nào đó hầu tham dự các Lễ nghi của Tuần Thánh và để đủ điều kiện rước Thánh Thể dịp Phục sinh? Đại Lễ Phục sinh đến thì mọi sự lại trở về như xưa. Mùa Chay vội qua như nó chưa từng đến. Một sự đổi thay mang tính tích cực và lâu bền chỉ có thể đặt trên nền tảng một cảm nghiệm sâu xa về Tin Mừng là tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Không phải chúng ta sám hối ăn năn rồi chúng ta mới tin vào Tin Mừng là Thiên Chúa Tình Yêu, nhưng nhờ tin vào Tin Mừng là Thiên Chúa giàu lòng xót thương thì chúng ta mới thành tâm ăn năn sám hối, thay đổi đời sống cách cụ thể thiết thực và lâu bền. Ước gì chân dung Thiên Chúa Tình yêu được tỏ lộ nơi đoàn tín hữu Kitô, đặc biệt nơi các vị mục tử để nhiều tâm hồn lầm lạc biết ăn năn trở về. Và khi ấy chúng ta có thể nói rằng Mùa Chay không phải là mùa của sầu khổ, đau buồn mà đich thực là Mùa của hồng ân.

Mong sao không chỉ các đấng bậc trong Hội thánh mà cả đoàn tín hữu Kitô nhiệt thành loan Tin Mừng để tội nhân khi “tin vào Tin Mừng, thì biết sám hối ăn năn”. Tin Mừng cần được loan báo ở đây đó là: làm cho kẻ bị giam cầm thoát khỏi xiềng xích ngục tù, làm cho người mù được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức, làm cho người nghèo hèn, kém phận biết họ được ưu ái, cho người tội lỗi biết họ luôn được đón chờ và thứ tha…

“Người ở trong hoang địa 40 ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1,13).

   Câu hỏi được đặt ra là tại sao Đức Giê-su lại chịu cám dỗ và ý nghĩa của việc này ra sao? Chúng ta cùng suy gẫm và tìm hiểu. Theo sách Giáo lý công giáo thì:

   “Các Tin Mừng đều nói đến thời gian Đức Giê-su sống cô tịch trong hoang địa, ngay sau nhận được phép rửa của ông Gio-an. “Được Thánh Thần thúc đẩy” vào hoang địa, Đức Giê-su ở lại đó, nhịn đói 40 ngày, sống giữa loài dã thú và các thiên thần hầu hạ Người. Cuối thời gian này, Xa-tan 3 lần cám dỗ Đức Giê-su, hòng lung lạc thái độ con thảo của Người đối với Thiên Chúa. Đức Giê-su đã đẩy lui những cuộc tấn công đó, được xem như là thu tóm các cám dỗ của A-đam trong vườn địa đàng và của Ít-ra-en trong hoang địa” (x. GLCG, số 538).

   Chúng ta cùng tìm hiểu con số 40.

   Theo nhân gian, con số 40 là con số may mắn, vạn vật đi đến thành toàn; bình an vượt qua mọi khổ nạn, mọi sự mừng vui như ý nguyện (Trích simthanhcong.net).

   Theo Thánh Kinh, Cơn hồng thủy kéo dài 40 ngày 40 đêm (x.St 7,12); ông Mô-sê vào giữa đám mây và đi lên núi và ở lại đó 40 ngày 40 đêm (x.Xh 24,18); Khi được chẵn 40 tuổi, ông Mô-sê nảy ra ý định thăm viếng các anh em mình (x. Cv 7,23); Đúng 40 năm sau, một Thiên Sứ hiện ra với ông (Mô-sê) tại sa mạc Xi-nai, trong ngọn lửa đang cháy (x. Cv 7, 30); Dân Ít-ra-en đi trong sa mạc 40 năm (x. Tv 94(95) 10); 40 ngày đi do thám đất Ca-na-an (x. Ds 13,25); Tiên tri Ê-li-a đi suốt 40 ngày, 40 đêm tới Khô-rếp, là núi của Thiên Chúa(x.1V 19,8); Tiên tri Gio-na công bố : “Còn 40 ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ” (x. Gn 3,4); Đức Giê-su nhịn đói suốt 40 ngày trong sa mạc (x. Mc 1,13); và 40 ngày sau phục sinh, Người lên trời: “Trong 40 ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa”(x. Cv 1,3).

