18/07/2022
266
Linh mục Louis A. Sigman
Phoenix, tiểu bang Arizona

    Cha Louis Sigman được truyền chức trong Giáo Hội Tân Giáo năm 1957. Ngài là một linh mục không buộc phải sống độc thân, song ngài đã chọn như thế. Nhận xét của ngài về di sản của đời sống độc thân mở ra một cái nhìn mới. Năm 1965 ngài gia nhập Giáo Hội Công Giáo Rô-ma và hai năm sau chọn làm linh mục, nhân chứng sống cho niềm vui trong việc phục vụ Thiên Chúa và tín hữu qua vai trò một linh mục. Ngài chia sẻ suy tư về sự độc thân linh mục trong nhãn giới lịch sử, và ngài cũng đánh giá ý nghĩa của sự vâng phục nơi người môn đệ qua những lời kể lại dưới đây.
     Cha Sigman là một con người năng động, làm việc tận tụy, làm mục vụ trong một khu vực đang bung ra với các gia đình Công Giáo. Ngài là cha sở giáo xứ Corpus Christi ở Awahtukee, miền Nam Phoenix, phục vụ một cộng đoàn phát triển rất nhanh và đã ghi danh đến 3.000 gia đình thành viên rồi.


     Tôi sinh ra ở Chicago trong một gia đình theo giáo hội Tân Giáo xác tín mãnh liệt và nếp sống đạo đức vững chắc. Giáo xứ chúng tôi có những linh mục đạo đức thuộc Tu Hội Thánh Gio-an Thánh Sử.[1] Suốt đời tôi, tôi đã quen với những khung cảnh đạo đức Công Giáo. Chúng tôi lần chuỗi và đọc kinh truyền tin, đi xưng tội đều đặn, nhận phước lành hằng tuần, và dự thánh lễ hằng ngày. Tôi xưng tội và rước lễ thường xuyên.
     Tôi đã nghĩ đến việc học y khoa, luật khoa và ngành báo chí, tất cả đều là những nghề nghiệp hấp dẫn. Khi học tiểu học tôi đã thường nghĩ đến chức linh mục. Tôi nghĩ đến nó ít hơn khi lên trung học. Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi đã theo ngành báo chí hai năm tại Đại Học Illinois. Mặc dù tôi thích thú với việc viết lách và cảm thấy bị lôi cuốn bởi đời sống lý thú mà báo chí có thể mang lại, song có cái gì đó thiếu vắng trong đời tôi. Thế rồi tôi chợt nhận ra rằng linh mục là một bác sĩ thuộc hạng cao cả nhất. Một vài bạn thân của tôi làm bác sĩ y khoa, và tôi ngưỡng mộ năng khiếu của họ. Song họ chỉ chăm sóc cho thân xác. Có một người bạn, làm bác sĩ giải phẫu, là một thừa tác viên thánh thể ngoại hạng. Anh bảo rằng khi anh cầm trong tay thân thể Chúa Ki-tô, anh cho đó là giây phút thánh thiêng nhất trong đời anh, còn thánh thiêng hơn cả việc cứu vớt mạng sống người nào đó với con dao mổ của mình. Một bác sĩ có thể cứu thân xác, nhưng thân xác đó rồi cũng đến lúc chết. Công việc của linh mục, cơ hội của ngài, là cứu một linh hồn đời đời. Tôi cũng có những người bạn tốt làm luật sư. Luật pháp trong một nghĩa tốt nhất chính là phản ảnh của tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta. Một linh mục hành nghề luật khi ngài giảng dạy 10 giới răn và khi ngài dạy về luân lý. Chức linh mục lấy cái tuyệt hảo nhất của các chuyên gia –từ nhà tâm lý học, bác sĩ, luật sư đến người thợ thủ công– và tập hợp lại thành một. 
    Các linh mục ở xứ đạo khuyên tôi vào chủng viện. Tôi vẫn chưa hoàn toàn cảm thấy siêu lòng, nhưng các ngài bảo tôi cánh cửa luôn luôn rộng mở, và tôi cũng có thể bỏ về bất kỳ lúc nào. Tôi hoàn tất chương trình đại học trong một môi trường gần giống như chủng viện, và rồi nhập đại chủng viện Tân Giáo ở Wisconsin gần Oconomovoc. Tôi học xong chương trình huấn luyện tại Đại Chủng Viện Seabury Western ở Evanston, và thụ phong linh mục cho Giáo Phận Tân Giáo của Chicago. 
