20/11/2022
202

LỄ CHÚA KITÔ VUA_C

Lời Chúa: 2Sm 5, 1-3; Cl. 1, 12-20; Lc. 23, 35-43

---------------------------------------------------

 


Mục lục

  1. Ở Thiên Đàng Với Ta(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Vua Giêsu (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  3. Vương quốc vĩnh cửu  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  4. Xin Vua Tình Yêu nhớ đến tôi  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
  5. Vua không như mong đợi (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  6. Vua các Vua  (Lm. Giuse Trần việt Hùng)
  7. Chọn vua nào?  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)
  8. Tình yêu có sức biến đổi (Sr. Anna Nguyễn Như Ý, MTG.Thủ Đức)
  9. Lễ Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ  (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  10. Vị Vua cuộc đời  (Anna Cỏ May, MTG.Thủ Đức)
  11. Giêsu Vua Tình Yêu (Maria Kiều, MTG.Thủ Đức)
  12. Giêsu, Vua Tình Yêu (Maria Vũ Linh, MTG.Thủ Đức)
  13. Chúa Giêsu, Vua yêu thương (Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)
  14. Đức Giêsu Vua, Người tôi tớ Thiên Chúa (Lm. Giuse Nguyễn An Khang)
  15. Đấng Kitô của Thiên Chúa (Lm. Louis G. Đặng Quang Tiến)
  16. Chúa Kitô, vua nhân từ (Lm. Minh Vận, CRM)
  17. Người trộm lành  (Lm. Thu Băng, CRM)
  18.  Đức Giêsu Kitô, Vua vũ trụ (Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện)
  19. Vua tình yêu  (Lm. Giuse Đỗ Vân Lực)
  20. Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ (Lm. Trần Đình Nhi)

Ở THIÊN ĐÀNG VỚI TA

Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc

Ngụ ngôn 2 con gà trống, ít nhiều gì cũng đọng lại trong chúng ta một chút suy tư về sự đời. Hai chú gà con được gà mẹ chăm sóc chu đáo, rồi khi lớn lên, chúng trở thành hai con gà trống rất to đẹp. Chúng hay cãi nhau, con nào cũng tự cho là mình đẹp, oai phong, có quyền làm vua của nông trại. Một hôm, chúng cãi nhau, gà mẹ can ngăn không được, chúng quyết chiến với nhau, chúng tuyên bố, nếu ai thắng sẽ làm chủ, làm vua của nông trại này. Cuối cùng thì cuộc chiến cũng có thắng kẻ thua. Con gà thắng trận liền bay lên đống rơm cất tiếng gáy vang trời, nào ngờ tiếng gáy của chú gà, đã khiến con đại bàng từ xa tìm đến vồ luôn chú gà thắng trận mang đi. Trong khi đó chú gà bại trận đang năm thoi thóp nửa sống nửa chết ! Bài học mà tiền nhân chúng ta nhắc nhớ: nơi đâu có tranh chấp, sự chết liền xuất hiện; nơi đâu có tình yêu, đó mới thực sự là tổ quốc, là quê hương.

Yêu và ghét, vui buồn, khổ đau, hạnh phúc, thành công hay thất bại, từ xa xưa vẫn là cơ hội dẫn người ta tới một chân lý ở phía trước. Tình yêu đâu phải vì tiền, tình yêu đâu phải ngẫu nhiên mà thành, tình yêu đâu phải tranh giành, tình yêu là phải chân thành thuỷ chung. Ở đời có hai thứ không thể giấu được ai, đó là đang say và đang yêu. Có hai thứ cần, là được yêu và được tự do. Cổ nhân cũng nói: ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên. Ý tưởng và suy tư mỗi người mỗi khác, điều đó vừa làm phong phú sứ mạng, vừa nói lên sự giới hạn của mình, bạn có thể khuyên bảo nhau, nhưng không thể bắt ai làm việc thiện. Các môn đệ tin Đức Giêsu, rất mong được thấy Chúa thực hiện quyền phép để thắng kẻ thù, số đông khác còn mong muốn Đức Giêsu làm vua để khôi phục đất nước, …

Vâng, trở nên môn đệ, làm thần dân của Thầy Giêsu, xem ra có vẻ mơ hồ, bởi hiện tại là đau khổ thập giá, vị Thầy vĩ đại lúc này đang quằn quại như số phận của tử tội mà thôi ! Đức Giêsu chịu treo trên thập giá không phải say rượu, có chăng là say tình, say tới độ mê muội, dù người ta chế giễu, nhục mạ, Ngài vẫn im lặng, khó hiểu … Tiếng la hét, nhạo cười, quá khủng khiếp, đáng sợ: “nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”. Cả đời hai tên trộm làm điều phi pháp cũng lên tiếng: “nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa” ! Được yêu, được tự do là quyết định hết sức ý nghĩa của anh trộm lành: ông này là Vua dân do-thái, tin ông Giêsu là Vua, cảm nhận được ánh mắt nhân từ của Vua Giêsu, và anh ta đã biết phải làm gì để là thần dân của Giêsu …

Hôm nay đây, “anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta”, anh sẽ cảm nhận đau khổ trần gian và hạnh phúc nước trời thật đặc biệt. Hôm nay đây, anh sẽ rõ ràng hơn vua chúa trần gian, không thể so sánh với Vua Giêsu, còn gọi là Vua Tình Yêu, thật đáng tự hào khi được gọi là con Vua Trời. Qua anh trộm lành, có phải Vua Giêsu còn muốn nói cho thiên hạ: nghịch cảnh không phải là để ngăn cản, nhưng là để vượt qua. Một thật bại, có thể trở thành cơ hội vàng, khi ta nắm bắt và xoay chuyển chúng ? Ở trên thiên đàng với Ta, muốn làm thần dân của Ta, các thủ lãnh và đám đông dân chúng hôm đó, đều có thể. Thực ra, tin và yêu không phải là rung động, không phải là ái mộ, càng không phải là động chân động tay, mà phải là hiểu. Hai anh trộm bên tả bên hữu Đức Giêsu đều là kẻ xấu, là tội đồ, nhưng đối diện với giờ sau hết, một anh đã tận dụng được cơ hội để tin, để yêu, và rồi để hiểu, anh ta đã thống hối ăn năn thật sự.

Ở trên thiên đàng với Ta, ở trong vương quốc của Ta, lời vị Vua tình yêu đang chịu treo trên thập giá, sẽ mãi mãi là “mầu nhiệm” đối với những ai cứng lòng, thiếu niềm tin yêu. Người giỏi chiến đấu, không bao giờ trách móc tướng sĩ, mà sẽ tập trung vào thế cuộc. (Tôn Tử). Vua Giêsu, Vua tình yêu, ở đâu, hoàn cảnh nào, thời đại nào, Ngài vẫn là Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa cứu độ. “Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu ?”. Qua anh trộm lành, Vua Giêsu rất muốn chuyển tải nhiều thông điệp đến người cùng thời và hậu thế: ai cũng có cơ hội để tuyên xưng niềm tin yêu. Ai cũng phải biết mình, hiểu mình: sống đừng giả bộ, yêu đừng lệ thuộc, nghe đừng bào chữa, nói đừng xúc phạm. Cơ hội sẽ tan biến, đáng sợ nhất là vào một ngày bạn tỉnh táo, bạn nhận ra mình không có ai bên cạnh, không có gì để chờ đợi, để hy vọng !

Ở trên thiên đàng với Ta, không chỉ là lời khích lệ, là phần thưởng cho anh trộm lành, nhưng còn là lời tuyên dương niềm tin yêu, mà Vua Giêsu đã nói với nhân thế: “Ta bảo thật ngươi”, … ngay hôm nay và lúc này, ngươi thực sự là thần dân của Ta. Dù không đo được cảm giác của anh trộm lành, không phân tích được tốc độ của niềm tin mà anh ta đạt được, không hiểu hết hết tài trí mà anh ta đã vận dụng, để rồi anh có được Nước Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta đang là thần dân của Vua Giêsu, nhưng đó mới là một nửa niềm vui, một nửa niềm tin yêu một cách tự do như anh trộm lành. Cái chân lý mà tới “phút 99” người trộm lành đã phát hiện, đã gặp và đã có, đó là TIN, là tuyên xưng NIỀM TIN: Đức Giêsu chính là VUA TÌNH YÊU, là Thiên Chúa cứu độ. Mỗi chúng ta hôm nay, ai cũng có cơ hội để cảm nhận: ở trên thiên đàng với Ta. Amen.

Về mục lục

.

VUA GIÊSU

Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức

Có người nào cho đến những giây phút cuối đời lại phải hứng chịu những cười nhạo, chế giễu, nhục mạ như vua Giêsu? Từ trên thánh giá, vua Giêsu hoàn toàn thinh lặng trước những lời nói xúc phạm của những kẻ đang nhục mạ, cười nhạo và đang thách thức mình. Người chỉ lên tiếng đáp lại lời cầu xin tha thiết của một người tử tù- người duy nhất đã dám lên tiếng bênh vực Người. “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng” (Lc 23, 43). Người hứa ban cho anh phần thưởng tuyệt vời dành cho những ai biết thương xót thì sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Vua Giêsu đã dành cả cuộc đời của mình để sống và rao giảng về vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót, một Thiên Chúa là tình yêu. Con đường cứu độ của Người được thực hiện bằng việc hiến dâng cho Thiên Chúa Cha tình yêu tự hiến. Thiết nghĩ, vương quyền của vua Giêsu chính là tình yêu. Người cai trị vũ trụ này với tình yêu khôn dò khôn thấu, Người đã sống cho tình yêu và là chính tình yêu. Những ai muốn trở thành công dân của vương quốc Giêsu thì nhất thiết phải đạt tiêu chuẩn này: biết sống yêu thương. Trước mặt tổng trấn Philatô, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Nước tôi không thuộc thế gian này”. Vậy thì Nước của Chúa ở đâu? Lời hứa của Chúa Giêsu dành cho người gian phi đã lên tiếng bênh vực Người cho ta câu trả lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng”. Thiên Đàng là nơi không còn đau khổ, chỉ còn vui sống hạnh phúc khi được ở với Đức Kitô.

Nếu trên trần gian này ta biết sống yêu thương thì chắc chắn ta sẽ được Chúa Giêsu đón vào Nước của Người. Chính Người đã hứa ban phần thưởng cho những ai yêu mến Người. Dân chúng thì “khoanh tay đứng nhìn”, các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo người tử tù Giêsu, cách lính tráng chế giễu Người, một trong hai người tử tù đã nhục mạ Người. Những hành vi này đều cảnh tỉnh ta về thái độ và cách ta hành xử với những người khác. Đứng trước một người bị kết tội, ta có tỏ lòng thương xót họ hay ta cũng tự cho mình có quyền giết chết người khác bằng lời nói. Vũ khí giết chết thân xác nhưng lời nói đầy bạo lực và thái độ khinh chê của ta sẽ giết chết tinh thần của người khác. Ta có nhận ra khuôn mặt của Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh nơi khuôn mặt đầy thương tích của họ không? Rất dễ để buông một lời than trách, nguyền rủa người khác nhưng lại rất khó để trao ban một lời nói tử tế, tôn trọng người khác, nhất là dành sự quan tâm và yêu thương cho những người bị xem là tội lỗi cách công khai. Hành động đầy can đảm của người tử tội đã bênh vực Chúa Giêsu thôi thúc ta cũng hãy biết kính sợ Thiên Chúa, chê ghét tội lỗi nhưng yêu thương những tội nhân; đừng chỉ nhìn về quá khứ của họ nhưng hãy sống trong giây phút hiện tại, giúp họ mở ra cánh cửa tương lai tốt đẹp hơn. Có lẽ, không có điều gì dễ hơn việc kết án một người bằng một trái tim vô cảm. Chỉ có tình yêu mới sáng tạo và đem lại sự sống mới.

Là công dân của Nước Chúa, ta hãy noi gương vua Giêsu, sống yêu thương mọi người anh chị em chung quanh, học cách tha thứ và quảng đại, trước là đối với mình, sau là với người khác. Khi yêu thương bản thân đúng cách, người ta sẽ biết cách để yêu thương người khác. Khi ta biết yêu thương như Chúa, ta sẽ trở nên giống Chúa, và ta cũng sẽ có được một nguồn năng lực nơi mình phát ra chữa lành hết mọi người- năng lực ấy không phải do chính bản thân ta nhưng là chính Chúa. Một người yêu mến Chúa thực sự thì cũng yêu thương anh chị em mình. Như lời thánh Gioan đã khẳng định: “Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,21).

Về mục lục

.

VƯƠNG QUỐC VĨNH CỬU

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Vua là người đứng đầu một vương quốc, là người có quyền lực trong mọi lãnh vực và được người ta tôn sùng. Tuy vậy, lịch sử cũng chứng kiến có những vị vua bị lật đổ vì nhiều lý do. Có thể do chính bản thân vị vua thiếu tài thiếu đức, nhưng cũng có thể do thay đổi chế độ, những người “chiến thắng” muốn phế bỏ một hệ thống chính trị mà họ coi như lỗi thời.

Hôm nay, Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Giáo Hội suy tôn Chúa Giêsu với tước hiệu “Vua vũ trụ”. Người là Vua không giống như một vị tổng thống do cử tri bỏ phiếu bầu ra, cũng không giống một vị vua được phong vương sau khi đã chiễm lĩnh một vùng lãnh thổ. Chính Thiên Chúa Cha đã ban cho Người “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (Mt 28, 18). Khi nghe nói đến Đức Giêsu với tước hiệu “Vua vũ trụ”, nhiều người trong chúng ta cũng liên tưởng ngay đến những vị vua mặc hoàng bào, ngồi trên ngai, có triều thần hầu cận với biết bao cung nữ cung phụng. Trong khi đó, Phụng vụ lại giới thiệu cho chúng ta một vị vua hoàn toàn khác: bị đánh bầm dập đến nỗi người thân không nhận ra, trần trụi không một mảnh vải che thân và bị hành hình treo trên thập giá. Thập giá là một hình khổ làm cho người bị xử vừa đau đớn vừa nhục nhã. Vị vua Giêsu không có lễ phong vương huy hoàng. Vị vua ấy đã tự nguyện hy sinh, bị hạ xuống tận cùng cùng nhuốc nhơ đau khổ.  Chính trong hoàn cảnh này, Người được tôn làm người đứng đầu một vương quốc, mà người tôn vinh ấy là một người trộm cũng bị kết án tử hình và bị thi hành án cùng với Người: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Qua lời cầu xin này, người kẻ trộm nhận ra vương quyền và vương quốc của Chúa. Xuyên qua một con người bị hành hình, anh ta nhận ra Người là Vua, là chủ một vương quốc và có quyền năng đón nhận những công dân mới vào vương quốc đó. Trong khi các thủ lãnh và một số người Do Thái muốn phế bỏ Đức Giêsu, vì họ coi Người như một tên phản loạn nhìn theo khía cạnh tôn giáo cũng như xã hội, thì một người trộm cùng hoàn cảnh với Người lại nhận ra Người là Vua. Cũng thế, trải dài suốt bề dày của lịch sử, có những người khôn ngoan uyên bác phủ nhận giáo huấn và vương quyền của Chúa Giêsu, thì có tầng tầng lớp lớp những người bé mọn và khiêm nhường lại tôn nhận Người là Vua và là lý tưởng của cuộc đời, và nhờ đó họ tìm thấy sự bình an hạnh phúc. Hãy nhìn hai người trộm cùng bị hành hình với Chúa Giêsu: một người tôn nhận vương quyền của Chúa; người kia lại phủ nhận quyền năng của Người. Nói như thế không có nghĩa là trong số những người tôn nhận Vương quyền của Đức Giêsu chỉ những người bình dân thất học. Không phải vậy, có rất nhiều nhà khoa học, những học giả trong nhiều lãnh vực khác nhau đã “nhìn thấy Thiên Chúa” qua những công trình nghiên cứu, và họ đã trở nên những tín hữu đạo đức, thánh thiện.

