11/11/2022
1592


CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN_C

Lời Chúa: Ml 3,19-20a; 2Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

--------------------------


 

Mục lục

1. Có tình có lý  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

2. Kẻo bị lừa dối  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

3. Ngày sẽ đến  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

4. Ai không làm thì đừng ăn (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

5. Cơ hội chọn Chúa  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

6. Đừng để mất cơ hội (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Tình yêu và lòng kiên trì (Teresa Phan Huyền, Thanh Tuyển sinh MTG.TĐ)

8. Kiên nhẫn sẽ được ơn cứu rỗi (Teresa Tuyết Ngọc, Thanh Tuyển sinh MTG.TĐ)

9. Diễn từ về Giêrusalem đổ nát  (Lm. Giuse Nguyễn An Khang)

10. Kiên trì trước sức tàn phá (Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

11. Ngày tận thế  (Lm. Minh Vận, CRM)

12. Giữ linh hồn  (Lm. Bùi Quang Tuấn)

13. Biết tin vào ai?  (Lm. Nguyễn Ngọc Long)

14. Bền đỗ sẽ được ơn cứu độ (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

15. Trắc nghiệm đức tin (Thiên Phúc)

16. Phán xét người lành kẻ dữ (Lm. Hồng Phúc, CSsR)

17. Tầm nhìn  (Trầm Thiên Thu)

18. Diễn từ về Giêrusalem đổ nát.  (Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt)


 

CÓ TÌNH CÓ LÝ

Lm. Jos. DĐH.

Trong khi xã hội ngấm ngầm với chủ trương: mạnh được yếu thua, khéo mồm miệng đỡ chân tay ; thực tế tại gia đình, mỗi thành viên đều thấy: sống có tình có lý, chính là thước đo của bình an, hạnh phúc. Cơm áo gạo tiền, công danh sự nghiệp, có thể là mối bận tâm của nhiều bậc làm cha mẹ, trong khi đó, sống hiếu thảo, sống nghĩa tình, vẫn là đáp án chung cho tất cả những ai đang hướng tới niềm an vui hạnh phúc. Suy nghĩ và hành động của mỗi người rất tự do, vô chừng mực: được tới đâu, hay tới đó ; có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ, hoặc được ăn cả, ngã về không… ! Có phải hạnh phúc lớn nhất ở đời là khi người ta biết để tai mắt tới những vẻ đẹp của vũ trụ vạn vật, để tâm trí hoà hợp với các thành viên gia đình, xã hội, và đưa đến thực hành bằng sự nhạy bén của con tim khối óc ?

Trước “cái biết” giới hạn mong manh, những người Do-thái hôm đó trầm trồ khen ngợi vẻ đẹp nguy nga của Đền thờ Giêrusalem, phản ứng trung thực của Đức Giêsu, Ngài hướng mọi người đến tính cao đẹp và vững chắc phải là Đền thờ tâm hồn, cần thiết và quan trọng hơn. Đền thờ vật chất được xây dựng bằng những thứ vật liệu quý hiếm đắt tiền, chúng chỉ là gạch vữa dễ hư nát với thời gian, như lời tiên báo: “những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó, sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Bằng mắt thường, bằng sự đụng chạm của giác quan, có ai lý giải được vì sao Tiền-nhân chúng ta không sợ đau khổ, không sợ cực hình, không sợ máu chảy đầu rơi ? Một tinh thần khoẻ mạnh, một ý chí sắt đá, một đền thờ tâm hồn vững chắc, có phải mỗi Vị tử đạo được nhào nắn, huấn luyện, nên viên đá sống động, trường tồn, trong ơn gọi theo Đức Kitô ?

Sống có tình có lý, chính là cư xử tốt với đồng loại, là tương quan vừa tốt vừa đẹp với tha nhân, nhất định phải đúng, phải phù hợp với thánh ý Chúa, khi mà lý trí và tự do đang liên kết, làm nên một nhịp đập trong tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại vì yêu. Người đời không khỏi thắc mắc về các anh hùng tử đạo của Kitô giáo: người mạnh mẽ là gì, người không sợ đau khổ chết chóc là vì sao ? Thưa, không phải vì sự cứng rắn bề ngoài, nhưng là do tinh thần các ngài thấm nhuần tình yêu của Đấng đã yêu họ. Tiền nhân của chúng ta dám chết vì tình yêu Đức Kitô, không ai nghĩ là các ngài mình đồng da sắt, chính xác hơn, cha ông chúng ta đã biết sống đúng ý Chúa, sống chuẩn mực với Tin-mừng mà các ngài đã nhận lãnh.

Từ câu chuyện Đền-thờ xinh đẹp với kiến trúc nguy nga tráng lệ, được trang hoàng lộng lẫy bằng vàng bạc châu báu, Chúa Giêsu gợi lên một chân lý: vạn vật ở thế trần bất toàn, tất cả rồi sẽ hư hỏng theo quy luật thời gian. Từ câu chuyện các bậc anh hùng tử đạo: không tham sống sợ chết, các thế hệ tiếp nối truyền thống đức tin của cha ông, không thể chối bỏ một sự thật: linh hồn bất tử. Đền-thờ vật chất dù kiên cố, đồ sộ, dù là niềm kiêu hãnh của số đông đã từng cả nghĩ, nhưng mấy chốc chúng sẽ đổ xập ! Từ những tiên tri giả, những hiện tượng lạ trên trời dưới đất, khiến muôn dân thiên hạ phải hoang mang sợ hãi, nhưng đó chính là cơ hội mỗi người sẽ minh chứng thế nào là sống có tình, có lý, đối với đức tin ta đã nhận lãnh. Đâu phải tự nhiên mà tiền nhân chúng ta biết chỉ dạy con cháu: ta có lỗi với người là hoạ, người có lỗi với ta là phúc !

Chúa Giêsu không phủ nhận vẻ đẹp của Đền-thờ, Ngài gián tiếp nhắc nhớ con người cần phải tin tưởng vào Đấng đã tác tạo nên muôn loài muôn vật: “anh em hãy ghi lòng tạc dạ, anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả thù địch của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được”. Trong khi các đấng bậc lưu ý con cháu: muốn thành công trên đường đời phải làm chủ lấy thời cuộc, muốn làm chủ lấy thời cuộc phải làm chủ lấy những người xung quanh, nhưng muốn làm chủ những người xung quanh ta phải làm chủ lấy mình. (Vitor Pauchet). Chúa Giêsu thì có ý nhắc: hãy tin tưởng vào tình yêu thương của Ngài và tập trung để cùng Chúa xây dựng Đền-thờ tâm hồn của mình trước.

Sống có tình có lý, phải chăng là được không kiêu, thua không nản, hoặc là chúng ta đang thể hiện việc sống niềm tin kitô giáo: mến Chúa yêu người ? Các Thánh tử đạo Việt Nam hôm xưa bị coi là khờ là dại, cùng lắm một số suy nghĩ tích cực hơn: những vị ấy thật xứng bậc anh hùng ; trước thánh nhan Thiên Chúa, tiền nhân chúng ta quả là khôn ngoan, bởi các ngài có dư cách để thoát thân. Đúng như lời Chúa Giêsu căn dặn: “có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”. Cuộc sống có chiến tranh, loạn lạc, chia rẽ, thù hận, phản ánh một cuộc sống tạm, đầy nguy nan ; cuộc sống bền vững, ngập tràn yêu thương an bình, chính là cuộc sống mà các tương quan gia đình, xã hội, mọi thành viên đều ý thức phải sống có lý, có tình. Amen.

Về mục lục

.

KẺO BỊ LỪA DỐI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Hàng giả, hàng nhái, fake news, những giả dối dường như đang bao vây con người, dẫn dụ nhiều người vào những sai lầm, những món nợ, những thiệt hại. Trong Tin Mừng Chúa Giê su cũng nói tới những tiên tri giả, những người tự xưng mình là đấng cứu thế, giả danh, giả nghĩa, trục lợi những người tin vào chúng. Đâu là sự thật, để có thể đứng vững?

Sàng lọc đức tin.

Chúa Giêsu nói cần đứng vững và trải qua thử thách. Giữa những giả dối, điều quan trọng hơn bao giờ hết, cần bình tâm, suy xét và phán đoán theo sự khôn ngoan. Nếu tự mình không biết đâu là sự thật, nên tìm hiểu và hỏi những người hiểu biết hơn. Có một nơi tin cẩn nhất để biết, đó là nơi Chúa. Cầu nguyện và tìm nơi Chúa câu trả lời.

Sự thật là gì? Câu hỏi của Philatô trong phiên xét xử Chúa Giê su ở toà án, luôn được nhắc đi nhắc lại để phân định, Chúa Giêsu là ai? Chúa Giêsu là sự thật con người cần tìm kiếm trong mọi thời đại.

Sự thật đối với người Do Thái hiểu là người trung tín trong lời nói và việc làm. Thiên Chúa, Đấng Trung Tín như đã mạc khải cho Môi sê: “Yavê! Yavê! Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và đầy nhân nghĩa, tín thành.” (Xh 34, 6). Đấng trung tín hiện thân bằng xương, bằng thịt nơi Chúa Giê su, theo nghĩa sự thật có thể gặp và đụng chạm được của người Hy Lạp. Trong Thánh Kinh, sự thật như Chúa Giêsu mạc khải: “Sự sống đời đời tức là: chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Ðấng Cha đã sai, Yêsu Kitô.” (Ga 17, 3).

Nhận biết Chúa Cha và Chúa Giêsu là sự thật, một đòi hỏi sự trung tín trong tình yêu được mời gọi. Đó là một tương quan sống với hơn là một sự thật nắm giữ. Do vậy, khi Chúa Giêsu nói: “Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8, 32) nghĩa là “Anh em trung tín trong tình yêu, tình yêu sẽ biến đổi anh em”. Trong tình yêu của Chúa, con người được ban sức mạnh để tránh xa tội lỗi, và giữ gìn khỏi những bất trung.

Thử thách trong tình yêu

Trong tình yêu luôn có những thử thách, đó là kinh nghiệm của con người qua mọi ơn gọi yêu thương: Hôn nhân, đời tu, bạn hữu… Thử thách lòng yêu thương đi cùng nhau qua năm tháng.

Sự trung tín cần có một điểm tựa chắc chắn, có câu ngạn ngữ viết rằng: “Đừng dựa vào cành cây, cành cây sẽ gẫy, đừng dựa vào con người, con người sẽ chết”. Dựa vào sự thật được mặc khải trong Lời Chúa là khôn ngoan. Đức Hồng Y Bruno Forte gợi ý rằng: “Cần đọc lịch sử trong Lời Chúa và đọc Lời Chúa trong lịch sử”. Mỗi người là một lịch sử được ghi dấu trong tình yêu của Chúa, lịch sử đó như lời mời gọi: Cầm lấy Lời Chúa mà đọc, “để nghiệm xem Chúa tốt lành, nhân hậu dường bao” (Tv 34, 9).

Sự trung tín cũng cần được thực hiện trong tình yêu. Lời Chúa trong Tin Mừng Mat thêu 25, 33, nói khi Chúa xét xử, Người không xét xử gì khác ngoài tình yêu. Sống bác ái yêu thương trong từng lời nói, hành động với nhau; chia sẻ với người nghèo khó, ân cần đón tiếp kẻ cơ bần. Chúa hiện diện nơi người anh chị em và nơi người nghèo khó. Như một bài hát thường hát: “Đâu có tình yêu ở đó có Đức Chúa Trời”. Yêu thương là chu toàn lề luật (Rm 13, 10).

Trông cậy vào Chúa để có sức mạnh, có đủ tình yêu vượt qua những thử thách. Nghiệm thấy mình trong Lời Chúa như trang Tin Mừng dành cho chính mình trong công trình cứu độ của Chúa, niềm vui và hạnh phúc.

Về mục lục

.

NGÀY SẼ ĐẾN

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Trầm trồ khen ngợi đền thờ,
Trang hoàng đá quí, không ngờ phá tan.
Giê-su báo trước ngày tàn,
Đá tường bình địa, kêu than thấu trời.
Chừng nào biến cố tới nơi?
Dấu nào nhận biết, những lời Thầy đây.
Coi chừng lừa dối bao vây,
Mạo danh Chúa đến, để gây ưu phiền.
Chiến tranh loạn lạc mọi miền,
Các con đừng sợ, thiên nhiên chuyển vần.
Xảy ra động đất xa gần,
Trên trời điềm lạ, từng phần xảy ra.
Mọi nơi ôn dịch mưa sa,
Con người đói khát, sa đà chiến tranh.
Ngục tù bắt bớ tranh dành,
Hội đường cấm cách, phạm danh Chúa Trời.
Quan quyền uy hiếp người đời,
Chứng nhân sự thật, gọi mời hy sinh.
Cầu xin ân sủng Thánh Linh,
Khôn ngoan đối đáp, bình sinh an hòa.

Bước gần vào cuối năm Phụng vụ, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Phúc âm về những sự sẽ xảy ra ngày cuối đời. Chúa Giêsu tiên báo về ngày sụp đổ của Thành Thánh Giêrusalem. Chúa phán rằng: Những gì các con nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá. Thành Giêrusalem đã bị phá đổ và cháy rụi vào năm 70 sau Công Nguyên. Nhiều người đương thời muốn biết dấu chỉ để nhận ra ngày đó. Chúa chỉ nhắc nhở: Các con hãy ý tứ kẻo bị người ta lừa dối.

Tòa Soạn tờ báo Tiếng Chuông, tại New Jersey, có một bài viết về Ngày tận thế đã được khẳng định. Họ là những chuyên viên Kinh Thánh và Mục sư, học giả cho rằng ngày tận thế sẽ là ngày 31 tháng 12 năm 1999. Đây không phải là lần đầu tiên người ta tiên báo về ngày tận thế. Ngày đó đã qua hơn 15 năm vẫn chưa thấy gì xảy ra. Chúng ta đã nghe biết bao lời sấm, tiên báo về ngày cùng tận nhưng thời gian vẫn cứ trôi và trái đất vẫn xoay tròn tiếp tục. Vậy ngày tận thế bao giờ sẽ đến? Câu hỏi lôi cuốn rất nhiều người muốn tò mò tìm xem để biết về tương lai. Ngày đó chắc chắn sẽ đến. Chúng ta không biết ngày nào và giờ nào. Chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra, ngày đó không ai biết trước.

