22/10/2021
783

CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN – B

Lời Chúa: Gr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52
 

1. Xin cho con được thấy  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Gặp được Chúa sẽ có niềm vui  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

3. Người hành  khất mù Báctimê  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

4. Nhìn và thấy được  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

5. Tin Mừng Chúa Nhật 30 Thường niên_B  (Jorathe Nắng Tím)

6. Muốn tôi làm gì?  (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

7. Khát khao được sáng (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

8. Đấng Cứu Thế chữa lành bệnh tật của chúng ta  (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

9. Mắt đức tin  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

10. Suy niệm Chúa Nhật 30 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

11. Thị lực  (Trầm Thiên Thu)

12. Chúa Nhật 30 Thường niên_B (Giuse Vũ Trọng Nghĩa, SSS)

13. Ai mới là kẻ mù lòa  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

14. Mù lòa  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

15. Có mắt cũng như mù  (JM. Lam Thy, ĐVD)

16. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh  (Fx. Đỗ Công Minh)

17. Đến với Chúa (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

18. Xin cho con được thấy.  (Lm. Simon Trân Văn Đức)

19. Hai mặt  (Lm. Vũ Đình Tường)

20. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)



 

XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Ai trong chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được những thiệt thòi của người mù. Họ không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Họ cũng không cảm nhận được niềm vui nỗi buồn nơi khuôn mặt những người thân. Thế giới đối với họ là đêm tối trường kỳ. Tin Mừng hôm nay nói đến một người mù đứng ăn xin tại cổng thành Giêricô. Trong lúc Chúa Giêsu và các môn đệ từ trong thành đi ra, Người đã trông thấy, và, trước lời van xin của anh, Chúa đã chữa lành, cho anh được nhìn thấy như bao người khác.

“Xin cho tôi được thấy!”. Đó là lời van xin của anh mù, đang ngồi ăn xin bên vệ đường, lối vào thành Giêricô. Khát vọng của anh mù là được nhìn thấy. Bởi lẽ, mù con mắt là sự thiệt thòi rất lớn, như người ta thường nói: giàu hai con mắt, khó hai bàn tay. Đôi mắt được sánh như gia tài, giúp cho con người trở nên giàu có và thịnh vượng. Trước câu hỏi của Chúa Giêsu: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”, anh mù lập tức thưa: “Thưa Thày, xin cho tôi được thấy!”. Đây là nỗi khát vọng anh ôm ấp trong lòng, nay được cơ hội để diễn tả với hy vọng mãnh liệt sẽ được nhìn thấy như bao người khác trong cuộc đời.

“Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Mặc dù bị người ta ngăn cản, anh mù không nản lòng và vẫn hăng hái tiến về phía trước. Việc lao về phía trước đối với một người mù, là chấp nhận nguy hiểm, vì anh không nhìn thấy gì. Lời kêu van này, vừa diễn đạt quyền năng của vị ngôn sứ đang đi ngang qua, vừa gửi gắm niềm tín thác, chắc chắn vị ngôn sứ ấy sẽ chữa cho mình được lành. Lời van xin ấy đã đến tai Chúa, và mặc dù đám đông ồn ào vây quanh, Người vẫn gọi anh và chữa anh lành.

Trong hành trình cuộc đời, mỗi người chúng ta cũng giống như anh mù đang đứng bên cổng thành Giêricô. Bởi lẽ chúng ta – dù có con mắt sáng – cũng chỉ nhìn thấy một phần những gì đang tồn tại, kể cả những vật hữu hình. Cả một thế giới vô hình mênh mông trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta không có khả năng cảm nhận. Vì vậy, mỗi người cần khát vọng tiến cao tiến xa hơn trong lãnh vực siêu hình thiêng liêng. Tùy theo quan niệm văn hóa và tôn giáo mà định nghĩa lãnh vực thiêng liêng này là gì. Đối với người tin Chúa, mỗi ngày sống trên trần gian phải là những bước tiến tới gần Chúa hơn để gặp Ngài, vì đích điểm của cuộc đời là cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa, mặt đối mặt, không còn như trong gương. Trong cuộc sống trần gian, chúng ta chỉ cảm nhận Chúa một cách tương đối, mờ nhạt và phiến diện.

“Xin cho con được thấy!”. Xung quanh ta còn biết bao điều ta không có khả năng thấy, hoặc cố tình không thấy. Đó có thể là những kỳ công của Chúa, qua đó, Chúa tỏ bày vinh quang của Ngài và chứng minh Ngài đang hiện diện. Đó cũng có thể là những người nghèo nàn bất hạnh đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Con người trong xã hội hiện đại ngày càng vô cảm với tha nhân, vì thế, đây đó, vẫn còn những người bị bỏ rơi quên lãng. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô đã viết: “Những ai chỉ tin vào những gì mình thấy bằng con mắt thể lý, thì họ vẫn là những người mù