Vị Vua Giêsu hạ mình sâu thẳm đến mức “hủy mình ra không” để cứu vớt những con người đắm chìm trong tội lỗi. Người chuốc lấy đau khổ của nhân loại để nhân loại được hạnh phúc. Người mang lấy tội lỗi nhân gian để nhân gian được tha thứ. Đó chính là nét đặc thù làm cho vị Vua Giêsu hoàn toàn khác với các vua chúa trần gian. “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tuyên bố điều ấy. Qua lời tuyên bố này, Chúa Giêsu khẳng định Người là Thiên Chúa cao cả và quyền năng. Mặc dù có bị đánh bầm dập, trần trụi, đau khổ, Người vẫn là Thiên Chúa và vẫn có quyền chấp nhận một người, dù nhiều tội lỗi, trở thành công dân của vương quốc vĩnh cửu.

Thiên Chúa là Đấng vô hình. Con người không thể thấy Ngài. Tuy vậy, qua Đức Giêsu, con người có thể nhận ra khuôn mặt bao dung và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh Phaolô khẳng định với chúng ta: “Thánh Tử (Đức Giêsu) là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình”. Qua Đức Giêsu, con người có thể “chạm tới” tình thương Thiên Chúa và nhận ra Ngài đang hiện diện.

Bài đọc I giới thiệu cho chúng ta vua Đavít, là một gương mặt điển hình trong hàng ngũ các vua của lịch sử Do Thái. Đavít cũng là hình ảnh của vị Vua Giêsu trong tương lai. Nếu Đavít đã đi vào lịch sử Do Thái bằng những chiến công hiển hách tiêu diệt quân thù, và một đời sống đạo đức cầu nguyện gương mẫu, thì vị Vua Giêsu lại hy sinh mạng sống để cứu chuộc con người, phục hồi phẩm giá của họ và mặc cho họ sự thánh thiện cao sang. Chúa Giêsu không phải là một vị vua của quá khứ, cũng không phải là vị vua tương lai, mà là vị vua của hiện tại đang cai trị hoàn vũ này và cai trị các tâm hồn bằng tình yêu thương. Người mời gọi chúng ta hãy đón nhận vương quyền của Người để tâm hồn được thanh thản, và để gánh nặng cuộc đời trở nên nhẹ nhàng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). “Mang lấy ách” là một kiểu nói diễn tả sự đón nhận, tâm tình yêu mến và thiện chí noi gương bắt chước một bậc thầy.

Tạ ơn Chúa cho chúng ta trở nên công dân của Vương quốc vĩnh cửu, qua Bí tích Thanh tẩy. Xin cho chúng ta biết trân trọng danh hiệu cao quý ấy, đồng thời cố gắng rập khuôn đời mình theo gương Vua Giêsu, để cùng chung hưởng vinh quang với Người, như lời Người đã hứa với người trộm lành năm xưa.

Về mục lục

.

XIN VUA TÌNH YÊU NHỚ ĐẾN TÔI

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Ở thời nào con người cũng đề cao tình yêu, nhưng tìm được một tình yêu tinh ròng không lợi dụng, không ích kỷ mà chỉ biết yêu và hy sinh cho người mình yêu là điều rất khó. Đây chính là tình yêu cao thượng. Không giống như tình yêu lãng mạn, tình yêu cao thượng có nghĩa là cho người yêu của mình những gì mà người yêu cần mà không kỳ vọng nhận được bất cứ một điều gì đáp lại. Tình yêu cao thượng cũng hiện hữu trong các mối quan hệ khác của con người, không phải chỉ có trong tình yêu đôi lứa.

Nhưng liệu trong đời này còn có tình yêu dám chấp nhận thiệt thòi và sẵn sàng tha thứ? Hi sinh vì người khác mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì? Dường như trong cuộc sống ngày nay, rất khó để chúng ta tìm thấy một người sống dám sống mình vì mọi người. Hình như cách sống cao thượng quá khó với con người ngày nay?

Cách đây hơn 2000 năm người tử tội bên hữu Chúa đã nhận ra một tình yêu tinh ròng ấy. Chúng ta hãy hình dung khung cảnh đồi sọ vào giờ tử nạn của Chúa Giêsu quả thực u ám. Đám đông dân chúng từng được Chúa ban ân huệ ăn bánh của Người, thế mà hôm nay, đang hùa theo các thủ lãnh và quân lính cười nhạo và chế giễu Chúa: “Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn.” Bên cạnh thập giá Chúa cũng có hai người trộm cướp bị đóng đinh. Một trong hai kẻ tử tội sỉ nhục Chúa rằng: “Nếu ông là Đấng Kitô hãy tự cứu Ông và cứu chúng tôi nữa.”

Nhưng chính vào giây phút tăm tối ấy, một ánh sáng vừa lóe lên. Một người tử tội bên phải thưa với Chúa: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Chúa Giêsu đáp: “Ta bảo thật ngươi, ngày hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên đàng với ta.”

Qua đây, Chúa Giêsu đã mạc khải cho người trộm lành, cho toàn thể dân chúng, quân lính, các thủ lãnh và toàn dân Isarel đang đứng dưới thập giá: Người là vua nhân hiền, đầy tình thương xót và tha thứ. Nước Người là Nước Trời, Nước Thiên Chúa. Thần dân của Ngài là tất cả những tâm hồn thành tâm thiện chí, biết mở rộng lòng đón nhận Tin Mừng Cứu Độ. Cờ hiệu của Ngài là thập giá đưa đến vinh quang. Hiến pháp của nước Thiên Chúa là giới luật yêu thương: yêu Thiên Chúa hết linh hồn, hết sức, hết trí khôn và yêu thương và anh em đồng loại như chính mình.

Tai sao giữa lúc tối tăm đó, người trộm lành lại can đảm thốt lên điều đó? Giữa lúc mà mọi người đã bỏ Chúa, giữa lúc mà mọi người đang nhục mạ Chúa, mà người trộm lành lên tôn vinh Chúa? Vâng, anh đã tôn vinh Chúa không phải vì Chúa đã thành công theo lối nhìn ở đời mà quan yếu là anh đã cảm nghiệm được tình yêu mà Chúa Giêsu đã dành cho nhân thế.

Ngay trên khổ giá của mình, anh thấy trong bao lời trách mắng về Ngài với những câu như : “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá”. Nhưng những gì anh thấy được lại là “Đức Giêsu ngước mắt lên trời”, và những gì anh nghe được lại là “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.”

Chính việc “thấy” và “nghe” kia đã hình thành trong anh một cảm xúc kính phục chân thành. Anh thương người chịu đóng đinh bên cạnh. Anh thấy mình bị khổ nhục là đích đáng. Nhưng con người kia đâu có hận thù, tham lam, độc ác gì. Trái lại, dù trong cảnh thê lương sầu thảm, dù khổ đau đang giằng xé từng hơi thở, dù mặt mũi hình hài tan nát mất hết hình tượng, nơi con người Giêsu đó vẫn toát lên tình thương và lòng khoan dung tha thứ. Thế rồi anh can đảm lên tiếng bênh vực cho Ngài: “Ông này đâu có làm gì sai trái.” (Lc 33:41). Và xa hơn, anh còn khám phá ra vương quyền của Ngài khi thành khẩn nài xin: “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài.” (Lc 23:42).

Vâng, chính Tình thương đã giúp anh khám phá Vua Giêsu. Một vị vua không đăng quang trên ngai vàng mà trên cây thập giá. Một biểu tượng cho tình yêu tự hiến chết cho người mình yêu. Một biểu tượng cho tình yêu bao dung dành tình yêu cho cả kẻ làm hại mình.

Suy tôn Chúa Giêsu là Vua Yêu thương, nài xin Ngài “nhớ” đến mình trên mọi hành trình dương thế. Hành trình nào cũng có khó khăn, đôi khi cả vấp ngã, nhưng hãy tin tưởng và cầu xin Vua tình yêu nhớ đến chúng ta ngay bây giờ và trong vương quốc của Ngài.

Xin Vua Tình yêu thống lĩnh gia đình và từng người chúng con trong vương quốc của Ngài để nhờ đó chúng con luôn được che chở bình an trong sự quan phòng đầy tình yêu của Chúa. Amen

Về mục lục

.

VUA KHÔNG NHƯ MONG ĐỢI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Rất nhiều những khát mong Chúa làm vua, xin Người giải quyết mọi khó khăn, bức xúc, bất công, độc tài và nhiều chuyện khác liên quan đến an sinh, trật tự thế giới. Mong ước về một vị vua đầy toàn năng, toàn trị thế giới này, vẫn là câu trả lời của Chúa im lặng trên thập giá. Vị Vua không như các vị vua trần gian khác.

Thất vọng nếu chỉ dừng ở thập giá.

Khát mong chỉ dừng lại ở thập giá, con người sẽ thất vọng về những mong chờ của mình về một Thiên Chúa toàn năng. Người ta sẽ chẳng bao giờ giải thích được Một Thiên Chúa toàn năng sao lại là con người tử tội? Một Thiên Chúa toàn trị trên địa cầu mà lại chịu chết dưới tay quan quyền thế gian?.

Chúa Giê su là Đấng Messia, đầy quyền năng, đầy tràn sức mạnh, có thể thống trị toàn cõi địa cầu, giải thoát các dân tộc bị toàn trị, bất công, đói kém triền miên, xung đột lợi ích. Đem lại sự thịnh vượng, giải quyết cho những vấn đề khó khăn kinh tế. Một vị vua thay thế các vua quan trên trần gian.

Thật thất vọng cho mọi khát vọng của những người xem Chúa như vị vua trần gian, can thiệp vào chính trị, trả lại nền độc lập tự trị cho Israel. Hoặc như cách nghĩ về vương quyền, như xưa Mẹ con Zêbêdê, xin cho con ngồi bên tả bên hữu (Mt 20, 20 -28). Một số bỏ ra đi khi nghe (Ga, 6, 66) về diễn từ “Bánh Hằng Sống”. Không như kỳ vọng của mọi người, ngay ở toà án Philatô, khi quyết định tha Baraba hay Chúa Giêsu, Người đã bị liệt vào hàng trộm cướp, họ đã xin tha Baraba (Mt 27, 20) và đòi đóng đinh Chúa.

Không như những mong ước của nhiều người, Chúa xuống khỏi thập giá để họ có thể tin, họ đã bỏ ra đi. Có vẻ như họ đã thất vọng về một người uy quyền, toàn năng mà chẳng thể hiện gì trên thập giá, cứ im lặng mà chịu chết. Thật thất vọng!

Mầu nhiệm thập giá thật không hiểu, nếu chỉ dừng lại ở cái chết theo cách nghĩ con người.

Vua các vua

Trở lại vinh tụng ca của Thánh Phaolô nói về việc Thiên Chúa Cha siêu tôn Chúa Con, nhờ sự vâng phục của Người (Pl 2, 6 – 11). Nếu muốn hiểu biết về ý nghĩa của thập giá cần có lòng khiêm hạ lắng nghe cách Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu.

Là Vua, Chúa Giêsu tự hiến tế chính mình để thánh hiến mọi người (Ga 17, 19).

Là Vua, Chúa Giêsu trở nên người phục vụ sự sống cho con người: “Vì chưng Con Người không đến để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ, và thí mạng sống mình làm giá chuộc thay cho nhiều người” (Mc 10, 45).

Là Vua không ngai: “Chồn có hang, chim trời có tổ, chứ Con người không có chỗ ngả đầu” (Lc 9, 58).

Là Vua mang lại sự sống đời đời nhờ sự Phục sinh của Người. Muốn hiểu về vương quyền của Chúa, cần đón nhận mầu nhiệm Phục Sinh, nghĩa là từ bỏ tội lỗi, sống đời sống mới trong Chúa.

Sau cùng, Chúa là Vua Tình yêu tuyệt đối, yêu thương con người không điều kiện, chỉ vì tình yêu. Dù con người đáp lại, không thể yêu mến Chúa trên hết mọi sự, cũng hãy yêu mến Chúa với tất cả sự yếu kém của mình. Một tình yêu thiếu sót dâng trao tình yêu vô biên, xin được biến đổi trong Người.

Chúa là vua, xin Người làm chủ cõi lòng chúng con, cho chúng con hằng khao khát Người trong mọi hoàn cảnh.

Về mục lục

.

VUA CÁC VUA

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Treo thân thánh giá đớn đau,
Nhiều người cười nhạo, hãy mau thoát rời.
Họ còn thách thức nhiều lời,
Ác tâm phản bội, tạo khơi mối thù.
Hùa theo thủ lãnh đui mù,
Giấm chua thay nước, dập trù tấm thân.
Mạo danh chế diễu ngu đần,
Tuyên xưng danh thánh, thế trần gian manh.
Trả thù bản án đóng đanh,
Tâu vua Do-thái, chính danh của Người.
Xếp hàng trộm cướp nhạo cười,
Đóng đinh xỉ nhục, đồng thời khinh khi.
Tỏ lòng thương xót từ bi,
Một anh kẻ trộm, thực thi giao hòa.
Cả đời làm ác phai nhòa,
Nài xin sám hối, trước tòa thứ tha.
Thiên đàng rộng mở bao la,
Chúa tha tất cả, ác tà xóa tan.
Hôm nay hưởng phúc thiên nhan,
Vua trời chiến thắng, vẻ vang muôn đời.

Các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa Giêsu rằng: Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi. Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá trần trụi mà chúng lại tuyện xưng là Vua. Bảng viết treo trên cây thánh giá: Người này là Vua dân Do Thái, được nhà cầm quyền Rôma ấn định và không thể thay đổi. Tước hiệu quân vương của Chúa Kitô được chính quyền Rôma thừa nhận cách hy hữu trong bản án. Trong khi đó, dưới chân thập giá, đám đông tò mò nhìn xem quân lính nhạo cười Chúa.

Người ta gọi Ngài là Vua dân Do Thái, nhưng chỉ để nhạo báng Ngài. Lúc bị xét xử và kết án như một tên tử tội, bọn lính đặt Chúa ngồi trên ghế và khoác cho Chúa áo choàng đỏ, đội lên đầu một mão gai như Vương miện và bắt cầm cây gậy như cây Phủ việt, rồi qùy gối chế nhạo: Tâu Vua dân Do Thái. Họ đâu có biết họ đang bái lạy Vua cả trời đất, Vua các Vua. Chúa Giêsu là vị Vua có ngai vàng là chính cây Thập giá và lễ phong vương với bảng viết danh hiệu INRI. Chúa Giêsu là vua, nhưng vương quốc của Ngài không thuộc trần gian. Vương quốc của Chúa là vương quốc tình thương và hy vọng.

Chúa kết thúc cuộc sống trần gian trên thánh giá. Các đối thủ nhục mạ và đóng đinh Chúa giữa hai tên trộm và nói rằng hắn xưng mình là Vua, nhưng chỉ là vua bịp đáng chết như tên gian phi. Họ hoàn toàn không biết Chúa Giêsu là ai. Họ đã xúc phạm đến Chúa cách tồi tệ. Chúa im lặng cam chịu mọi khổ nhục để hoàn tất hy tế dâng Chúa Cha để đền tội cho nhân loại.

Chính trên thập giá, vương quyền Chúa đã thắng tâm hồn con người. Một trong hai tên trộm đã thưa rằng: Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhờ đến tôi. Anh trộm đã cảm thông với Chúa. Anh đã nhận ra quyền năng và tin vào ơn cứu độ. Chúa Giêsu đã chấp nhận anh như người đầu tiên bước vào Nước của Chúa: Ta bảo thật ngươi, ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta. Anh đã được giải thoát. Anh đã đi đường tắt vào cửa thiên đàng.