Việc quan trọng mà Chúa muốn chúng ta là luôn ở trong tư thế sẵn sàng. Nếu chúng ta chuẩn bị tâm hồn và sẵn sàng thì ngày tận thế sẽ là ngày đang mong đợi để kết hợp với Chúa. Truyện kể: Có một ông cụ ngoài 70 tuổi đang trên giường bệnh đau đớn chờ chết. Tâm hồn không được thanh thản, ông dằn vặt, lo lắng và không tâm sự được. Qua những cuộc viếng thăm và an ủi, ông đã lên tiếng phá vỡ bầu khí yên lặng, ông nói rằng: Ngày trước, khi tôi còn trẻ, tôi thường chơi ở cánh đồng gần giao lộ. Nơi đó có tấm bảng chỉ đường, tôi thường nghịch xoay các bảng chỉ đường làm biết bao nhiêu người đã bị lạc và nguy hiểm. Còn nhiều việc khác nữa, tôi đã làm gương mù, gương xấu cho con cháu qua cách sống của tôi, Giờ đây tôi hối hận. Không biết bao nhiêu người vì tôi mà đã bị lầm lạc trong cuộc sống.

Điều quan trọng không phải là ngày nào hay giờ nào tận thế đến, nhưng là chúng ta có sẵn sàng để đón Chúa đến hay không. Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con tỉnh thức và sẵn sàng để bất cứ khi nào Chúa đến, chúng con sẽ sẵn sàng cầm đèn cháy sáng trong tay chờ đợi Chúa.

Về mục lục

.

AI KHÔNG LÀM THÌ ĐỪNG ĂN

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Chỉ còn hai tuần nữa chúng ta sẽ kết thúc năm phụng vụ. Khi nói về ngày tận cùng của thế giới, Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta tới bổn phận phải xây dựng cuộc sống hiện tại qua các bài đọc, đặc biệt là trong bài đọc II, thánh Phaolô quả quyết: “Ai không làm thì đừng ăn!”

Có lẽ cộng đoàn Thêxalônica là một trong những cộng đoàn đầu tiên, có những tín hữu đã có những kết luận sai lầm về huấn từ ngày cánh chung của Chúa Giêsu. Họ cho rằng thật là vô ích để cố gắng hết mình, làm lụng vất vả hay làm bất cứ điều gì nếu ngày Chúa xảy đến. Vì thế, họ lơ là bổn phận lao động hằng ngày, và vì sự “ở nhưng” là mẹ đẻ của mọi tật xấu, nên họ ngồi lê đôi mách. Họ chỉ sống cho qua ngày mà không còn dấn thân cho những dự phóng lâu dài, chỉ làm việc tối thiểu để đủ sống thôi.

Thánh Phaolô trả lời cho họ trong bài đọc II: “Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào. Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân” (2 Tx 3,11-12). Ở phần đầu của đoạn này, thánh Phaolô nhắc lại luật mà ngài đã truyền cho các Kitô hữu trong cộng đoàn Thêxalônica: “Ai không làm thì cũng đừng ăn” (2 Tx 3,10).

Điều này là một sự mới mẻ đối với con người thời đó. Bởi lẽ, nền văn hóa thời đó mà họ thuộc về là văn hóa coi thường việc lao động chân tay. Người ta nhìn những công việc tay chân là những việc làm đê hèn, thấp kém, chỉ dành cho những người nô lệ và những người ít học.

Nhưng Kinh Thánh có một cái nhìn khác. Từ những trang đầu tiên, Kinh Thánh giới thiệu Thiên Chúa làm việc trong sáu ngày và ngày thứ Bảy Người nghỉ ngơi. Trong Kinh Thánh, tất cả những điều này xảy ra trước khi tội lỗi xuất hiện. Chính Chúa Giêsu cũng quả quyết: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17). Trong thời gian sống ẩn giật tại Nadarét, Chúa Giêsu cũng đã chăm chỉ lao động cùng với thánh Giuse và đức Maria.

Vì thế, lao động tự bản chất thuộc một phần bản tính của con người. Mỗi công việc lao động tự nó đều có giá trị. Lao động chân tay cũng giá trị và cao trọng như lao động tri thức và tâm linh.

Trong Thông Điệp Laborem exercens (1981), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trình bày về giá trị của lao động theo cái nhìn Kitô giáo, được tóm tắt trong ba điểm sau đây:

1- Lao động giúp mỗi người hoàn thiện bản thân

Lao động là một điều tốt của con người, bởi vì nhờ lao động mà con người không chỉ cải tạo thiên nhiên, nhưng còn giúp con người thực hiện ơn gọi của mình xét như là một nhân vị. Theo nghĩa này, con người càng trở nên chính mình, nên hoàn thiện mình nhờ lao động. Khi lao động, ngoài những hiệu quả khách quan và mang lại sản phẩm, còn là một hành vi cá nhân mà toàn thể con người tham dự, cả thể xác lẫn tinh thần. Như thế, lao động không phải là gánh nặng, là hình phạt và sự rủi ro, nhưng là bổn phận, quyền lợi, và là sự chúc lành của Thiên Chúa để chúng ta hoàn thiện chính mình, thi thố tài năng và rèn luyện các nhân đức. Nhờ lao động, con người nên hoàn thiện và ai tích cực lao động sẽ nên thánh nhờ lao động.

2- Lao động là cộng tác với Thiên Chúa

Giá trị thứ hai của lao động là con người được tham dự và cộng tác vào hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa, Đấng đã giao phó công trình của người cho con người để con người tiếp tục phát triển và sinh lợi cho mọi người. Vì điều này, một người lao động là một người sáng tạo. Ý thức rằng lao động của con người là sự tham gia vào công trình của Thiên Chúa, nên khi lao động con người phải hướng tới những mục đích mà Công Đồng dạy:

“Thật vậy, trong khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, tất cả những người nam cũng như nữ hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu đều có lý để tin rằng nhờ lao công của mình, họ tiếp nối công trình của Đấng Tạo Hóa, phục vụ anh em, đóng góp công lao mình vào việc hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử” (GS 34).

3- Lao động phục vụ tha nhân

Đức tin Kitô giáo không cho phép cho người tín hữu sao nhãng bổn phận trần thế là xây dựng thế giới xã hội cũng như có thái độ vô tâm đối với tha nhân, nhưng ngược lại, Đức tin đòi buộc chúng ta phải dấn thân để phát triển xã hội và giúp đỡ tha nhân bằng lao động của mình. Bởi vậy, mỗi người được mời gọi phải hướng lao động của mình tới việc phục vụ con người sống trong xã hội. Khi lao động, chúng ta tạo ra nhiều sản phẩm, gia tăng sự giàu có vật chất và phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển văn hóa, nhờ đó, giúp con người phát triển phẩm giá, sống đúng phẩm giá trong đoàn kết, hiệp thông và tôn trọng tự do lẫn nhau.

Tuy nhiên, các bậc thầy tu đức vĩ đại dạy chúng ta rằng phải biết kết hợp giữa lao động với cầu nguyện: “Ora et labora.” Bổn phận mỗi ngày của chúng ta là phải cố gắng hết mình để làm cho lời cầu trong Kinh Lạy Cha được thực hiện: “Xin cho Nước Cha ngự đến.” Mỗi người được mời gọi lao động tích cực, nhưng đồng thời cũng không quên bổn phận cầu nguyện mỗi ngày, như là linh hồn cho công việc chúng ta. Như thế, mỗi lần chúng ta tới nhà thờ dâng lễ, chúng ta dâng lên Thiên Chúa bánh và rượu của chúng ta, đó là hoa màu ruộng đất và lao công con người cũng như những thành quả lao động. Thánh Thể trở thành biểu tượng sự kết hợp giữa lao động và cầu nguyện. Nhờ đó, cuộc sống mỗi người sẽ có ý nghĩa hơn cho mình và cho người khác. Nhờ lao động, chúng ta chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu. Vì thiên đàng chỉ dành cho những ai làm việc tích cực. Amen!

Về mục lục

.

CƠ HỘI CHỌN CHÚA

Bông hồng nhỏ

Con người luôn mong chờ cơ hội để được đổi đời: muốn thoát khỏi kiếp nghèo để trở nên giàu sang, muốn được nổi tiếng để được người ta vị nể, muốn có chức quyền để dương oai… Hôm nay, Chúa Giêsu đã nói đến một cơ hội đặc biệt, cơ hội để làm chứng cho Ngài.

Cuộc sống thường ngày vẫn diễn ra và luôn đặt người môn đệ trong một tâm thế phải luôn sẵn sàng để đương đầu với những thử thách. Thử thách đến từ chính cuộc sống này, những gian nan khốn khổ, những mời gọi ngọt ngào của chước cám dỗ, danh vọng, giàu sang. Chính khi đối diện với Lời Chúa hối thúc trong tâm hồn, ta có sẵn sàng để sống Lời Chúa không? Nếu ta không đủ nhạy bén với Lời của Chúa, không cảm thấy Lời Chúa rất thân quen, thì ta sẽ khó để nhận biết đâu là Lời của Chúa. Chúa Giêsu đã báo trước sẽ có những ngôn sứ giả xuất hiện (x. Lc 21,8).  Mỗi ngày, ta hãy năng đọc và suy gẫm Lời Chúa, để Lời Chúa dần dần thấm vào tâm hồn ta, trở nên nguồn lương thực giúp ta vượt qua những khó khăn và giúp ta tìm ra những câu trả lời cho cuộc sống vốn dĩ vẫn luôn có đầy những bế tắc. Đồng thời, ta hãy luôn sống gắn bó với Hội Thánh, sống theo các giáo huấn và huấn quyền của Hội Thánh.

Mỗi ngày, ta phải quyết liệt chọn Chúa trên hết mọi người và mọi sự. Chọn Chúa không chỉ là dám từ bỏ những vật chất, những danh vọng giả trá, nhưng hơn hết, chọn Chúa là dám từ bỏ chính cái tôi của mình. Từ bỏ mình luôn luôn là một chọn lựa đầy thách đố, đó là chọn lựa đầu tiên và liên tục mỗi ngày. Chọn từ bỏ mình đồng nghĩa với việc chọn Chúa là gia nghiệp, là chủ của mình.

Vì danh Chúa, người môn đệ sẽ bị bắt bớ, tù đày. Đây chính là cơ hội để ta làm chứng cho Chúa. Chúa Giêsu đã hứa chính Ngài sẽ cho ta ăn nói thật khôn ngoan, khiến cho tất cả địch thủ không tài nào chống chọi hay cãi lại được (x. Lc 21, 12-15). Trong những chọn lựa của cuộc sống hằng ngày, ta có tin rằng, khi ta dám phó thác đời sống của mình và cả chính mạng sống mình cho Chúa thì chính Ngài sẽ sống trong ta không? Được mọi người thương mến là điều tuyệt vời nhưng vì danh Chúa, ta có chấp nhận bị mọi người thù ghét không, chấp nhận cả cái chết không? Trước muôn vàn thử thách để thanh luyện đức tin và lòng mến của ta, ta có nhận ra đây là cơ hội tuyệt vời không? Chúa Giêsu đã khẳng định: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (Lc 21, 19). Kiên trì trong niềm tin tưởng vào Chúa luôn luôn là ơn ban của Chúa. Tự sức mình, ta không thể nào đứng vững và không đủ sức để thoát khỏi mọi cám dỗ kéo ta xa rời đức tin và từ bỏ Chúa.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa biết rõ con không thể làm gì nếu không có ơn Chúa. Con xin Chúa cho con mỗi ngày biết chọn Chúa trong những thử thách nhỏ, để khi thử thách lớn lao đến, con không hoảng sợ nhưng vững tin có Chúa đang ở ngay bên. Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin đốt lòng con yêu mến Chúa! Amen.

Về mục lục

.

ĐỪNG ĐỂ MẤT CƠ HỘI

Anna Cỏ May

Có lúc nào chúng ta đã làm chứng cho Đức Giêsu chưa? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời nhưng sẽ trả lời bằng chính cuộc sống của mỗi người. Chúng ta có rất nhiều cơ hội và nhiều hình thức để làm chứng cho Đức Giêsu, ngay cả lúc chúng ta phải đối diện với cái chết.

Trong Tin Mừng Luca, nhân khi mấy người nói về Đền Thờ lộng lẫy nguy nga với những phiến đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Họ hỏi Người: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước”( Lc 21, 6-7). Đức Giêsu không trả lời cho họ về thời gian. Ngài cho họ biết những sự việc và hiện tượng sẽ xảy ra trước khi thời đó đến. Sẽ có nhiều người mạo danh Ngài để lôi kéo dân chúng theo họ; dân này sẽ nổi dậy chống đối dân kia, nước này chống nước nọ; sẽ xuất hiện những trận động đất lớn, nhiều ôn dịch và đói kém xảy ra; những người theo Đức Giêsu sẽ bị người ta tra tay bắt và ngược đãi. Đó là cơ hội để họ làm chứng cho Ngài (x.Lc 21,8-11). Lúc này, mọi người sẽ làm chứng bằng cách hiến thân xác mình thành của lễ hy sinh, biến ngược đãi thành của lễ yêu thương, biến khổ hình thành thánh giá. Đây cũng là cơ hội để mọi người nên giống Đức Giêsu.

Là Kitô hữu, chúng ta có cảm nhận được Lời Chúa như đang vén mở ra trong cuộc sống này không? Hằng ngày, chúng ta được nghe, được nhìn thấy những con người xuất hiện với lời giảng khác với giáo lý và Lời Chúa mà chúng ta đã được thừa hưởng từ Đức Giêsu. Quan sát tự nhiên, chúng ta có nhận thấy thời tiết đang khác đi mỗi ngày không? Chúng ta cũng đã nhìn thấy sự đau thương, tan vỡ trong gia đình giữa anh em với nhau chỉ vì một miếng đất, một suy nghĩ hay quan điểm khác nhau. Chúng ta có cảm nhận được con người đang dần xa Thiên Chúa khi rơi vào những làn sóng hào nhoáng trong các chương trình giải trí cuối tuần không? Chúng ta hãy thử dừng lại nhịp sống để nhìn xem những gì đã đang xảy ra xung quanh? Nhìn lại chính mình, chúng ta đang ở đâu, ở vị trí nào? Chúng ta có để cho mình có cơ hội làm chứng cho Đức Giêsu ngay trong cuộc sống này không? Thiên Chúa vẫn khao khát tìm kiếm con người, Ngài chờ đợi họ. Con người sẽ làm chứng cho Ngài theo như Ngài muốn. Hơn thế nữa, Ngài mong cho con cái Ngài đứng vững trong niềm tin và kiên trì trong mọi hoàn cảnh, vì có kiên trì mới giữ được mạng sống.