     Suốt trong thời gian huấn luyện, tôi cảm thấy khao khát mãnh liệt được trở thành người Công Giáo Rô-ma. Tôi gặp khó khăn với Giáo Hội của tôi về việc họ không chấp nhận vai trò giáo hoàng, và càng gặp khó khăn hơn nữa trong tình trạng chúng tôi không trực thuộc ngạch chính của Thánh Phê-rô. Những xác tín đó dẫn tôi đến việc gia nhập niềm tin Công Giáo vào tháng Giêng năm 1956, khá lâu trước khi phong trào phong chức cho phụ nữ trong giáo hội Tân Giáo dẫn nhiều người khác đến với Giáo Hội Rô-ma. Thời gian đầu, sau khi gia nhập Giáo Hội, tôi chỉ nghĩ đến việc đơn giản là làm một tín hữu Công Giáo tốt. Tôi đã có thể rước lễ mỗi ngày, và như thế tình yêu với thánh thể sẽ được sung mãn. Trong Giáo Hội Cấp Cao[2], các linh mục chúng tôi tin vào giáo huấn dạy việc biến thể và vào sự hiện diện thực sự khi thánh hiến bánh, nhưng tôi không chắc tất cả mọi người đều tin. Trong Giáo Hội Công Giáo, khi tôi thấy người ta rước lễ tôi biết rằng họ là người tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Ki-tô. Sau cùng, hồi tưởng lại những năm tôi đã dâng lễ tế với tư cách là một giáo sĩ Tân Giáo, cái ý tưởng không bao giờ được dâng thánh lễ nữa bỗng trở thành không thể nào hình dung được. 
    Thế là tôi quyết định gia nhập hàng linh mục Công Giáo. Tôi học tại Tu Viện Thánh Bede, [3] rồi Đại Chủng Viện Conception ở Missouri, và được truyền chức linh mục cho Giáo Phận Peoria. Vì cha mẹ tôi đã về hưu ở tiểu bang Arizona, hai năm sau tôi đến Giáo Phận Tucson. Tôi phục vụ một số giáo xứ trước khi đến Ahwatukee, mà bây giờ thuộc Giáo Phận mới Phoenix vừa tách ra từ Giáo Phận Tucson.
                                                                                                          ***
    Một trong ít điều thất vọng trong đời tôi trong vai trò một linh mục là tính cực đoan hiện hữu trong Giáo Hội đương thời và sự thiếu kính trọng đối với Đức Thánh Cha cũng như với giáo huấn của Giáo Hội, ngay cả trong hàng ngũ linh mục. Để cân bằng những thất vọng thứ yếu đó, đơn giản là vẫn có những niềm vui khôn tả trong sứ vụ linh mục. Như Elizabeth Barrett Browning đã nói: “Tôi yêu mến Ngài thế nào? Hãy đếm những cách thế tôi biểu lộ.” Mỗi thánh lễ là một niềm vui. Một ngày sống của tôi hẳn không thể trọn vẹn nếu không có thánh thể. Một trong những điều thỏa lòng và nhận chân giá trị của sứ vụ linh mục là được nghe những người nam và nữ mà tôi đã ảnh hưởng đến đời sống họ trong quá khứ. Tôi vẫn nhận được những cú điện thoại từ các thanh niên thiếu nữ mà tôi đã dạy họ trong trung học 15 năm trước. Họ mời tôi làm chứng lễ cưới của họ, và rửa tội các con của họ. Hoặc họ nói với tôi: “Mẹ con mất rồi, con có thể đến thưa chuyện với cha được chứ?” Tôi không phải là người đã làm được điều gì khác biệt trong đời sống họ –chính là chức linh mục. Họ không đến với tôi vì tôi là Louis Anthony Sigman. Họ đến với tôi vì tôi là Cha Sigman
                                                                                               . ***
