10/03/2015
344

 

ĐÊM ÁNH SÁNG

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Đêm Giáng Sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc.

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.

Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.

Đó là ánh sáng tình yêu.

Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa đi tìm con người. Thiên Chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên Chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên Chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên Chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên Chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Ánh sáng Thiên Chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên Chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.

Đó là ánh sáng niềm tin.

Ánh sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên Chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên Chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và Giêrusalem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt. Trái lại "vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Ánh sáng đã bao phủ các ngài. Ánh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Ánh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy "một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ" và các ngài đã tin.

Đó là ánh sáng hy vọng.

Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên Chúa âm thầm kiên trì chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Niềm khao khát đã được đáp ứng. Đã đến mùa Thiên Chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Ánh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên Chúa gieo vào thế giới.

Đó là ánh sáng Tin Mừng.

Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. "Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này". Tin Mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Ánh sáng bừng lên phá tan đêm tối.

 

Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.

Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

NOEL: LỄ NHẬP CUỘC

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

(Trích trong ‘NÚT VÒNG XOAY’ – Trg. 35)

Đi qua trường Kinh Tế Tài Chính 4 bên cạnh Đại Chủng Viện hôm qua, tình cờ nghe được mẩu đối thoại giữa mấy cô gái. Có tiếng hỏi: “Noel, bồ có đi đâu không?”. Có tiếng đáp: “Không, mình ở nhà”. Và khi tiếng đáp vừa mới dứt đã có tiếng ai đó xen vào: “Noel mà lại ở nhà à? Người ta phải ra đường chứ!”.

Vâng! Noel người ta ra đường thật. Từ Đại Chủng Viện tới đây mặc dù đường đi chỉ có mấy bước, nhưng tôi vẫn bị kẹt xe bởi những con đường lớn đều chật ních những người là người. Dường như cả thành phố đều ở trên đường. Kẻ đi người lại, đông ơi là đông. Vì thế, tiếp cận với Tin Mừng Giáng Sinh đêm nay, tôi bỗng thấy thánh Giuse và Đức Maria cũng đang ở trên đường, đường dong duổi cho cuộc đăng ký hộ khẩu kiểm tra dân số. Những điều tai nghe mắt thấy ấy đã tự nhiên gợi lên hình ảnh Noel là một lễ nhập cuộc.

1) Noel là lễ của sự nhập cuộc.

Nếu trong Mùa Vọng, tín hữu đã sống lại niềm trông mong đợi chờ Chúa của Dân thánh, lấy kinh nghiệm thao thức của họ làm kinh nghiệm thức tỉnh cho mình, và lấy tâm tình dọn dẹp đường lối của họ làm tâm tình chuẩn bị cõi lòng của mình, thì hôm nay không còn úp mở nữa, vị Thiên Chúa được trông chờ ấy chính là Thiên Chúa nhập cuộc.

Khác với lối nhìn của Cựu Ước vốn coi Thiên Chúa là “Đấng khôn tả”, nên muốn tả về Ngài người ta chỉ dám dùng đường lối phủ định nghĩa là thêm chữ “vô cùng” vào sau mỗi phẩm tính muốn dành cho Ngài. Và cũng khác với lối nhìn của ngày xa xưa vốn coi Thiên Chúa là “Đấng đáng sợ”, nếu lơ mơ đến gần Ngài sẽ phải mất mạng như chơi. Đàng này, vị Thiên Chúa được chờ mong lại đến thật sát thật gần. Người hóa thân làm người ở giữa chúng ta.

Người nhập cuộc trong lịch sử chung của toàn thể nhân loại cũng như trong lịch sử riêng của đời Người. Sự nhập cuộc ấy đã được lịch sử cắm mốc thời gian rõ ràng là “thời Hoàng đế Cêsarê Augustô” và được cấp sổ đỏ không thể chối cãi là “thành Bêlem xứ Giuđêa” như Phúc Âm ghi lại. Sự nhập cuộc ấy đã làm nên lý lịch trích ngang của Đấng Cứu Thế. Người có một gia đình, đã được cưu mang chín tháng như bất cứ ai để cuối cùng mở lòng mẹ bước ra chào đời và sống đời như bao người khác.

Thánh Kinh vẫn quen gọi đây là cuộc “Thiên Chúa viếng thăm Dân mình”, nhưng cuộc viếng thăm này lại rất đặc biệt, không chỉ diễn ra trong chốc lát, cũng không thể được lặp lại trong lần khác nữa. Người là vua vinh quang trên trời đã nhận lấy kiếp người giòn mỏng để khởi đầu sự nhập cuộc. Người là Thiên Chúa thật đã nhập thể trở nên con người thật với tiểu sử riêng rõ nét. Người là Thiên Chúa thật đã nhập thế giữa lòng thế giới với lịch sử chung nhân loại rõ ràng. Đó là sự nhập cuộc.

2) Và nhập cuộc là chấp nhận vòng quay nghiệt ngã của cuộc sống.

Trong bài đọc thứ nhất, qua lăng kính của Isaia, Thiên Chúa được xưng tụng là “Chúa hùng dũng”, thế mà Người đã hóa nên con người yếu đuối trong hình hài một thơ nhi bé bỏng.

Dẫu được gọi là “Thủ Lĩnh bình an”, nhưng chính Người khi xuống thế đã nhập cuộc vào những xáo trộn của cuộc đời, để chẳng được an thân sinh ra trong nhà của mình. Hoàng đế Rôma chỉ là thụ tạo, nhưng lại nắm quyền ra lệnh khai sổ nhân danh khiến Thủ Lĩnh đích thực là Người lại phải chịu sinh ra trên đường đăng cai hộ khẩu. Hộ khẩu dẫn tới “hậu khổ”! Người ta dòng dõi vua chúa sinh ra được bọc vải điều nơi lầu vàng gác tía giữa đông đảo kẻ hầu người hạ, còn Người lại tự nguyện sinh ra nghèo khó nơi hang đá trong máng cỏ bò lừa. Người là “Cha vạn thuở”, bản thân Người là căn nguyên vạn vật, thân thế Người là cội nguồn nhân sinh, muôn vật muôn loài đều phải nhờ Người mới có, thế mà hôm nay Người lại chịu sinh ra trong thời gian bởi một người phụ nữ với tiến trình trưởng thành tuần tự bình thường. Người là “Cố Vấn kỳ diệu”, nhưng khi sinh ra làm người hôm nay chẳng thấy Người cố vấn cho ai, mà ngược lại xem ra Người đã “cố mà vấn vào đời mình” những gì là bình thường nhất nếu không muốn nói là hèn mạt nhất của kiếp phận nghèo khổ.

Rõ ràng là Người đã nhập cuộc trong quỹ đạo của một đời người giữa những người đời. Nhập cuộc như thế cũng có nghĩa là ăn đời ở kiếp giữa đời với những hệ quả muôn thuở của cuộc đời. Nếu cuộc đời luôn bằng phẳng có lẽ đã không có kiểu nói diễn tả “bụi trần”, và nếu cuộc đời luôn hạnh phúc có lẽ cũng chẳng phải lắm điều đặt chuyện “đời là bể khổ” làm chi. Chẳng bi quan cũng thấy cuộc đời không luôn ổn định. Thế mà Chúa đã yêu thương đón lấy cuộc đời ấy, để chính khi hóa thân làm người là cùng lúc Người dấn thân vào trong những bấp bênh bồng bềnh bó buộc của cuộc sống.

3) Để cứu độ trần thế và con người.

Nếu nhập cuộc chỉ có nghĩa là hòa vào dòng chảy cuộc đời thì có lẽ chẳng có lễ Noel. Nhưng sở dĩ có lễ Noel là bởi vì Chúa nhập cuộc để cứu độ trần thế và con người.

Người nhập thế để làm gì? Thưa để đem trần thế vào lại “trật tự nguyên thủy” như nét đẹp ban sơ của trần thế ngày sáng tạo mà tội lỗi đã làm hư đi. Nên Noel còn gọi là “Ngày sáng thế mới”. Đêm Noel là đêm đất trời giao duyên trong hôn phối nhiệm mầu của ơn cứu độ.