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho chúng con nhìn thấy được những gì đang xảy ra xung quanh chúng con. Xin cho chúng con nghe được tiếng Chúa nói: “Thầy đây, đừng sợ!”; để chúng con vững tin sống trong tình yêu của Chúa và trở nên chứng nhân của Chúa từng ngày. Amen.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU VÀ LÒNG KIÊN TRÌ

Têrêsa Phan Huyền

Tình yêu là gì vậy?

Đó vẫn mãi là một câu hỏi có muôn vàn định nghĩa khác nhau. Nhưng chỉ trong Thiên Chúa, ta sẽ nhận ra và tìm được một câu trả lời xác đáng. Như thánh Gioan đã nói: “Thiên Chúa là tình yêu”, một tình yêu tự hiến, yêu cho đến cùng để cho muôn người được sống. một tình yêu bao la rộng lớn bao chùm mọi thành phần. Nhưng câu hỏi đặt ra trong khuôn mẫu tình yêu của Chúa vẫn thường bị chất vấn rằng: “Tại sao, Chúa yêu ta mà Ngài không cất khỏi những nỗi khổ đau nơi ta?”.

Và bài Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho câu hỏi ấy, đã mở ra cho ta một cái nhìn rộng hơn, xa hơn về sức mạnh của tình yêu. Chúa đã mô tả những khó khăn sẽ xảy ra trước khi Ngài đến trong vinh quang: động đất phá hủy, chiến tranh xảy ra, con người sẽ bị bắt bớ và sẽ bị giết chết,… Chúa muốn nói cho ta biết Ngài sẽ không lấy đi những rắc rối, những khổ đau đang xảy ra trong thế giới này. Nhưng “một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị lấy đi, (Lc 21,18). Những nghịch cảnh chúng ta gặp vì Đức tin là cơ hội để ta làm chứng tá, làm men muối cho tình yêu Chúa . Những điều ấy không làm ta xa Chúa nhưng thúc đẩy ta càng phó thác vào bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Chúa. Đó cũng là những điều giúp ta cậy trông vững vàng hơn và kiên trì hơn nữa để tìm được sự sống vĩnh cửu.

“Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống” (Lc 21, 19). Những lời trên của Chúa chứa đầy tình yêu. Đó là lời mời gọi ta sống tín thác, hy vọng, kiên nhẫn chờ đợi những thành quả của ơn cứu độ nơi Chúa. Những khó khăn và thử thách ta gặp phải đến từ Chúa và đó là một kế hoạch rộng lớn của Chúa. Có thể, chúng ta sẽ chưa thể hiểu ngay và hiểu hết đường lối khôn dò, khôn thấu của Chúa, nhưng hãy tin Chúa sẽ ban Thánh Thần Ngài hướng dẫn, ban sự khôn ngoan và nhạy bén để chúng ta biết phải làm gì cho đẹp Thánh ý.

Dẫu cho cuộc sống có khó khăn, biến đổi thế nào, có bao nhiêu khó khăn xảy đến nhưng Chúa vẫn luôn bên cạnh soi dẫn bước đường ta đi. Vì thế, để tìm được một sự sống đích thật, thì niềm tin và lòng kiên trì trong tình yêu với Chúa không bao giờ được ngừng lại. Đó là khi ta sống yêu thương tha thứ và biết tận dụng ơn Chúa trong từng ngày sống, để nỗ lực sống hết mình và làm tròn đầy giây phút hiện tại.

Lạy Chúa, xin giúp con luôn biết hoàn toàn vững tin, phó thác vào Ngài con để khi gặp khó khăn con luôn biết rằng đó là cách Chúa thanh luyện bản thân con để con được lớn lên trong ân nghĩa Chúa. Amen.

Về mục lục

.

KIÊN NHẪN SẼ ĐƯỢC ƠN CỨU RỖI

Têrêsa Tuyết Ngọc

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã báo trước cho chúng ta một số những tai nạn khủng khiếp sẽ xảy ra. Và có cả sự kiện thành Giêrusalem sẽ bị phá hủy. Nhưng sau cùng Ngài đã cho ta nghe những lời rất hoan lạc: hãy tin tưởng, đừng lo nghĩ và hãy kiên trì.

Chúa Giêsu báo trước những điều khủng khiếp như vậy, phải chăng là để chúng ta đặt niềm tin vào chính Thiên Chúa. Lời cảnh tỉnh của Ngài vẫn mang tính thời sự cho chúng ta, là những con người đang sống trong thế kỉ XXI này. Và chúng ta cần phải phân định, đâu là lối sống và là tinh thần của Chúa, đâu là mưu mô của ma quỷ. Những gì mà Chúa Giêsu tiên báo đã, đang và chắc chắn sẽ xảy ra. Các biến cố như chiến tranh, phản động, nước này chống nước kia, đói khát,… đang không ngừng ập đến trong nhân loại từ nơi này đến nơi khác dưới mọi hình thức.

Như thế, điều Chúa Giêsu tiên báo cho chúng ta không phải là dọa nạt, mà là dấu chỉ để thức tỉnh chúng ta, hướng chúng ta về cuộc sống an bình, hạnh phúc trong sự đợi chờ kiên tâm trong đức tin và lòng trông cậy vững vàng vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: “Dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu” (Lc 21,18). Chúng ta hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và ở trong vòng tay Ngài. Những khó khăn hay những nghịch cảnh mà chúng ta gặp phải thì đó là cơ hội để chúng ta được thanh luyện bản thân và làm chứng tá cho đức tin và tình yêu của Thiên Chúa. Những khó khăn, thử thách đó sẽ không thể làm chúng ta xa lìa Thiên Chúa, nhưng làm cho ta càng gắn bó và phó thác vào Thiên Chúa, vào tình yêu và ơn thánh của Ngài.

Chính Chúa Giêsu nói: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”(Lc 21,19). Lời của Ngài chứa chan niềm hy vọng, lời ấy mời gọi chúng ta sống tin tường và kiên nhẫn, cùng chờ đợi niềm vui của ơn cứu độ, tín thác vào nơi Thiên Chúa chính nguồn tình yêu. Những khó khăn và nghịch cảnh là một trong những kế hoạch của chính Chúa. Dầu có tai ương hay những xáo trộn làm chao đảo thế giới này, nhưng tình yêu Thiên Chúa vẫn hằng tín trung.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chính tiền tài, danh vọng, quyền lực và những đam mê lạc thú làm cho tâm hồn chúng con luôn cảm thấy bất an. Xin cho chúng con biết sáng suốt xác định cùng đích cuộc đời chúng con là Nước Trời mai sau. Xin cho chúng con biết chu toàn bổn phận của mình và sẵn sàng đón Chúa đến bất cứ lúc nào để dù sống hay chết chúng con xứng đáng được đón nhận ơn cứu độ của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

DIỄN TỪ VỀ GIÊRUSALEM ĐỔ NÁT

Lm. Giuse Nguyễn An Khang

Đứng trên sườn đồi núi Cây Dầu nhìn xuống, các môn đệ trầm trồ khen ngợi vẻ đẹp lộng lẫy và hùng tráng của đền thờ, óng ánh trong nắng vàng. Đền thờ Giêrusalem quả là đẹp. Nó được vua Hêrôđê Cả xây từ năm 20 trước Công Nguyên và chỉ hoàn tất vào năm 63 sau Công Nguyên. Nền móng của nó được xây bằng những tảng đá khổng lồ, mà một trong những khối đá cân nặng không dưới 370 tấn.

Theo lời sử gia Lamã, Tacite: “Đền thờ giầu sang chưa từng thấy, những đá cẩm thạch, đồ vàng, màn trướng, đồ gỗ ốp tường chạm trổ và những đồ vật quý dâng cúng, làm cho các khách hành hương phải thán phục. Người ta nói: “Người nào không nhìn thấy Giêrusalem trong vẻ huy hoàng của nó, người ấy không bao giờ thấy niềm vui. Người nào chưa bao giờ nhìn thấy đền thờ, người ấy chưa bao giờ nhìn thấy một thành phố thực sự đẹp”.

Có thể đây là những lời hơi quá, nhưng dầu sao người Dothái rất tự hào về sự tráng lệ của đền thờ. Hơn nữa, đối với họ, đền thờ còn là một dấu chỉ minh nhiên sự hiện diện của Thiên Chúa, Thiên Chúa ở với dân Người nơi đền thờ. Còn đền thờ, còn giao ước; mất đền thờ, dân tộc họ cũng sẽ diệt vong.

Trước sự ngưỡng mộ chính đáng đó, Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng sẽ có ngày bị tàn phá, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”. Chính vì lời này, Thượng Hội Đồng đã kết án tử (Mt 26,61). Đức Giêsu biết điều đó nhưng Người không hòa theo sự thán phục của các môn đệ, Người phi bác sự tin tưởng của con người cho rằng, các công trình của họ luôn trường tồn bền vững. Người cho biết mọi sự chỉ là tạm bợ, dù là những công trình đẹp nhất của nhân loại: Mọi sự sẽ bị tàn phá, đền thờ sẽ bị phá hủy.

Các môn đệ muốn biết khi nào xảy ra và có điềm gì báo trước? Đức Giêsu không cho biết, Người chỉ giúp họ can đảm và bình thản đón nhận biến cố bằng cách cảnh giác ba điều:

  1. Đừng tin những kẻ mạo danh Người

Trong thời gian giữa cái chết của Hê-rô-đê năm thứ tư trước công nguyên và những tàn phá Giêrusalem vào năm 70 rồi năm 135, nhiều người Dothái tự cho mình là ngôn sứ cuối cùng, hoặc Đấng Messia. Sử gia Joseph Flavius gọi họ là những tên bịp bợm, những tên cướp cạn có tham vọng thành lập vương quốc của Đấng Messia. Luca trong sách công vụ có kể tên hai người trong bọn họ: Theodas, người Dothái đã lôi cuốn được chừng 400 đồ đệ (Cvsđ 5,36). Và một người Aicập đã lôi cuốn được 4000 người đi theo (Cvsđ 21,38).

Đức Giêsu cảnh giác phải đề phòng những kẻ mạo danh Ngài, khi họ nói: “chính Ta đây”, đừng tin.

  1. Đừng tin ngày thế mạt đã đến gần

Ngày 30-8-70, tướng Titus đem đại quân đến vây thành Giêrusalem. Sau một thời gian vây hãm, hàng triệu người bị giết và chết đói, một tên lính cầm một dùi lửa, ném vào trong khuôn viên đền thờ, lửa bốc cháy kinh khủng, không sao dập tắt được, Đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ. Trước biến cố đó, nhiều người nghĩ, ngày thế mạt đã đến gần. Đức Giêsu cảnh giác: Đừng tin, Người loại bỏ mọi tương quan giữa hai sự kiện. Theo Luca, nếu người ta gắn liền biến cố đền thờ bị phá huỷ với ngày thế mạt, đó là một hiểm họa, vì sẽ làm cho các Kitô hữu háo hấc nghe theo ảo giác của những ngôn sứ giả, của những kẻ bịp bợm cho rằng ngày thế mạt đã gần kề, Nước Thiên Chúa sắp tỏ hiện trong vinh quang, Con Người sẽ ngự xuống trên mây trời. Các lời loan báo như thế tạo nên một cơn sốt tạm bợ, sẽ gây thất vọng và khủng hoảng đức tin, người ta sẽ sống trong chờ đợi, không làm gì, vì thế Đức Giêsu nói: Đừng tin họ.

Thực vậy, sau khi đền thờ Giêrusalem bị tàn phá, vua Adrien ra lệnh đào tận gốc vết tích đền thờ cũ và xây lên trên một ngôi chùa thờ thần Jupiter. Năm 363, vua Giulianô, một người bỏ đạo, cháu Constantin Đại Đế, muốn cho lời Chúa hết linh nghiệm đã cho phép người Dothái xây lại đền thờ, nhưng có lửa từ dưới nền móng bốc lên thiêu rụi thợ xây. Công việc bỏ dở và ngày nay trên nền Đền thờ cũ là một giáo đường Hồi giáo, đền Omar. Đã 2005, Đền thờ Giêrusalem bị tàn phá, ngày thế mạt chưa đến, chỉ biết rằng, giữa hai thời kỳ đó là thời của dân ngoại dầy xéo lên đền thờ, bao giờ tận cùng, không ai biết.

  1. Đừng sợ những kẻ bách hại

Đức Giêsu không giấu gì các môn đệ. Người nói với họ, mọi sự rồi sẽ rất khó khăn. Khi nói về thế giới, Người rất thực tế, Người nói đến chiến tranh loạn lạc, động đất, dịch bệnh, đói kém. Khi nói về công việc rao giảng Tin mừng, Người cho biết, họ sẽ bị bách hại, tù đầy, phản bội thù ghét, giết chóc, và kẻ thù có thể chính là người nhà. Trước những thảm hoạ và tai ương đó, có thể dễ dàng khiến các Kitô hữu thất vọng và cho rằng họ là những nạn nhân.

Nhưng Đức Giêsu bảo, đó không phải là tai hoạ, song là cơ hội để người tín hữu làm chứng cho Người và cho Tin mừng. Trong cảnh tối tăm cần có ánh sáng, trong sai lầm cần có chân lý, trong thù hận cần có yêu thương, trong chiến tranh cần có hoà bình, và trong bách hại cần có chứng tá của Tin mừng. Trước những bách hại, người Kitô hữu đừng lo phải đương đầu thế nào? Hãy ghi lòng tạc dạ: “Chính Thầy sẽ ở cùng anh em, sẽ cho anh em nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thù của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được”(Lc 21,14-15).

Lạy Chúa, chúng con đang sống trong một thế giới luôn thay đổi, đầy những thảm hoạ, xin cho chúng con luôn an tâm trong tình yêu Chúa và được hưởng sự bình an mà thế giới này không thể mang lại. Chúng con cầu xin.

Về mục lục

.