Vua Giêsu là Vua vũ trụ và là Vua của tâm hồn. Chúa yêu thương mọi người như người mục tử nhân lành sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Chúa đã yêu thương và tha thứ tất cả những người đã xúc phạm đến Chúa. Trên thánh giá, Chúa đã xin Chúa Cha tha tội cho họ vì họ lầm chẳng biết. Chúng ta nài xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi cho chúng ta, vì chúng ta cố tình phạm tội làm mất lòng Chúa. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Về mục lục

.

CHỌN VUA NÀO?

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Ngày hôm ấy, toàn thể nhân loại được tập họp lại trước ngai tòa của hai vị vua đầy quyền thế: Một bên là vua Tiền, còn được gọi là thần Tài, đang chễm chệ trên ngai cao nạm ngọc dát vàng hết sức lộng lẫy; còn bên kia là vua Giê-su, cũng được gọi là vua Tình Yêu, đang bị treo thân trên thập giá, trên đầu Ngài có tấm biển ghi rõ danh hiệu của Ngài, đó là dòng chữ INRI, nghĩa là Giê-su Nadaret Vua Israel.

Mọi ánh mắt ngưỡng mộ đều đổ dồn về vua Tiền, tức thần Tài đang uy nghi trên ngai vàng lộng lẫy mà ít ai hướng nhìn về vua Giê-su đang bị treo trên thập giá.

Thế rồi, thời khắc chọn lựa bắt đầu. Mọi người chuẩn bị. Vua Giê-su lên tiếng mời gọi trước:

“Ta là vua Tình Yêu. Ai theo Ta thì hãy yêu thương người khác như chính mình và hãy hy sinh phục vụ mọi người như Ta đã nêu gương. Người đó sẽ được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.”

Tất cả chìm vào trong yên lặng nặng nề, không ai nhúc nhích. Sau chừng 10 phút chờ đợi, có một ít người rời khỏi đám đông tiến về thập giá để theo vua Giê-su.

Đến lượt vua Tiền, ông ta huênh hoang mời gọi, dõng dạc và đầy tự tin:

“Ta là vua Tiền, là thần Tài đây! Ai theo ta thì ngay ở đời này, sẽ được giàu sang phú quý và được vui hưởng lạc thú trần gian!”

Tiếng vua Tiền vừa dứt, cả đám đông xôn xao náo động, hối hả đua nhau chạy đến với ông ta.

Thế là trong cuộc tranh đua mời gọi thần dân về với mình, vua Tiền thắng lớn, còn vua Giê-su xem ra thất bại nặng nề.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn xem chính sách, đường lối của hai vị vua này ra sao.

Vua Tiền hô hào, thúc giục thần dân làm gì ?

Đây là bản tuyên ngôn của ông ta:

– Mọi người phải tôn vua Tiền lên ngôi cao, phải xem “tiền là tiên, là phật”, xem tiền là thần, là thánh, là thần tượng số một của đời mình.

– Mọi người phải cậy dựa vào sức mạnh vạn năng của vua Tiền.

Người có lắm tiền trong tay có thể mua đủ mọi thứ trên đời, thậm chí có thể mua chức mua quyền, mua lạc thú, có thể mua được cả hoa hậu, hoa khôi, người mẫu làm vợ, có thể bẻ cong cán cân công lý cách dễ dàng…

– Mọi người hãy để cho vua Tiền thống trị và sai khiến.

Vua Tiền xô đẩy người ta phạm đủ thứ tội ác: Vì tiền mà tham ô, vì tiền mà cướp của giết người, thậm chí giết luôn cả ông bà cha mẹ để chiếm đoạt tài sản… xô đẩy các nhà cầm quyền châm ngòi nổ chiến tranh để xâm chiếm tài nguyên, lãnh thổ của các nước khác…

Còn vua Giê-su kêu gọi thần dân làm gì ?

Vua Giê-su là vua Tình Yêu. Ngài chủ trương lấy tình yêu xóa bỏ hận thù. Ngài truyền cho thần dân hãy tuân giữ điều răn mới: “Thầy truyền cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13, 34).

Tuyên ngôn của vua Giê-su là yêu thương. “Người ta căn cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, đó là các con có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Mục tiêu của vua Giê-su là xây dựng thế giới này thành trời mới đất mới, nơi công lý, hòa bình và yêu thương ngự trị.

Chọn theo ai ?

Nếu hôm nay, vua Tiền và vua Giê-su tập trung chúng ta lại như đoàn dân trong câu chuyện trên đây và cất lời kêu gọi, chúng ta quyết định thế nào?

Mỗi người chúng ta hãy tự hỏi mình và trả lời cho thật: Tôi sẽ bước theo ai? Thật là khó khăn khi phải từ giã vua Tiền và những lôi cuốn hấp dẫn của ông ta để theo vua Giê-su.

Theo vua Tiền thì được hạnh phúc chóng qua đời này nhưng phải trầm luân đau khổ đời đời mai sau. Theo vua Giê-su thì được hạnh phúc hoan lạc vĩnh cửu đời sau nhưng phải chấp nhận thiệt thòi, mất mát ở đời này. Cần phải biết chọn lựa thế nào cho khôn ngoan sáng suốt.

Sự khôn ngoan cho ta biết rằng: Thế giới chỉ được hòa bình, nhân loại chỉ được hạnh phúc, ghen ghét hận thù chỉ bị đẩy lùi… khi mọi người biết tôn Chúa Giê-su làm vua của mình và lấy luật yêu thương của Ngài làm kim chỉ nam cho cuộc sống.

Lạy Chúa Giê-su,

Từ bỏ vua Tiền để theo Vua Giê-su là điều rất khó. Chỉ có những ai khôn ngoan, biết nhìn xa trông rộng, có nhiều bản lãnh và dồi dào ơn Chúa thì mới có thể lìa bỏ vua Tiền để theo Chúa mà thôi.

Xin ban ơn phù trợ để chúng con đủ sức theo Chúa, thờ Chúa và sống theo luật yêu thương Chúa truyền dạy, nhờ đó, chúng con sẽ được hưởng phúc muôn đời với Chúa. Amen.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU CÓ SỨC BIẾN ĐỔI

Sr. Anna Nguyễn Như Ý

Vua trần gian thì lấy quyền mà thống trị thiên hạ. Còn những ai muốn làm đầu phải làm đầy tớ mọi người. Đó là điều mà Đức Giêsu đã dạy các môn đệ qua chính cuộc sống của Ngài khi còn ở trần gian. Và hôm nay, như trong Tin mừng Luca trình thuật, Ngài là Vua vũ trụ nhưng đã chết cho toàn dân thiên hạ. Là Vua nhưng Ngài đã đem chính mạng sống của mình để đánh đổi cho cuộc sống của nhân loại. Ngài chết, nhưng cái chết của Ngài không phải của một tội nhân, nhưng chết cho những ai đáng lẽ ra phải chết. Chắc hẳn chỉ có mình Ngài đã dám làm điều đó. Ngài đang dạy chúng ta bài học về một tình yêu bất tận. Có ông vua nào trên trần gian đã từng làm điều Giêsu đã làm.

Nhìn vào hình ảnh của quân lính và dân chúng, họ có thể làm gì ngoài việc chế nhạo, đóng đinh Ngài vào thập giá. Điều đó cho chúng ta thấy sự bất lực, yếu hèn của kiếp người. Họ mong muốn Giêsu làm một phép lạ nào đó nhằm thỏa mãn sự tò mò nơi bản thân, nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra khi con người biết mở rộng lòng mình với Thiên Chúa. Chỉ nhưng ai nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng cứu độ với một lòng tin mạnh mẽ, thì sẽ thấy ơn cứu độ xảy ra ngay trong chính cuộc sống của mình. Và người trộm lành đã nhận được ân huệ ấy ngay từ giây phút anh nhận ra Giêsu là Đấng Cứu Độ. Với lòng ăn năn thống hối thật sự, anh đã được cùng với Thiên Chúa lãnh nhận nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu mà có lẽ anh đã khao khát bấy lâu nay. Và ngay khi nhận ra sự bất toàn yếu đuối của bản thân, anh đã được chính sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa lôi cuốn, và giúp anh nhận ra hạnh phúc vĩnh cửu chỉ có từ Thiên Chúa. Anh đã khiêm tốn thật sự để cho Chúa đi vào tâm hồn mình và chính nơi đó anh đã gặp gỡ được Thiên Chúa.

Còn đối với Đức Giêsu, Ngài dùng chính tình yêu thủy chung qua cái chết của mình để biến đổi tội nhân và cứu chuộc nhân loại. Đối với Ngài, tất cả chỉ vì tình yêu. Tình yêu tuyệt đối dành cho Cha đã giúp cho Ngài hi sinh đến giọt máu cuối cùng. Tình yêu vô điều kiện dành cho nhân loại đã làm cho Ngài không còn nhận ra hành động tội lỗi của con người, đến nỗi Ngài đã xin Cha tha thứ cho việc con người làm chỉ vì họ không biết. Đối với Ngài họ là nhưng người đáng thương hơn đáng trách. Tình yêu của Ngài đã che lấp muôn vàn tội lỗi của con người (x. 1Pr 4, 8). Tình yêu đó được biểu lộ cách tỏ tường khi Ngài nói với người trộm lành “Tôi bảo thật anh, hôm nay, ngươi sẽ được ở với Ta trên thiên đàng” (Lc 23, 43).

Còn đối với chúng ta, những Kitô hữu đang sống trong niềm tin và hi vọng vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, chúng ta đã và đang làm gì để đáp trả lại tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta? Vì tình yêu, vua Giêsu đã từ bỏ địa vị cao sang của mình để mang đến cho nhân loại một tình yêu vĩnh cửu trong Nước của Cha Ngài như Ngài đã hứa “Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở” (Ga 14, 2). Chúng ta có muốn từ bỏ những gì cuốn hút, quyến rũ nơi trần gian đã làm cho ta không còn nhìn nhận đâu là hạnh phúc bất diệt để vào trong vinh quang mà Giêsu đã hứa như Ngài đã nói với người trộm lành không? Chúng ta có dám để cho Chúa đi vào tận cõi lòng để ta được biến đổi và trở nên bạn nghĩa thiết của Ngài không?

Lạy Chúa, giữa một thế giới đang tìm kiếm những giá trị phù vân, xin cho chúng con luôn biết tìm kiếm những gì phù hợp với giá trị Tin mừng. Xin cho chúng con được biến đổi mỗi ngày nhờ ơn Chúa, để chúng con biết nhận ra đâu là hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa đã hứa ban cho những ai hi vọng vào tình yêu của Ngài, hầu mai sau chúng con cũng xứng đáng hưởng ơn cứu độ muôn đời. Amen.

Về mục lục

.

LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

Bông hồng nhỏ

Đồi Canvê, một buổi chiều u ám. Ba người tử tội bị treo trên cây thập giá, mỗi người một cuộc đời. Người tử tội bị đóng đinh ở giữa đã từng là người nổi danh một thời. Phía trên thập giá của Người có ghi bản án: “Đây Là Vua Dân Do Thái”. Người tên là Giêsu.

Đức Giêsu có phải là vua dân Dothái không? Tại sao Người lại chấp nhận chịu chung một hình phạt với hai tên gian phi, chết nhục nhã trên thập giá? Đứng dưới chân thập giá, dân chúng thì đứng nhìn. Họ đang nghĩ gì, lòng họ có quặn đau trước con người Giêsu, người đã từng chữa lành bệnh tật cho họ, Đấng mà mới hôm qua đây họ còn tung hô: “Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21, 9)? Các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn! (Lc 23, 35). Lính tráng chế giễu Người và một trong hai tên gian phi cũng nhục mạ Người. Người là ai?

Khi tổng trấn Philatô hỏi: “Ông có phải là vua dân Dothái không?” (Ga 18, 33), Chúa Giêsu đã trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Dothái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” (Ga 18, 36). Đức Giêsu quả thật là Vua nhưng Nước của Người không thuộc chốn này như lời Người quả quyết. Người hứa với người tử tội đã bênh vực mình khi anh cầu xin: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23, 42) rằng: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 43).

Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ, Đấng đã dùng cái chết của mình mà giao hòa con người với Thiên Chúa, đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời (Cl 1, 20). Mừng lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, ta được mời gọi nhìn lại chỗ đứng của mình dưới chân thập giá Chúa Kitô. Đứng dưới thập giá của Người, ta đã mang tâm tình và thái độ nào? Trong cuộc sống, có những lúc ta cũng đã thách thức Chúa vì không hài lòng với chính mình. Thật đáng buồn khi ta đã chỉ muốn được Chúa giải thoát khỏi đau khổ mà không lặng nhìn ngắm Chúa để cùng với Người đón nhận chén đắng Cha trao. Chúa Giêsu đã không chối từ cái gọi là thực tế của một con người là khổ đau và bị bách hại. Người chỉ tìm kiếm thánh ý Chúa Cha và yêu mến Cha hết lòng. Theo gương Chúa Kitô, ta hãy phó thách hoàn toàn con người và cuộc sống mình cho Thiên Chúa. Chắc chắn, Thiên Chúa là Đấng yêu thương ta sẽ dành hết tất cả những gì tốt đẹp nhất cho ta. Điều quan trọng là ta có để cho Chúa Kitô làm Vua của lòng mình không?

Lạy Chúa Giêsu là Vua Vũ Trụ! Xin Ngài hãy làm vua của lòng con. Xin cho con đứng dưới chân thập giá Chúa mỗi ngày, để cùng với Mẹ Maria và Thánh Gioan Tông đồ, con được trung kiên theo Chúa đến cùng. Amen.

Về mục lục

.

VỊ VUA CUỘC ĐỜI

Anna Cỏ may 

Vua chúa trần gian nắm quyền trị nước. Có nhiều vị vua được quần thần và dân chúng kính trọng và tùng phục. Cũng có một vị vua mang tên Giêsu. Tuy nhiên, ngai của vị vua này không phải là ngai vàng nhưng là cây thập giá. Vì thế, trước một vị vua quá khiêm hạ, các thủ lãnh và binh lính đã cười nhạo, chế giễu. Họ không thể đón nhận vì vị vua dân Do thái lại là người chẳng còn gì.

 “Nếu ông là vua dân Do thái, thì hãy cứu lấy mình đi” (Lc 23,37). “Hãy cứu lấy mình” được Tin Mừng nhắc lại ba lần với ba hạng người khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là cùng thách thức Đức Giêsu. Khi tổng trấn Philatô hỏi: “Ông có phải là vua dân Dothái không?” (Ga 18, 33). Chúa Giêsu đã trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Dothái. Nhưng thật ra nước tôi không thuộc chốn này.” (Ga 18, 36). Những người tụ cho mình là hiểu biết lại không thể nhận ra Giêsu bị treo trên thập giá là một vị vua nhưng một trong hai tên gian phi đã nhận ra Ngài là vua khi nói: “ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23,42). Nhờ sự hoán cải cùng lời kêu xin chân thật, ông đã được Đức Giêsu đáp lời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”(Lc 23, 43).