Người nhập thể để làm gì? Thưa để đem con người về với ơn cứu độ. Người là Emmanuel của một Thiên Chúa không đến rồi đi, không ở rồi về mà là một “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, một Thiên Chúa đến ăn đời ở kiếp với nhân loại để nâng nhân loại lên ngang tầm với vinh quang của Người. Thảo nào, các thiên thần đã hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Và cũng chính vì thế các Giáo phụ Đông phương đã bảo: “Thiên Chúa làm người cho người được làm con Thiên Chúa”. Như vậy, Noel chính là lễ của một sự nhập cuộc tuyệt vời cũng như chữ Noel đến từ danh xưng Emmanuel đã làm nên Thánh lễ đêm nay.

Thiên Chúa nhập cuộc để đem ơn cứu độ. Đó là Tin Mừng trọng đại cho toàn dân, nên sứ điệp của đêm nay là hãy nhập cuộc cùng với Noel.

Nhập cuộc tức thời là hãy mở lòng mình ra mà đón Chúa sinh vào, và nhập cuộc dài hơi là biết sinh Chúa ra bằng một đời sống tín hữu gương mẫu. Đừng để Noel trở thành dịp phô trương đời sống hoặc phô bày đam mê như trong báo Công An tuần qua đăng tải về một Việt kiều tổ chức sinh nhật của mình một cách trụy lạc. Đừng để Noel qua đi mà lòng mình vẫn còn trĩu nặng ước muốn quyền hành hoặc tình cảm ghét ghen. Và nhập cuộc lớn hơn cả chính là biết cùng với Chúa mà cưu mang xây dựng, cảm thông nâng đỡ những anh chị em túng quẫn hoặc đau khổ vốn không thiếu trong đời, cho dẫu chính khi nhập cuộc như thế mình phải hy sinh đi theo quỹ đạo của nhập cuộc.

Noel nhập cuộc là thế, là Tin Mừng sống động, là chan hòa sự sống. Nhưng Noel bao giờ cũng là lễ của niềm vui, của bàn tay nắm lấy bàn tay, của bước chân tiếp nối bước chân dấn thân vào đời phục vụ cho hạnh phúc con người. Niềm vui và hạnh phúc là điều người ta thường cầu chúc trong đêm Noel. Chân thành kính chúc cộng đoàn một Noel tràn đầy niềm vui: thứ niềm vui cứu độ, quên mình, nhập cuộc; và hạnh phúc dẫy đầy: thứ hạnh phúc không phải chờ đến xa xôi mai hậu, nhưng đã bắt đầu đêm nay bằng cách biết tiếp nhận Chúa sinh vào và biết sinh Chúa ra trong quyết tâm nhập cuộc của mình.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI LÒNG NGAY

PM. Cao Huy Hoàng

- Tiên tri Isaia đã loan báo về ngày Con Thiên Chúa Giáng Sinh:

“Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết” (Is 9, 2)

Sự sáng chứa chan ấy không là ánh sáng của những ngôi sao hay tinh tú, không là ánh sáng của mặt trời hay mặt trăng, càng không là ánh sáng của điện đèn, nhưng là Ánh sáng của Con Thiên Chúa làm người. Làm người như một hài nhi nhưng là "Cố Vấn Kỳ Diệu, Thiên Chúa Huy Hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình". Làm người trong nghèo hèn nhưng là “sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận; Người sẽ ngự trên ngai vàng của Đavít, và trong vương quốc Người, để củng cố và tăng cường, trong sự công minh chính trực, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời”. (Is 9, 6-7)

- Còn đây là giáo huấn của  Thánh Phaolô cho ngày mừng Con Thiên Chúa Giáng Sinh: “Ân sủng của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng Cứu Độ chúng ta.

Người đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Người, một dân tộc nhiệt tâm làm việc thiện. ( Tt 2, 11-14)

- Hai ý tưởng trên rất trùng khớp với Tin Mừng theo Thánh Luca:

“Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta. Người là Đức Kitô, Chúa chúng ta. (Lc 2,11)

“Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời

Bình An Dưới Thế Cho Người Lòng Ngay” (Lc 2, 14)

Như vậy, khi liên kết cả ba bài đọc, có thể kết luận: sứ điệp Giáng Sinh qua lời Chúa gửi đến chúng ta hôm nay là: bước đi trong ánh sáng, để nhận được ân sủng và bình an, nhờ lòng thiện tâm, nhờ ý ngay lành. 

Không ít người đã từng đặt vấn đề rằng tại sao Chúa Giêsu đã giáng sinh, Đấng Cứu Thế đã ra đời, Vua Hòa Bình đã xuất hiện, Ánh sáng Thiên Chúa đã chiếu soi cả  hơn hai ngàn năm nay mà trần gian vẫn còn u tối trong chiến tranh đày đọa, khổ đau chất chồng, bất công tràn lút, tham nhũng đàn áp nhiễu loạn khắp nơi nơi! Vẫn còn chiến tranh giữa các dân nước, chiến tranh giữa các ý thức hệ, chiến tranh ngoài xã hội, trong gia đình, chiến tranh giữa những người tự cho mình là trí thức và xem thương người khác hiểu biết kém cỏi, chiến tranh trong tâm hồn. Vẫn còn những bất công: nơi này ăn cướp đất, nơi kia bán đất công ăn chia. Vẫn còn những hư đốn: chỗ này hút chích chơi bời dâm đãng, chỗ kia ngoi ngóp vật vờ chờ chết, người đốt chồng, kẻ đâm vợ, người tạt a-xít tình địch, kẻ phá thai. Nơi đâu cũng gieo vãi những bất an, xáo trộn làm thành một thế giới luôn trong tình trạng hỗn mang!

Đáng tiếc hơn nữa, tình trạng hỗn mang, không chỉ là chuyện bên ngoài thế giới trần tục hoặc vô thần hoặc hiện sinh, mà còn là chuyện trong lòng những người mang danh là Kitô hữu - hơn thế nữa, đôi khi Kitô hữu ấy còn là trí thức công giáo, là cây đa cây đề của nền thần học công giáo, là những tiến sĩ, bác sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà kinh tế công giáo, là những bậc chức sắc cao niên vị vọng công giáo đáng kính. Vâng, nhưng vẫn còn những chuyện hỗn mang, những bất an do lòng cao ngạo thách thức hơn thua đủ vì chưa thoát ra khỏi cái “tôi” pháo đài chủ quan. Những Kitô hữu vẫn chưa có bình an bởi chưa có lòng ngay, chưa có thiện tâm, chưa có ý ngay lành, nhưng luôn còn đầy ác ý.

Trong đêm Con Chúa Giáng Sinh, lời chúc lành của ca đoàn các Thiên Thần: “Bình an dưới thế cho người lòng ngay” vẫn còn âm vang cho đến tận thế, vẫn còn hát trên môi miệng của bao người, và có thể nói, vẫn còn là khát vọng vô biên của tất cả những người thành tâm đi tìm bình an, hạnh phúc. 

Thánh Phaolô nhắc nhở: “Người dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này”.

Hãy nhìn vào lòng mình trong đêm rất thánh. Hãy đặt mình trước ánh sáng chí thánh chí thiện của Thiên Chúa để nhờ ánh sáng Chúa soi cho thấy lòng mình còn đầy những ác ý, còn ngổn ngang những gian tà trong tư tưởng, lời nói, trong việc làm; còn hỗn độn những dục vọng cao ngạo hơn người chỉ lo bới lông tìm vết, hoặc đưa tay, đưa bút móc cái rác trong mắt anh em, còn cái xà trong mắt mình lại không thấy. Người không tin có Thiên Chúa cũng làm như vậy. Người chống lại Thiên Chúa cũng làm như vậy. Đến chúng ta, những người mang danh là Kitô hữu cũng làm như vậy được sao? Đến bao giờ sự Bình An của Chúa Giáng Sinh mới thực sự ngự trị trong tâm hồn?

Lắng tâm tư trong niềm yêu mến Chúa Giáng sinh, chắc chắn bạn và tôi sẽ nghe rõ khao khát của Chúa Giêsu Hài Nhi khiêm nhượng: Hãy tránh xa cái trí thức của ma quỷ dẫn tới sự bất an cho mình và cho người. Hãy từ bỏ cái vốn học của những người thờ Chúa ngoài môi miệng khởi đầu cho những hỗn độn trong nhà, ngoài cửa. Hãy học bài học hiền lành và khiêm nhượng trong lòng của Đấng Cứu Thế.