KIÊN TRÌ TRƯỚC SỨC TÀN PHÁ

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

Trong tác phẩm ngư ông và biển cả, văn hào Hemingway mô tả một ông lão nghèo khổ, khô gầy, chân tay nứt nẻ vì cọ sát dây câu… Hàng chục ngày câu cá, không được con nào. Lão còn bị bọn dân chài chế nhạo. Lão không nản chí, quyết câu được cá to. Lão ra tít mù khơi, thả câu, chờ tới chiều, bỗng dây câu giựt mạnh. Lão xuýt té, bám lấy mạn thuyền, thuyền bị kéo chạy phăng phăng. Lưng, vai, tay lão bị dây xiết chặt, lão vừa đói khát, vừa mệt lử. Có lúc lão thiếp đi. Ba ngày sau, cá đuối sức, lão đâm, chém, đập xiên xọc cho cá chết, rồi buộc vào mạn thuyền, lôi về. Con cá kiếm dài hơn thuyền, nặng tới sáu bảy tấn. Lão vui mừng, khỏe hẳn lại. Ngờ đâu bọn cá mập đánh hơi thấy mùi máu tanh nhào lại rúc rỉa. Lão chống trả quyết liệt với bọn sư tử biển này. Bọn cá mập bỏ chạy. Nhưng cá kiếm của lão chỉ còn lại bộ xương. Lão kéo lên bờ. Người ta trầm trồ trước bộ xương vĩ đại với đuôi cá khổng lồ. Còn lão, lão ngủ thiếp đi trong giấc mộng lởn vởn lũ sư tử biển.

Mỗi người chúng ta là một lão ngư ông trên biển đời mà Đức Giêsu đãdiễn tả trong bài Tin Mừng cho chúng ta thấy những sức mạnh tàn phá kinh khủng của nó.

1- Trước hết là sức mạnh tàn phá của thời gian: thời gian sẽ tàn phá hết mọi sự trên đời, mà đền thờ Giêrusalem là một điển hình. Người ta trầm trồ khen ngợi đền thờ Giêrusalem kiên cố, đồ sộ, còn mới nguyên, được trang hoàng bằng cẩm thạch bóng loáng, chạm vàng óng ánh và trầm hương thơm ngát. Nhưng Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết. Không còn tảng đá nào trên tản đá nào”.

Lịch sử đền thờ Giêrusalem đã trải qua những bước thăng trầm để rồi bị tàn phá hết. Đền thờ thứ nhất được Vua Salômôn xây cất kỳ công kiệt tác để rồi Vua Nabucôđônôsô kéo quân đến tàn phá và bắt dân Do Thái đi đầy ở Babilon. Đến thời Vua Kyrô và Darius nước Ba tư cho dân về xây cất lại đền thờ dưới quyền chỉ huy của Zorababen (năm 520-515), đây là đền thờ thứ hai rất sơ sài, sau lại bị quân Anticô IV chiếm cứ tế thần Zeus Olympic, năm 169 anh em Juda Macabê nổi lên đánh đuổi bọn xâm lăng tà thần và tẩy uế đền thờ năm 164.

Đến thời Hêrôđê đại đế xây lại nguy nga lớn hơn đẹp hơn, để rồi quân Rôma do tướng Titus đến đốt sạch, phá hết vào năm 70 sau Đức Giêsu.

Cuộc đời con người còn mong manh, mỏng dòn, dễ bị tàn phá hơn đền thờ rất nhiều.

2- Thứ đến là sức tàn phá của lừa gạt, giả dối, giả mạo. Mấy anh Việt kiều kể: Có giáo phái giúp đỡ những Việt kiều rất tử tế để theo họ, khi theo rồi phải đóng thuế nặng như đóng thuế cho nhà nước. Nhiều người đã mắc bẫy lừa gạt như vậy.

Lịch sử còn cho biết: Bao nhiêu dân lành đã thiêu thân trong những cuộc chiến đẫm máu vì những lời lừa gạt; chiến đấu vì bảo vệ tôn giáo, chiến đấu để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc, chiến đấu cho tự do, dân chủ … Những khẩu hiệu đẹp đẽ lừa gạt đó ngầm chứa những tham vọng cá nhân làm bá chủ, độc tài, gia đình trị như Napolêon, Hitler, Polpôt…

Thời xưa, tiên tri Mikayahu cảnh báo Vua Akhab chớ xâm chiếm thành Ramat Galaat. Akhab không nghe, ông triệu tập được bốn trăm tiên tri giả đã nịnh bợ bảo vua: “Tiến lên, Đức Chúa sẽ nộp thành trong tay đức vua”. Akhab đi đánh bị quân Ramat bắn chết (1V. 22, 5-37)

Tiên tri Gêrêmia cũng nói thật với vua Sêđêquia chớ liên minh với Ai Cập. “Nhưng các tiên tri giả vô đạo, ngoại tình, dối trá, chúng củng cố lũ ác ôn của nhà vua bằng những lời lừa gạt rằng: “Thành Giêrusalem sẽ được bình an vô sự, không có tai họa nào cả”. Chẳng bao lâu quân của vua Nabucôđônôsô kéo đến phá tan thành vì đã liên minh với Ai Cập chống lại Babilon. Và tất cả dân chúng bị bắt đi đầy sang Babilon.

Người ta vẫn nói: “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn tán bang” – Một lời nói làm cho đất nước hưng thịnh, một lời nói có sức phá tan nát đất nước. Trước sức mạnh tàn phá của lời nói lừa gạt, Đức Giêsu dậy các môn đệ và chúng ta phải hết sức đề phòng những tiên tri giả, những lời dụ dỗ đường mật, những lời mị dân, những lời nịnh bợ, lôi cuốn chúng ta vào mê hồn trận, khiến chúng ta kiêu ngạo, lầm lạc nâng mình lên, sẽ bị ngã nhào: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: Chính Ta đây, anh em chớ theo họ”.

3- Sức tàn phá thứ ba là sự khủng bố của con người: Sau giai đoạn lừa gạt thì đến khủng bố. Theo kẻ lừa gạt hay không theo thì cũng chết: “Anh em sẽ bị mọi người thù ghét”. Người ta sẽ bắt và ngược đãi anh em … Họ sẽ giết một số trong anh em. Sự khủng bố này được mô tả bằng thù ghét, bắt bớ, ngược đãi, xét xử, tù đầy và giết đi. Sự khủng bố này do tất cả mọi hạng người từ vua chúa quan quyền, các người của hội đường, của nhà tù, và đau xót hơn nữa, có cả những người thân yêu ruột thịt như cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu nhúng tay vào bắt nộp. Họ khủng bố anh em chỉ vì lý do anh em đã được theo Thầy, vì danh Thầy. “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy”. Đây là cơ hội bằng vàng để anh em nên giống Thầy: Thầy đã biến thân xác loài người nên thân xác Đấng Cứu thế, đã biến khổ giá thành giá cứu chuộc, khiến lưỡi đòng thâu qua trái tim cho máu và nước chảy ra rửa sạch tội loài người, cho trái tim mở ra yêu thương loài người, cho mạo gai thành triều thiên, cho sự chết thành sự sống lại. Anh cũng phải biến thân xác mình thành của lễ hy sinh, biến ngược đãi thành yêu thương, biến khổ hình thành Thánh giá, để làm chứng về Thầy. Cố kiên trì làm chứng như thế, anh em mới giữ được mạng sống mình trong vinh quang.

Lạy Chúa Giêsu cuộc đời con lênh đênh giữa những sức tàn phá của biển đời. Xin cho con luôn nghe được tiếng Chúa nói: “Thầy đây đừng sợ” để con vững tin sống xứng đáng là chứng nhân của Người. Amen.

Về mục lục

.

NGÀY TẬN THẾ

Lm. Minh Vận

Julian Apostate là Hoàng Đế Roma năm 360. Mặc dầu đã chịu Phép Thánh Tẩy và học giáo lý Công Giáo; thế mà ông lại là người hoàn toàn chống lại Chúa Kitô và Giáo Hội. Ông đã giết chết nhiều người Công Giáo để tế lễ các tà thần, biến nhiều Thánh Đường thành chùa miếu thờ thần, cấm truyền bá Tin Mừng và hủy bỏ tất cả những gì liên quan đến Đạo Công Giáo. Ông ta cố gắng làm cho lời tiên tri của Chúa Kitô đã nói về sự điêu tàn đổ nát của thành Jerusalem sau đây: “Khi ngày đó đến thì sẽ không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào”, hết giá trị. Nhưng thực ra lời tiên tri này đã được ứng nghiệm trăm phần trăm vào năm 70, năm mà thành Jerusalem bị phá hủy bình địa. Trong khi sự việc chưa xảy ra, thì Hoàng Đế Julian đã ra lệnh triệt để bảo vệ Đền Thờ và làm cho thực kiên vững. Nhưng khi vừa khởi công đổ móng thì, theo một sử gia ngoại giáo viết: “Có những khối lửa ghê sợ bùng lên phá sập móng, thiêu đốt các người thợ, làm cho không ai có thể tới gần chỗ đó được nữa; vì thế, công việc xây lại Đền Thờ hoàn toàn thất bại”. Những sự kiện lịch sử này chứng minh lời tiên tri của Chúa Kitô hoàn toàn đã được ứng nghiệm. Vậy, không biết dự tính của người Do Thái sẽ xây lại Đền Thờ Jerusalem nay mai sẽ ra thế nào?

  1. CÁC LỜI TIÊN TRI CỦA CHÚA CỨU THẾ

Các lời tiên tri về Chúa Cứu Thế trong Cựu Ước đã hoàn toàn được thực hiện. Trong Tân Ước, chính Chúa Kitô cũng đã nói nhiều lời tiên tri về Người, như bị Juda phản bội, bị Phêrô chối bỏ, bị các Tông Đồ bỏ trốn, bị bắt, bị giết chết và sau 3 ngày sống lại… Chúa cũng đã nói tiên tri về Giáo Hội của Người sẽ phát triển mạnh mẽ, lan tràn khắp thế giới, và không cuộc bách hại nào có thể ngăn cản được sự bành trướng đó. Suốt 2000 năm qua những lời tiên tri đó vẫn còn ứng nghiệm đúng như lời Chúa đã khẳng định: “Dù quyền lực hỏa ngục cũng không thể thắng được”. Tất cả các lời tiên tri đó đã thực hiện đúng từng chi tiết nhỏ mọn, sát khít với lời Chúa: “Dù một nét, một chấm cũng không bỏ qua, cho tới khi mọi sự được hoàn thành”. Như vậy, lời tiên tri Chúa nói về Ngày Tận Thế, giờ phán xét, thưởng phạt (Mt 25) trong bài Tin Mừng hôm nay, cũng sẽ được ứng nghiệm. Chúng ta đã tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: Tôi tin “Người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng”. Trong Thánh Lễ, sau khi truyền phép, chúng ta cũng tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”.

2. NGÀY TẬN CÙNG CỦA MỖI NGƯỜI CHÚNG TA

Ngoài ngày tận cùng của thế giới, mỗi người chúng ta đều có ngày sẽ từ giã cõi trần khi giờ chết đến, vì mỗi người đều phải chết; nhưng chết cách nào, chết ở đâu, vào giờ nào thì không ai có thể biết được. Vì thế, Chúa Kitô đã căn dặn chúng ta: “Các con hãy sẵn sàng, vì bất ngờ Con Người sẽ đến” (Mt. 24:44). Trần gian chỉ là nơi tạm cư, là cuộc lữ hành, là đường tiến về Quê Hương Vĩnh Cửu; vật chất chỉ là phương tiện giúp chúng ta đạt tới cùng đích và hạnh phúc trường tồn. Dầu muốn dầu không, một ngày kia, chúng ta cũng phải để lại tất cả để ra đi về thế giới bên kia, nơi Chúa đang chờ đợi chúng ta. Vì Chúa dựng nên chúng ta có mục đích để chúng ta tôn thờ, yêu mến, phụng sự Ngài, để khi kết thúc cuộc đời, chúng ta được Chúa ân thưởng, cho tận hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài trên Nước Trời, là quê hương hạnh phúc vĩnh cửu Người đã sắm sẵn cho những ai yêu mến phụng sự Người.

Kết Luận

Chúa đã truyền dạy: “Các con cứ bền đỗ đến cùng, các con sẽ giữ được linh hồn các con”. Trung thành với ơn Chúa kêu gọi, là chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới cùng đích, là chiếm hữu được chính Chúa là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu của chúng ta.

Lạy Mẹ, xin Mẹ giúp chúng con được luôn trung thành với Chúa, để chúng con đạt tới cùng đích, đúng như thánh ý Chúa khi tạo dựng nên chúng con giống hình ảnh Chúa và đã thương tuyển chọn chúng con làm con cái Chúa.

Về mục lục

.

GIỮ LINH HỒN

Lm. Bùi quang Tuấn

“Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.”

Vào khoảng năm 538 trước Công nguyên, sau khi được Hoàng đế Ba tư là Kyrô ban sắc chỉ ân xá, con cái Israen rời đất lưu đày Balylon, tiến về thánh điện, khởi công tái thiết quê hương xứ sở giữa muôn vàn gian nan khốn khó.

Đứng trước cảnh đổ nát hoang tàn của đền thờ, đất đai bị ngoại bang lấn chiếm, tinh thần của dân Do thái hồi hương không khỏi lao đao. May nhờ có sự hổ trợ của Ezra và Nêhêmia là hai người giàu có, thế lực dưới triều vua Artaxerxes, dân Israen đã xây lại được một phần nhỏ đền thờ Giêrusalem và thánh hiến nó vào koảng năm 516 trước Công nguyên (BC).

Thế nhưng, chưa hưởng trọn niềm vui tự trị và tự do, người Do thái lại bị các quốc gia hùng mạnh như Ai cập và Hy lạp quấy phá. Đến năm 169 BC, người Xyria do vua Anticô II dẫn đầu, đã tiến vào đánh chiếm cướp phá đền thờ. Một lần nữa đền thánh Giêrusalem lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.

Mãi đến năm 63 trước Công nguyên, sau khi người Rôma chiếm đóng Palestine và đặt Hêrôđê làm quan tổng trấn cai trị vùng đất Giuđê, đền thờ mới được tái thiết nguy nga và được thánh hiến vào năm 19 BC.

Biết bao cẩm thạch, vàng bạc, gỗ quí, và công sức được đổ ra cho việc xây cất một đền thờ lộng lẫy, làm nên niềm tự hào và sức sống của cả dân tộc Israen. Trong cuốn sách “Những Cuộc Chiến của Người Do Thái”, sử gia Josephus đã mô tả về “niềm tự hào” đó như sau: “Mặt tiền của Đền thờ đủ làm choáng ngợp tâm trí và đôi mắt người ta. Nó được bọc bằng những miếng vàng lớn. Khi ánh thiều dương vừa tỏa sáng ở chân trời, thì cả đền thờ rực lên bởi những tia sáng phản chiếu, khiến những ai muốn nhìn thẳng vào đó cũng bị lóa mắt, đến nỗi họ phải quay đi. Đối với khách lạ, thì từ đàng xa, Đền thờ nổi bật lên như một núi tuyết trằng xóa. Không có phần nào mà không được chạm trổ hay bọc vàng.”