 Đức Giêsu là vua. Ngài đã được Chúa Cha công bố: “Đây là con yêu dấu Ta, hãy vâng nghe lời Người”(Mc 9,7). Thiên Chúa mời gọi mọi người hãy vâng nghe lời Con của Ngài. Thái độ vâng nghe biểu hiện một sự đón nhận và đặt để Đức Giêsu là chủ và là Vua của mình. Ngài là Vua mạnh mẽ oai hùng trước những địch thù gian ác, là Vị Vua cả Vũ trụ và Vua sự sống. Đức Giêsu là vua thật nhưng người ta lại thích vẻ hào nhoáng bên ngoài của những ông vua giả. Vì thời nay, cái giả lại có vẻ đẹp hơn cái thật, hoa giả, điện thoại giả và ngay cả người cũng giả luôn. Sống trong thời đại vàng thau lẫn lộn, liệu còn ai sống sự vâng phục trong Đức Giêsu? Là Kitô hữu, là con Thiên Chúa, chúng ta đang vâng phục vị vua nào? Phải chăng vua đam mê, vua danh vọng hay Vua Giêsu Kitô? Ước gì mỗi người chúng ta được thức tỉnh được như tên gian phi là nhận thấy vị vua đích thực cùng đích của mình là ai. Đức Giêsu Kitô – Vua Vũ Trụ đã từ bỏ vương quyền đến sống với dân mình, để hiểu, để cùng chịu những cực nhọc và đau khổ của dân, để đem ơn cứu độ cho dân. Ngài trao ban chính mạng sống mình để dân được sống và sống dồi dào trong Chúa Cha. Ngài là Vị Vua duy nhất ở đời này và  cả đời sau.

 Lạy Đức Giêsu, “Ngài là Vua từ ái, vinh danh Ngài cùng với Chúa Cha, cao sang hiển trị thiên tòa, cùng Thánh Thần Chúa vinh hoa muôn đời” (Thánh thi kinh sáng). Xin giúp chúng con biết, nhận ra và chọn Ngài là Vua duy nhất của cuộc đời mình. Amen.

Về mục lục

.

GIÊSU VUA TÌNH YÊU

Maria Kiều

Là một Kitô hữu, chắc ai trong chúng ta khi nhìn vào bất cứ cây Thánh giá  đều thấy có chữ IN-RI, nghĩa là “Giêsu Nadarét, Vua của dân Do thái.” Cùng với Giáo hội, hôm nay chúng ta mừng lễ Đức Giêsu Vua vũ trụ, cũng là Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Đây là cơ hội để mỗi người nhìn lại cung cách sống của mình trong tư cách là những thần dân của vua Kitô, chúng ta có sống danh xưng “Kitô hữu” ấy cách ý thức và trách nhiệm hay không?

“Ông Giêsu ơi khi nào ông vào nước của ông xin nhớ đến tôi’’(Lc 23,42b). Đây là câu nói của tên gian phi khi cùng chịu chết trên cây thập giá với Đức Giêsu, tên gian phi này như nhận ra được Đức Giêsu là một vị vua đích thực. Mỗi người trong chúng ta cũng có xu hướng tự tôn cho mình những vị vua. Nào là vua xe hơi, vua nhà lầu, vua tiền tài danh vọng, vua bóng đá … và chính Đức Giêsu cũng là một vị Vua nhưng sao Ngài lại dễ bị con người lãng quên đến thế? Ngài là vị vua của tình yêu, chính Ngài đã đến thế gian mang lấy thân phận con người, phải chịu đau khổ và chịu chết trên cây thập giá như một tội nhân. Trước lúc chịu chết Ngài vẫn tha thứ cho tên gian phi: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng” (Lc 23,43). Chính Chúa Giêsu là ngọn lửa của tình yêu, đã đến thế gian và ném ngọn lửa ấy vào tâm hồn mỗi con người chúng ta và Ngài thầm ước mong rằng ngọn lửa của tình yêu đó sẽ cháy lên và lan tỏa cho mọi người xung quanh.

“Con người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ” (Mt 10,45) Con Thiên Chúa đã xuống thế gian trong thân phận một con người,  Ngài đã cúi mình xuống mà phục vụ những người nghèo nhất trong các người nghèo, chính Ngài cũng đã cúi xuống mà rửa chân cho các môn đệ trong bữa tiệc cuối cùng trước khi đi chịu chết, đây là một hành động thể hiện sự yêu thương và phục vụ. Ngài là vị Vua của vũ trụ nhưng vị vua này không ngồi trên ngai vàng cao sang, Ngài chọn thánh giá gỗ làm ngai cho mình và đổi lại là sự sống cho nhân loại. Vị Vua không cai trị thần dân bằng quyền lực nhưng bằng tình yêu thương, Vị Vua không có lãnh thổ trong thế giới nhưng luôn có trong tim mỗi con người .

Vậy tôi và bạn hãy thử đặt ra một câu hỏi rằng: “Đức Giêsu có phải là vị vua của đời mình hay không?” Ngài có phải là vị vua mà chúng đang kiếm tìm? hay chính chúng ta đang kiếm tìm và tôn thờ một vị vua nào khác? Hãy để cho Chúa Giêsu chiếm ngự tâm hồn chúng ta, Ngài mới thực sự đáng giá hơn tất cả kho tàng và những thứ phù phiếm mau qua. Chẳng có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người đã thí mạng sống vì chính chúng ta, ngay cả khi chúng ta bất xứng, Chúa vẫn yêu thương ta bằng tình yêu vô điều kiện nhưng chúng ta có nhận ra điều ấy, nhận ra sự cai trị của Ngài cách âm thầm, bằng những yêu thương, phục vụ tế nhị và khiêm tốn đến nỗi không để lại dấu vết gì.  Trong thế giớ 4.0 ngày hôm nay, các bạn trẻ có xu hướng chỉ quan tâm đến bản thân mà không nghĩ đến người khác, họ chỉ nghĩ những thứ tốt đẹp và niềm vui đến với bản thân mà quên đi ngoài kia còn bao người thiếu vắng tình yêu thương và sự chia sẻ và dĩ nhiên Chúa thật xa vời trong khái niệm của họ. Là Kitô hữu, chính tôi và bạn sẽ phải là những chứng nhân tình yêu giữa một xã hội đầy cạm bẫy này, mỗi người trong chúng ta sẽ hiểu được rằng yêu thương phục vụ tha nhân là con đường dẫn đến thiên đàng và vô cảm thờ ơ trước những nỗi đau khổ cảu tha nhân là con đường dẫn đến hỏa ngục. Ước mong rằng mỗi người trong chúng ta sẽ là một ngọn lửa của tình yêu, dám bỏ đi chủ nghĩa cá nhân mà sống yêu thương phục vụ như Chúa đã phục vụ chúng ta.

Về mục lục

.

GIÊSU, VUA TÌNH YÊU

Maria Vũ Linh

Nghe bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ nhiều người thắc mắc: Giáo Hội có nhầm không? Ngày lễ Chúa làm Vua mà lại đọc bài tường thuật cái chết tủi nhục của Chúa. Thật khó hiểu đúng không ạ?

Ta không hiểu, vì trí ta luôn vẽ ra hình ảnh một ông Vua theo kiểu trần gian. Ông vua là người hầu như có toàn quyền trên mọi dân trong nước và có nhiều tài sản. Và có cả khí giới phương tiện khác nhau để giữ gìn an ninh trật tự. Dĩ nhiên ông vua là người rất giàu có, nhiều của cải đất đai nhà cửa. Con Thiên Chúa làm người là Đức Giê-su Ki-tô cũng được quan niệm và đối xử như mọi người. Cho nên khi Đức Ki-tô tuyên bố mình là vua không ít người đã nghĩ Ngài là một vị vua có chức quyền. Nhưng trớ trêu thay, nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu thiết lập một cách kỳ diệu bằng một hành động hy sinh cao cả trên thập giá, đó là cách thế chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Như một nghịch lý, Chúa Giêsu Kitô là Vua khi Người bị treo lên thập giá. Lại thêm, hành động bêu xấu của quan Philatô khi quan này cho khắc ghi trên thập giá Chúa dòng chữ: “Đây là Vua dân Do Thái”(Lc 23, 38). Thiên Chúa đã muốn dùng hành động bêu xấu này như muốn nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng: vì yêu thương loài người nên “vị Vua” này đã hy sinh tính mạng mình để cứu chuộc nhân loại. Cùng chịu đóng đinh với Chúa có hai tên gian phi, cả hai đều chứng kiến cảnh hành hình Đức Giê-su, nhưng chỉ có tên trộm lành nhận ra vương quyền nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh. Anh ta đã khám phá nơi hành động của Chúa như một dấu chỉ mạc khải tình thương của Ngài, và bày tỏ ước muốn được sống trong Nước Tình Thương này. “Lạy Chúa, khi nào về Nước Ngài, thì xin nhớ đến tôi cùng”.

 Đức Giêsu luôn dạy chúng ta phải cầu xin Chúa Cha ban hòa bình và no ấm cho nhân loại. Lời cầu xin đó chỉ có thể thành hiện thực trong Đức Giêsu Vua Tình yêu mà thôi! Lý do “vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình.” (Cl 1,19-20)

Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã lên ngôi. Ngài bộc bạch chính mình là Đức Kitô, Người Thiên Chúa tuyển chọn, Đấng Cứu Thế, Vua Tình yêu. Suy tôn Chúa Giêsu là Vua Yêu thương, chúng ta nài xin Ngài “nhớ” đến chúng ta trên mọi hành trình dương thế. Xin Vua Giêsu ngư trị và ban cho chúng ta lòng can đảm để bênh vực cho chân lý tình yêu, và mang bình an đến những nơi chúng ta hiện diện.

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU, VUA YÊU THƯƠNG

Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ Nhất chấm dứt, cả châu âu rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát. Balan cũng không tránh khỏi thảm hoạ. Đất nước bị quân Đức và Nga thay nhau cày xéo. Bao thanh niên ngã gục trên chiến trường. Nhiều làng mạc, thành phố bị bom đạn thiêu rụi.

Trước tình hình đó, Toà thánh muốn tìm một giáo sĩ xứng hợp, có thể đảm trách vai trò đặc sứ tại quốc gia này. Linh mục Ambrose Ratti người Ý đã được đề cử và tuyển chọn. Ngay sau đó, cha Ambrose lên đường đi nhận nhiệm sở mới với bao sứ mạng nặng nề.

Thế nhưng công việc của cha Ambrose tại Balan đã tiến triển tốt đẹp. Toà thánh nhận ra điều đó. Rồi chẳng bao lâu sau, ngài được triệu về Rôma và được tấn phong Hồng y coi sóc tổng giáo phận Milan. Đến năm 1922, sau khi Đức Benêđictô XV qua đời, Hồng y Ambrose Ratti được bầu làm Giáo hoàng với danh hiệu Piô XI.

Năm 1925, Đức Thánh Cha Piô đã thiết lập ngày lễ Chúa Giêsu Vua, đồng thời ban sắc lệnh truyền dạy Dân Chúa khắp nơi mừng lễ này vào Chúa nhật cuối cùng của tháng Mười. Trong một bản tông huấn, Đức Thánh Cha cho biết lý do ngài thiết lập ngày lễ Chúa Kitô Vua: thế giới cần một nền hoà bình chân thật, nhưng hoà bình đó chỉ có được dưới triều đại của Đức Kitô là Vua Tình Thương và là Hoàng Tử Bình An.

Về sau, khi có cuộc cải cách phụng vụ, một số ngày lễ được thay đổi, một số khác không còn lưu lại trong lịch. Riêng lễ Chúa Kitô Vua được dời qua Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, tức Chúa nhật thứ 34, trước khi bước vào mùa Vọng, khởi đầu một chu kỳ mới.

Một linh mục đã nhận xét: Suy tôn Chúa Giêsu Vua là việc làm hoàn toàn chính đáng và mang nhiều ý nghĩa, vì quả thực, Ngài đã chào đời như một quân vương và lìa đời như một đức vua.

Nhớ lại ngày Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, ba đạo sĩ phương Đông đã tìm đến dâng các lễ vật: vàng, nhũ hương, và mộc dược. Vàng là món quà tượng trưng cho vương quyền. Thế nên, từ thuở ấu thơ, Ngài đã được nhìn nhận như một đức vua. Và rồi, trong những giờ phút cuối cùng của cuộc sống làm người, Đức Giêsu cũng được suy tôn như một vị quốc vương cao cả.

Thói thường khi quân Rôma đóng đinh ai cũng đều kèm theo một tấm bảng ghi rõ tội danh của kẻ phạm pháp. Riêng trường hợp Đức Giêsu, quan Philatô muốn chế nhạo người Do thái bằng cách cho treo trên đầu Ngài tấm bảng có hàng chữ “Đây là Vua Dân Do thái”. Việc làm này đã vô tình khẳng định tính cách vô tội và vương quyền thực sự của Đức Giêsu: Ngài không có tội để ghi và Ngài chính là hoàng đế (x. Thomas Kemp, Homilies on the Sunday Gospel).

Việc làm vô tình của Philatô lại được một tên tội phạm nhận biết và tuyên xưng.

Số là trên đồi Gôlgotha lúc bấy giờ có hai tên trộm cướp cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu. Các thủ lãnh và đoàn thể dân chúng cười nhạo Ngài. Quân lính thì mắng nhiếc chế diễu. Cả một trong hai tên gian phi cũng khiêu khích sỉ nhục. Trong mớ âm thanh hỗn độn, hằn học, và thù nghịch ấy lại dội lên một vài ngôn từ đáng suy nghĩ.

Ngay trên khổ giá của mình, người gian phi thứ hai đã quan sát Đức Giêsu và suy nghĩ về những ngôn từ đó. Anh ta thấy trong bao lời trách mắng về Ngài đều hở ra những câu như: “Nếu là Đức Kitô”, “Nếu là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”, “Nếu là Vua Do thái”. Anh ta ngước nhìn và đợi chờ những lời nguyền rủa đáp trả hay những tia nhìn hận thù giáng xuống đoàn lũ dưới kia. Thế nhưng, những gì anh thấy được lại là “Đức Giêsu ngước mắt lên trời”, và những gì anh nghe được lại là “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”.

Chính việc “thấy” và “nghe” kia đã hình thành trong anh một cảm xúc kính phục chân thành. Anh thương người chịu đóng đinh bên cạnh. Anh thấy mình bị khổ nhục là đích đáng. Nhưng con người kia đâu có hận thù, tham lam, độc ác gì. Trái lại, dù trong cảnh thê lương sầu thảm, dù khổ đau đang giằng xé từng hơi thở, dù mặt mũi hình hài tan nát mất hết hình tượng, nơi con người Giêsu đó vẫn toát lên tình thương và lòng khoan dung tha thứ. Thế rồi anh can đảm lên tiếng bênh vực cho Ngài: “Ông này đâu có làm gì sai trái”(Lc 23: 41). Và xa hơn, anh còn khám phá ra vương quyền của Ngài khi thành khẩn nài xin: “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài”(Lc 23: 42).

Làm sao trong cảnh hấp hối tột cùng của Đức Giêsu và của chính mình mà anh “trộm lành” lại cất lên được lời thỉnh cầu như thế? Phải chăng khi rơi vào vòng xoáy của sự chết, anh đã cố bám víu bất cứ thứ gì có thể bám được? Điều gì đã giúp anh, ngay giữa lằn ranh của sự sống và sự chết, gặp thấy dung mạo của một quốc vương, Đấng đang bước vào vương quốc của mình ngay trên thập giá?

Một nhà thần học trả lời: tình thương đã giúp anh khám phá Vua Giêsu. Chính lòng yêu người, xót thương cho kẻ bị oan ức, đã giúp anh gặp gỡ Vua Tình Yêu.

Mà tình yêu sẽ tồn tại muôn đời, anh xác tín như thế. Cho nên, dù vật vã với đớn đau của thân xác, anh vẫn nhận ra tình yêu đang hiện hữu bên mình. Tình yêu đó đang rộng lòng tha thứ, xoá tan hận thù, và mang lại bình an. Niềm xác tín gia tăng cường độ khiến miệng anh bật lên lời nài van: “Xin Ngài nhớ đến tôi”.