Trong những ngày này, mọi người đang Mừng Chúa Giáng Sinh, bên ngoài trang trí hoa đèn lộng lẫy, bên trong chuẩn bị cho một lòng thiện tâm, một ý ngay lành để đón nhận bình an của Chúa. Nhưng, không thiếu những vô tình hoặc cố ý lầm lẫn cái chính cái phụ, hoặc chỉ lo bên ngoài mà thiếu tấm lòng ngay lành. Chẳng hạn, thay vì “MỪNG CHÚA GIÁNG SINH”, tôi thấy có nơi đặt trước nhà thờ một tấm bảng to đùng với hàng chữ được trang trí khá tốn kém “MỪNG LỄ GIÁNG SINH”, như người trần gian vẫn đang mừng một lễ hội. Chuyện chữ nghĩa đôi khi chúng ta không ý tứ, nhưng đối với những người “không có lòng ngay” thì họ luôn có chủ tâm. Chuyện “Tốt Đời Đẹp Đạo” chẳng hạn. Sao không là “Tốt Đạo Đẹp Đời”?.

Cũng vậy, lại thấy có nơi câu tung hô của các Thiên Thần bị cắt xén, nhưng cũng hoành tráng to tát và cả điện đèn trưng bày thật sáng trưng, nổi bật giữa phố đông người: “VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI - BÌNH AN CHO NGƯỜI DƯỚI THẾ”. Sao không là “bình an người lành dưới thế”? Người không ngay lành cũng được bình an sao? Họa chăng khi họ có lòng sám hối nhìn ra ánh sáng của Chúa Cứu Thế mà đổi từ gian ác ra ngay lành! Trong một đất nước có thể nói là kém tự do tôn giáo nhất, thì việc “Mừng Lễ Giáng Sinh” của những người không tin, hoặc chống lại Thiên Chúa với ý đồ hoành tráng như vậy ắt phải là để quảng bá cho thế giới biết rằng đất nước ấy có tự do. Có gì cho Vinh Danh Chúa?

 

Hồng ân của Chúa Giáng Sinh là “bình an cho người có lòng ngay”, có thành tâm thiện chí, không chỉ là lòng thành tâm với ơn cứu độ cho chính mình mà còn cho những con người cần được Chúa cứu độ. Bình an của người này ắt có ảnh hưởng lớn lao với người kia. Cũng thế, có ác ý hay bất an của người kia hẳn có một hệ lụy không kém nguy hiểm với người này. Thế giới này chỉ thực sự có bình an khi mỗi người, mỗi nhà tìm được nguồn bình an đích thực của Chúa ban thưởng cho khi có ý ngay lành. Vì vậy, mỗi người cũng nhận lấy cho mình trách nhiệm liên đới về việc xây dựng mối tương quan bình an trong nhà, ngoài phố và nhất là trong Giáo Hội thánh thiện của Chúa.

Nguyện xin Chúa Giêsu Giáng Sinh cất khỏi lòng trí chúng con những ý tưởng ám muội, những dục vọng cao ngạo nhưng thấp hèn, và xin lấp đầy lòng trí chúng con đức khiêm nhượng, ý ngay lành, để chúng con xứng đáng đón nhận ơn Bình An Giáng Sinh của Chúa. Amen.

PM. Cao Huy Hoàng, 22-12-2011

THIÊN CHÚA GIÁNG SINH

 TRONG MỘT GIA ĐÌNH

PM. Cao Huy Hoàng

Ôn một kỷ niệm: Mừng Chúa Giáng Sinh năm 2000, Gx tôi chọn chủ đề “THIÊN CHÚA GIÁNG SINH TRONG MỘT GIA ĐÌNH” làm ý lực chính cho mọi sinh hoạt chuẩn bị trong Giáo Xứ, trong các Giáo Họ và các gia đình như: Đêm Canh Thức, các hang đá ở nhà thờ xứ, nhà thờ họ, và các gia đình.

Chiều 21-12, năm ấy, các giáo họ, chi họ, các đoàn thể đã hoàn thành các hang đá chung quanh nhà thờ. Xảy ra là, một chi họ có sáng kiến mới, làm hang đá rất tân thời: chỉ một ngôi sao lạ chiếu sáng giải lụa từ trên cao xuống với hàng chữ “HÔM NAY CHA ĐÃ SINH RA CON” và cuối giải lụa ấy là một HÀI NHI đang nằm trên nắm rơm, đôi mắt tuyệt đẹp, nụ cười hiền lành, giơ đôi tay rộng ra như đón lấy mọi người.

Cha sở bảo: “Rất đẹp, rất ý nghĩa, rất đúng thần học, nhưng chưa đúng với chủ đề chung của Giáo Xứ”. Mấy người thiết kế mẫu hang đá này hơi buồn lòng, nhưng rồi ông phó chủ tịch giải thích: “Các anh biết đó, mấy tuần nay Cha sở đã triển khai đề tài “THIÊN CHÚA GIÁNG SINH TRONG MỘT GIA ĐÌNH” và qua các bài giảng, Ngài đã làm nổi bật ý nghĩa Thiên Chúa làm người qua “cung lòng Mẹ Maria”, dưới sự “bảo bọc chân thành của Thánh Giuse”. Thiên Chúa xuống trần gian trong “một gia đình rất trần gian”. Hang đá của mấy anh không có Thánh Giuse, Đức Mẹ, chẳng có chuồng bò, mái che, hàng rào, con bò, con bê, lu nước, mục đồng…. nên Ngài không vui lắm”.

Đêm 24, trong thánh lễ, Cha sở rất vui mừng nhìn thấy hang đá tân thời kia có thêm Đức Mẹ, Thánh Giuse và những con bò con bê… xinh đẹp. Ngài đã giảng một bài đầy xúc động về “Thiên Chúa đã  Giáng Sinh làm người” vì “yêu con người” nhưng “nhờ cộng tác của con người”. 

Giáng Sinh năm nay, 2011, nhân vì kỷ niệm 30 năm tông huấn “Familiaris Consortio” “Về những bổn phận của Gia Đình Kitô Hữu”, mà các Giáo Phận đang họp, hội, học về tông huấn này, gợi lên trong tôi một hoài niệm đẹp về cha cựu quản xứ và về chuyện năm 2000, đồng thời cũng khởi hứng cho tôi chút suy tư bé nhỏ.

Thiết tưởng, với quyền năng của Thiên Chúa, Ngài có thể xuống thế làm người cách long trọng, hùng vĩ, để thiên hạ nhận biết và thờ kính Ngài. Tại sao Ngài phải chọn cách xuống thế như một trẻ sơ sinh qua cung lòng một người nữ và trong một gia đình bần hàn. Hẳn là Ngài đã khiêm tốn thực hiện đúng như lời các tiên tri loan báo từ xa xưa trước, và muốn mặc cho đời sống gia đình một ý nghĩa cao quý.

Vâng, Ngài đã làm người trong một gia đình. Một Maria tin tưởng và khiêm tốn “xin vâng” để Thiên Chúa được nhập thể. Một Giuse chấp nhận từ bỏ ý riêng để chấp nhận ý trời thật thanh cao thánh khiết. Một Con Thiên Chúa làm con người từ phôi đến thai đủ chín tháng mười ngày trong bụng mẹ, để mẹ mang nặng, đẻ đau, cho con bú, mớm con ăn, ru con ngủ, thuốc chữa bệnh cho con, thao thức với con những đêm trời trở gió…  Và vì gia đình của Chúa không khác gì những gia đình trần gian, nên đã có những mục đồng như những người hàng xóm đơn sơ, thân thương, có lòng yêu trẻ con, có niềm vui đích thực khi nghe một con trẻ khóc tiếng chào đời… Các bà, các mẹ trong giáo xứ hẳn đã có những kinh nghiệm đau đớn và vui mừng lúc sinh con, thì ắt hẳn hiểu được tâm tình của người Mẹ mang tên Maria trong phút bi tráng ấy. Các ông, những người làm cha hẳn đã âu lo và sung sướng thế nào khi nghe tiếng oa oa con trẻ, thì ắt hẳn cũng hiểu tâm trạng của một người cha, người chồng mang tên Giuse kia. Những người làm cha mẹ hẳn đã trải nghiệm niềm vui khi được bà con lối xóm sẻ chia chúc mừng khi chúng ta có một người con ra đời.