Đứng trên núi Cây Dầu nhìn xuống đền thờ rực rỡ trong ánh nắng huy hoàng, các môn đệ không khỏi buông lời trầm trồ khen ngợi. Nhưng, thay vì hòa điệu với những rung cảm trước vẻ hoa lệ của Đền thờ, Đức Giêsu lại tiên báo về một sự sụp đổ không tránh khỏi. Những gì thế gian cho là vững chắc và xinh đẹp chỉ là những thứ mỏng dòn và tạm bợ. Tất cả sẽ bị tàn phá. Ngay như công trình và “niềm tự hào” của Israen đây cũng sẽ bị sụp đổ, “không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào” (Lc 21:6). Đức Giêsu đã tiên báo như thế.

Và sự gì đã xảy ra?

Năm 70 sau khi Chúa Giêsu sinh ra, tướng Titô đem đại quân Rôma đến vây hãm thành Giêrusalem. Dân chúng bị đói khát đến nỗi phải ăn thịt lẫn nhau. Kẻ nào tìm cách trốn khỏi vòng vây đều bị giết chết. Tính ra số người bỏ mạng lên đến 1.100.000, và số người bị bắt sau khi thành thất thủ là 97.000. Đền thờ bị lính Rôma phóng hỏa tan tành. Tướng Titô chỉ cho chừa lại một mảng tường thành để sau này con cháu Israen đến đó mà than khóc. Như thế, lời tiên báo của Chúa Giêsu đã ứng nghiệm.

Nhưng sự sụp đổ của thànnh Giêrusalem chỉ là hình bóng của ngày thế tận. Rồi đây, sẽ chẳng còn thứ gì tồn tại. Thời gian sẽ hủy diệt tất cả. Sự sống, sắc đẹp, sức lực, sung sướng… của cuộc đời này đều mỏng dòn và ngắn ngủi. Mọi sự đều tiến về cái chết, dù nhanh hay chậm.

Vì thế, thánh Anphong từng nhắc đi nhắc lại: “Chỉ có một việc ta phải lo là việc rỗi linh hồn, vì mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi.” Thánh Phanxicô Saviê cũng nói: “Mỗi người chỉ có một linh hồn. Nếu được rỗi thì được hưởng thiên đàng, nếu bị mất thì phải sa hỏa ngục.” Xưa Vua Đavít suy về điều này mà thốt lên lời nguyện cầu: “Tôi chỉ ước trông một điều, đêm ngày tôi khấn xin, là cho tôi được vui sống trong nhà Chúa trọn đời” (Tv 26:4)

Nhưng để được ở trong nhà Chúa, tức là để chiếm được Nước Trời, người ta phải nỗ lực chiến đấu. Chính Đức Giêsu đã nói: “Nước Trời ở dưới sức cường bạo,và những kẻ cường bạo chiếm đoạt lấy.” (Mt 11:12) Không gắng công chống trả ba thù, thiếu quyết tâm đi vào cửa hẹp, làm sao có thể tìm được thiên đàng đích thực.

Lạy Chúa, xin trợ lực chúng con chống trả ba thù, kiên vững niềm tin, hầu mai kia được hưởng niềm vui trường sinh trong Nước Chúa. Amen.

Về mục lục

.

BIẾT TIN VÀO AI?

Lm Nguyễn Ngọc Long

Cả thế giới hoảng hốt kinh hoàng khi nhìn qua màn ảnh truyền hình, cảnh khu phố Manhattan ở Newyork và khu Pentagon ở Washington bị không tặc dùng phi cơ đâm bổ xuống hôm 11.09.2001, gây cảnh đổ nát, cháy thiêu rụi, chết chóc hoang tàn. Có những phóng viên diễn tả cảnh tượng hãi hùng này như cảnh ngày tận thế trong sách Khải Huyền. Tất cả trở nên đổ nát bình địa. Lòng người ly tán hoang mang tưởng như mất luôn cả niềm tin. Vì đã mất tất cả, ngay cả mạng sống cũng bị đe dọa và không còn gì là bảo đảm an toàn nữa ngay trong một xứ hoà bình, giầu có thịnh vượng với nền văn minh kỹ thuật tân tiến hàng đầu trên thế giới!

Có những người tự hỏi về ý nghĩa và mục đích của đời sống là gì? Không lẽ cuộc đời chỉ là cảnh tượng kinh hoàng chết chóc như vậy sao? Con người có thể tìm thấy một điểm tựa nơi niềm tin trong giờ phút hoang mang kinh hoàng không? Ai là người hướng dẫn, nâng đỡ cuộc đời con người?

Có những tâm hồn tuy sống hoang mang sợ hãi cùng tột, nhưng đã tìm thấy cho mình và cho người khác những lời an ủi gây niềm tin tưởng phấn chấn, như lời nguyện than thở:

Lạy Cha, niềm tin vào Cha dạy con: đời sống con phát nguồn từ nơi Cha và sau cùng qua ngưỡng của sự chết, tất cả trở về với Cha. Trong vòng tay Cha, tất cả tìm được nguồn an vui. Vì Cha là tình yêu vô bờ bến của đời sống con người! Cho dù bây giờ con người chúng con đang trong cảnh hoang mang lo âu, buồn sầu và không sao hiểu được sự gì đã đang và sẽ xảy ra…

Lời cầu khẩn này là nhân chứng của một tâm hồn tràn đầy niềm tin tưởng, niềm hy vọng vào tình yêu của Đấng Vô Hình, người hằng đồng hành với trong cuộc đời.

Lời cầu khẩn đầy tin tưởng và chan chứa niềm hy vọng này là ánh sáng soi chiếu cho ta, khi đọc hay nghe đoạn Tin Mừng nói về cảnh tượng thành Giêrusalem bị tàn phá hoang tàn đổ nát (Lc 21, 5-19). Đó chưa phải là ngày tận thế đâu. Tất cả nằm trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Không có sự gì xảy ra mà không nằm trong sự quan phòng của Ngài.

Lời của Chúa là ánh sáng cho trần gian trong đêm tối của hoang mang lo sợ. Lời của Chúa mang lại cho tâm hồn sức sống niềm an ủi hy vọng.

Con người không nên nghĩ đến ngày tận thế, đến hoang tàn đổ nát, nhưng hãy nghĩ đến sự sống. Sự sống con người bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa. Và trong suốt dọc cuộc sống, Ngài hằng yêu thương đồng hành với. Nơi ngài có nguồn an ủi và nguồn bình an.

Đó là mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa mà tâm hồn ta chỉ cảm nghiệm thấy, mà trí khôn không hiểu thấu được.

Về mục lục

.

BỀN ĐỖ SẼ ĐƯỢC ƠN CỨU ĐỘ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Không có đền thờ nào đẹp bằng đền thờ Giêrusalem. Một công trình nguy nga tráng lệ xây cất ròng rã 46 năm, được trang hoàng bằng đá tốt và những lễ vật quý với các cột và đồ gỗ chạm khắc, rèm thêu, sơn sơn thiếp vàng.

Chúng ta cần phân biệt 3 giai đoạn khác nhau việc xây dựng đền thờ: Đền thờ do vua Salomon xây cất đã bị quân Chaldéa phá cùng với thành Giêrusalem năm 587. Sau đó được vua Zorobabel khởi công xây lại đền thờ (năm -525), với sự cổ võ của tiên tri Zacharia và Agiê, nhưng quân Rôma đô hộ làm hư hại đền thờ. Vua Herodê cả sửa lại vào năm 17, vào thời Đức Giêsu đang trên đường hoàn thành và sẽ kết thúc nào năm 64 sau Công nguyên.

Năm 70 sau CN, vị tướng La mã Titus đem đại quân vây thành. Ông ra lệnh không được đốt phá. Một quân nhân như bị thúc đẩy bởi một sức kỳ lạ đã cầm bó đuốc đang cháy ném vào bên trong Đền thờ, lửa bốc cháy nhanh, không chữa được. Sau khi đám cháy tàn lụi, Titus ra lệnh phá huỷ thành và Đền thờ.

Khi đi qua, các môn đệ tự hào chỉ cho Đức Giêsu thấy sự huy hoàng của Đền thờ, nhưng Ngài lại nói: “Những gì các con nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá”. Đối với người Do Thái, những từ này là báng bổ: Tiên Tri Giêrêmia đã suýt chết vì điều đó. Những lời trên sẽ là động lực khiến họ chống lại Ngài.

Nói thế là Đức Giêsu đã tách biệt chúng ta ra khỏi sự mơ mộng về quyền năng tối thượng và sự bất tử trên trái đất này, đưa chúng ta trở lại với thực tế của một thế giới mà tất cả là hư không.

Những người nghe Đức Giêsu nói tưởng rằng Thầy nói về ngày tận thế, nên hỏi dồn và bắt Ngài mạc khải cho biết thời gian và dấu chỉ của ngày ấy! Biết ý họ, Ngài đã không đáp ứng yêu cầu, nhưng cảnh báo, điều đó không thuộc quyền của Ngài: chỉ có Chúa Cha là Đấng biết ngày và giờ chung cuộc của thế giới. Đức Giêsu nói với họ “ Các ngươi hãy coi chừng đừng để ai lừa gạt các ngươi”. Vì sẽ có nhiều kẻ đội danh Ta mà nói rằng Đức Kitô, chính là Ta! Và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Các ngươi sẽ nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã. Coi chừng! Chớ khiếp sợ! Vì là sự phải xảy đến, nhưng chưa phải là cùng tận. Vì dân này sẽ dấy lên chống dân kia, nước này chống nước nọ. Và đó đây sẽ có đói kém và động đất.

Mọi sự ấy là khởi điểm của đau cồn chuyển cữ” (Mt 24, 4-8). Bởi vì cuộc chiến thực sự không phải là “ quốc gia chống lại quốc gia, và vương quốc chống lại vương quốc “, nhưng là: vì “ Danh Thầy” họ sẽ trao nộp các con.

Trở lại sách Công vụ, Thánh Luca gợi lên những cuộc bách hại các môn đệ Đức Kitô phải chịu. Nếu họ không trốn tránh và lún sâu vào tuyệt vọng, là vì Chúa đã cảnh báo trước về những gì đang chờ đợi họ. Tất cả những thảm kịch đó đổi mới người môn đệ chân chính, những cuộc bách hại phải được chọn như là “ cơ hội để làm chứng “ cho Đấng đã sống lại vinh quang, chắc chắn đã cứu chúng ta khỏi sự sợ hãi cái chết.

Khi thử thách xảy đến với Giáo hội, Thiên Chúa đích thân đến cứu giúp các nhân chứng của Ngài: “ Chính Thầy sẽ khơi dậy trong anh em những lời cần phải nói cùng với sự không ngoan khiến cho đối phương không thể chống lại và phản biện được anh em” (x. Mt 10, 17-22). Thiên Chúa không thay đổi tiến trình của các sự kiện mà không xâm lấn vào trách nhiệm thuộc phương diện con người; người Kitô hữu có những dữ kiện sống động để chứng tỏ rằng sự sống của họ ở nơi Thiên Chúa, chứ không nằm trong tay của người đời.

Sử gia người Rôma Tacitus đã viết rằng các Kitô hữu đã trở thành “ sự ghét bỏ của nhân loại! “ Điều ấy đã không ngăn cản họ làm chứng cho đức tin, Tertullian đã viết: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu.”

Chúa chúng ta rất rõ ràng: “Nếu họ bắt bớ Thầy, họ sẽ bắt bớ các con” (x. Ga 15,18-21). Chúng ta đừng quên rằng thế kỷ 20 đã có nhiều vị tử đạo hơn hai mươi thế kỷ trước của Kitô giáo. Những chứng nhân của Đức Giêsu không sống trên mặt đất, phi thời gian, lời giảng của Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta quảng đại phục vụ việc rao giảng Tin Mừng, theo Chúa Kitô, và theo con đường Ngài đã mở ra trước mắt chúng ta. Đường hẹp của Thập Giá mỗi ngày trên trái đất này. Chúng ta có thể trở thành những người biết biện phân, và thành các tiên tri đầy khôn ngoan của cây Thập giá, để có thể tố cáo những sợ hãi gò bó cằn cỗi, hướng tới anh em chúng ta, sống đời sống thực tế và chiến đấu. “Đây sẽ đến ngày bừng cháy lên như lò lửa” (Bài đọc 1).

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết được những dấu chỉ của Nước Trời, để chúng con can đảm làm chứng cho Chúa mà không sợ bị trả thù. Vì như lời Chúa phán: “ những kẻ kính sợ thánh danh Ta, sẽ được Mặt Trời công chính mọc lên soi sáng, mang theo sự cứu chữa trong cánh Người “. Xin giúp chúng con bền đỗ đến cùng để chúng con được ơn cứu rỗi. Amen.

Về mục lục

.

TRẮC NGHIỆM ĐỨC TIN

Thiên Phúc

Một hôm vua Ai cập đang đứng chiêm ngưỡng những công trình mà ông cho xây dựng tại thành phố Eliôpôli, bỗng có cụ già râu tóc bạc phơ không biết từ đâu tới đã cười ngạo nghễ và thách thức nhà vua:

– Hãy bỏ lại tất cả và cút đi!

Nhà vua giận tím gan, nhưng ông ta đã nén giận và hỏi:

– Hỡi lão già, ngươi là ai mà dám ra lệnh cho ta cách hỗn xược như thế? Không lẽ ngươi quyền thế hơn ta?

Ông lão quả quyết:

– Đúng thế! Vì ta là thời gian.

Nghe đến tên thời gian, vua Ai cập tái mặt, té nhào khỏi ngai vàng. Cùng với ông, cả đế quốc Ai cập cũng sụp đổ.

Lão già thời gian cũng rảo qua khắp các đế quốc trên địa cầu. Lão đi đến đâu, các đế quốc đều rơi như sung rụng.

Nhưng ngày kia, người ta bỗng thấy xuất hiện, tại đồi Vatican một cụ già khác. Lão già thời gian cũng một giọng điệu vô cùng hách dịch đến trước thành Vatican gầm lớn:

– Ta là thời gian đây!