   Con số 40, tượng trưng cho số nhiều với một thời gian dài là 40 ngày hay 40 năm. Ý nghĩa sâu xa trong số 40 là những gì xảy ra trong khoảng thời gian đó có thể là sự kiên nhẫn; sự thử thách và sự phấn đấu. Nhưng đáng kể nhất, con số 40 mang ý nghĩa thời gian chuẩn bị để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa.(Trích donghanh.org, Con số 40 trong Kinh Thánh).

   Quả thật, có kiên nhẫn; có thử thách và có phấn đấu, thì chúng ta mới có bình an, vượt qua mọi khổ nạn và có được mọi sự mừng vui như ý nguyện. Con số 40 là con số may mắn.

  Riêng tôi, chịu chức năm 40 tuổi(1967-2007). Đúng là trải qua 40 năm thử thách, phấn đấu và kiên nhẫn, tôi mới đạt được điều mình mong ước. Thời gian đó chuẩn bị để tôi lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa qua bi tích truyền chức.

    “Các tác giả Tin Mừng cho thấy ý nghĩa cứu độ của biến cố huyền nhiệm “chịu cám dỗ” này. Đức Giê-su là A-đam mới, vẫn trung thành đang khi A-đam cũ sa ngã. Đức Giê-su chu toàn ơn gọi của Ít-ra-en, khác hẳn với dân xưa kia đã thách thức Thiên Chúa suốt 40 năm trong hoang địa. Đức Giê-su tỏ mình ra là người tôi tớ hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Như thế, Đức Giê-su toàn thắng ma quỉ. Việc Đức Giê-su chiến thắng tên cám dỗ trong hoang địa thể hiện trước chiến thắng trong cuộc khổ nạn khi Người tuyệt đối vâng phục Chúa Cha với tình con thảo” (x. GLCG, số 539).

   Chúng ta cùng tìm hiểu 3 cơn cám dỗ của ma quỉ đối với Đức Giê-su.

  1. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi”. Nhưng Đức Giê-su đáp: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ bởi mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (x. Mt 4, 3-4).

    Đây là cám dỗ về của ăn. Mà của ăn này là của ăn nuôi sống phần xác. Câu ma quỉ này mà cám dỗ Chủ nghĩa Xã Hội thì ma quỉ thua là cái chắc. Vì các đồng chí ấy nói rằng : “Với sức người thì sỏi đá cũng thành cơm”. Thế nhưng ý của ma quỉ là nói Chúa hãy làm phép lạ, khỏi phải làm gì, cứ hồ biến một cái là đá biến thành bánh và sỏi đá biến thành những hạt cơm.

   Quả thật, bánh ăn hay cơm gạo là điều thiết yếu cho con người sống, nhưng nó cũng dễ trở thành cám dỗ khi con người chỉ chăm chú vào của ăn nuôi sống thân xác thôi, mà không lo nuôi sống linh hồn. Của ăn nuôi sống linh hồn chính là Lời Chúa.

  1. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng: “Thiên Chúa sẽ truyền cho Thiên Sứ lo cho bạn và Thiên Sứ sẽ tay đỡ, tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá”. Đức Giê-su đáp: “ Nhưng cũng có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi” (x. Mt 4,6-7).

    Đây là cám dỗ “hiểu sai Lời Chúa”. Ma quỉ đã chưng dẫn Lời Chúa trong Thánh Vịnh 90 (91), câu 12 đấy chứ nhưng lại đặt sai hoàn cảnh. Câu Lời Chúa đó nói Chúa sẽ sai các Thiên sứ đến giúp đỡ chúng ta khi chúng ta gặp bước ngặt nghèo; chứ không bảo chúng ta trèo lên nơi cao nhảy xuống để các Thiên Sứ “tay đỡ tay nâng” cho ta khỏi gãy tay, què chân. Ai mà làm như vậy là “thử thách” Thiên Chúa. Thiên Chúa không cần làm những việc trái khoáy, vô duyên như vậy.

    Chúng ta là con người chứ không phải làm chim; muốn xuống thì bắc thang mà xuống, đâu cần Chúa phải làm phép lạ. Chúng ta cứ nhìn lại trong cuộc đời của mình mà xem, có bao nhiêu điều kỳ diệu Chúa làm rồi, mà chúng ta có nhận ra không? Đòi Chúa làm phép lạ như thế là một trọng tội, cho nên Đức Giê-su nói : “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi”.