“Ngày hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta”(Lc 23: 43). Không lời nào yên ủi cho người sắp chết bằng lời đó. Hận thù đã gây nên chiến tranh, phân ly. Nhưng tình thương lại luôn bắt cầu liên kết. Anh trộm lành chỉ xin Chúa Giêsu nhớ đến mình, nhưng Ngài lại hứa ở cùng anh. Nói đến nhớ là nói đến cách xa. Vì yêu nhau nhưng không được gần nhau nên sinh ra nỗi nhớ. Tình yêu có nỗi nhớ là tình yêu chưa được vuông tròn. Còn khi “ở làm một với nhau” thì tình yêu đã thật sự lên ngôi. Trong tình yêu của Thiên Chúa luôn là “nên một” và “ở cùng”.

Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã lên ngôi. Ngài bộc bạch chính mình là Đức Kitô, Người Thiên Chúa tuyển chọn, Đấng Cứu Thế, Vua Tình yêu.

Suy tôn Chúa Giêsu là Vua Yêu thương, nài xin Ngài “nhớ” đến mình trên mọi hành trình dương thế, can đảm bênh vực cho chân lý tình yêu, là ta đang tìm thấy hoà bình và sự sống phong phú nơi tâm hồn, gia đình, và thế giới.

Về mục lục

.

ĐỨC GIÊSU VUA, NGƯỜI TÔI TỚ THIÊN CHÚA

Lm. Giuse Nguyễn An Khang

Hôm nay, Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua. Thật nghịch lý, để mừng lễ Đức Kitô Vua, Giáo hội đưa ra cảnh tượng Đức Giêsu mạc khải triều đại Người: ngai vàng là thập giá, vương miện là một vòng gai, lễ phong vương là một danh hiệu của việc kết án tử đóng đinh bên trên đầu Người, nam tước là hai tên gian phi. Nghịch lý cao cả của Tin mừng! Vua? Phải! Nhưng chắc chắn không hiểu theo nghĩa của những người đứng về phía Người, cũng không theo nghĩa của những đối thủ lên án Người, nhưng theo cách của Thiên Chúa.

Luca viết: “Khi đến nơi gọi là Núi Sọ, họ đóng đinh Người vào thập giá”. Thực ra đây chỉ là quả đồi nằm ở cổng thành Giêrusalem, cổng Ephraim, một nơi khai thác đá cũ, nhưng thợ khai thác còn để lại tại chỗ một tảng đá cứng hơn chỗ khác, một khối đá biệt lập cao khoảng 5m. Vì hình dạng của tảng đá giống như cái sọ, nên gọi là núi Sọ, tiếng Dothái là Gôlgôtha tiếng Hylạp là Kranion, tiếng Latinh là Calvario. Theo truyền thuyết đó là cái sọ của Ađam được chôn cất mãi mãi ở đó. Bởi là một nơi gần đường, nên người ta hay đóng đinh các tội nhân ở đó để mọi người qua lại xỉ nhục hoặc để làm gương cho người khác.

Cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu có hai tên gian phi. Để chứng minh Đức Giêsu không phải là gian phi, Luca đặt nơi môi miệng Người một lời nguyện: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Họ đây là ai? Đó là các vị thân hào. Luca thường ghi nhận, đối với Đức Giêsu thì “dân chúng” khác với các thân hào (Lc 20,1-20.45, 21.38). Trước biến cố Đức Giêsu chịu đóng đinh, dân chúng chán ngán, yên lặng đứng nhìn. Sự yên lặng của dân chúng thật ấn tượng và đáng trân trọng. Dân chúng Israel hiền lành không hiểu gì cả. Họ chờ đợi Đức Giêsu như¬ Đấng Messia, như một vua Đavít mới.

Trong lịch sử dân tộc họ, không thiếu vua, nhưng tầm cỡ vua Đavít và Salomon thì không có, đó là thời kỳ huy hoàng của Israel. Từ nhiều thế kỷ, họ đã không ngừng mơ ước có một vị vua là Đấng Messia, hưng thịnh, chiến thắng kẻ thù, làm vị thẩm phán của Thiên Chúa, họ ngờ rằng Đức Giêsu đến để phục hưng vương quyền của Israel. Họ đã thử tôn Người làm vua, Người lại tránh né. Giờ đây, Người kia kìa, Người bị kết án tử hình, Người đang bị treo trên thập giá.

Khác với những người dân đen đang đứng nhìn ngạc nhiên, đau đớn và thất vọng. Các thủ lãnh buông lời cười nhạo, thách đố Người: “Nếu ngươi là cứu Chúa, trước tiên cứu mình đi”. Đó là tiếng vang của ma quỷ trong sa mạc (Lc 4,3), của người đồng hương Nadarét (Lc 4,23). Trong thế giới ngày nay, những kẻ chế nhạo Thiên Chúa cũng cùng giọng điệu như thế: “Nếu Thiên Chúa có, hãy hiện diện đi, để mọi người thấy”.

Câu trả lời của Thiên Chúa vẫn là câu trả lời của Đức Giêsu: “Người im lặng”. Người không biện hộ cho mình. Người để cho mình bị lên án là bất lực, là không hiện hữu. Đức Giêsu cũng như Thiên Chúa, không bao giờ nhượng bộ sự cám dỗ, hành động vì mình, sử dụng quyền năng của mình chỉ vì chính mình.

Còn lính tráng? Lính tráng cũng chế giễu Người: “Nếu ông là vua dân Dothái thì cứu mình đi”. Thế nhưng, những binh lính này vẫn còn chút lương tri, họ đã lấy một chút giấm đưa cho Ngài uống. Giấm đây là thứ rượu chua thời ấy binh lính Lamã quen dùng, nếu pha thêm một chút mộc dược, sẽ thành một thứ thuốc gây mê, các bà Dothái thường cho các nạn nhân uống như thế để giảm đau. ở đây, Luca không cho biết Chúa có uống hay không, nhưng Mátthêu nói rõ, Chúa chỉ nếm một chút để tỏ lòng biết ơn người đã có thiện chí giúp đỡ mình (Mt 27,34).

Khi phong vương, theo tục lệ Dothái, ông vua được phong ngồi trên ngai, một thượng tế nhân danh Thiên Chúa ban cho nhà vua danh hiệu như thường thấy trong Thánh vịnh 109: “Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh ra Con”. Ở đây, ngai vàng của Đức Giêsu là thập giá, bản văn phong vương Người chính là bản án của Philatô ghi trên đầu Người: “Đây là vua người Dothái “.

Dĩ nhiên Đức Giêsu là vua không theo cách thức thế gian, Nước Người không thuộc về thế gian này (Ga 18,36). Vương quyền của Người được thiết lập ở trần thế, nhưng không cạnh tranh với các vương quốc hoặc hệ thống chính trị trần thế. Thập giá ấy, ngai vàng ấy, danh hiệu ấy đã làm tan tành mọi niềm hy vọng hoang tưởng của Vua Israel, của chủ nghĩa Messia.

Bi kịch thập giá của Đức Giêsu, được Luca xây dựng theo kiểu căng thẳng tịnh tiến: dân chúng đứng nhìn, các thủ lãnh cười nhạo, lính tráng chế giễu, và tên gian phi nhục mạ. Đúng thế, một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”

Cứu mình? Đó là thách thức ghê tởm nó bộc lộ luận lý khôn ngoan của loài người tội lỗi mà các thủ lãnh, lính tráng cũng như tên gian phi đã đưa ra. Phải nghĩ đến mình trước rồi mới đến người khác. Còn đâu ý nghĩa phục vụ? Câu “Mục tử tốt thí mạng vì đàn chiên” còn có ý nghĩa nào nữa? Và những câu như: “Ai tìm sự sống thì sẽ mất” bây giờ ở đâu?

Vậy, ta có thể kết luận Đức Giêsu là Vua, Người làm Vua trên thập giá, trong hành vi trở thành của lễ đền tội mọi người. Ai không bỏ mình theo Người thì không được cứu độ. Còn ai kính sợ Thiên Chúa, tin Người được đưa vào Nước của Người. Người thực hiện các lời ngôn sứ về vua thiên sai, vua hòa bình, vua cứu thế; quá sự chờ mong của mọi người vì trên thập giá, không những Người là vua mục tử hơn Đavít mà còn là người tôi tớ đau thương của Thiên Chúa sẽ thống trị địa cầu.

Về mục lục

.

ĐẤNG KITÔ CỦA THIÊN CHÚA

Lm Louis Gonzaga Đặng Quang Tiến

Đoạn 23:35-43 là màn chế giễu cuối cùng (x. 22:63; 23:11) Chúa Giêsu chịu trước khi Người trút hơi thở cuối cùng (23:44-49). Người đã đến Núi Sọ, bị đóng đinh giữa hai phạm nhân. Áo xống của Người cũng bị tước đoạt (23:33-34). Trình thuật nầy có rất nhiều nhân vật: dân chúng, các thủ lãnh, lính tráng, hai phạm nhân với hai thái độ khác nhau và Chúa Giêsu. Có thể chia đoạn nầy làm hai: – Nhóm dân chúng, thủ lãnh và quân lính (23:35-38); – Hai phạm nhân (23:39-44). Chúa Giêsu là trung tâm của cảnh chế giễu nầy.

Luca đã dùng phân từ “kai”, “và” để lên kết các nhóm người lại “và dân chúng (c. 35) – và các thủ lãnh” – “và quân lính” – “và tấm bảng”. Mỗi người mỗi cách, nhưng chung một thái độ chế giễu Chúa Giêsu. Điểm chung là họ dùng câu điều kiện “nếu”, trong đó họ có lời thách thức giống nhau “Hãy tự cứu mình” (cc. 35.37.39), và họ gọi Chúa Giêsu bằng những tước hiệu tương tự nhau “Đấng Kitô” (c. 35), “Vua dân Do thái” (c. 37); “Đấng Kitô” (c. 39). Câu trả lời cho những thách thức và chế giễu nầy nằm trong lời tuyên xưng của phạm nhân thứ hai (c. 42), và trong lời hứa thiên đàng cho phạm nhân nầy (c. 43).

Dân chúng (c. 35)

Luca chỉ ghi nhận “dân chúng đứng nhìn”. Dân chúng không chỉ đứng đó nhìn cách bàng quan, mà tham dự vào sự khinh rẻ và chế nhạo diễn ra lúc ấy. Xem Tv 22:8: “Ai thấy (theôreô) tôi cũng nhạo báng (ekmyktçrizô) lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai”. Trong 14:29, Luca cho thấy “cái nhìn” (theôreô) gắn liền với “chế giễu” (empaizô) (14:29). Chính dân chúng đã đứng chung với các thượng tế và thủ lãnh trước toà Philatô (23;13) và đồng ý kết án tử Chúa Giêsu (23:18). Vậy, dân chúng đứng nhìn lâu (động từ ở thể phân từ hiện tại) mà không phản đối, chính là đồng loã với những người lên tiếng chế giễu Người.

Các thủ lãnh (c. 35)

Ở đây Luca chỉ nói đến “các thủ lãnh”, trong khi ở 23:13 và 24:20, ông nhắc đến cả các thượng tế. Động từ ekmyktçrizô nghĩa là “nhạo báng”; chỉ gặp trong 16:14; 23:35. Có thể có mối liên hệ giữa đoạn nầy với Tv 22:8. Trong lời họ nhạo báng, Luca nhấn mạnh đến khía cạnh cứu chuộc của Chúa Giêsu, tư cách Con Thiên Chúa được Thiên Chúa sai đến. Cụm từ “Hãy cứu lấy chính mình” được lập lại 3 lần bởi các thủ lãnh (c. 35), quân lính (c. 37) và phạm nhân (c. 39). Động từ “sozô” “cứu” dùng rất nhiều trong trình thuật nầy (cc. 35[2x].37.39). Nó mang ý nghĩa rộng hơn sự chữa lành bệnh. Đó là cứu khỏi tội và đưa vào Nước Trời (x. 7:50; 8:48.50; 17:19; 18:42). Động từ “sozô” và tước hiệu “Christos”, Kitô, liên hệ với nhau. Sau lời Phêrô tuyên xưng Người là “Đấng Kitô” (9:20), Chúa Giêsu nói đến sự cứu độ cho những ai bỏ mình và vác thánh giá đi theo Người (9:24). Tước hiệu “Đấng Kitô của Thiên Chúa” đã được Phêrô tuyên xưng lần đầu tiên (9:20). Tước hiệu nầy nhấn mạnh nguồn gốc của Đấng Kitô và tương quan và sự thông hiệp của Người với Thiên Chúa. “Của Thiên Chúa” có nghĩa là do Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến. Tước hiệu “Kitô” đứng một mình như trong lời của phạm nhân thứ nhất (c. 39) có thể hiểu là một đấng thiên sai, một vị vua được xức dầu nào đó. Rồi tước hiệu “Người được tuyển chọn” cũng nói lên liên hệ với Thiên Chúa (18:7). Chính Thiên Chúa xác nhận điều nầy về Chúa Giêsu trong biến cố biến hình (9:35).

Nhóm quân lính (c. 36)

Sau các thủ lãnh tôn giáo, đến dân ngoại chế giễu Chúa Giêsu. Họ là những người canh giữ (22:63), Hêrôđê (23:11), lính tráng (23:36). Điều nầy đã được nói đến trong lời tiên báo thứ ba về cuộc khổ nạn (18:32; 22:62). “Empaizô” “chế giễu” là khinh rẻ và lấy người khác làm trò chơi cho mình. Những người canh giữ Chúa Giêsu đã bịt mắt Người, đánh Người và bảo Người đoán xem ai đã làm điều ấy (x. 22:63-65); Hêrôđê muốn Người làm những phép lạ để thoả mãn sự tò mò của ông (23:8-9). Lính tráng bên thập giá đưa giấm lên cho Người uống (23:36). Tước hiệu “Vua dân Do thái” nầy phát xuất từ dân ngoại mà thôi: Philatô (x. 23:3), tấm bảng treo trên đầu Người (23:38) và lính tráng ở đây. Lần đầu tiên Chúa Giêsu được dân Do thái gọi là vua, basileus, khi Người vào thành Giêrusalem: “Chúc tụng Đức Vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến” (x. 19:38). Chúa Giêsu là vua, basileus, mà cũng là Christos (x. 23:2).

Cho đến lúc nầy, cả các thủ lãnh lẫn dân ngoại chẳng ai biết rõ và chắc chắn Chúa Giêsu là ai. Người ta thắc mắc về căn tính của Người (x. 20:41; 22:67; 23:2); ngoại trừ ma quỉ (4:34; 4:41; 8:28) và nhóm Mười Hai (9:20), không ai biết rõ căn tính của Người. Người ta thắc mắc về Người (x. 20:41; 22:67; 23:2). Bởi đó, họ nghĩ đây là cơ hội cuối cùng họ có thể buộc Chúa Giêsu chứng tỏ ra Người là ai, bằng cách làm theo yêu cầu của họ. Chúa Giêsu đã không làm theo yêu cầu của họ, vì Người biết họ không tin vào Người (22:67), và chính khi chịu đóng đinh, Người tỏ ra cách tỏ tường nhất Người là Đấng Kitô của Thiên Chúa; nói cách khác là Đấng Thiên Sai, được gởi đến để cứu chuộc con người. Không làm theo điều kiện họ đặt ra, Chúa Giêsu không phải là Đấng Kitô theo ý nghĩ của họ.

Tấm bảng (cc. 23:38)

“Và” (xem trên) liên kết tấm bảng nầy với những nhóm người nhạo báng Chúa Giêsu. Có sự khác biệt ít nhiều giữa các tin mừng về điều ghi trên tấm bảng treo trên đầu Chúa Giêsu (x. Mt 27:37; Mc 15:26; Gio 19:19). “Houtos” chỉ Đấng bị đóng đinh dưới tấm bảng. Cách trình bày đơn sơ “Và có tấm bảng trên đầu Người” muốn ám chỉ điều ghi trên tấm bảng “Người nầy là Vua dân Do thái” tương phản với người đang bị đóng đinh. Như thế, tấm bảng nối dài lời nhạo báng của lính tráng.