Tiếng gầm thét đó làm rung chuyển trái đất, nhưng lại không làm cho cụ già trên đồi Vatican mảy may lo sợ. Cụ bình tĩnh đáp:

– Còn ta, ta chính là vĩnh cửu! Xuyên qua các thế hệ ta phải đại diện cho lòng chung thủy của Thiên Chúa đối với con người.

Không có gì là vĩnh cửu dưới bầu trời này. Nhiều người Do thái nhìn ngắm và khen ngợi đền thờ Giêrusalem nguy nga tráng lệ, được xây cất bằng đá cẩm thạch nguyên khối, mỗi cây cột cao hơn 12 mét. Đền thờ được trang trí với cây nho lớn bằng vàng ròng, quyên góp từ các tín hữu. Mặt tiền đền thờ được dát bằng vàng lá, mỗi khi mặt trời lên, nó phản chiếu ánh sáng chói lòa rực rỡ. Nhìn từ xa, đền thờ trông như một núi tuyết khổng lồ vì màu trắng toát của đá cẩm thạch. Chính vẻ huy hoàng lộng lẫy của đền thờ mà người ta tưởng nó sẽ tồn tại vĩnh viễn.

Chúa Giêsu đã đánh đổ quan niệm sai lầm đó. Người loan báo đền thờ sẽ bị tàn phá một cách thảm hại, không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Quả thật, tiên báo này đã hoàn toàn ứng nghiệm năm 70 sau Công nguyên, khi vua Titô đem quân bao vây, tàn sát dân chúng, bắt những tù binh, và thiêu hủy đền thờ thành ra hoang vu tiêu điều.

Mọi người kinh hoàng sợ hãi khi nghe Chúa Giêsu loan báo việc đền thờ bị phá hủy. Họ xin Người cho biết thời gian và điềm báo trước. Nhưng Người không cho biết gì thêm lại còn dựa vào lời tiên báo trên để nói về ngày tận thế. Trước ngày đó, sẽ có những thử thách đức tin.

Có thể có những ngôn sứ giả hiệu, mạo danh Chúa để mê hoặc tín hữu, hay loan báo thời gian đã đến gần để làm mất niềm hy vọng nơi những kẻ tin.

Có thể có những cuộc bách hại các tín hữu, thậm chí cả sự chia rẽ trong các gia đình.

Nhưng Người khuyên họ: “Đừng sợ”. Hãy tin tưởng trong phó thác và bền đỗ trong đức tin. Vì Thiên Chúa luôn quan phòng chở che cho những ai cậy trông nơi Người.

Đối với Chúa Giêsu, bách hại và thử thách không phải là điều đáng sợ mà là một cơ may, để người tín hữu có dịp “làm chứng”: để cho kẻ bách hại hiểu biết đức tin của người tín hữu, và để người tín hữu chứng tỏ lòng tin vào Thiên Chúa trong cơn thử thách.

Quả thật, Thiên Chúa muốn niềm tin phải là một hành động tín nhiệm sâu xa nơi Người, một biểu lộ tín thác tuyệt đối vào Người, cho dù có phải chịu thử thách đớn đau nhất, kể cả sự chết. Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen có viết: “Để trắc nghiệm đức tin của ta, cần phải xem phản ứng lúc đau khổ và thử thách, chứ không phải lúc thuận buồm xuôi gió”.

Lạy Chúa, đức tin không giữ cho chúng con khỏi chết, cũng không cứu chúng con thoát đau khổ, nhưng đức tin chính là hiến dâng mạng sống.

Xin ban thêm đức tin cho chúng con, để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng con vẫn luôn kiên trì giữ vững niềm tin vào Chúa. Amen.

Về mục lục

.

PHÁN XÉT NGƯỜI LÀNH KẺ DỮ

Lm. Hồng Phúc

Trong Chúa nhật áp chót của niên lịch phụng vụ, ngày cánh chung được nhắc đến.

Nhà tiên tri khi đứng bên bờ hiện tại nhìn về tương lai, có thể ví như một khán giả nhìn diễn tiến một vở kịch trên sân khấu. Qua màn thứ nhất đang diễn ra họ nhìn thấy màn thứ hai ở đàng sau đang khởi đầu. Đó là bối cảnh của bài phúc âm hôm nay, trong đó Chúa Giêsu tiên báo về ngày tàn của Giêru-salem và đàng sau lộ hiện những gì sẽ xảy ra trong ngày tận thế.

Trước hết về ngày tàn của Đền thờ Giêru salem. Đứng trên sườn đồi núi cây dầu nhìn xuống, các môn đệ trầm khen ngợi vẻ đẹp lộng lẫy và hgùn tráng của Đền thờ óng ánh trong nắng vàng. Các ông nói: “Thầy xem Đền thờ đẹp thật.” Chúa Giêsu ngước mắt nhìn, vẻ mặt buồn buồn và nói: “Những gì chúng con nhìn thấy đây, sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào?” Các môn đệ kinh ngạc vô cùng. Nhưng lời tiên tri ấy đã ứng nghiệm trong từng chi tiết. Và đó là màn thứ nhất.

Năm 70, tướng Titus đem đại quân đến bao vây thành. Một tên lính cầm một dùi lửa, ném vào trong khuôn viên Đền thờ, lửa bốc cháy kinh khủng không sao dập tắt được. Sau đó, vua Adrien ra lệnh đào tận gốc vết tích đền thờ cũ và xây lên một ngôi chùa thờ thần Jupiter. Năm 363, vua Giudianô, một người bỏ đạo, cháu Constantino đại đế, muốn cho lời Chúa hết linh nghiệm đã cho phép người Do thái xây lại đền thờ nhưng có lửa từ dưới nền móng bốc lên thiêu rụi thợ xây. Công việc bỏ dở và ngày nay trên nền Đền thờ cũ là một giáo đường Hồi giáo, đền Omar. “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta sẽ không bao giờ qua” (Mc 13,31).

Qua màn thứ nhất, ẩn hiện bên sau, những gì sẽ diễn ra trong gnày tận thế. Đó là màn thứ hai. Trong ngày thế mạt ấy, sẽ có chiến tranh loạn lạc, nhất là “Ngời ta sẽ bắt bớ” các con. Nếu người ta đã bắt bớ thầy thì họ cũng sẽ bắt bớ các con. Người ta sẽ điệu các con đến trước vua quan và các con sẽ là chứng nhân của Thầy. “Rồi sẽ có những điềm lạ trên trời, mặt trời ra tối tăm, mặt trăng mất sáng, tinh tú rơi xuống, mọi tần trời lay chuyển” (Mc 13,24). Có giả thuyết khoa học cho rằng trái đất sẽ đụng phải một tinh tú và nổ tung. Bấy giờ mọi người sẽ xem thấy Chúa ngự xuống oai nghi trên mây trời để phán xét người lành kẻ dữ.

Giáo hữu tiên khởi khi đọc đoạn này lo sợ đến nỗi có người không làm gì cả. Thánh Phaolo trong bài đọc II, đã khuyên họ phải làm việc. Ai không làm thì đừng có ăn. Cuộc sống của Giáo Hội là một cuộc trông đợi Chúa đến, giữa những cơn bắt bớ cấm cách. Ai bền đỗ thì cứu được linh hồn mình. Đó là bài học cho chúng ta.

Xin Chúa cho chúng ta hiểu bài học ấy.

Về mục lục

.

TẦM NHÌN

Trm Thiên Thu

Thấy Thời Tiết Biết Mưa Hay Nắng

Nhìn Sự Đời Suy Trước Đoán Sau

Theo kinh nghiệm, người ta có kết luận: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay.” Điều đó cho thấy rằng con mắt và đôi tay rất cần thiết trong sinh hoạt hằng ngày. Đặc biệt là con mắt, khác một chút thôi cũng thấy khổ sở lắm rồi – như bụi vô mắt hoặc đau mắt.

Con mắt cần có thị lực mạnh để thấy rõ ràng, thấy để biết, biết để hiểu, hiểu rồi hành động. Thị lực càng mạnh thì tầm nhìn càng xa và rộng, về tầm nhìn tinh thần hoặc tâm linh cũng tương tự.

Rất quan trọng về khả năng nhìn – thể lý, tinh thần và tâm linh. Khả năng nhìn về thể lý là “thị lực” của đôi mắt. Cần thiết lắm! Tầm nhìn về tinh thần và tâm linh là sự nhận xét tinh tế đối với sự kiện hoặc tình huống nào đó. Càng quan trọng hơn!

Hellen Keller (1880–1968, văn sĩ người Mỹ) so sánh: “Sự ích kỷ và sự phàn nàn khiến tha hóa tâm hồn, tình yêu và niềm vui làm cho tầm nhìn trở nên rõ ràng và sắc nét.” Robertson Davies (1913–1995, tiểu thuyết gia, ký giả, kịch tác gia, nhà phê bình văn học người Canada) xác định: “Mắt chỉ nhìn thấy những gì trí óc sẵn sàng lĩnh hội.” Phẩm chất của người lãnh đạo tùy vào tầm nhìn, năng lực và kiên cường.

Điều đó được Kinh Thánh nói rõ: “Thủ lãnh khôn ngoan thì giáo dục dân mình, và uy thế của người thông minh thật là vững chắc. Thủ lãnh dân thế nào, các viên chức thừa hành cũng thế, người đứng đầu một thành làm sao, toàn thể dân cư cũng vậy. Một ông vua dốt nát làm cho dân nước phải suy vong, một thành hưng thịnh là nhờ trí thông minh của các nhà cầm quyền.” (Hc 10:1-3) Còn Thánh Phêrô cho biết: “Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết, để tuy bị phán xét về phần xác theo cách nhìn của loài người, họ được sống về phần hồn theo ý định của Thiên Chúa.” (1 Pr 4:6)

Con mắt có thể thấy nhiều thứ, một trong các điều quan trọng là điềm báo – điềm lành hoặc điềm gở (xấu, xui). Có khi điềm báo xuất hiện trong giấc chiêm bao, cũng có khi xảy ra ở ngoài đời, thậm chí có thể qua linh tính. Người ta cho rằng “gương vỡ” là điềm gở về sự chia ly nào đó. Liệu chúng ta có thể thay đổi hoặc “giải” nó? Hay đó là “số mệnh” mà chúng ta không thể làm gì, chỉ biết thụ động, miễn cưỡng? Cụ Nguyễn Du nói: “Có trời mà cũng có ta.” Ý nói chúng ta phải cố gắng “vượt qua chính mình” để vươn lên không ngừng. Thiên Chúa chỉ muốn điều tốt lành cho chúng ta, nếu có gì xấu xa là do con người mà thôi. Lời cầu nguyện và lòng sám hối có thể thay đổi số phận.

Thật vậy, cổ nhân đã từng trải nghiệm và xác định: “Đức năng thắng số” – phúc đức có thể vượt lên số mệnh, hoặc “Nhân lực thắng Thiên” – khả năng con người có thể cải mệnh Trời. Và tiền nhân cũng dạy: “Tiên tích đức, hậu tầm long” – phải lo tích đức rồi mới lo tìm đất (ý nói về “phong thủy”). Hoặc như tục ngữ nói: “Tiên học lễ, hậu học văn.” Quả thật, cái ĐỨC rất quan trọng, hơn hẳn mọi thứ khác (tài năng, của cải, địa vị, chức tước, danh vọng,…), như chúng ta vẫn thường nói: “Sống để đức cho con cháu.” Tại sao phải để “đức” mà không cần để “của” lại cho chúng? Rõ ràng người ta duy tâm chứ chẳng duy vật hoặc vô thần, nhưng vì tự ái mà muốn loại bỏ Thiên Chúa mà thôi.

Cách tin cũng quan trọng. Điềm báo có thể do mê tín dị đoan, có thể do quan niệm, nhưng cũng có thể là dấu lạ điềm thiêng. Dân gian có kinh nghiệm này: “Quầng cạn, tán mưa,” hoặc “Vàng gió, đỏ mưa.” Nông dân biết rõ điều đó. Xưa nay đều có điềm báo, dù người ta có tin hay không tin. Trong Cựu Ước, ông Ghít-ôn đã “dùng lông cừu để nhận biết điềm báo,” (Tl 6:36-40) và ông cũng nhận biết “điềm báo thắng trận” qua giấc mơ. (Tl 7:9-15) Nhiều chỗ trong Phúc Âm cũng ghi lại các điềm báo. Đặc biệt nhất, Thập Giá là điềm báo hoặc biểu tượng của đau khổ, nhưng cũng là điềm báo hoặc biểu tượng của hạnh phúc: Ơn Cứu Độ. Đó là cái họa hóa cái phúc.

Các điềm báo có thể dễ nhận thấy hoặc khó nhận biết, dự đoán có thể đúng một chút hoặc sai hoàn toàn, đôi khi lại chỉ là… đoán mò! Khi dự báo thời tiết, người ta thường nói chung chung: “Ít nắng, nhiều mưa,… Vùng này hoặc miền nọ có thể có mưa giông… Bão (hoặc áp thấp) biến chuyển rất phức tạp.” Cụ thể là đầu tháng 11-2013, người ta dự báo cơn bão số 13 sẽ dữ dội đổ bộ vào Saigon, thế nhưng rốt cuộc lại không hề có bão. Dự đoán sai có thể do “trình độ” của con người yếu kém, nhưng cũng có thể tại con người đã “làm rối” thiên nhiên nên thời tiết biến động thất thường, và con người không còn biết đường nào mà dự đoán “kế hoạch” của Trời như trước đây nữa. Con người thật nhỏ bé trước thiên nhiên mà lại dám “chống thiên tai” hoặc “chống lũ lụt” thì đúng là uống “thuốc liều” quá mức. Liệu có “chống” được không mà dám có động thái xấc xược và hỗn láo với Tạo Hóa? Rõ ràng là nhân tai mà cứ bảo là thiên tai. Cái gì tốt thì vội vã vơ vét vào, cái gì xấu thì đổ lỗi cho Ông Trời. Ích kỷ như vậy là khôn hay khốn?

Về thời điểm Đức Giêsu Kitô quang lâm, tức là Ngày Tận Thế, có những “điềm báo” rất đặc biệt. Các điềm báo đó đã và đang xảy ra đúng như Chúa Giêsu đã tiên báo. Do đó, chính Ngài đã khuyến cáo: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.” (Lc 21:36) Thánh Bede nhận xét: “Mọi phương cách của trần gian này thất thường và bất trắc như một cơn giông tố giữa biển khơi.” Vì thế, rất cần tỉnh thức để nhận biết những gì xảy ra là ý Chúa hay chỉ là mưu ma chước quỷ.