    Tôi không quan tâm đến chuyện chụp mũ cho là bảo thủ, cấp tiến, hay truyền thống. Khi được hỏi tôi đứng về phía nào đối với vấn đề tranh cãi, tôi trả lời: “Tôi là người trung thành.” Điều gì Giáo Hội muốn tôi làm, tôi sẽ làm. Tôi đã không nhận trẻ gái làm các em giúp lễ. Rồi khi các giám mục nói rằng chúng ta có thể đón nhận các em gái, tôi đã huấn luyện các em gái trong vòng 24 giờ. Tôi thích nghĩ rằng tôi theo sát mẫu mực của những thần học gia lỗi lạc như John Courtney Murray, S.J. và Teilhard de Chardin, S.J. Các ngài đã kiên nhẫn chờ đợi khi những ý tưởng của mình bị Rô-ma phê phán. Họ tiếp tục nghiên cứu và cầu nguyện. Song họ là những người trung thành hết mực. Rồi khi Vatican II đến, những tư tưởng của các ngài được đón nhận. Cha Rosini là người khai sáng một cộng đoàn linh mục làm việc ở Peoria, Florida, Ái-Nhĩ-Lan và Ý. Việc ngài làm bị kể như nếu không phải là lạc giáo, thì ít nhất cũng nguy hiểm. Người ta đã công khai thiêu hủy các tác phẩm của ngài. Ngài nói rằng rất có thể Tòa Thánh đã có lý. Nếu điều đó là sự thật, ngài không muốn tạo ra cớ vấp phạm, không muốn đưa người ta xa rời niềm tin, càng không muốn là mũi dùi giữa Rô-ma và dân chúng.
                                                                                              ***
    Với tất cả những chuyện om xòm đòi hủy bỏ đời sống độc thân, quan điểm của tôi có thể gây ngạc nhiên. Độc thân chính là một trong những điều lôi cuốn tôi đến chức linh mục. Giáo Hội Tân Giáo không đòi hỏi điều đó, song tôi đã chọn lối sống ấy bởi vì tất cả những linh mục mà tôi ngưỡng mộ đều là những vị độc thân. Trong những năm còn trẻ, tôi đã bắt đầu đặt vấn đề về việc độc thân, nhưng khi lớn tuổi hơn, tôi có thể nhìn lại và đánh giá các sự kiện rõ ràng hơn nhiều. Thật khó để phân cách tình yêu giữa người vợ và Giáo Hội. Tôi có mấy người bạn theo Chính Thống mà lại độc thân. Họ nhận ra giá trị chân thực trong việc độc thân. Họ nhận ra rằng những giáo sĩ lập gia đình của họ phải đặt người vợ và gia đình lên trước hết. Độc thân mang một giá trị hầu như không chạm đến được. Nó cho thấy vẻ đẹp của một tâm tính trung thực và một trái tim ngay thẳng. Khi tôi là thanh niên và có gặp các linh mục hay nữ tu bước trên đường phố Chicago, họ như tỏa ra vẻ đẹp, sự trong sáng, và một sự tận hiến hoàn toàn, trọn vẹn và tuyệt đối
   Là một sử gia, tôi khám phá ra rằng khi đời sống độc thân trở nên tùy chọn trong bất cứ Giáo Hội nào, thì nó sẽ sớm biến mất. Nó đã biến mất trong tất cả các giáo hội ngoại trừ giáo hội Chính Thống Hy-Lạp: các giám mục của họ phải độc thân, và tất cả các giám mục của họ đều từ Hy-Lạp mà ra, bởi vì không có lấy một linh mục độc thân trong bất kỳ nơi nào khác, dù một ứng viên cũng không. Trong Giáo Hội Công Giáo Quốc Doanh Ba-Lan,[4] là nhóm tách khỏi Rô-ma một lúc nào đó trong thập niên 1920, sự độc thân được kể là tùy chọn. Các sinh viên ưu tú nhất của họ được gửi tới chủng viện Tân Giáo. Tình trạng độc thân đã biến mất hoàn toàn trong Giáo Hội đó và ngày nay nó không còn hiện hữu nữa. Trong Giáo Hội Công Giáo Kỳ Cựu của Utrecht[5] tách khỏi Rô-ma sau Công Đồng Vatican I, sự độc thân cũng là tùy chọn. Nó cũng không còn tồn tại trong giáo hội đó nữa. Giáo Hội Công Giáo Phi-Luật-Tân có con số lên đến 2-3 triệu, cũng tách khỏi Rô-ma, và biến độc thân thành tùy chọn. Tương tự như vậy, nó cũng không còn tồn tại trong giáo hội ấy nữa. Bởi quá trình lịch sử như thế, tôi không ủng hộ một chức linh mục được lập gia đình. Chúng ta sẽ mất đi quá nhiều giá trị. hiện hữu nữa. Trong Giáo Hội Công Giáo Kỳ Cựu của Utrecht5 tách khỏi Rô-ma sau Công Đồng Vatican I, sự độc thân cũng là tùy chọn. Nó cũng không còn tồn tại