Phạm nhân thứ nhất (cc. 23:39)

Luca dùng động từ blasphçmçô, “nói phạm thượng”, để chỉ thái độ của người nầy đối với Chúa Giêsu. Động từ nầy chỉ dùng ba lần trong Luca: nói phạm thượng đến Chúa Thánh Thần (12:10), những người canh giữ và phạm nhân nầy nói phạm thượng đến Chúa Giêsu (22:65; 23:39). Như thế, blasphçmçô là nói những lời chống lại Thiên Chúa. Người nầy nói phạm thượng vì tình cảnh bất lực và vô vọng của mình. Anh muốn Chúa Giêsu dùng quyền năng của Đấng Kitô để giải thoát anh khỏi cái chết gần kề.

Phạm nhân thứ hai (cc. 40-42)

Người nầy ngỏ lời trước tiên với người đồng chịu án (23:40-41) và với Chúa Giêsu (23:42). Trong lời ngỏ với phạm nhân kia, người nầy nói đến sự kính sợ Thiên Chúa, đến việc nhìn nhận tội và chấp nhận hình phạt xứng với việc đã làm và bênh vực Chúa Giêsu là vô tội. Khi trách phạm nhân kia không kính sợ Thiên Chúa bằng câu hỏi, người nầy gián tiếp cho thấy ông có lòng kính sợ Thiên Chúa. Ông quan toà là tiêu biểu của những người không kính sợ Thiên Chúa (18:2-4). Ngược lại, Mẹ Maria là gương mẫu của người kính sợ Thiên Chúa. Ai kính sợ Thiên Chúa thì được Người xót thương (1:50). Phạm nhân thứ hai nầy tỏ ra kính sợ Thiên Chúa khi ông dám nói nghịch lại phạm nhân kia, cũng là nghịch lại dân chúng, các thủ lãnh và lính tráng. Cái chết gần kề, ông không sợ. Ông chỉ sợ Đấng có thể ném cả thân xác và linh hồn ông vào hoả ngục (x. 12:4-9). Bởi có lòng kính sợ nầy, ông sẽ được Thiên Chúa xót thương và cứu lấy ông.

Nói về Chúa Giêsu, ông bênh vực Người là vô tội (23:41). Chính Philatô cũng đã nhận ra như thế (23:22). Ngỏ lời với Chúa Giêsu, ông gọi Người bằng tên “Giêsu”, chứ không bằng bất cứ tước hiệu nào. Tên “Giêsu” nầy liên kết với “Đấng Thánh của Thiên Chúa (4:34), với “Con của Đấng Tối Cao” (8:28), với “Con vua Đavít” (18:38), với “Thầy” (17:13) và “Chúa” (Cv 7:59). Ông xin Người nhớ đến ông trong Nước của Người. Mimneskomai, “nhớ”, bao hàm ý nghĩa cứu độ. Thiên Chúa nhớ tỏ lòng thương xót trên Abraham và con cháu ông đến muôn đời (1:54). Thiên Chúa nhớ đến giao ước mà cứu khỏi tay kẻ thù (1:72). Ông nói đến “Nước”, basileia, của Người. Nước của Chúa Giêsu đồng hóa với Nước của Thiên Chúa (22:29.30); “Nước Thiên Chúa” được nhắc đến tới 31 lần trong Luca. Như thế lời của phạm nhân thứ hai nầy ngỏ với Chúa Giêsu trở thành câu trả lời gián tiếp cho những người nhạo báng trên, và đó cũng là lời tuyên xưng đức tin của ông: – “Giêsu” là Con Thiên Chúa, nên Người mới có thể nhớ và tỏ lòng thương xót ông như Thiên Chúa; – “Giêsu” là Đấng Kitô, là Vua nên Người mới có “Nước của Người”; – Nước của Người là Nước của Thiên Chúa và Người là Con Thiên Chúa; đồng thời cũng là Con vua Đavít. Vậy Người thật sự là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”, và cũng là “Vua dân Do thái”.

Chúa Giêsu trả lời với phạm nhân nầy bằng lời hứa là hôm nay ông sẽ cùng với Người trong thiên đàng. Đây là thiên đàng của Thiên Chúa (x. Kh 2:7). “Ở trong thiên đàng” là ở trong sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Nói cách khác là “trong tay” của Người (x. 23:46). Phạm nhân thứ hai đã tuyên xưng Chúa Giêsu trước mặt mọi người, nhất là những người chối bỏ Người; bởi đó ông được Người nhận biết và cho hưởng Nước Trời (x. 12:8).

Chúa Giêsu không chết trong thinh lặng. Người chết sau khi được tuyên xưng cách công khai là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Như thế cái chết trên thập giá của Người có tính cách cứu độ và mang ơn giải thoát đến cho mọi người.

Về mục lục

.

CHÚA KITÔ, VUA NHÂN TỪ

Lm. Minh Vận

Thánh Gioan Cantius, người Balan sinh năm 1390. Khi còn nhỏ, ngài là một cậu bé thông minh, tốt lành. Sau khi chịu chức Linh Mục, ngài làm giáo sư Kinh Thánh tại đại học Cracow, rồi làm Cha Sở nhiều năm, chuyên lo việc tông đồ phục vụ người nghèo. Ngài hành hương Rôma bốn lần, đi bộ, vai mang hành trang, một trong bốn cuộc hành hương này, ngài bị bọn cướp chặn lại và lấy hết tiền của, tra hỏi ngài còn tiền của gì nữa phải đưa hết. Ngài trả lời: Thưa đã hết cả rồi. Bọn chúng cho ngài ra đi. Đi được một quãng đường xa, ngài nhớ lại còn một số tiền nữa khâu ở dưới gấu áo, nên ngài vội vã trở lại và trao hết cho bọn cướp, xin lỗi họ vì đã quên lãng mất… Thấy lòng chân thật, nhân từ và thánh thiện của Thánh Nhân, bọn cướp bỡ ngỡ, cảm động nên đã bảo nhau trả lại cho ngài tất cả.

I. VUA TÌNH THƯƠNG VÀ CHÂN THẬT

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng Lễ Chúa Kitô Vua. Chúa là Vua của chúng ta, chúng ta là thần dân của Người. Người là Vua trên muôn vua, là Chúa muôn loài, là Đấng mọi loài trên trời, dưới đất và trong hỏa ngục đều phải tôn thờ, phụng sự, sùng bái, kính tôn và yêu mến.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Philatô đã hỏi Chúa: “Ông có phải là Vua không?” Chúa long trọng tuyên bố: “Tôi là Vua, Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về chân lý đó. Ai thuộc vào chân lý thì nghe tiếng Tôi” (Jn 18:37).

Là thần dân của Vua Kitô; hơn nữa, còn là các Hoàng Tử và Công Chúa của Thượng Đế, Đấng Thiên Hoàng, chúng ta cùng nhau tìm hiểu: Chúa chúng ta là Vua thế nào? Vương Quyền Ngài ở đâu? Quyền năng Ngài ra sao?

Kinh Tiền Tụng Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay trả lời cho chúng ta tất cả những câu vấn nạn trên: “Cha đã xức dầu hoan lạc tấn phong Con Một Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, làm Linh Mục đời đời và làm Vua vũ trụ, để khi hiến thân trên bàn thờ Thập Giá làm lễ phẩm giao hòa và tinh tuyền, Người hoàn tất mầu nhiệm cứu chuộc chúng con. Khi đã bắt mọi loài qui phục quyền bính mình, Người trao lại cho Cha là Đấng uy linh cao cả, một Vương Quốc vĩnh cửu và vô biên: Vương Quốc đầy tràn sự thật và sự sống, Vương Quốc đầy tràn ân sủng và thánh thiện, Vương Quốc đầy tràn tình thương, công lý và bình an”.

II. CHÚA KITÔ THIẾT LẬP VƯƠNG QUỐC

Chúa Kitô là Thiên Chúa nhập thể làm người nơi trần gian để làm Vua, tự bản tính Ngài là Vua; không như các vua trần gian, được làm vua do dòng tộc loài người, do chiến đấu dành dân mà được tôn lên ngôi vị… Chúa chúng ta đã thiết lập Vương Quốc Ngài nơi trần gian bằng sự khiêm nhu, bằng tình thương yêu, lòng nhân từ tha thứ, bằng cái chết làm Hy Lễ Cứu Độ trên bàn thờ Thập Giá để qui phục mọi người về với Ngài.

Trước khi Ngài hoàn tất công nghiệp Ơn Cứu Độ, Ngài đã chọn mười hai Tông Đồ, bảy mươi hai Môn Đệ, đa số là những người dân chài, quê mùa dốt nát, thật thà lương thiện, để giữ những chức vụ, mà theo lối trần gian, chúng ta thường gọi là các tổng trưởng, bộ trưởng, dân biểu thượng viện, hạ viện… Ngài đặt Phêrô làm Quốc Vụ Khanh lập nội các và các nghành Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp, để phục vụ trong Vương Quốc Ngài đã thiết lập… Thánh luật của Vương Quốc Chúa là Bộ Thánh Kinh, bao gồm thánh ý Thiên Chúa được mạc khải qua lời các tiên tri, các tổ phụ, các thánh ký, nhất là bộ sách Tin Mừng do chính Chúa Kitô đã chỉ thị, giáo huấn, ban bố, đã sống và đã làm gương… Quốc sách cai trị trong Vương Quốc Chúa Kitô là tình yêu thương, lòng nhân từ tha thứ, đức bác ái hy sinh xả kỷ vị tha, chân lý và an bình. Biên cương Vương Quốc của Chúa Kitô bao la vô tận vượt mọi không gian và thời gian, không chỉ hệ tại nơi vũ trụ vật chất hữu hình này, mà còn bao gồm mọi tâm hồn con người… Giáo Hội Công Giáo chính là Vương Quốc của Chúa Kitô.

III. GIÁO HỘI, VƯƠNG QUỐC CỦA VUA KITÔ

Giáo Hội là một Siêu Quốc Gia, không theo một chính thể nào trên trần gian, quân chủ hay dân chủ, nhưng là được tổ chức theo thần quyền do Chúa thông truyền theo phẩm trật, không làm chính trị, không có quân đội hay sức mạnh trần thế, không chiến đấu tranh dành với ai.

Quốc sách cai trị trong Vương Quốc của Chúa Kitô là tình yêu thương, lòng nhân từ tha thứ, đức bác ái hy sinh, lòng xả kỷ vị tha, sự thánh thiện cao cả của Thiên Chúa.

Biên cương hữu hình theo pháp lý chỉ là mấy chục mẫu đất, xây dựng các cơ sở, đặt các cơ quan điều hành trung ương tại Rôma, nhưng được bao gồm mọi chủng tộc, mọi quốc gia trên khắp thế giới, vượt mọi không gian và thời gian, đến tận tầng thâm sâu linh thiêng của các tâm hồn, nơi Thiên Chúa hiển trị.

Thần dân của Vương Quốc Chúa Kitô là mọi Tín Hữu rải rắc trên khắp năm châu bốn bể, là tất cả mọi người chúng ta, gồm tất cả mọi người tin theo Chúa Kitô, làm nên một Đoàn Chiên duy nhất của Chúa nơi trần gian.

Đấng kế vị Thánh Phêrô, là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng thứ 264, đại diện Chúa Kitô phục vụ Giáo Hội, Vương Quốc hữu hình của Chúa nơi trần gian, Đấng mà chúng ta có thể mệnh danh là Chúa Kitô đang sống nơi trần gian. Đấng mà mọi tôn giáo, mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi sắc tộc dù theo chính thể nào, ngay cả những kẻ thù cũng phải kính nể, tôn trọng ngài như vị Đại Diện tối cao của Thiên Chúa, vị Lãnh Đạo tinh thần thế giới.

Kết Luận

Là con cái Chúa, chúng ta tôn xưng Chúa là Vua chúng ta, Vua các tâm hồn, Vua toàn thể vũ trụ và muôn loài thụ tạo trên trời dưới đất và trong hỏa ngục. Không gì làm Chúa hài lòng và chứng minh lòng chúng ta thần phục Vương Quyền Người, bằng cách chúng ta hãy mặc lấy tinh thần lòng chân thật, nhân từ tha thứ và thánh thiện của Chúa.

Thánh Gioan Cantius người Balan là một vị Thánh có lòng chân thật, khiêm nhu, nhân từ tha thứ, khiến cho kẻ trộm cướp, người tội lỗi cũng phải kính phục sám hối trở lại. Còn chúng ta, là con cái Chúa, chúng ta đã sống thế nào?

Về mục lục

.

NGƯỜI TRỘM LÀNH

Lm. Thu Băng

Tôi còn nhớ vào lúc lên 12 tuổi, vừa bắt đầu vào lớp trung học, cái thú của tuổi trẻ là đấu kiếm và mê “Thần tượng Đồ Long Đao, chém một nhát 7 đầu người khỏi cố”. Trong lóp tôi có một người bạn giỏi đấu kiêm mà cả lớp không ai địch lại được những đường lả lướt của hắn. Ai cũng tôn hắn là “Đại Ca mắt lươn”. Bao nhiêu trận đụng độ với các lớp, chúng tôi đều phải nhờ đại ca mắt lươn này dàn trận.

Thần tượng của giới học sinh là ông thầy giỏi, là bà cô giỏi.

Thần tượng của đám trẻ chơi là người bạn có mưu cao và có tài biến báo.

Thần tượng của các tay anh chị Bến Nghé là Dũng Đakao hoặc Năm Mỏ Lét.

Thần tượng của Tôn Giáo là đấng sáng lập nên tôn giáo đó (Như Thích Ca Mâu Ni, như Lão Tử, như Khổng Tử hay như Chúa Giêsu…) Các ngài đã tìm ta một con đường giúp người ta giải thoát khổ nạn và tìm được niềm hạnh phúc.

Đọc cuốn sách “Những bộ xương khô” của một nhà sưu tầm tôn giáp Pháp, kể lại chuyện của những nhà sư nổi tiếng trở lại Công Giáo, trong đó có một cầu chuyện rằng: Nhà sư T….. áo vàng Ấn Độ ngồi trên xe lửa bên vị Linh Mục. Dựa vào cảnh toa xe không có khách, hai vị tu hành ngồi nói chuyện tôn giáo với nhau. Vị khất tu T…. đặt câu thắc mắc:

– Tại sao nhân sinh lại theo nhiều tôn giáo khác nhau? Sao Cha lại theo Chúa Giêsu mà không thờ đức Thích Ca là người dẫn đường đi trước? Vị Linh Mục trả lời:

– Chuyện đó dễ thôi, thế giới ngay nay người nào giỏi thì được tôn làm đại ca. Nhưng những đại ca gở thì ai thèm ngó tới. Tôi rất kính phục các vị đại ca của các tôn giáo, vì các ngài đã tìm ra một lối giải thoát cho con người. Còn tôi, tôi không phục hết cả các ngài trừ ra đấng Đại Ca của tôi. Xưa kia tôi cũng là một nhà sư như đại đức đây. Cũng chính tại nghĩ đến lời đại đức vừa nói mà tôi tìm ra được vị đại ca tối cao này. Vị đại ca có quyền thế trên các vị đại ca khác là Đức Kitô. Tôi trà tầm hết cả các đường lối dẫn độ của các tôn giáo, nhưng tôi chỉ thấy có một vị dám xưng là “Chúa, là Thượng Đế, là Đấng Tối Cao trên toàn cõi đất” Các vị khác không ai dám xưng như vậy.