Tất nhiên không phải là chuyện dễ, nhưng nếu cứ nhẹ dạ cả tin thì chắc là không ổn chút nào, không chỉ nguy hiểm cho mình mà còn “liên lụy” người khác. Chính Thiên Chúa đã tuyên phán: “Ngày Ấy đến, đốt cháy như hoả lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Ngày Ấy đến sẽ thiêu rụi chúng, không còn chừa lại cho chúng một rễ hay cành nào.” (Ml 3:19) Thế là coi như “trắng tay” vào lúc cuối cùng đó. Một cách ví von rất bình dân và thực tế, Chúa chẳng hề bóng gió bao giờ, và ai cũng có thể hiểu. Hình ảnh tiếp theo hoàn toàn tương phản: “Nhưng đối với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh. Các ngươi sẽ đi ra và nhảy chồm lên như bê xổng chuồng.” (Ml 3:19-20) Rất rõ ràng và chính xác với các động từ MỌC, NHẢY CHỒM và XỔNG CHUỒNG. Đó là niềm vui tột đỉnh của những người công chính.

Họ là người-của-Chúa, họ sẽ vui mừng rộn rã, và họ lớn tiếng bảo nhau: “Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca. Kèn thổi vang xen tiếng tù và, tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương!” (Tv 98:5-6) Thậm chí họ còn mời gọi cả muôn vật cùng chung lời chúc tụng: “Gầm vang lên, hỡi biển cả cùng muôn hải vật, địa cầu với toàn thể dân cư! Sông lạch ơi, vỗ tay đi nào, đồi núi hỡi, reo mừng trước tôn nhan Chúa.” (Tv 98:7-8) Tại sao như vậy? Lý do không phức tạp, dễ hiểu: “Vì Người ngự đến xét xử trần gian, Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo lẽ công bình.” (Tv 98:9) Tất cả những người đau khổ đã chịu đựng suốt đời, nay được Thiên Chúa đòi lại công lý, lấy lại nhân vị, phục hồi nhân phẩm và nhân quyền. Thế thì không thể trì hoãn sự vui mừng đó.

Chân thành và nghiêm túc cảnh báo, Thánh Phaolô nói: “Chính anh em thừa biết là anh em phải bắt chước chúng tôi thế nào. Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã không sống vô kỷ luật.” (2 Tx 3:7) Và rồi ông tự bạch: “Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả, để khỏi nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải là vì chúng tôi không có quyền hưởng sự giúp đỡ, nhưng là để nêu gương cho anh em bắt chước. Thật vậy, khi còn ở với anh em, chúng tôi đã chỉ thị cho anh em: ai không chịu làm thì cũng đừng ăn! Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào.” (2 Tx 3:8-11) Rất thẳng thắn và rạch ròi. Có sự thật minh nhiên: thùng rỗng kêu to, người dốt ưa chảnh, kẻ ngu thích được nổi bật, kẻ lười biếng chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng”. Đó là một thực-tế-buồn trong thời gian đầu của Tân Ước, thế nhưng chính những điều đó vẫn đang tiếp tục xảy ra trong xã hội ngày nay, đã hơn hai ngàn năm qua mà vẫn chẳng “tiến bộ” gì. Đó là dạng “điềm gở”, chứng tỏ tầm nhìn thiển cận, có vẻ như không xa hơn cái bóng của chính mình.

Lời khuyên cuối cùng của Thánh Phaolô như một mệnh lệnh: “Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân.” (2 Tx 3:12) Sách Huấn Ca thẳng thắn nói: “Phải thúc nó làm việc kẻo nó ra lười biếng, vì nhàn cư vi bất thiện.” (Hc 33:28)

Một hôm, nhân dịp có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” (Lc 21:6) Có lẽ họ ngạc nhiên nên liền hỏi Ngài: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra thì có điềm gì báo trước?” (Lc 21:7) Hỏi vậy cũng có nghĩa là họ quan ngại với lời cảnh báo của Ngài, thế nhưng lại đòi “điềm báo” thì họ mới tin. Đúng là “hết thuốc chữa” đối với những người cứng lòng. Hầu như không thể giải thoát người ta ra khỏi cái ngu xuẩn thâm căn cố đế của họ. Thật đáng sợ!

Tuy nhiên, có thể chính chúng ta cũng ở trong cái vòng lẩn quẩn đó, thậm chí cũng chẳng hơn gì các kinh sư và Nhóm Biệt Phái. Họ cũng đã từng “xin đểu” với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ.” (Mt 12:38) Vẫn ra vẻ hợm hĩnh, đểu cáng. Thế nhưng Chúa Giêsu nói thẳng: “Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ KHÔNG ĐƯỢC dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giôna.” (Mt 12:39) Sống khôn không dễ, vì phải có “tầm nhìn” vừa xa rộng vừa thâm sâu để có thể kịp chấn chỉnh chính mình, kẻo rồi “dân thành Ninivê sẽ trỗi dậy” và “nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên” mà lên tiếng tố cáo những kẻ cứng lòng – có thể có chúng ta trong số đó. Nếu như vậy thì rất đáng quan ngại!

Khi nghe họ đặt vấn đề như vậy, Chúa Giêsu căn dặn những người tin theo Ngài: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người MẠO DANH Thầy đến nói rằng: ‘Chính ta đây’ và ‘Thời kỳ đã đến gần’, anh em chớ có theo họ.” (Lc 21:8) Ngày nay cũng có một số người “tuyên bố” theo kiểu cách như vậy: Giáo chủ, thánh nhân, siêu nhân, nhà ngoại cảm,… hoặc vỗ ngực nhận mình là đạo đức, thánh thiện, tốt bụng,… rồi chê người này, trách người nọ. Ngày nay thấy cái gì cũng giả, ngay cả con người cũng giả đủ kiểu. Thật khó phân biệt vì quá tinh vi!

Tuy nhiên, Chúa Giêsu động viên: “Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu. Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện.” (Lc 21:9-11) Chắc hẳn ai cũng nhận ra rằng tất cả những điều đó vẫn đang xảy ra từng ngày ở khắp nơi. Người ta cảm thấy run sợ hoặc rúng động, và rồi lại đâu vào đấy. Thế thì vô ích!

Rất chi tiết và cụ thể, Chúa Giêsu cho biết: “Trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được. Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.” (Lc 21:12-19)

Chúa Giêsu luôn thẳng thắn, nói rõ ràng và chính xác. Lời Ngài không hề sai lệch, mà ứng nghiệm đến từng dấu chấm, dấu phẩy, (Mt 5:18) dù cho trời đất này có tan biết đi. (Mt 24:35; Mc 13:31; Lc 21:33)

Ngày 17-11-2019 là Ngày Người Nghèo – được ấn định vào CN XXXIII Thường Niên hằng năm, như lời nhắc nhở mọi người mở rộng tầm nhìn để biết thương xót những người kém may mắn hơn mình, yêu thương cụ thể bằng hành động, và biết cầu nguyện cho họ. Bởi vì Chúa Giêsu đã cho biết rằng mọi nơi và mọi lúc đều cò người nghèo ở ngay bên mình. (Mt 26:11; Mc 14:7; Ga 12:8) Cũng nên biết rằng Ngày Người Nghèo đã được ĐGH Phanxicô tổ chức lần đầu tiên ngày 13-11-2016, nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Lạy Thiên Chúa, xin mở rộng tầm nhìn để chúng con nhận biết Ý Chúa qua các điềm báo hằng ngày – cả tự nhiên và tâm linh. Xin hướng dẫn chúng con biết cách hành động theo linh hứng của Thần Khí, đủ khôn ngoan để suy trước đoán sau, biết sống đúng bổn phận và trở nên con người mà Ngài muốn. Xin Chúa ban thêm đức tin và sức mạnh cho những người nghèo khổ để họ là nhân chứng sống động của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

DIỄN TỪ VỀ GIÊRUSALEM ĐỔ NÁT.

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

1-. Diễn từ này bắt đầu bằng một lời khuyến cáo (cc. 8-9). Chủ đề chỉ được đề cập với các câu 10-11: mô tả các tai họa trong vũ trụ. Diễn từ này bị gián đoạn vì lời khai triển dài dòng về các biến cố sẽ phải đến “trước tất cả các điều đó”, là các biến cố không có giá trị dấu chỉ tiên báo ngày chung cục sắp đến: một đàng là các cuộc bách hại người Kitô hữu sẽ phải chịu (cc.12-19), đàng khác là hình phạt sắp giáng xuống Giêrusalem (cc.20-24). Lúc đó bài diễn từ mới bàn tiếp các tai họa vũ trụ sẽ phải xảy ra khi đến ngày thế mạt (cc.25-33). Diễn từ kết thúc bằng một lời khuyến cáo mới (cc.34-36). Đây là lược đồ qui tâm (expose concentrique) của diễn từ.

A. Lời khuyến cáo đầu tiên (cc. 5-9)

B. Các tai họa vũ trụ (cc. 10-11)

C. Điều xảy ra trước:

a) bách hại người Kitô hữu (12-19)

b) hình phạt Giêrusalem (20-24)

B’. Các tai họa vũ trụ ngày thế mạt (25-33)

A’. Lời khuyến cáo cuối cùng (34-36)

Như vậy đoản văn chúng ta chú giải dừng lại ở giữa bài diễn từ. Tuy nhiên đừng quên rằng mỗi một thành tố đều có ý nghĩa trong toàn thể.

2-. Câu người ta hỏi Chúa Giêsu ở câu 7 có hai phần: trước hết hỏi về thời gian (“khi nào?”), đoạn hỏi rõ ràng hơn về dấu chỉ để nhận ra biến cố thực sự đang xảy ra. Cách đặt câu hỏi như thế giống với hai phúc âm nhất lãm kia. Nhưng biến cố Lc nhắm đến là việc phá hủy đền thờ, còn Mt và Mc đi từ việc phá hủy đền thờ sang ngày thế mạt. Rõ ràng hơn Mc 13,4, Mt đặt câu hỏi như sau: “Khi nào các điều đó xảy ra và đâu là dấu chỉ điềm báo ngày Ngài quang lâm và ngày thế mạt đến?” (Mt 24,5). Việc phá hủy Giêrusalem, việc Con Người đến và ngày thế mạt liên hệ mật thiết với nhau. Lc hủy bỏ mối liên hệ đó. Việc phá hủy đền thờ không là thành tố của các biến cố đó. Trong suốt bài diễn từ, Lc cố ý tách rời việc phá hủy đền thờ khỏi biến cố thế mạt, loại bỏ mọi tương quan giữa hai sự kiện đó. Ngay từ đầu, ông đã muốn tránh mọi lầm lẫn giữa hai biến cố. Ông tạm thời lưu tâm đến số phận đền thờ và chỉ đề cập đến ngày thế mạt khi ông có thể minh chứng thế mạt không liên hệ gì đến biến cố năm 70. Câu hỏi trong câu 7 rõ ràng nhắm đến số phận đền thờ, và toàn bộ bố cục diễn từ cũng xác quyết điểm đó.

3-. Chúa Giêsu nói lời cứng rắn mạnh mẽ chống lại đền thờ và nói đó được xem như là thời điểm cao nhất trong việc rao giảng phúc âm, vì lời đó tiên báo Israel sẽ bị kết án và loại bỏ. Theo Lc, Chúa Giêsu nói lời đó ngay chính trong đền thờ, sau khi đã thanh tẩy đền thờ, điều đó cho thấy Ngài thực sự quản lý vật sở hữu của Ngài. Đền thờ là dấu chỉ cụ thể Thiên Chúa đang hiện diện giữa dân Người; Israel thấy đền thờ là lý do tồn tại của mình trong tư thế là dân được tuyển chọn. Việc phá hủy từ đây ám chỉ họ đã bị bỏ rơi và cùng khổ, nhục nhã, là những điều mà tiên tri Malakia đã tiên báo (3,21). Trong lúc mọi người hết lời ca tụng, ngưỡng mộ vẻ đẹp đền thờ, Chúa Giêsu chỉ thấy đổ nát thiêu hủy. Qua sự kiện này, Ngài tiếp nối sự nghiệp các tiên tri liên tục tiên báo các sự đổ nát đã xảy ra (Mi 3,9-12; Giêr 7,14; 26,18; Ez 2,21). Đến lượt mình, Chúa Giêsu nói tiên tri và hoàn tất sự đổ nát, vì từ đây Ngài là dấu chỉ duy nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại.

4-. Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi về ngày giờ và dấu chỉ cuộc phá hủy Giêrusalem. Thay vì trả lời như thế, c.8 đề phòng các Kitô hữu coi thường các kẻ gian manh sẽ tìm cách đánh lừa họ. Lc trước hết lấy lại phương cách mà Lc đã gán cho họ: họ là những kẻ tự xưng là đến “nhân danh” Chúa Giêsu, họ nói: “chính ta đây”, và tìm cách làm thiên hạ kính trọng họ như là Đấng Kitô. Mc chú tâm nhiều đến hiểm họa Kitô giả, đến nỗi đã nhắc lại trong phần cuối bài diễn từ (Mc 13,21-23); họ sẽ làm nhiều dấu chỉ và phép lạ, và lừa gạt được nhiều người. Lc loại bỏ lời khuyến cáo thứ hai, và việc đề phòng của ông, ở c.8 không xác quyết là họ sẽ thành công trong việc lừa gạt thiên hạ.

Ngược lại Lc thấy trước một hiểm họa khác, đối với ông xem ra khẩn trương hơn: hiểm họa các người gian manh loan báo “thời giờ đã đến gần đến”. Theo Lc, đó là “thời giờ” nào? Dựa vào câu hỏi ở c.7, người ta có thể nghĩ đó là thời gian tàn phá đền thờ. Nhưng chắc chắn Lc không nghĩ đến điều đó. Ta thấy được điểm này nhờ câu thiếp theo, là câu nói đến tai ương mà người ta chỉ có thể kết luận là “ngày tàn” của các tai ương đó sắp chấm dứt. Diễn từ tiếp tục đề cập đến các dấu chỉ, theo đó có thể biết là “sự cứu thoát các con đã gần kề” (c.28), và “Nước Thiên Chúa đã gần đến” (c.31). Sai lầm mà Lc muốn người Kitô hữu đề phòng là sai lầm trong ông lưu ý trong 19,11: “Chúa Giêsu lại nói thêm một dụ ngôn nữa, vì Ngài đã đến Giêrusalem, và người ta tưởng rằng liền ngay đó nước Thiên Chúa sẽ xuất hiện”. Đây là hiểm họa làm Lc lo lắng: là các Kitô hữu háo hức nghe theo ảo giác của những kẻ tưởng giờ thế mạt đã gần kề, rằng Nước Thiên Chúa sắp tỏ hiện trong vinh quang, rằng Con Người sẽ ngự xuống trên đám mây. Các lời loan báo như thế tạo nên một cơn sốt tạm bợ và sẽ gây thất vọng và khủng hoảng đức tin: người ta sẽ thôi chờ đợi, không sống trong hy vọng nữa. Chính vì thế Lc nhấn mạnh: “Các con chớ nghe theo chúng”.