trong giáo hội đó nữa. Giáo Hội Công Giáo Phi-Luật-Tân có con số lên đến 2-3 triệu, cũng tách khỏi Rô-ma, và biến độc thân thành tùy chọn. Tương tự như vậy, nó cũng không còn tồn tại trong giáo hội ấy nữa. Bởi quá trình lịch sử như thế, tôi không ủng hộ một chức linh mục được lập gia đình. Chúng ta sẽ mất đi quá nhiều giá trị.hiện hữu nữa. Trong Giáo Hội Công Giáo Kỳ Cựu của Utrecht5 tách khỏi Rô-ma sau Công Đồng Vatican I, sự độc thân cũng là tùy chọn. Nó cũng không còn tồn tại trong giáo hội đó nữa. Giáo Hội Công Giáo Phi-Luật-Tân có con số lên đến 2-3 triệu, cũng tách khỏi Rô-ma, và biến độc thân thành tùy chọn. Tương tự như vậy, nó cũng không còn tồn tại trong giáo hội ấy nữa. Bởi quá trình lịch sử như thế, tôi không ủng hộ một chức linh mục được lập gia đình. Chúng ta sẽ mất đi quá nhiều giá trị. 
                                                                                                  ***
     Tôi nghĩ rằng một số trong chúng tôi đã chọn sứ vụ linh mục khi chúng tôi thấy cuộc sống trống rỗng và không thể sung mãn qua bất kỳ ơn gọi nào khác. Chúng ta có thể thử học đại học hay làm việc trong ngân hàng, và vẫn thấy có cái gì đó thiếu vắng. Cha Clements, giám đốc ơn gọi, cho tôi biết điều ấy đã xảy ra trong trường hợp của ngài. Ngài tốt nghiệp từ Đại Học Tiểu Bang Arizona về ngành thương mại, có một việc làm tốt, nhưng nhận ra rằng còn có một thứ gì đó ngài mong muốn thể hiện trong đời mình, và thế là ngài nhập chủng viện. Một phi công lái máy bay đang đến chơi thăm tôi. Anh ấy làm hơn $100.000 Mỹ-kim một năm. Anh ấy hạnh phúc, đã từng yêu thích phi cơ từ lúc lên sáu tuổi (anh ấy là một trong những người trẻ nhất từng được bằng lái sớm), nhưng có một điều gì đó thiếu vắng trong cuộc sống của anh, và anh ta đang nghĩ tới sứ vụ linh mục. Khi tôi nói chuyện Tôi nghĩ rằng một số trong chúng tôi đã chọn sứ vụ linh mục khi chúng tôi thấy cuộc sống trống rỗng và không thể sung mãn qua bất kỳ ơn gọi nào khác. Chúng ta có thể thử học đại học hay làm việc trong ngân hàng, và vẫn thấy có cái gì đó thiếu vắng. Cha Clements, giám đốc ơn gọi, cho tôi biết điều ấy đã xảy ra trong trường hợp của ngài. Ngài tốt nghiệp từ Đại Học Tiểu Bang Arizona về ngành thương mại, có một việc làm tốt, nhưng nhận ra rằng còn có một thứ gì đó ngài mong muốn thể hiện trong đời mình, và thế là ngài nhập chủng viện. Một phi công lái máy bay đang đến chơi thăm tôi. Anh ấy làm hơn $100.000 Mỹ-kim một năm. Anh ấy hạnh phúc, đã từng yêu thích phi cơ từ lúc lên sáu tuổi (anh ấy là một trong những người trẻ nhất từng được bằng lái sớm), nhưng có một điều gì đó thiếu vắng trong cuộc sống của anh, và anh ta đang nghĩ tới sứ vụ linh mục. Khi tôi nói chuyện với anh ấy hay những người khác, tôi bảo họ sẽ tìm thấy bình an và niềm vui trong đời linh mục. Nếu họ trở thành linh mục và sống cuộc đời tinh thần của một linh mục, đời sống cầu nguyện của một linh mục, đời sống mục vụ của một linh mục, họ sẽ thấy hạnh phúc. Sẽ có những lúc họ thấy đơn độc, nhưng họ sẽ không bận tâm điều đó. Thật ra, đôi khi họ sẽ mong ước được ở một mình và được ở với Chúa sau một ngày bận rộn. Có lần tôi được nghe nói rằng linh mục giống như một miếng xốp cao su. Suốt cả ngày ngài thấm đầy niềm vui, nỗi buồn, những bất hạnh và các vấn nạn của người giáo dân. Đêm về ngài đến trước Thánh Thể và vắt ra hết.