Điều chứng minh Ngài chính là đại ca đã nhiều người được thấy tận mắt những việc Ngài làm mà chúng tôi gọi là phép lạ chứ không phải là phép phù thủy.

Ngày thứ 6 tuần thánh, Chúa Giêsu bị người Do Thái tố cáo rằng Ngài tự xưng là vua. Do đó quan Philatô hỏi:

– Ông tự xưng là vua Do Thái ư? (Mt.27:11).

Philato đâu có ngờ đó là một sự thật, sự thật mà Chúa không thể nói cách nào khác để tránh né. Ngài phải nhận:

– Tôi là vua.

Ngài cũng đã dám tuyên xưng vương quyền của Ngài chẳng phải ở thế gian này và giáo lý của Ngài không ai áp đảo được như thánh Phaolô nói:

– Ngài là vua đứng đầu mọi thụ tạo. Ngài là vua vô hình và mọi loài trên trờ dưới đất đều phải thờ lạy. Ngài cai quản mọi loài, và Ngài có trước mọi loài.

Người trộm lành trong giây phút cuối cùng đã đặt hết hy vọng vào Ngài , nên Ngài đã hé môi “Hôm nay con sẽ được ở cùng Ta trên thiên đàng” Chúng ta đang sống trong cảnh thiếu hạnh phúc cũng cần nhằm đến một thần tượng, một vua bất diệt.

Chuyện kể rằng: Trong lúc phong ba bão lớn, người nào cũng tin có Đấng Thượng Đế tối cao có quyền trên biển cả, nên họ kêu gào cầu cứu. Nhiều khi họ hứa sống hứa chết thay đổi cuộc đời xin Ngài cứu thoát. Tiếng lòng thành kêu xin được đáp lời ai nấy đều sửng sốt nói lên lời cảm tạ. Nhưng tháng ngày trôi qua, việc an lành đã đến, lúc đó họ chỉ còn nhìn thấy “thần Dolas” trước mắt. Họ cố gắng quên lời thể hứa đã qua.

Thần tượng của đời này được người ta tôn thờ là “Thần Tài, Thần Danh” Thực ra đó chỉ là phương tiện mà chúng ta đặt lên làm cứu cánh, còn chính Chúa Giêsu là cứu cánh, chúng ta hạ xuống làm phương tiện. Phương tiện cũ rồi không xài nữa, để cho màng nhện chăng. Chúa lúc nàu cầu không thiêng, thôi dẹp.

Nhân dịp cuối năm, Giáo Hội mừng kính Chúa Kitô là vua, nhắc nhở chúng ta xét lại quan niệm sống và cách xử đối với Đấng là Vua, là minh chủ, là đại ca mà chúng ta tôn thờ. Hãy tôn vinh Người là vua thực sự trong tâm hồn, trong cuộc sống, trong gia đình và ngoài xã hội.

Về mục lục

.

ĐỨC GIÊSU KITÔ, VUA VŨ TRỤ

Lm Giuse Nguyễn Thể Hiện

“Lạy Đức Giêsu, khi vào Nước của Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi!”

Bài tin mừng hôm nay (Lc 23,35-43) trích trong trình thuật thương khó theo Thánh Luca, kể lại những giây phút cuối cùng trước khi Đức Giêsu chết trên thập giá. Nhưng chính trong khung cảnh bi thương đó, dung mạo và tư cách quân vương của Ngài đã được mạc khải một cách rõ nét.

  1. “Nếu hắn là Vua Kitô” (cc.35-39)

Mở đầu bài tin mừng là ba cảnh nhạo báng Đức Giêsu, do các thủ lãnh của dân, do lính tráng và do một tên gian phi cùng chịu đóng đinh vời Đức Giêsu, thực hiện. Dân (laos) thì đứng nhìn, trong một thái độ chăm chú mang tính tôn giáo (chứ không chỉ là tò mò).

Trước tiên là sự cười nhạo của các vị thủ lãnh. “Các thủ lãnh buông lời cười nhạo: “Hắn cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được Chúa tuyển chọn!”” (c. 35). Lời của các vị thủ lãnh ở đây có hai giá trị. Trước hết, do chỗ Đức Giêsu được trình bày như một người có tài làm phép lạ (“cứu được người khác”), nên lời thách thức “cứu lấy mình đi” trong thực tế là một lời nhạo báng tương tự như trong 4,23 “thầy lang ơi hãy chữa lấy mình”. Thứ hai, đặt trong sự nghi ngờ về tư cách Mêsia của Đức Giêsu, lời yêu cầu “hãy cứu lấy mình đi” đồng nghĩa với lời yêu cầu một dấu lạ chứng thực tư cách Mêsia.

Sau lời nhạo báng của các thủ lãnh là sự chế giễu của bọn lính tráng. Đây chắc chắn phải là những người lính Rôma (x. 23,47). “Chúng lại gần, đưa giấm cho Ngài uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” (cc.36-37). Lời chế giễu của bọn lính Rôma cũng tương tự như lời chế giễu của mấy ông lãnh đạo Do Thái, nhưng tập trung trên khía cạnh chính trị, và như thế, làm nên đợt sóng thứ hai trong cuộc cười nhạo Đức Giêsu bị đóng đinh. Tiếp nối ngay vào lời chế giễu này, tấm bảng ghi bản án đặt phía trên đầu Đức Giêsu cũng là một thành phần của lời chế giễu về phương diện “chính trị”: “Phía trên đầu Người, cũng có bản án viết: “Đây là vua dân Do Thái” (c.38).

Lời nhạo báng thứ ba tiếp ngay sau đó, là của một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu. (Chúng ta không có cơ sở nào để khẳng định chắc chắn anh này là một người Do Thái hay một người dân ngoại). “Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa!” (c.39). Lần thứ ba xuất hiện ngữ đoạn “hãy tự cứu mình đi”, sau đó là một yếu tố được thêm vào cho phù hợp với hoàn cảnh của tên gian phi: “và cứu cả chúng tôi nữa”. Nhưng chính Đức Giêsu, trong thực tế, lại chỉ chờ đợi ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa, đúng theo lôgích của lời Ngài đã nói trong 9,24: “Ai đành mất mạng sống mình… thì sẽ cứu được mạng sống ấy”.

Nội dung sự cười nhạo của ba hạng người trong bài tin mừng hôm nay đối với Chúa Giêsu, cho chúng ta hiểu thế nào là niềm mong chờ phàm trần mà người ta đặt nơi vương quyền của Đức Giêsu.

Là Vua Mêsia, Đức Giêsu sẽ đem đến cho con người ơn giải thoát của Thiên Chúa? Câu hỏi trở nên vô cùng gay cấn khi người ta phải đối diện với Đức Giêsu đang quằn quại đau đớn trong những giờ phút cuối cùng trước khi chết thê thảm trên thập giá. Kẻ không thể cứu nổi chính mình khỏi thảm cảnh thập giá, sẽ có thể cứu cả nhân loại này không? Vua Mêsia đấy ư? Đặt vào trong một nhãn quan mang tính chính trị, câu hỏi xem ra càng thêm gay cấn. Những kẻ đặt hy vọng vào Ngài sẽ không phải tuyệt vọng và buồn tủi hay sao, khi đối diện với tình cảnh của Ngài trên thập giá?

Mỗi năm chúng ta đều mừng lễ Đức Kitô Vua Vũ Trụ. Nhiều lần chúng ta tuyên xưng vương quyền của Ngài. Chúng ta vẫn trông chờ Ngài sẽ tỏ vương quyền của Ngài trong gia đình, trong nhóm, trong cộng đoàn và trong xã hội mà chúng ta đang sống, nhưng hình như Ngài có vẻ yếu thế (vì Ngài vẫn là Đấng chịu đóng đinh). Thực ra, chúng ta chờ đợi gì nơi Ngài? Một vị vua sẽ phô trương quyền lực trong các lãnh vực tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội? Nếu Ngài không phô trương quyền lực trong các lãnh vực đó cho chúng ta hưởng thụ và vinh vang, chúng ta sẽ nhìn lên Ngài với cặp mắt nào? Có lẽ sẽ không phải là nhạo báng, nhưng chắc sẽ là oán trách và than thở…

Hóa ra Đức Giêsu vẫn có thể đang bị nhạo cười theo một nghĩa nào đó bởi chính chúng ta, những đồ đệ của Ngài.

  1. “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (cc.40-43)

Đối nghịch với ba lời nhạo báng và nhục mạ ở phần thứ nhất của bài tin mừng là một cảnh tượng hết sức ý nghĩa, bắt đầu bằng một phản ứng của người còn lại trong hai kẻ cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu đối với thái độ nhục mạ vừa diễn ra: “Nhưng tên kia mắng nó rằng: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái” (cc.40-41). Người trộm lành thừa nhận hành vi gian ác mà anh đã phạm và tính chính đáng của bản án dành cho anh. Đó là dấu hiệu của sự sám hối.

“Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Lạy Đức Giêsu, khi vào Nước của Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi!” (c.42). Người trộm lành trực tiếp thưa chuyện với Đức Giêsu sau khi đã phê bình tên gian phi đồng bọn. Anh gọi: “Giêsu!”. Đây là lần duy nhất trong Tân Ước Đức Giêsu được gọi tên riêng một cách gần gũi như thế này. Trong một số trường hợp (không nhiều), Đức Giêsu được gọi bằng tên riêng nhưng luôn luôn kèm theo một sự xác định như: “Lạy Thầy Giêsu…” hay “Giêsu Nadaret”… Người trộm lành đã sám hối bây giờ không hướng về Thiên Chúa, mà hướng về Đức Giêsu và công nhận tư cách và vai trò Mêsia của Ngài. Lời van xin của anh ta rõ ràng mang đậm tính chất một lời cầu nguyện của những Kitô hữu gốc Do Thái. Đức Giêsu, đối với anh trộm lành, là Đấng Mêsia Phục Sinh mà anh có thể có tương quan thiết thân với Ngài. Trong lời cầu nguyện này, anh tuyên xưng lòng tin mạnh mẽ vào vương quyền Mêsia của Đức Giêsu.

“Và Người nói với anh: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (c.43). Trong lời xin của mình, người trộm lành mong ước một ơn cứu độ tương lai sẽ được thực hiện vào lúc cùng tận, khi vương quốc Mêsia được thực hiện theo cách hiểu của niềm mong đợi Israel. Nhưng Đức Giêsu lại bảo đảm cho anh một ơn cứu độ của “hôm nay” với một lời hứa long trọng. Ngài hứa ban cho người trộm lành này một sự sống hiệp thông trọn vẹn với Ngài ngay hôm nay. Trong viễn tượng Kitô giáo, sự hiệp thông này là sự sống viên mãn phúc lạc trong vinh quang của Đấng chiến thắng sự chết và tội lỗi.

Đức Giêsu chịu đóng đinh đã cho thấy Ngài không phải là vị Vua Cứu Độ bảo đảm cho con người ta những sự thiện hảo thế tạm. Ngài chẳng giải thoát ngay cả chính bản thân Ngài khỏi cái chết thảm thương trên thập giá. Ngài cũng chẳng hứa sẽ giải thoát chúng ta khỏi bệnh tật hay đói nghèo. Quyền bính của ngài không liên quan trước hết đến những thực tại trần gian, mà là ơn cứu độ và sự sống trong Thiên Chúa. Ngài hứa với người trộm lành một sự hiệp thông trọn vẹn trong sự sống viên mãn trên Thiên Đàng. Ngài phá bỏ những rào cản không cho con người hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa trong hạnh phúc miên viễn, cho dù con người ở đây là tên gian phi đang bị kết án tử hình.

Lời tuyên bố long trọng của Đức Giêsu dành cho người trộm lành cho thấy một nội dung quan trọng của lòng tin Kitô giáo. Tương lai của nhân loại, cá nhân cũng như tập thể, là chính Đức Kitô. Thiên Đàng được trình bày ở đây không phải trong nhãn quan khải huyền, mà là trong những hạn từ diễn tả sự ở với Đức Kitô. Đàng khác, ơn cứu độ là thực tại của “hôm nay” và của cá nhân, chứ không phải chỉ là thực tại của tương lai và mang tính tập thể. Đức Kitô thực hiện vương quyền của Người ngay hôm nay và cho từng người cũng như cho mọi người.

Trong viễn tượng của tin mừng theo Thánh Luca, cảnh người trộm lành hối cải và cầu xin với Đức Giêsu này tạo nên đỉnh điểm của trình thuật về sự kiện đóng đinh Đức Giêsu. Cảnh này kết thúc chuỗi những lời nhạo báng và tạo ra một sự đảo ngược quan trọng, trong đó, người trộm lành không chỉ tuyên bố sự vô tội của Đức Giêsu, mà xa hơn nữa, anh tuyên xưng lòng tin vào vương quyền đích thực của Ngài, vương quyền bị các thủ lãnh, lính tráng và tên gian phi đem ra nhục mạ. Đức Giêsu trong đoạn tin mừng này quả thực là một vị vua, nhưng Ngài là vua theo một cách thức hoàn toàn khác với những mong đợi mang tính chính trị. Ngài thật là Đấng Cứu Độ, nhưng không phải là một nhà giải phóng chính trị và quân sự. Ba hạng người nhạo báng Ngài đều đưa ra lời thách thức rằng nếu Ngài là Vua Kitô thì Ngài hãy tự cứu mình đi và cứu cả những người khác nữa. Đức Giêsu sẽ đáp trả với thách thức ấy, nhưng không phải là theo cách thế mà những người kia mong đợi. Ngài cứu một con người, ngay khi ấy, tức là ngay khi Ngài trút hơi thở, nhưng không phải là cứu khỏi cái chết tạm thời, song là đưa người đó đi vào sự sống viên mãn và niềm phúc lạc đích thực. Ngài không làm những hành động chính trị hay những pha biểu diễn ngoạn mục. Vương quyền của Ngài là vương quyền siêu việt và vĩnh cửu.Trong ngày Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, chúng ta mừng kính vương quyền đích thực đó và đặt mình đầu phục vương quyền cứu độ đó, chứ không phải đi tìm hay khao khát những thực tại thế trần và mau qua.

Về mục lục

.

VUA TÌNH YÊU

Lm Giuse Đỗ Vân Lực

Tình yêu là mức đo giá trị mọi thực tại. Chiếm được trái tim là chiếm được tất cả! Đó là trung tâm qui tụ toàn thể tiểu vũ trụ. Từ tiểu vũ trụ sang đại vũ trụ, Đức Giêsu vẫn là vua, vì Người đã đã chiếm trọn con tim nhân loại. Khi nằm trên thập giá, Đức Giêsu thấy tất cả những giới hạn vô cùng hẹp hòi của người đời. Tất cả binh lính đều một giọng như nhau: “Nếu ông là vua dân Do thái thì cứu lấy mình đi!” (Lc 23,37) Các thủ lãnh có vẻ thâm độc hơn: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” (Lc 23,35) Nhưng Đức Kitô vẫn im lặng. Tuy cười nhạo Chúa, bọn lý hình đã thâm gan tím ruột khi đọc bản án tổng trấn Philatô truyền viết phía trên đầu tử tội: “Đây là vua người Do thái.” (Lc 23,38) Không cưỡng nổi lệnh truyền đó, nên họ đã tìm cách trả thù. Bao nhiêu căm tức đã đổ dồn lên con người Đức Giêsu.