Câu 9 cũng cản giác một nguy hiểm tương tự: nguy hiểm giải thích các biến cố (không chút liên hệ đến thế mạt) như là dấu chỉ ngày thế mạt đã gần kề. Theo Mc, người ta sẽ nghe nói về chiến tranh giặc giã; Lc xác định rõ hơn: “Có chiến tranh và hoan lạc”, là chữ chỉ các cuộc nổi dậy, phản động, và người ta nghĩ ngay đến cuộc nổi dậy của dân Do thái. Lúc bấy giờ chớ sợ hãi. Mc giải thích: “các điều đó sẽ phải xảy ra, nhưng chưa phải là tận thế”. Ở đây Lc cũng xác định và nhấn mạnh rõ: “Các điều đó phải đến trước, nhưng chưa phải là tận cùng ngay đâu”. Đối với Mc, chiến tranh giặc giã chỉ là dấu chỉ xa của ngày tận thế thì ra chúng biểu hiện “giờ đau khổ đã điểm” (Mc 13,8). Trong Lc, chiến tranh, nổi loạn không có giá trị dấu chỉ tiền phong, dù là dấu chỉ xa; chúng không liên hệ gì với ngày tận thế. Chúng phải xảy ra trước, nhưng không phải là lời loan báo về ngày tận thế.

Lc biết ngày tận thế không thể đến ngay. Ông sợ các ảo giác về vấn đề này sẽ làm lung lạc đức tin của Kitô hữu, khiến họ phải thất vọng. Lời khai mào diễn từ cánh chung đã bị ảnh hưởng bởi mối ưu tư về nguy hiểm trên.

Vì chính vì biết ngày tận thế không đến ngay, nên Lc đã không mô tả các dấu chỉ tiền phong của ngày tận thế: chỉ cần hai câu để mô tả là đủ (cc.10-11). Vả lại, các dấu chỉ đó không cho biết thêm điều gì. Các đối thoại viên của Chúa Giêsu đã xin một dấu chỉ, nhưng không phải dấu chỉ về ngày thế mạt, nhưng là dấu chỉ về việc tàn phá Giêrusalem. Chúa Giêsu không cho một dấu chỉ, nhưng nhiều dấu chỉ và các dấu chỉ này không liên hệ tới việc tàn phá Giêrusalem, nhưng liên hệ tới ngày thế mạt. Hơn nữa, các dấu chỉ này mơ hồ đến nỗi bất cứ thời nào cũng cảm thấy bị chúng ảnh hưởng. Nhưng ngoài bối cảnh lu mờ đó, có một điều rõ ràng: ngày tận thế sẽ không đến ngay.

5-. Càng nói phớt qua và không minh xác các dấu chỉ tiền phong đó, Lc càng nhấn mạnh đến thái độ người Kitô hữu phải có cho đến ngày thế mạt. Vì thế ngày thế mạt xa dần trong một tương lai bất định, người Kitô hữu càng cần phải sống trong thời gian, đương đầu với lịch sử. Đặc biệt họ phải anh dũng đối đầu với các cuộc bách hại. Và trong lúc Lc ghi lại diễn từ này, các lời Chúa Giêsu tiên báo về việc bách hại trong tương lai đã thực sự thể hiện trong lịch sử; sách Cvsđ đã minh chứng điều đó (Cvsđ 8 và 12).

Lc đã lưu tâm đến đoản văn liên hệ đến các cuộc bách hại đó. Người ta có cảm tưởng ông muốn khích lệ các người bị bách hại khi nhấn mạnh đến các lý do nhằm làm họ tin tưởng cậy trông trong các cuộc thử thách đó. Như thế lòi tiên báo đã biến thành lời mời gọi tin tưởng phó thác. Và Lc làm nổi bật tất cả những gì đem lại lợi ích cho người bị bách hại.

“Điều đó sẽ giúp các con làm chứng” (c.13). Cách dịch này chẳng để ý gì đến việc thay đổi nhãn quan. Ông đặt mình về phe người bị bách hại, để cho thấy lợi ích của các cuộc thử thách họ phải chịu: đây là bằng chứng chắc chắn cho thấy họ sẽ được cứu rỗi. Do đó đúng hơn phải dịch là: “Điều đó sẽ là dịp để các con làm chứng”. Đây là một lời khuyến khích chịu đựng các đau khổ, chúng là chiến tích hùng hồn biện hộ cho họ trước tòa án Thiên Chúa.

Phải đặt lời khuyên đừng lo lắng phải biện hộ thế nào trước mặt vua chúa quan quyền trong chiều hướng khuyến khích đó, vì lời khuyến khích là sứ điệp thiết yếu của diễn từ. Không những Thiên Chúa sẽ lo liệu bằng cách ban khôn ngoan và miệng lưỡi, nhưng còn lo liệu cho lời nói đó đừng trở nên cớ vấp phạm. Không gì có thể thắng nổi lời nói đó. “Ta sẽ cho các con miệng lưỡi và khôn ngoan, làm kẻ nghịch các con hết thảy đều vô phương chống lại hay bắt bẻ các con” (c.15). Cuối cùng Lc thêm lời hứa: “Dù một sợi tóc trên đầu các con cũng chẳng hư mất” (c.17). Câu này được gặp lại ở chỗ khác, trong một bối cảnh khác hẳn (x. Lc 12,7; Mt 10,30) được đặt ở đây, trong cuối đoản văn mô tả các cuộc bách hại, câu đó đưa ra một viễn ảnh đen tối và nặng nề; nó nhắc lại sự che chở đã được hứa trước. Đây cũng là lời mời gọi mới để tín hữu thêm can đảm và tín thác ngay khi gặp phải cảnh bắt bớ gian truân.

6-. “Các con sẽ giữ mạng sống nhờ biết bền đỗ” (c.19). Đây là một câu ngắn của Lc, có một nghĩa tổng quát: nó không còn liên hệ với hoàn cảnh lịch sử của những người sống ngay trước ngày thế mạt. Nó có giá trị trong mọi thời. Thực ra, Lc đã không ám chỉ đến ngày sau hết có trong Mc: “Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát” (Mc 13,13). Lc biết ngày sau hết không phải là gần đến; ông kết án là gian manh những kẻ chủ trương như thế (c.8). Đó là tất cả ý nghĩa việc Lc đọc lại viễn ảnh cánh chung học của Mc: các cuộc bách hại không liên hệ với thời sau hết. Đúng hơn chúng biểu thị thân phận người Kitô hữu trong thế giới, trong lịch sử nhân loại đang còn tiếp diễn.

Sự bền đỗ đó là sự kiên tâm bền chí giúp người Kitô hữu can đảm tin tưởng đương đầu với những vô vị của cuộc sống thường nhật cũng như các hoàn cảnh đặc biệt của thời bách hại. Đó là quộc thử thách đức tính kiên nhẫn mà Giêremia đã nói, ông là người đã hết lòng tin tưởng vào Chúa, nhưng rồi cũng đã thất vọng vì đó: “Lạy Giavê, Ngài đã dụ dỗ tôi, và quả thật tôi đã bị dụ dỗ, Ngài đã bắt tôi và đã thắng tôi. Mỗi ngày tôi biến thành trò cười, nọi người ai cũng chế nhạo tôi” (Giêr 20,7). Sự bền đỗ theo phúc âm biểu thị “những người nghe lời với thái độ tốt, đã đào sâu lời đó và mang lại nhiều hoa quả nhờ kiên tâm bền chí” (Lc 8,15); sự bền đỗ đó chắc chắn giúp ta được sống cũng như được vào vương quốc (x. Cvsđ 14,22). Nó được Thiên Chúa hứa và minh chứng lòng tín thác vào đấng hoàn tất lời hứa.

KẾT LUẬN

Thời của giáo hội là thời bách hại. Thời gian này đang tiếp tục. Việc giải phóng và ơn cứu độ hoàn toàn chỉ bắt đầu với việc Con Người đến nhưng Ngài chưa đến gấp. Do đó phải kiên nhẫn và bền chí đứng vững.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1-. Đứng bên Chúa Giêsu, có nhiều người trầm trồ khen ngợi Đền thờ và lấy làm hãnh diện sung sướng về các viên đá tốt và các lễ vật quí người ta dâng cúng. Thật thỏa mãn và vui mừng biết bao khi thấy ở chính Giêrusalem có một dấu chỉ minh nhiên sự hiện diện của Chúa. Nhất là hãnh diện biết bao, vì đền thờ nguy nga lộng lẫy là công trình của toàn dân, đồng thời nói lên lòng trung tín của các tín hữu cũng như sự che chở của Đấng toàn năng. Tất cả điều đó khiến họ hài lòng thỏa mãn.

Trước sự ngưỡng mộ chính đáng và quan yếu đó, Chúa Giêsu phán: “những gì các ngươi nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào, tất cả sẽ bị tàn phá”. Nghe vậy chắc các thính giả xôn xao lo lắng lắm. Đền thờ bị phá hủy thì còn đâu sự che chở của đấng Tối Cao, đâu còn chứng tích của lòng trung tín?

Chính vì thế, họ tò mò và quan ngại: “Thưa thày, bao giờ những sự ấy sẽ xảy ra, và cứ dấu nào mà biết những sự đó sắp xảy đến ?”

Qua câu hỏi này, thính giả Chúa Giêsu cho thấy họ đã nhận thức tầm quan trọng của việc chuẩn bị sống các biến cố đó. Phải khắc phục các tai ương đó, chứ đừng bị chúng bắt chợt. Niềm tin vào đền thờ, nơi Đấng tối cao đang hiện diện, càng sống động. Đền thờ càng trở nên quan trọng vì là dấu chỉ hữu hình của sự hiện diện này, do đó người ta càng khó chịu khi thấy đền thờ bị tàn phá.

Ngày nay phải chăng người ta cũng có một tâm tưởng như thế, khi nghĩ là giáo hội đang trên đường diệt vong? Trước những biến đổi sâu xa do công đồng đem đến, nhiều người tức tối, nuối tiếc phụng vụ cổ xưa, các bài giảng ngày trước, việc bình thản nhàn hạ đã có từ lâu. Niềm tin của các bạn trẻ hôm nay, được biểu lộ một cách khác xưa, có còn là niềm tin nữa không? Các linh mục liên hệ với cộng sản là vô thần, có còn là linh mục nữa không? các nữ tu đến sống với các những nghèo trong các ổ chuột tồi tàn có còn là nữ tu nữa không? Cuối cùng, dù với những ý tưởng ngay lành của thế giới, người ta sẽ chẳng phá hủy giáo hội sao? Cũng như dân Do thái ngày xưa muốn bảo trì đền thờ Giêrusalem của họ, ngày nay người ta cũng muốn giữ gìn giáo hội và những cái gọi là truyền thống của giáo hội, nhưng giáo hội mới cứu người tín hữu.

2-. Sau các câu hỏi mà giờ đây chúng ta đã hiểu rõ, Chúa Giêsu mới bắt đầu lên tiếng. Ngài không cho biết khi nào sẽ xảy ra cuộc tàn phá Giêrusalem, cũng như các dấu chỉ tiên báo cuộc tàn phá đó. Ngài không bao giờ trả lời để thỏa mãn tính tò mò hay xoa dịu nỗi ưu tư xao xuyến. Ngài giúp ta can đảm và bình thản đón nhận biến cố. Chính vì thế, Ngài nói trước các nguy hiểm, các sai lệch hoặc các cuộc đào tẩu bội phản có thể xảy ra; đoạn cho biết phải sử dụng năng lực của mình như thế nào cho hợp lý.

Trước tiên là các nguy hiểm và ảo tưởng. Chúa Giêsu canh chừng thính giả khỏi mắc mưu các Messia giả. Vào thời hoan lạc, con người quá xao xuyến đến nỗi phải tìm đến người có thể trấn an và hướng dẫn họ cách quyền uy. Chúa Giêsu cảnh giác họ đừng vội tin những người bịa đặt những phép lạ dễ dãi và những thày phù thủy chữa bệnh tâm tư phiền muộn; đừng vội theo những ai đơn giản hóa sự việc bằng cách đồng hóa đức tin với các hệ thống kinh tế hoặc chính trị của họ.

Chúa Giêsu đề phòng chống lại các ngày thế mạt giả mà chúng ta thường tin cách dễ dàng: chiến tranh, động đất, ôn dịch, đói kém… đó là những lệnh báo động giả, nhiều khi rất đánh động, nhưng chúng ta đừng vì đó mà xao lãng hoặc quên mất điều cốt yếu.

Điều cốt yếu là sống đức cậy trông Kitô giáo trong thế giới, là giữ vững đức tin. Niềm tin luôn làm thế giới chống đối: Chúa Giêsu nói đó là điều không thể tránh được. Môn đệ không hơn thày. Người Kitô hữu có thể bị cám dỗ hoảng sợ và kinh hãi những tội phạm vì lòng yếu đuối của mình. Chúa Giêsu cho họ biết là trong họ có một sự hiện diện siêu phàm đang ngự trị. Khi đến giờ làm chứng tá, người Kitô hữu không phải chuẩn bị đối phó, tự vệ: chính Chúa Giêsu sẽ linh ứng cho họ điều phải nói. Do đó ngay bây giờ phải sống hiện tại cách tin tưởng hoàn toàn phó thác vào Chúa: không một sợi tóc trên đầu chúng ta rụng đi mà không có sự thỏa thuận đồng ý của Ngài. Điều quan hệ là hôm nay hãy sống đời môn đệ Chúa Kitô cách trung tín ngày qua ngày, luôn kiên trì trong đời Kitô hữu. Đó là đường duy nhất đưa đến cứu rỗi.

Về mục lục


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...