                                                                                           *** 
    Khi tôi đang chuẩn bị cho sứ vụ linh mục, tôi đã tin vào tính bản thiện và sự thành thật của mọi người. Đời sống tôi là một linh mục chẳng những đã xác tín niềm tin ấy mà còn làm cho nó lớn lên. Sự liêm chính, vẻ đẹp của những con người đón nhận nhiệm tích hòa giải, còn vượt xa hơn điều mà tôi đã phỏng đoán trước, đặc biệt với những người đã xa rời Giáo Hội một khoảng thời gian nào đó. Sự chân thành, cởi mở và hoàn toàn thành thật của họ là một mặc khải đối với tôi. Không những nó là một sự bất ngờ, song còn là một trong những điều hưng phấn nhất từng xảy đến trong đời tôi. 
   Hồng Y O’Connor trong cuốn băng giảng thuyết tuyệt vời của ngài về ơn gọi đã nói rằng Giáo Hội ở trong tình trạng tốt nhất khi bị bách hại. Cũng thật đúng y như thế với một linh mục. Hồng Y O’Connor nói rằng ngày nay Giáo Hội bị bách hại tại Hoa-Kỳ bởi truyền thông và bởi xã hội nói chung. Đời sống xã hội Hoa-Kỳ trái ngược với mọi thứ mà Giáo Hội tin. Sự nghèo khó chỉ là trò cười, đức khiết tịnh bị coi là bệnh hoạn, và đức vâng lời là điều điên rồ. Song đó là những nhân đức mà chúng tôi ôm ấp trong đời linh mục. Hoa-Kỳ đang sống trong một thời đại hậu Ki-tô giáo. Đấy là một thách đố lớn. Những thách đố này tạo ra nghị lực lớn lao, và từ những nghị lực lớn lao đó mà có sự thánh thiện. Bởi thế ngày nay các linh mục của chúng ta có thể ít hơn trước, song họ có thể tốt lành hơn.



[1] Society of Saint John the Evangelist (S.S.J.E.) – một dòng tu Anh Giáo cho nam tu sĩ, thành lập năm 1866 tại Cowley, Oxford, Anh quốc do cha Richard Meux Benson, một linh mục Anh Giáo. Cũng được gọi là các cha Cowley (Cowley Fathers). Dòng chuyên về giảng thuyết, linh hướng và tinh thần hiếu khách. 
[2] High Church – từ ngữ thường được dùng để phân biệt những hội thánh trong Anh giáo vẫn nhấn mạnh đến việc hàng giáo sĩ tuân thủ nghiêm ngặt các lễ nghi phụng vụ và thần học sát với Công Giáo.
[3] Thánh Bede (673-735) – linh mục dòng trong tu viện Thánh Phê-rô tại Anh quốc, soạn hơn 60 tác phẩm giá trị về các giáo phụ và giáo sử. Giáo hoàng Leo XIII phong ngài làm tiến sĩ hội thánh năm 1899.
[4] Polish National Catholic Church. 
[5] Old Catholic Church of Utretcht.

Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...