Có thể nói, nhìn vào toàn cảnh Giáng Sinh của Con Thiên Chúa, mỗi tín hữu, không kể ở bậc độc thân hay hôn nhân gia đình đều phải hân hoan vui mừng và hãnh diện vì “Thiên Chúa ở giữa chúng ta”, “Thiên Chúa ở giữa dân Người”,“Thiên Chúa ở trong gia đình” như một thành viên trung tâm của khổ đau và hạnh phúc, trung tâm của “giáo hội tại gia”, trung tâm của “trường giáo dục đức tin”, trung tâm của “sứ mạng loan báo tin mừng”. Và nếu đã chọn Chúa Giáng Sinh là trung tâm, thì ắt hẳn giá trị của mỗi nhân vị được trân quí đúng mức như các thành viên gia đình của Chúa đã thể hiện: một Giuse bảo toàn ơn gọi đồng trinh của Đức Maria, một Maria trung thành dâng hiến cho Thiên Chúa và luôn quí trọng người bạn đời Chúa gửi đến, một Giêsu với niềm hiếu kính mến yêu.

Người sống bậc độc thân cũng bắt đầu từ gia đình và cảm nếm được ý nghĩa thiêng liêng mà Cha Mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa qua việc nhận lấy con cái như quà tặng giáng sinh. Người sống bậc gia đình đang đi vào ơn gọi cao cả mà Thiên Chúa Giáng Sinh đã chọn và mặc lấy cho gia đình một ý nghĩa siêu phàm, thiêng thánh, để nơi gia đình, phải là một hang đá, một máng cỏ sống động cho Thiên Chúa Giáng Sinh.

Đêm Giáng Sinh, phải là đêm bình an nhất, đêm hạnh phúc nhất, cho mỗi người, cho mỗi gia đình, vì chính Con Thiên Chúa đã đến làm người trong một gia đình. Ngài thấu hiểu tất cả và Ngài đã biến nỗi đau tột cùng của các gia đình thành hạnh phúc tuyệt vời nhất khi ngộ ra: THIÊN CHÚA ĐANG GIÁNG SINH TRONG GIA ĐÌNH CHÚNG TA.

Nguyện xin cho chúng con đích thực là Giuse, là Maria, là Giêsu trong hang đá đơn sơ nghèo hèn của chúng con, trong nhà của chúng con với tình thương mến, lòng tôn trọng các nhân vị, với ý thức sứ mạng làm ánh sao Giáng Sinh và nhất là với niềm tin yêu phó thác.

PM. Cao Huy Hoàng, 21-12-2011

BÌNH AN CHO LOÀI NGƯỜI CHÚA THƯƠNG

(Lễ đêm  - Lc 2, 1-14)

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

          Khi hai người đang ở đó thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đạt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong quán trọ”. Sự kiện chỉ đơn giản có thế mà tác giả Lu-ca lại cất công ghi chép rất chi tiết niên đại như một biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại. Cộng đoàn Ki-tô hữu thời sơ khai đã sớm nhận ra điều này: hài nhi mới sinh ra tại Bê-lem trong đơn nghèo lại đang làm đảo lộn cả một lịch sử bi tráng của nhân loại. Sự đảo lộn này không phải là một chiến thắng, một cuộc cách mạng mà nhiều khi chỉ mang lại lo âu và sợ hãi, cũng không phải là hoàn tất một công trình hoành tráng vĩ đại đòi nhiều khó nhọc lao công… mà chỉ đơn thuần là một ‘tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân’. ‘Trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ’ tỏ lộ ‘vinh quang Thiên Chúa trên trời’, đồng thời cũng mang lại ‘bình an cho loài người Chúa thương dưới thế’. Có thể thế được chăng? Tin Mừng vĩ đại lại có thể đơn sơ đến như thế sao?

        Thế đấy, cái đêm lễ hội phức tạp và công phu nhất trong năm (chỉ cần nhìn vào cách người ta trang hoàng đường phố cửa tiệm, dọn dẹp nhà cửa, trang trí nhà thờ, mua sắm quà cáp, nấu dọn yến tiệc cho ngày đại lễ) lại có một ý nghĩa, một nội dung quá ư giản dị và thuần khiết! Và để có thể khám phá ra sự đơn thuần này cần phải có được một đêm tĩnh mịch, đêm thầm lặng, đêm sâu lắng của cõi lòng (Silent Night). Vinh quang Thiên Chúa (Gloria Dei) không tỏ hiện trong hào quang sáng chói, không hô hoán qua tiếng nhạc tiếng sấm vang rền, không biểu dương rầm rộ nhờ binh hùng tướng mạnh. Vinh quang đó âm thầm xuất hiện giữa đêm đông tĩnh mịch, trong hình hài một trẻ thơ yếu ớt sinh ra trong chuồng chiên bò hôi hám… Điều đó là hoàn toàn hợp lý khi nào người ta nếm cảm được cái thứ vinh quang của tình yêu thương, của lòng nhân ái; âm thầm và thinh lặng như người cha ngồi bên giường bệnh của đứa con thoi thóp trong bệnh viện vắng lạnh, hoặc bà vợ đứng sau chiếc xe lăn của người chồng tật nguyền trong xó nhà quạnh hưu… Lúc đó sự thinh lặng, nghèo nàn, tăm tối…, và chỉ có nó, mới nói lên được tất cả, nói cách hùng hồn và diễn đạt đầy đủ nội dung sâu sắc nhất của tình yêu thương vĩ đại.

        Và một khi loài người dưới thế, trong thinh lặng và sâu lắng. nhận ra rằng mình được Thiên Chúa yêu mến xót thương, được ‘đầy ân sủng và Đức Chúa ở cùng’ (Lc 1,28), họ sẽ biết đón nhận biến cố này với tâm hồn an bình, với tâm tình mừng vui diễn tả qua lời ca ngợi tri ân. Đặc biệt Ki-tô hữu, duy nhất giữa muôn người nhận biết mình là phần tử của ‘loài người Chúa thương’, một loài ngườikhông chỉ gồm toàn những kẻ lương thiện tốt lành, mà bao gồm cả các phạm nhân bất hảo. Qua kinh nghiệm bản thân họ hiểu rõ mình thuộc về thứ loài người này trong cả diện tích cực lẫn tiêu cực của nó. Và khi cử hành sự kiện Hài Nhi giáng sinh tại Bê-lem, họ nhận mình chính là người đầu tiên tiếp lấy lòng xót thương thần linh. Tâm hồn họ lúc đó được tràn ngập thứ bình an độc nhất vô nhị, như chính đức Giê-su sẽ khảng định sau này: Thầy ban bình an của Thầy cho anh em… thứ bình an mà thế gian không thể ban tặng (Ga 14,27)… Đúng là bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.

        Ma-ri-a là người nữ đã chào đón ‘hài nhi sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ’ trong thinh lặng và sâu lắng như thế. Sinh nở luôn kéo theo không biết bao nhiêu vấn đề thể lý, tinh thần, vật chất, giao tế… dễ làm xáo trộn bất cứ một ai, nhất là các sản phụ; đặc biệt trong hoàn cảnh xa nhà, giữa muôn vàn thiếu thốn và bị xua đuổi… Tác giả Lu-ca đề cao thái độ lạ lùng của người mẹ đặc biệt này, ‘Còn Ma-ri-a thì hằng ghi nhờ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng’. Ma-ri-a đúng là Ki-tô hữu tiên khởi, tuyệt vời nhất ngay từ giờ phút đầu tiên khi ‘vinh quang Thiên Chúa’ xuất hiện trên dương thế.

        Là một Ki-tô hữu linh mục và tu sĩ, tôi không thể cử hành biến cố Hài Nhi giáng trần cách khác. Dầu có bận rộn tới đâu (chưa bằng Ma-ri-a đâu!), tôi vẫn phải tự nhủ: để khám phá ra và ca tụng ‘Vinh quang Chúa’, và nhận biết mình là loài người Chúa thương’, tôi cần giữ tâm hồn thinh lặng và sâu lắng.

        Lạy Hài Nhi sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ, con muốn cùng Mẹ Maria thinh lặng chiêm ngắm tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa giáng trần. Xin cho con nhận ra tăm tối, giá lạnh và nghèo nàn… tại Bê-lem hôm đó lại chính là tiếng ca ngợi vinh quang tình yêu Thiên Chúa cách vang dội nhất. Đặc biệt xin cho con nghe được thấu lời tuyên bố long trọng của Hài Nhi giáng thế:“Thiên Chúa yêu thương loài người”, trong đó có chính con, và mọi người tội lỗi thấp hèn…, để con và ‘loài người Chúa thương’ được hưởng bình an trọn vẹn và cất lời ca ngợi Chúa không ngừng. Amen

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

ĐẤNG HẰNG Ở NƠI CUNG LÒNG CHÚA CHA ĐANG CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TA.