Nhưng chẳng có đau khổ nào lớn hơn khi chính người đồng cảnh ngộ cũng về hùa với bọn lý hình nhục mạ Chúa: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứ mình đi, và cứu cả chúng tối với!” (Lc 23,39) Trước những thách thức ồn ào đó, Đức Giêsu vẫn im lặng. Dân chúng khi thì a dua (Lc 23,17-25), lúc lại bàng quang: “Dân chúng thì đứng nhìn.” (Lc 23,35) Thái độ bất động của dân chúng rất phức tạp. Nhưng chắc chắn không phải ai cũng như bọn binh lính hay người gian phi thiếu hiểu biết. Thật vậy, “dân chúng theo Người đông lắm.” (Lc 23,26) Ngay trong hàng ngũ quân đội cũng có “viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa: ‘Người này quả thật là công chính.’” (Lc 23,47) Nếu Người là công chính, tất nhiên bản án tử hình là một bất công lớn lao giáng xuống người vô tội. Như thế, Đức Giêsu đã chiếm trọn được lòng người, kể cả những tên lý hình và người gian phi. Một trong hai người gian phi đã thành tâm thưa với Chúa: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23,41) Giữa lúc cùng khốn đó, trí óc ông vẫn minh mẫn biện hộ cho Chúa, đối lại với đồng bọn: “Ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23,42) Nghĩa là, chính những người đã từng chống cưỡng lệnh Thiên Chúa, giờ đây cũng phải tuyên xưng Người là Đấng Công Chính. Chính vì thế, Đức Giêsu đã mạc khải cho ông tất cả sự thật về Nước Chúa: “Tôi bảo thật anh: hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23,43) Tin Mừng luôn mang tính “hôm nay” ngay cả khi gặp cảnh cùng khốn nhất. Khác hẳn với những kẻ lợi dụng tương lai để biện hộ cho những ý đồ thống trị hiện tại, Đức Giêsu luôn tìm thấy nét hiện thực trong Tin Mừng. Người không muốn trốn thoát hiện tại, dù hiện tại đau thương nhất, để ẩn mình trong cái vỏ tương lai.

Chính vì thế, Tin Mừng luôn mang tính hiện sinh, loan báo cho người hôm nay về một Vua Công Chính, Vua Hòa Bình. Mọi đối kháng đều bị hóa giải trong chính trái tim Người. Nói khác, Người đã xin Chúa Cha tha thứ cho những tên lý hình (x. Lc 23,34) và người gian phi, như Người đã từng tha thứ cho Maria Mađalêna, phụ nữ Samaritana, Phêrô v.v. “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1,20) Là con dân trong Nước Chúa, Kitô hữu không thể không nhớ tới sứ mệnh hòa bình, hòa giải của mình trong gia đình cũng như xã hội. Sứ mệnh đó chúng ta đã đón nhận từ ngày tháp nhập vào nhiệm thể Chúa Kitô trong bí tích thánh tẩy. Quả thực, “Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội thánh.” (Cl 1,18) Trở thành chi thể Đức Kitô, chúng ta chia sẻ cùng sứ mệnh với Người. Chỉ khi nào thi hành sứ mệnh cao cả đó, chúng ta mới được vinh phúc trở thành con Thiên Chúa (x. Mt 5,9)

Chính khi thi hành sứ mệnh đó, chúng ta chia sẻ vương quyền Đức Giêsu. Trong bí tích thánh tẩy, chúng ta đã được chia sẻ quyền làm vua với Chúa. Sứ mệnh vương giả đó chỉ được thể hiện trong phục vụ. Phục vụ là đối thoại, lắng nghe, tôn trọng mọi người. Phục vụ là sẵn sàng coi người khác hơn mình. Người phục vụ không có gì để tự hào. Trái lại, họ biết mình phục vụ ai và tại sao phải phục vụ. Phục vụ cho một đối tượng duy nhất là Đức Kitô, hiện thân nơi nhiệm thể là Giáo hội, tức là dân Chúa. Họ noi gương Đức Giêsu, Đấng đã “sống giữa anh em như một người phục vụ.” (Lc 22,27) Thầy phục vụ cho đến chết. Con đường phục vụ là con đường ngắn nhất dẫn đến vinh quang Nước Chúa. Mỗi khi phục vụ, họ thấy mình trở nên giống Chúa Kitô và thể hiện được tất cả nét dịu hiền và đầy lòng thương xót của Chúa. Phải có một tấm lòng bao dung như Chúa mới có thể phục vụ một cách vô tư mọi người, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Đây là nét đặc trưng cao đẹp nhất của Nước Chúa dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô. Có lẽ nhiều người sẽ đồng ý với những người Hồi giáo Algerie rằng: “Giáo hội Công giáo rất nhạy cảm trước nỗi khổ đau của người Algeria và mọi nơi, bất kể họ có tin vào Đức Kitô hay không.” (VietCatholic 23/11/2001) Tính cách vô tư đó đã hấp dẫn mọi người tìm đến với Đức Kitô Vua Tình Yêu. Nhờ Người, Thiên Chúa “đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái.” (Cl 1,13)

Chính Người đang thúc đẩy “triều đại Cha mau đến.” (Mt 6,10) Hằng ngày chúng ta vẫn đọc lời kinh cao đẹp ấy. Nhưng hỏi mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu xa trong lời kinh đó? Thú thật cho đến gần đây, mỗi khi đọc lời kinh đó, cá nhân kẻ viết bài này rất run sợ vì vẫn nghĩ rằng Nước Cha trị đến có nghĩa là Chúa sắp tái lâm để phán xét. Nhưng suy nghĩ kỹ, mới thấy “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14,17) Như thế, càng lâm cảnh khổ đau, cô đơn, bị đàn áp bất công, càng cần phải xin cho “triều đại Cha mau đến.” Nghĩa là, Đức Giêsu luôn dạy chúng ta phải cầu xin Chúa Cha ban hòa bình và no ấm cho nhân loại. Lời cầu xin đó chỉ có thể thành hiện thực trong Đức Giêsu Vua Tình yêu mà thôi! Lý do “vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình.” (Cl 1,19-20)

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU KITÔ, VUA VŨ TRỤ

Lm Trần Đình Nhi

Để diễn tả quyền bính cai trị của Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, bài Tin Mừng mỗi năm Phụng vụ khai triển về một khía cạnh đặc biệt. Năm A với bài Tin Mừng Mátthêu (25:31-46), đề cao Vua Giêsu như vị Thẩm phán xét xử muôn loài. Năm B với bài Tin Mừng Gio-an (18:33-37) cho ta một cái nhìn thần học về uy quyền của Vua Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể đến để làm chứng cho sự thật rằng Thiên Chúa hằng yêu thương nhân loại và chờ đợi con người đáp lại tình yêu ấy bằng cách tin vào Đấng được sai đến. Năm C với bài Tin Mừng Luca (23:35-43) trình bày Vua Giêsu hiển trị từ trên thập giá. Vương quyền của Người là do việc Người tuyệt đối vâng phục Chúa Cha để đem lại sự tha thứ tội lỗi cho nhân loại. Thánh danh Giêsu nghĩa là “Thiên Chúa cứu” đã nói lên uy quyền cứu độ của Thiên Chúa dành cho muôn dân qua sứ mệnh cứu thế của Chúa Giêsu và tác động của Chúa Thánh Thần trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Cha.

a) Những kẻ phủ nhận vương quyền của Chúa Giêsu

Vua Giêsu bị đóng đinh và treo trên thập giá. Tột đỉnh của kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thể hiện trong giờ phút này. Khi quyền lực của tội lỗi tưởng như thắng thế qua cái chết đang đến gần Chúa Giêsu thì đó lại là lúc quyền năng của Thiên Chúa sắp sửa toàn thắng tội lỗi và đem lại hiệu quả ơn tha thứ cho toàn thể nhân loại.

Trong giờ phút trọng đại ấy, thánh Luca cho ta một hình ảnh tương phản giữa những kẻ phủ nhận vương quyền của Chúa và những kẻ tôn vinh Người. Một phía là các nhà lãnh đạo tôn giáo Israel, đám lính tráng và một tên gian phi bị đóng đinh cùng nhau nhục mạ Người. Một phía là đám dân chúng kính cẩn đứng nhìn và tên gian phi hối cải đã can đảm bênh vực, tuyên xưng Chúa Giêsu vô tội và cầu xin Người cứu độ mình.

Những kẻ phủ nhận vương quyền của Chúa Giêsu đã nhìn vương quyền ấy theo nhãn quan riêng của họ. Đối với đám lính tráng, vương quyền chỉ có nghĩa đơn giản là quyền hành của một ông vua trần gian, thí dụ như hoàng đế Rôma hoặc vua Hê-rốt chẳng hạn. Do đó họ không thể chấp nhận một người đã bị họ đóng đinh vào thập giá lại có thể xưng mình là “vua dân Do-thái” được. Nếu quả thực Chúa Giêsu là một tên tội phạm, thì chính dân Do-thái cũng chẳng muốn chấp nhận một người như vậy là vua của họ. Tên gian phi nhục mạ Chúa thì chỉ nhìn vương quyền của Chúa dựa trên nhu cầu riêng tư của hắn. Vì Chúa Giêsu không thể tự cứu mình và cứu được hắn, nên Chúa Giêsu cũng chẳng hơn gì hắn. Nhưng đối với những nhà lãnh đạo tôn giáo Do-thái, cái nhìn của họ về vương quyền của Chúa Giêsu phức tạp hơn. Khi đặt câu hỏi giả dụ Chúa Giêsu là “Đấng Kitô”, chắc chắn họ đã hiểu rõ ý nghĩa của tước hiệu Kitô ấy. Là những người học biết và tin vào Kinh Thánh, họ hiểu Đấng Kitô là ai theo sấm ngôn của I-sai-a nói về Người Tôi Trung được Thiên Chúa tuyển chọn: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49:6). Nhưng đối với họ, Chúa Giêsu chỉ là một anh thợ mộc đến từ Na-da-rét miền Ga-li-lê. Những người ở Giê-ru-sa-lem đặt câu hỏi Chúa Giêsu có đích thực là Đấng Kitô không và họ tự trả lời: “Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi; còn Đấng Kitô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả” (Ga 7:27). Tóm lại, họ không muốn nhìn nhận sứ mệnh cứu thế của Chúa Giêsu, mặc dù Chúa Cha đã đích thân giới thiệu: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn” (Lc 9:35), hoặc chính Chúa Giêsu đã nhiều lần khẳng định: “Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi đến là Đấng chân thật. Các ông không biết Người. Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến và chính Người đã sai tôi” (Ga 7:28-29).

Có lẽ mỗi cách phủ nhận vương quyền của Chúa Giêsu qua những hạng người ấy đều nói lên một cách nào đó của những con người hôm nay không muốn nhìn nhận quyền năng cứu độ của Chúa Giêsu. Những tham vọng, tự cao tự đại và lợi nhuận vật chất đã trở thành những trở ngại, che lấp con mắt đức tin của ta để ta không nhận ra được con người và sứ mệnh đích thực của Chúa Giêsu nữa.

b) Nhìn nhận Chúa Giêsu là Vua cứu độ

Trái ngược với những kẻ phủ nhận vương quyền của Chúa Giêsu là đám dân chúng “đứng nhìn” và nhất là người gian phi thống hối. Những kẻ phủ nhận thì ồn ào buông lời chế giễu Người. Còn những người nhận biết Chúa Giêsu thì giữ thái độ im lặng kính cẩn hoặc tha thiết cầu xin Người. Bởi đâu họ nhận biết Người? Hẳn phải là do cung cách của Chúa Giêsu ngay trong những giây phút trầm trọng cuối đời. Chính trên thập giá, Người đã biểu lộ tột đỉnh của tình yêu, và tình yêu đã nói lên cung cách của người “thí mạng sống mình vì bạn hữu” và sẵn sàng tha thứ tất cả. Tình yêu đã biến đổi lòng đám dân chúng. Họ không theo thói a dua của người đời mà khinh bỉ người tử tội Giêsu, giống như nhóm lãnh đạo tôn giáo, tên gian phi không hối cải và đám lính tráng đã làm. Nhưng họ đang “đứng nhìn”, một thái độ chiêm ngưỡng để cố gắng nhận ra chiều kích “dài, rộng, cao, sâu” của tình yêu Thiên Chúa.

Tình yêu trên thập giá cũng biến đổi tâm hồn người gian phi cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu. Nó giúp anh nhìn xa hơn về tương lai. Không phải chỉ là sự sống tạm ở đời này, như tên gian phi kia đã thách thức Chúa Giêsu: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng là sự sống đời đời. Anh khẩn cầu Chúa: “Khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Tình yêu trên thập giá đã giúp người gian phi thống hối nhận biết Chúa Giêsu là ai và mình là ai. Anh đã nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình, qua lời đối đáp tên gian phi kia: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm!” Anh còn nhận ra được Chúa Giêsu là Đấng nào nữa. Ngài không chỉ là một người vô tội. Nhưng hơn thế nữa, Ngài còn là “ông Giêsu”. Đây là lần duy nhất trong sách Tin Mừng, Đức Giêsu được gọi đích danh, chứ không phải bằng các tước hiệu. Anh đã hiểu được nghĩa thực của thánh danh Người. “Giêsu” nghĩa là “Thiên Chúa cứu.” Người là Vua của Nước Thiên Chúa, là Đấng đến cứu vớt mọi kẻ tội lỗi.

Chiêm ngưỡng tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ qua con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu, đồng thời kêu cầu với Người: “Xin nhớ đến con” chắc chắn sẽ là điều mọi Kitô hữu phải lập đi lập lại trong suốt cuộc sống mình.

c) Suy nghĩ và cầu nguyện

Có khi nào tôi thuộc nhóm người phủ nhận vương quyền của Chúa Giêsu không? Nếu có thì điều gì đã làm cho tôi không muốn nhận Chúa làm vua tâm hồn tôi?

Tôi có chiêm ngưỡng Chúa Giêsu và tình yêu Thiên Chúa khi cầu nguyện trước tượng Chúa chịu chết trên thánh giá bao giờ không? Tôi thử tập thói quen cầu nguyện như vậy, bằng cách quỳ trước tượng Chúa chịu chết trên thánh giá và ngước nhìn lên Chúa, để cố gắng cảm nghiệm Chúa đã yêu thương tôi đến mức nào.

Những khi gặp đau khổ hay bất công, tôi có dùng dịp ấy để biểu lộ tình yêu đối với người khác không? Tôi có làm chứng cho tình yêu tha thứ của Thiên Chúa không?

Cầu nguyện:

“Lạy Cha, xin ban cho con điều khó hơn cả,

đó là ơn nhận ra Thánh giá của Con Cha

trong mọi nỗi khổ đau của đời con,

và ơn bước theo Con Cha trên đường Thánh giá,

bao lâu tùy ý Cha định liệu.

Xin đừng để con trở nên chua chát

nhưng được trưởng thành nhờ đón nhận đau khổ

với sự kiên nhẫn, quảng đại, nhân từ

và lòng khao khát nóng bỏng

có ngày sẽ được ở nơi không còn khổ đau.

Ngày đó, Cha sẽ lau khô mọi giọt lệ

của những người đã yêu mến Cha,

đã tin vào tình yêu Cha giữa nỗi thống khổ,

tin vào ánh sáng của Cha giữa đêm đen.

Nhờ Cha, ước gì khổ đau của con

nói lên lòng tin của con vào những lời hứa của Cha,

lòng cậy của con vào tình yêu trung tín của Cha,

và lòng mến mà con dành cho Cha.

Lạy Cha, xin cho con yêu Cha hơn yêu bản thân,

và yêu Cha chỉ vì Cha, chứ không mong phần thưởng.

Ước gì Thánh giá trở nên mẫu gương cho con,

là ánh sáng cho đêm tăm tối,

nhờ đó con không còn coi khổ đau như một tai họa hay một điều vô lý,

nhưng như một dấu chỉ cho thấy con đang thuộc về Cha mãi mãi.”

– Cha Karl Rahner

(Trích RABBOUNI, lời nguyện 63)

Về mục lục

.


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...