  1. Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình thờ lạy tôi”. Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi và phải thờ lạy một mình Người mà thôi” (x. Mt 4,9-10).

     Đây là cám dỗ về của cải, tiền bạc và danh vọng. Tiền tài, của cải, danh vọng có là gì đối với Chúa, chúng chẳng khác gì những tờ giấy vụn, những bụi đất li ti; những thứ đó quan trọng với con người thôi. Con người coi chúng là “Thần tài”, xì xụp, vái lạy; làm nô lệ, làm tôi mọi cho chúng. Con người dành hết cuộc đời; dành hết sức lực; dành hết trí khôn để tìm kiếm của cải, tiền bạc, danh vọng, để khi chết đi chẳng mang theo được gì. Thật là “Công dã tràng”.

   Con người chúng ta phải thờ lạy một mình Thiên Chúa mà thôi. Tiền bạc, của cải, danh vọng là những thứ cần cho cuộc sống chứ không phải là Thiên Chúa của chúng ta. Người ta có nói: “tiền là ông chủ xấu, nhưng là tên đầy tớ tốt”. Nghĩa là tiền tài, của cải, danh vọng giúp đỡ chúng ta, chúng ta dùng chúng để sống thì chúng tốt; chứ để chúng làm ông chủ, là chúa của chúng ta thì xấu lắm. Chí lý !!!!!

  Do đó, chúng ta phải thờ lạy một mình Thiên Chúa và xin Chúa ban cho chúng ta khôn ngoan, để chúng ta biết dùng tiền của cho đúng.

   Qua các“Cơn cám dỗ cho thấy cách thế Con Thiên Chúa thực hiện chức năng Mê-si-a, khác hẳn đề nghị và mong muốn của con người. Vì chúng ta, Đức Giê-su đã chiến thắng tên cám dỗ. Hằng năm, bằng 40 ngày Mùa Chay, Giáo Hội kết hiệp với mầu nhiệm Đức Giê-su trong hoan địa”(x. GLCG, số 540).

    Chúng ta phải làm gì để chiến thắng ma quỉ và các cám dỗ của ma quỉ? Chúng ta phải “Sám hối và tin vào Phúc Âm”. Vì “Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần” rồi.

    “Đức Giê-su mời những kẻ tội lỗi dự tiệc trong Nước Thiên Chúa: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi”. Người mời gọi họ hoán cải, vì không hoán cải thì không thể vào được Nước Người. Người cũng dùng lời nói và hành động, cho họ thấy lòng thương xót vô biên mà Chúa Cha dành cho họ, cũng như : “Niềm vui lớn lao trên trời vì một người tội lỗi ăn năn sám hối. Bằng chứng cao cả nhất của tình yêu này là, việc Người dâng hiến mạng sống để tha thứ tội lỗi” (x. GLCG, số 545).

   Vậy chúng ta hãy Sám hối và tin vào Phúc Âm. Theo tôi Sám Hối LÀ tin vào Phúc Âm. Chúng ta làm gì để gọi là sám hối? Đó chính là chúng ta tin vào Phúc Âm. Tin đây là tuân giữ và thực hành Lời Chúa. Có tuân giữ Lời Chúa chúng ta mới đổi đời, đổi cách tư duy; đổi cách sống để trở về với Chúa. Theo thánh Gio-an Kim Khẩu, “chúng ta có thể chiến thắng cám dỗ thứ nhất bằng cách ăn chay và tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa; chiến thắng cám dỗ thứ hai bằng sự khiêm nhường và chiến thắng cám dỗ thứ ba bằng cách coi tất cả những sự thế gian, là không đáng để người tín hữu công giáo chúng ta phải bận tâm. Để qua những thử thách này, chúng ta trau giồi sức mạnh từ ơn trên, được gìn giữ khỏi tính kiêu hãnh và tự phụ. Chúng xác nhận từ bỏ ma quỉ và mọi công việc quyến rũ của chúng như chúng ta đã hứa trong lễ Rửa Tội. Chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn, chuẩn bị tốt hơn cho các cuộc tấn công trong tương lai”.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...