(Lễ ban ngày - Ga 1, 1-18)

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

          Lời tựa sách Tin Mừng thứ tư cho chúng ta một khảng định quan trọng: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả”. Như vậy mọi hiểu biết về Thiên Chúa trước khi đức Giê-su xuất hiện (Cựu Ước, mọi tôn giáo khác và suy luận triết học) đều chỉ là phỏng định; hay nói cách khác là nhân cách hóa, có nghĩa là người ta dựa phần lớn vào tư duy con người, cho dầu có siêu việt như các triết thuyết. Nắm bắt và thấu triệt Thiên Chúa cách chính xác chỉ có thể có được qua sự xuất hiện của Lời (Verbum) trên trần gian. Vấn đề chính ở đây là xác định được Lời đó có nội dung gì?

        Một số khảng định liên quan tới Lời (Verbum) được nêu lên: ‘Lời đã có từ lúc khởi đầu… Lời vẫn hướng về Thiên Chúa… Lời là Thiên Chúa… Lời tạo thành vạn vật… Lời là sự sống, là ánh sáng… Lời hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha’. Tất cả các điều này chỉ qui vào một điểm duy nhất: ‘Lời phản ánh, là hình ảnh trung thực nhất của Chúa Cha’ (xem Dt 1,3; Cl 1,15). Chính đức Giê-su sau này cũng đã không ngừng lặp đi lặp lại ý tưởng này cho các môn đệ ngài, “Không phải là đã có ai thấy được Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha” (Ga 6,46), “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha, sao anh lại nói: xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha?” (Ga 14.9)

        Lời (Verbum) đó ‘đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta’. Như vậy là từ nay loài người có thể đọc được trực tiếp Lời. Để làm được điều này, cách duy nhất (và tuyệt đối không có bất cứ cách nào khác) là chịu khó đọc Lời, là chiêm ngắm đức Giêsu từ lúc còn mang hình hài một ‘trẻ sơ sinh, bọc tã, nằm trong máng cỏ’ (Lc 2,12) tới giờ phút cuối cùng của thập giá khi ‘một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra’ (Ga 19,34). Ma-ri-a là người duy nhất đã có mặt ở cả hai biến cố đó, và đã đọc Lời – Giêsu trong tư thế chiêm niệm thâm sâu nhất, và Mẹ đã hiểu rõ: ‘Thiên Chúa là Đấng cứu độ… hằng thương xót…nâng cao kẻ khiêm nhường… ban cho kẻ khó nghèo đầy dư…’ (Lc 1, 47-55). Người môn đệ Gioan cũng đã theo sát, gần gũi với Thầy Giê-su nên đã có thể đọc được: ‘Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe… đã thấy tận mắt… đã chiêm ngưỡng… tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống.’ (1Ga 1,1) và làm chứng: ‘Thiên Chúa là tình yêu(1Ga 4,8) ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…’ (Ga, 3,16); đồng thời quả quyết: “Lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật…” (Ga 19,35).

        Chỉ những ai chân thành đọc Lời, chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu với tâm hồn sâu lắng nhất mới có cơ hội nhận biết Thiên Chúa cách đích thực; bằng không ý niệm của họ về Ngài sẽ mãi mãi mơ hồ và méo mó. Thực tế cho thấy rất nhiều người vẫn tự cho là mình biết rõ, biết sâu về Thiên Chúa (các tư tế, Biệt Phái và luật sĩ thời đức Giê-su là điển hình), thậm chí còn mở miệng giảng dạy người khác về Thiên Chúa thế này thế nọ, nhưng lại không cất công đọc Lời - Giêsu, không dành thời giờ chiêm ngắm, gần gũi và kết hiệp với Lời, thì làm sao họ biết rõ về Thiên Chúa được? Phải chăng chính họ là các tiên tri giả mà đức Giê-su đề cập tới (xem Mt 7, 15-20). Chẳng trách, Thiên Chúa tình yêu tạo thành thế gian, nhưng khi Lời tình yêu đền ‘thế gian lại không nhận biết Người’; Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh tình yêu Người, nhưng khi Lời tình yêu ‘đến nhà mình, thì người nhà lại chẳng chịu đón nhận’.

 

        Tôi vẫn được nhắc nhở phải chiêm ngắm mầu nhiệm Giáng Sinh. Thế nhưng tôi trộm nghĩ, còn hơn cả mầu nhiệm Giáng Sinh như một biến cố, tôi cần chiêm ngưỡng Giê-su như một ‘người phàm và đang cư ngụ giữa chúng ta’ với mục đích để biết rõ hơn về Thiên Chúa tình yêu. Giáng Sinh chỉ là khởi điểm để tôi chuyển từ một hiểu biết Thiên Chúa của suy luận triết thần, qua Thiên Chúa của đức Giê-su Ki-tô. Giáng Sinh phải bắt đầu nơi tôi một thứ linh đạo chiêm ngắm, đào sâu và kết hiệp với Giê-su để, như Ma-ri-a, tôi đặt niềm tin tuyệt đối nơi Thiên Chúa, Đấng cứu độ và giầu lòng xót thương.

        Lạy Mẹ Ma-ri-a, xin dạy con biết thinh lặng quì bên máng cỏ và chiêm ngắm Hài Nhi giáng trần; cũng xin giúp con biết ngước nhìn lên Giê-su chết trên thập giá để nhận ra một Thiên Chúa cứu độ đầy từ tâm. Qua việc lần hạt con muốn được cùng Mẹ ghi nhớ mọi điều trong cuộc đời Giê-su và suy niệm trong lòng, hầu biến trọn niềm tin Ki-tô hữu con thành một khám phá và minh chứng cho mọi người về ‘Thiên Chúa, Đấng cứu độ… hằng xót thương’. Kể từ lễ Giáng Sinh này, xin Mẹ đưa tay dắt con bước vào con đường chiêm niệm và sâu lắng mà Mẹ đã từng sống. Amen

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

LÒNG NHÂN ÁI THỰC SỰ

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

        Có một bà mẹ kể rằng: Một cơn bão vừa tàn phá thị trấn nhỏ gần thành phố của chúng tôi làm nhiều gia đình phải sống trong cảnh khốn khó. Tất cả các tờ báo địa phương đều đăng hình ảnh và những câu chuyện thương tâm về một số gia đình mất mát nhiều nhất. Có một bức ảnh làm tôi xúc động. Một phụ nữ trẻ đứng trước ngôi nhà đổ nát của mình, gương mặt hằn sâu nỗi đau đớn. Đứng cạnh bà là một cậu bé chừng 7 hay 8 tuổi, mắt nhìn xuống. Đứa con gái nhỏ bám chặt quần mẹ, nhìn chằm chặp vào máy ảnh, mắt mở to vẻ bối rối và sợ hãi. Bài báo đi kèm cùng kêu gọi mọi người giúp đỡ những người trong gia đình đó. Tôi nhận thấy đây sẽ là một cơ hội tốt để dạy các con mình giúp đỡ những người kém may mắn hơn.

        Tôi đưa tấm ảnh gia đình đó cho các con tôi xem, giải thích nỗi khổ của họ cho hai đứa con trai sinh đôi 7 tuổi và đứa con gái 3 tuổi. Tôi bảo chúng: “Chúng ta có quá nhiều trong khi những người này bây giờ không còn gì cả. Chúng ta hãy chia sẻ với họ những gì mình có”. Tôi và hai con trai chất vào thùng cứu trợ nào đồ hộp và xà bông, mì gói . . . Tôi cũng khuyến khích chúng chọn ra một số đồ chơi mà chúng không chơi nữa. Đứng nhìn hai anh sắp xếp mọi thứ, con gái tôi có vẻ nghĩ ngợi. Tôi nói với con: “Mẹ sẽ giúp con tìm một thứ gì đó cho em bé trong ảnh”.

        Trong lúc hai anh mình đặt những món đồ chơi cũ chúng đã chọn vào thùng, con gái tôi đi vào, tay ôm chặt con búp bê cũ kỹ nhạt màu, tóc rối bù, nhưng là món đồ chơi nó yêu thích nhất. Nó ôm hôn con búp bê lần chót trước khi bỏ vào thùng. Tôi nói: “Con không cần phải cho nó, con thương nó lắm mà”.

                Con gái tôi gật đầu nghiêm trang: “Nó đem lại niềm vui cho con mẹ ạ, có lẽ nó cũng sẽ đem lại niềm vui cho bạn kia”.

        Khi bạn tặng hoa, bạn sẽ chọn một hông hoa đẹp nhất để tặng. Khi bạn chọn một tặng vật, bạn cũng gởi gắm một sứ điệp nào đó qua món quà. Người ta nói: “Vượt lên trên món quà là cả một tấm lòng”. Quà tặng không dựa trên giá trị vật chất nhưng quan trọng ở tấm lòng người tặng. Thế nhưng, con người chúng ta thường dễ dàng đem cho những thứ mình bỏ đi, ít ai dám đem tặng những cái mình yêu thích nhất. Điều đó chưa hẳn phát xuất từ tấm lòng nhạy cảm trước nhu cầu tha nhân, mà thường là việc làm chiếu lệ cho qua. Lòng nhân ái thực sự là đem cho những gì mình yêu quý nhất. Sự chia sẻ chân thành là lòng mong muốn người khác cũng được vui tươi, được hạnh phúc như chính mình. Đó mới thực sự là nghĩa cử cao đẹp của người có tấm lòng quảng đại, vị tha.

        Thiên Chúa cũng dành một món quà vô cùng quý giá cho con người, chính là cho Con Một Ngài giáng trần. Ngài là Emmanuel ở giữa nhân loại. Ngài là niềm vui cho những mảnh đời bất hạnh lầm than. Qua Ngôi Lời giáng thế, Thiên Chúa đã đi sâu vào kiếp người chúng ta. Thiên Chúa có thể chia sẻ buồn vui trong kiếp người chúng ta. Thiên Chúa có thể lau khô những giọt nước mắt lầm than cho những người nghèo khổ, cho những kẻ tật nguyền. Vâng, Chúa đã làm người nên Ngài có thể hiểu được nhu cầu của con người. Ngài có thể thông chia những vui buồn cùng con người. Chính Ngài đã đi cùng con người qua những thăng trầm của đời người. Chính Ngài cũng muốn nếm cảm sự mỏng dòn của kiếp người vô thường: sinh – bệnh – lão – tử. Chính Ngài đã đi đến tột cùng của hiến dâng là dám chết cho người mình yêu.

Như vậy, sứ điệp của giáng sinh là trao ban, là chia sẻ, là bác ái cảm thông. Chúa giáng sinh là món quà quý báu mà Thiên Chúa Cha đã tặng ban cho trần gian. Đồng thời, khi chiêm ngắm Ngôi Hai Thiên Chúa trong hình hài một hài nhi yếu đuối, Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy dành cho Ngài một chút chia sẻ tình thương. Ngài cũng cần chúng ta thi thố tình thương cho Ngài. Ngài đã sinh ra trong cảnh cơ hàn. Ngài đã và đang thiếu thốn tư bề. Ngài đang cần chúng ta làm điều gì đó cho Ngài. Như các mục đồng năm xưa đã dâng cho Hài Nhi Giê-su những con lừa, con bò, những cọng rơm để sưởi ấm cho Chúa. Hôm nay, Chúa cũng đang đồng hoá mình trong thân phận những con người lầm than, cơ hàn. Ngài đang cần chúng ta chia sẻ một chút tình người, một chút lòng bác ái, một chút tinh thần dấn thân phục vụ để xoa dịu nỗi đau thể xác và tinh thần trên những con người bất hạnh mà chúng ta gặp trên mọi nẻo đường. Có thể chúng ta đang mang trong mình những dự tính thật lớn lao để phục vụ anh em, nhưng thực ra, Thiên Chúa đang cần chúng ta phục vụ Ngài từ những việc rất bình thường trong đời sống hằng ngày. Vâng, một cái nhìn cảm thông và một nụ cười khích lệ tưởng như nhỏ nhoi, chẳng đáng kể, nhưng điều đó lại có thể xua tan những mây mù giữa trần đời và kiến tạo mùa xuân yêu thương cho trần gian. Một đồng tiền lẻ, một chén gạo tình thương xem ra thật nhỏ bé nhưng có thể làm ấm lòng bao người đang đói rách tư bề.

Vâng, Chúa giáng sinh đang tiếp tục giáng sinh trong trần thế qua những thân phận bất hạnh, yếu đuối, bị bỏ rơi. Ngài đang cần chúng ta đến với Ngài trong yêu mến và phục vụ chân thành như các mục đồng năm xưa. Đây chính là lời mời gọi thiết thực nhất từ hang đá Belem. Chúa Giáng sinh đang cần bạn và tôi không chỉ đến thờ lạy Ngài mà còn dâng tặng cho Ngài một chút tình thương để sưởi ấm Ngài trong đêm thâu giá lạnh.

Ước gì mỗi người chúng ta khi mừng Chúa Giáng sinh chúng ta cũng biết nghĩ đến những người nghèo chung quanh chúng ta. Xin đừng lạnh lùng, vô cảm trước những bất hạnh của tha nhân. Ước gì tình người chúng ta được liên đới với nhau bằng sợi dây yêu thương sẽ làm cho việc kỷ niệm Con Chúa Giáng sinh thêm nồng ấm tình thương. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

ĐÁNH MẤT CƠ HỘI NGÀN VÀNG

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Có một vị hoàng thái tử vào rừng săn bắn tình cờ gặp một cô gái quê đang kiếm củi một mình. Không hiểu Trời xui đất khiến làm sao mà hai con người có địa vị cách biệt quá xa lại tỏ ra tâm đầu ý hợp và hai bên lại yêu nhau tha thiết ngay từ giây phút gặp mặt đầu tiên.

 

Sau đó, hoàng tử quay về triều như kẻ mất hồn, ngày đêm tương tư cô gái nghèo mà anh đã đem lòng thương mến. Thế rồi, do lòng yêu thương thúc đẩy, anh khẩn khoản xin vua cha cưới nàng cho bằng được.

Để tìm hiểu xem cô gái có thực sự yêu thương con trai mình bằng tình yêu chân thực, hay chỉ yêu vì gia tài, địa vị, quyền thế của chàng, vua cha truyền dạy hoàng tử cải trang làm nông dân để thử lòng cô gái.

Thế là vị hoàng tử quyền quý hoá thành người nông dân, đến cắm lều gần nhà cô gái, ngày ngày vác cuốc ra đồng làm lụng, làn da cháy nắng, đôi tay chai sần. Anh lân la đến làm quen với cô gái trong hình hài một nông dân.

Mặc dù cô gái vẫn thầm yêu và khát mong được kết hôn với vị hoàng tử mà cô đã gặp trong rừng, nhưng trớ trêu thay, cô ta không nhận ra vị hoàng tử nầy trong hình hài người nông dân nghèo khổ. Cô đã đối xử với anh rất lạnh nhạt và cuối cùng đã xua đuổi anh đi, trong khi lòng cô vẫn thổn thức nhớ thương chàng hoàng tử hào hoa mà cô đã gặp trong rừng!

Tiếc thay, cô đã đánh mất cơ hội vô cùng quý báu: mất một người yêu lý tưởng, mất luôn cả vinh dự trở thành công nương, thành hoàng hậu tương lại.

 * *

Như vị hoàng tử rời khỏi hoàng cung, hoá thân thành nông dân đến cắm lều ở bên cạnh nhà cô gái, Ngôi Hai Thiên Chúa đã từ bỏ ngai trời, hoá thân thành người phàm và đến ở giữa chúng ta. Người là Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Người tự đồng hoá mình với những người láng giềng đang sống quanh ta.

Chúa Giê-su khẳng định rằng tha nhân là hiện thân của Người. Những ai cho người đói lang thang vất vưởng trên vỉa hè một bát cơm thì Người nói là họ đã cho Người ăn. Những ai cho kẻ bần cùng thiếu thốn một tấm áo, thì Người nói là họ đã cho Người mặc. Những ai cho người vãng lai một chỗ trọ qua đêm thì Người nói là họ đã tiếp rước Người…  (Matthêu 25, 34 - 40)

Và hôm xưa, đang khi Sao-lô rong ruổi trên đường Đa-mát, tìm bắt các môn đệ của Chúa, thì chính Chúa Giê-su quật ngã ông xuống đất và cảnh cáo ông: "tại sao ngươi bắt bớ Ta?" (chứ không nói là tại sao ngươi bắt bớ các môn đệ Ta) (Rm 9,4).

Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II cũng dựa vào giáo huấn nầy để nhắn nhủ các gia đình: "Thiên Chúa đã tự đồng hoá với người cha, người mẹ, người con trong gia đình." (tâm thư gửi các gia đình)

 Thật trớ trêu, đang khi chúng ta vẫn yêu mến, suy tôn chúc tụng Thiên Chúa ngự trên cõi trời cao hoặc cung kính bái lạy hình ảnh Người trên bàn thờ, thì chúng ta lại tỏ ra thờ ơ hờ hững và thậm chí còn đối xử tồi tệ với tha nhân là những chi thể sống động của Người, là hiện thân của Người đang hiện diện chung quanh.

 Thánh Phanxicô Assisi nhận ra người phong cùi là một phần chi thể đang bị ung nhọt của Chúa nên người đã ôm hôn người phong ấy với tình yêu thắm thiết.

Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta cũng đã nhận ra những người bệnh tật, hấp hối là những phần chi thể bị tổn thương của Chúa Giê-su nên Mẹ đã dành phần lớn đời mình yêu thương chăm sóc họ. Mẹ còn dạy các tập sinh hãy trân trọng những người hấp hối cùng khổ trong nhà Lâm Chung như tôn trọng Mình thánh Chúa Giê-su.

 Hôm nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục đóng vai người nông dân, người cùng khổ, người láng giềng, người bạn đồng nghiệp và cả những người nhà, để sống với chúng ta. Thế nhưng chúng ta rất khó nhận ra đó là hiện thân của Thiên Chúa nên thường đối xử tệ bạc với tha nhân. Thế là bi kịch cô gái nghèo hết lòng yêu thương chàng hoàng tử hào hoa nhưng lại phụ bạc anh ta dưới lốt nông dân nghèo khổ vẫn còn đang tiếp diễn từng ngày, từng giờ từng phút. Thế là "Người đã đến nhà của Người mà người nhà đã không tiếp nhận Người." (Gioan 1, 11)

 

Thật vô cùng đáng tiếc cho cô gái trong câu chuyện trên đây vì cô đã đánh mất cơ hội ngàn vàng: cơ hội trở thành công nương chốn cung đình, cơ hội được hạnh phúc trăm năm bên hoàng tử giàu sang phú quý!

Và cũng vô cùng đáng tiếc cho chúng ta khi chúng ta tiếp tục lặp lại bi kịch ấy trong cuộc đời mình.

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

NGHỊCH LÝ …?

JKN

Câu hỏi gợi ý:

1. Nếu bạn khám phá ra cha bạn - một người rất giàu có - đã xếp đặt để mẹ bạn sinh bạn ra trong một chuồng bò hay chuồng heo của nhà ai đó, bạn sẽ nghĩ thế nào về cha của bạn? Bạn lý giải thế nào về việc Thiên Chúa đã quan phòng để Đức Giêsu, Con Ngài, ra chào đời trong một chuồng bò?

2. Đặt mình vào địa vị của Đức Maria và thánh Giuse, bạn sẽ nghĩ và nói thế nào về Thiên Chúa khi hai Ngài phải rời Nagiarét vào Bêlem, không tìm được chỗ trọ, và phải sinh con trong chuồng bò?

3. Tại sao Thiên Chúa lại để cho Đức Giêsu phải chịu đau khổ, nhục nhã từ khi sinh ra đến lúc chết? Thiên Chúa ghét và muốn hành hạ Con của Ngài chăng? Nếu không, phải lý giải thế nào về sự kiện ấy?

Chia Sẻ

1. Con Thiên Chúa cao sang lại sinh ra trong cảnh tột hèn kém

Chúng ta thử tưởng tượng xem một vị hoàng đế trần gian nếu biết trước đứa con mình sinh ra sẽ là vị cứu tinh của trần gian, thì hoàng đế ấy sẽ chuẩn bị cho người con ấy chào đời như thế nào? Chắc chắn ông sẽ chuẩn bị cho con mình một nơi thật xứng đáng, với quần áo, tã lót, chăn mền... thật sang trọng. Và cũng tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho người mẹ sẽ sinh ra con mình. Chính vì tưởng rằng Thiên Chúa trên trời cũng suy nghĩ như mình, nên người Do Thái thời Đức Giêsu đã tưởng Đấng Cứu Thế sẽ phải sinh ra trong cung vàng điện ngọc. Nhưng họ không ngờ Thiên Chúa suy nghĩ khác hẳn với cách nghĩ của họ!

Theo Tin Mừng, Đức Giêsu đã sinh ra trong hang bò lừa. Đã là chỗ nuôi và chứa sức vật đương nhiên phải hôi tanh và bẩn thỉu. Chắc chắn Giuse và Maria phải hết sức ngỡ ngàng khi thấy Thiên Chúa đối xử với mình, nhất là với Đấng Cứu Thế hài nhi như vậy! Nhục nhã thay cho Đấng Cứu Thế! Bất kỳ ai biết mình chào đời trong một chỗ tối tăm và nhục nhã tận cùng như thế đều không tránh được mặc cảm cho rằng cuộc đời mình cũng sẽ tối tăm và nhục nhã như thế!? Trước sự thật phũ phàng trước mắt, chắc hẳn phải có lúc hai ông bà nghi ngờ rằng: liệu lời thiên sứ nói với mình về đứa trẻ mình sinh ra có thật hay không? Nghi ngờ để rồi lại tự nhủ, tự an ủi, tự tìm lấy lý do để cố mà tin cho vững hơn! Thực tế thật phũ phàng, nhưng đó lại chính là thánh ý của Thiên Chúa. Muốn cứu thế giới khỏi những nhơ nhớp của tội lỗi, Con của Ngài cũng phải nhập thể từ chốn nhơ nhớp nhất của trần thế! Muốn đưa con người lên thật cao, Thiên Chúa nhập thể phải xuống cho thật thấp, thấp đến tận cùng!

2. Cách xếp đặt của Thiên Chúa… thật hết sức nghịch lý!

Thật là nghịch lý và không thể hiểu nổi cách Thiên Chúa đối xử với người Con độc nhất và hết sức yêu quí của Ngài, và với hai người đặc biệt mà Ngài chọn để hạ sinh, bảo vệ và nuôi dưỡng người Con ấy! Giuse và Maria đang sống yên lành tại Nagiarét, những tưởng đứa con trong bụng nàng sẽ ra đời tại nhà mình ở làng ấy. Chắc hẳn chàng và nàng đã mua sắm đồ này vật nọ để chuẩn bị cho xứng đáng với chức vị cao cả của đứa bé sắp chào đời! Nào ngờ chiếu chỉ kiểm tra dân số của Hoàng Đế Rô-ma đã đảo lộn tất cả, đã đẩy đôi trai gái đức hạnh - chỉ biết nghĩ đến thánh ý Thiên Chúa - vào một cuộc phiêu lưu bất ngờ đầy gian khổ!

Từ làng Nagiarét vùng Galilê thuộc miền Bắc Do Thái, chàng và nàng phải vượt qua vùng Samari đầy đồi núi của miền Trung để về tận làng Bêlem vùng Giuđê thuộc miền Nam Do Thái. Đường chim bay đo theo tỷ lệ xích trên bản đồ cũng phải là 120 cây số, đường ngòng ngoèo trong thực tế hẳn phải trên 150 cây. Thời ấy có lẽ hai người phải dùng một con la để di chuyển. Hành trình chắc chắn vất vả! Điều nghịch lý nhất nằm ở chỗ Thiên Chúa lại quan phòng cho ngày phải di chuyển ấy xảy ra khi Maria mang thai đến thời kỳ sinh nở. Sau một hành trình vất vả như thế, khi tới nơi những tưởng Thiên Chúa sẽ dành cho Con của Ngài một chỗ để sinh nở tương đối xứng đáng, nhưng khốn thay... tất cả mọi người mọi nơi đều từ chối! Nếu hai ông bà có tiền, chắc hẳn không đến nỗi! Chưa sinh ra, Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể đã phải đối diện với sự ích kỷ và tính coi trọng tiền bạc hơn tình nghĩa của con người! Không kiếm được chỗ để trọ và sinh con, hai ông bà đành trọ và sinh con trong chuồng súc vật!

Kết quả của những nghịch lý ấy là gì? ai phải khổ đây? Cả gia đình gồm 3 người Giuse, Maria và Giêsu là khổ nhất. Phải chăng Thiên Chúa ghét và muốn đày đọa gia đình này? Chắc chắn không phải! - Có thể nói đây là gia đình quan trọng nhất, được Thiên Chúa quan tâm, ưu ái đặc biệt nhất! Vì thế, nếu đã xảy ra như vậy - đương nhiên là do sự quan phòng vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa - thì ắt hẳn đây phải là cách có lợi nhất cho đại cuộc cứu chuộc nhân loại. Như vậy, vì đại cuộc, Thiên Chúa buộc những «người của Ngài» phải hy sinh, phải chấp nhận nhục nhã, đau khổ hơn những người khác. Nhưng bù lại, Ngài sẽ ân thưởng cho «người của Ngài» vinh quang, hạnh phúc cao quí nhất!

3. Nghịch lý... nhưng lại rất hợp lý và khôn ngoan

Như vậy ta thấy Thiên Chúa coi hạnh phúc hay đau khổ, vinh quang hay nhục nhã chóng qua trong hiện tại không quan trọng bằng hạnh phúc hay đau khổ, vinh quang hay nhục nhã lâu dài trong tương lai. Nếu phải chịu khổ hay chịu nhục một chút trong hiện tại để rồi được hạnh phúc hay vinh quang lâu dài trong tương lai, thì ai khôn ngoan cũng đều sẵn sàng chấp nhận. Còn nếu được hưởng hạnh phúc hay vinh quang thật ngắn ngủi trong hiện tại để rồi phải chịu đau khổ và nhục nhã lâu dài trong tương lai, thì chỉ có người ngu mới chấp nhận! Những cha mẹ thật sự yêu thương con cái sẵn sàng chọn lựa để con cái mình phải đau khổ hay chịu nhục nhã một chút hầu về sau chúng được hạnh phúc và vinh quang lâu dài. Bạn chưa tin ư? Này nhé, giả như bạn phải chọn lựa cho bạn hoặc cho con cái bạn giữa ba khả thể sau đây, thì bạn chọn khả thể nào: một là đau khổ hiện tại 1 mà hạnh phúc tương lai 10, hai là đau khổ hiện tại 2 mà hạnh phúc tương lai 100, và ba là đau khổ hiện tại 3 mà hạnh phúc tương lai 1.000? Chắc chắn bạn sẽ chọn khả thể thứ ba. Thiên Chúa cũng chọn lựa cho những người Ngài đặc biệt yêu thương tương tự như vậy. Chính vì thế, Ngài sẵn sàng để Đức Giêsu, Người Con độc nhất mà Ngài yêu quý nhất phải chịu đau khổ và nhục nhã ngay từ khi chào đời đến giây phút cuối cùng của cuộc đời để cứu chuộc nhân loại, hầu cuối cùng, trong vĩnh cửu, Đức Giêsu trở thành người hạnh phúc và vinh quang nhất không ai sánh bằng!

Nếu ta biết nhìn bằng con mắt đức tin và khôn ngoan như thế, thì việc Đức Giêsu phải chịu đau khổ và nhục nhã từ khi sinh ra cho đến hết cuộc đời sẽ trở thành một sự kiện bảo đảm, một căn cứ để hy vọng, và một niềm an ủi lớn lao cho ta khi ta gặp phải những đau khổ lớn lao trong cuộc đời. Khi Thiên Chúa dành cho chúng ta đau khổ hay nhục nhã trong hiện tại, thì điều đó không có nghĩa là Ngài ghét bỏ ta. Trái lại có thể là Ngài đang dành cho ta một ưu đãi, một sự yêu thương đặc biệt mà ta có quyền chấp nhận hay từ chối. Nếu tự nguyện chấp nhận thì hạnh phúc và vinh quang của ta sẽ rất lớn, và lớn thế nào tùy thuộc vào chất lượng sự tự nguyện của ta và mức độ đau khổ ta sẵn sàng đón nhận. Nếu từ chối, ta sẽ bỏ lỡ một cơ hội quí báu mà Thiên Chúa vì yêu thương đã dành cho ta, vì «những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta!» (Rm 8,18).

Vậy, người thường hay kẻ không tin kêu ca về nghịch cảnh, về đau khổ mình phải chịu thì không có gì là lạ. Nhưng người Kitô hữu, người mang danh theo Chúa, người có lý tưởng tông đồ, người được Chúa chọn, được mang danh là “người của Ngài”, mà lại than vãn khi gặp nghịch cảnh thì quả là... vẫn còn sống theo tính xác thịt, như thánh Phaolô đã phiền trách: “Tôi không thể nói với anh em như với những con người sống theo Thần Khí, nhưng như với những con người sống theo tính xác thịt, như với những trẻ nhỏ trong Đức Kitô. Tôi đã cho anh em uống sữa chứ không cho dùng thức ăn, vì anh em chưa chịu nổi. Nhưng bây giờ anh em cũng vẫn còn không chịu nổi, vì anh em còn là những con người sống theo tính xác thịt” (1Cr 3,1-3).

Cầu nguyện

Lạy Cha, Đức Giêsu sinh ra thật nhục nhã và sống một cuộc đời đầy đau khổ, nhưng đã sống lại trong vinh quang và trở thành Chúa Tể trời đất. Qua sự việc ấy con mới hiểu được giá trị của đau khổ. Đúng lý ra khi gặp đau khổ, nhục nhã, trái ý… con phải vui mừng vì biết khi cho phép xảy ra như vậy là Cha thương con cùng một cách như Cha đã từng thương Đức Giêsu và bao vị thánh của Cha. Đúng ra con nên nói “con được đau khổ” chứ không phải “con bị đau khổ”!

JKN

ÁNH SÁNG ĐẾN THẾ GIAN

AM Trần Bình An

Trong ánh sáng tưng bừng mừng mùa Giáng Sinh, trong những làn điệu thánh ca rộn rã hân hoan, trong những hang đá huy hoàng, nhấp nháy ánh điện, các thiên thần, các mục đồng, cùng bày đàn bò lừa vây quanh Đức Mẹ và Thánh Giuse, cùng Chúa Hài Đồng nằm gọn trên máng cỏ. Tất cả những điều đó đang nhắc nhở chúng ta rằng Ngôi Lời đã và đang đến trần gian.

Ngôi Lời là ánh sáng thật.

Những ánh đèn màu trang trí, những ánh đèn pha chiếu sáng ngôi thánh đường, chỉ tượng trưng phần nào cho nguồn sáng thật, xua tan bóng đêm âm u ma quái.

Chúa Giêsu mới đích thị là nguồn sáng chói chan thật sự, không giả tạo phù du như những bóng đèn điện màu mè, mỏng manh. Nguồn sáng cực mạnh giải thoát con người khỏi bóng đêm hãi hùng, nguồn sáng Cứu Độ thế giới thoát khỏi ách thống trị của Satan với những cạm bẫy và cám dỗ u ám, đen tối.

Ngài ở giữa thế gian

Hơn nữa, nguồn sáng đem lại niềm vui, hạnh phúc và hy vọng cho nhân trần. Không có lời nào khả dĩ diễn tả và ca tụng nổi Tình Yêu Thiên Chúa ban cho con người, khi cho đích thân Con Ngài là Đức Chúa Giêsu xuống trần, ở giữa chúng ta. Gần gũi đến thế, mà chúng ta nào nhận biết Ngài.

Ngài đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta

Nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Có lẽ vì trông Ngài xoàng xĩnh, tầm thường quá, chẳng giàu sang quyền quý, nên đâu ai quan tâm nhận ra chăng? Ngài nghèo đói, rách rưới quá, chẳng ai thèm nhận ra chăng? Ngài vô gia cư, thất nghiệp, bệnh hoạn, hay bị tù đầy, giam cầm, nên cũng chẳng ai chịu ghé đến thăm chăng?

Ngài là nguồn ơn sung mãn.

Nhưng nếu biết đón nhận Ngài, là lãnh nhận được hết ơn này đến ơn khác từ nguồn sung mãn của Ngài. Bởi vì Ngài là sự sống, tràn đày ân sủng, sự thật, ánh sáng, và là nguồn Ơn Cứu Độ.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng xin ban cho chúng con tỉnh thức và nhạy bén như các mục đồng đơn sơ, nhân hậu, để  mau mắn đến thờ lạy Chúa. Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con khiêm nhượng, luôn tin cậy vào Quyền Năng Chúa, để xứng đáng tiếp đón Chúa ngụ vào tận cõi lòng chúng con. Amen.

 

AM Trần Bình An

 


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...