“Xin cho con được thấy!”. Đó là lời cầu xin của chúng ta để nhận ra tình thương của Ngài đang ấp ủ đồng hành chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế. Ngôn sứ Giêrêmia diễn tả niềm vui lớn lao, như một tiếng thét vui mừng trước những điều kỳ diệu Thiên Chúa sẽ thực hiện vì yêu thương dân Ngài. Ông loan báo cuộc hồi hương của dân Israen, sau những năm tháng lưu đầy đau khổ nhục nhằn. Thiên Chúa sẽ giải phòng dân Ngài. Người Do Thái sẽ được về với quê cha đất tổ. Trong số đó, có cả những người đui mù, què quặt và bệnh tật. Trong quan niệm thông thường, những người này bị khinh bỉ và coi thường, không được kể đến trong các buổi hội họp. Nay họ cũng được Chúa yêu thương. Họ sẽ không bị bỏ rơi và quên lãng nơi đất khách quê người vào lúc Thiên Chúa giải phóng dân Ngài. Ngài là Đấng giàu lòng thương xót.

Thiên Chúa không dừng lại ở việc chúc lành, ban ơn che chở dân Ngài. Ngài còn sai Con của Ngài là Đức Giêsu đến trần gian để ở với chúng ta. Tác giả thư Do Thái đã diễn tả vị Thượng tế siêu phàm, đã mặc lấy thân phận tôi tớ của chúng ta. Vị tư tế này, không giống như các tư tế của Cựu ước. Người đã dâng chính mình làm của lễ trên thập giá để đem lại ơn cứu rỗi cho nhân loại mọi thời mọi nơi. Ngày hôm nay, qua Giáo Hội, Người vẫn tiếp tục dâng hy tế để giao hòa thế gian với Thiên Chúa và giao hòa con người với nhau, xây đắp tình huynh đệ giữa gia đình nhân loại.

“Xin cho con được thấy!” Xin Chúa mở mắt tâm hồn chúng ta để chiêm ngưỡng những kỳ công Ngài đang thực hiện hằng ngày xung quanh chúng ta, và để nhận ra mỗi người đang cùng chung sống là một quà tặng do chính Chúa ban. Amen.

“Đời người giống như việc đi đường vậy, một bên là gian khổ, một bên là cảnh đẹp. Ánh mắt bạn phóng được đến đâu, đó chính là cảnh giới của cuộc đời bạn. Nếu thường xuyên nhìn thấy những người ưu tú hơn mình, điều đó cho thấy bạn đang trên đường lên dốc; Còn nếu thường xuyên nhìn thấy những người không bằng mình, điều đó cho thấy bạn đang xuống dốc và người khác đang phải cố gắng để lên dốc. Thay vì oán thán, thà thay đổi cách nghĩ, mọi chuyện sẽ bớt nặng nề đi rất nhiều!” (Sưu tầm)

.

GẶP ĐƯỢC CHÚA SẼ CÓ NIỀM VUI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Dõi theo hành trình lên Giêrusalem của Chúa Giêsu, với những làm phép lạ Chúa làm, lời Chúa dạy, người môn đệ được dạy về phẩm chất tông đồ. Cùng với các môn đệ Chúa Giêsu tiếp tục hành trình lên về Giêrusalem. Nếu dọc đường có chàng thanh niên đến quỳ gối xin Chúa chỉ cho biết việc phải làm để được sống đời đời (x. Mc 10, 17), thì giữa các môn đệ cũng có sự năn nỉ nài van cho được ngồi ‘bên tả’ hay ‘bên hữu’ Chúa (x. Mc 10, 35-45).

Hôm nay vẫn trong hành trình trước khi vào thành thánh, có chàng thanh niên mù loà con ông Timê tên là Bartimê kêu xin gặp Chúa để được sáng mắt (x. Mc 10, 46-52). Thật lý thú và kỳ diệu biết bao cho những ai khát mong tìm gặp Chúa, họ sẽ rạng rỡ mừng vui, vì có được điều họ tha thiết nài xin.

Chúa là niềm vui của Israel

Khi dân Israel bị bắt đi lưu đày ở Babylon trở về, người trung thành với Chúa chỉ còn là số ít, họ quá yếu đuối, nghèo nàn và dễ bị tổn thương, đến nỗi không có phương tiện trở về, từ phương Bắc không thể tự giải thoát. Họ là những kẻ trở về để xây dựng đất nước : “trong chúng có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ”. Bàn tay xây dựng lại Israel là những kẻ đui mù, chứ không phải các thanh niên cường tráng! Làm thế nào họ có được khả năng xây dựng lại quốc gia? Thanh niên, người khoẻ mạnh đã bị đế quốc tiêu diệt trong các lao động khổ sai. Họ phải cáng đáng công việc xây dựng lại quê hương.

Trong lúc cùng đường bế tắc như thế Giêrêmia tuyên sấm : Đây Chúa phán: Hỡi Giacóp, hãy hân hoan vui mừng! ” (Gr 31, 7). Không thể vui mừng sao được khi mình đang đui mù, què quăt, mang thai nay có được Thiên Chúa toàn năng trợ giúp dẫn dắt trở về : “Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất: trong bọn chúng sẽ có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau, hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây” (Gr 31, 8). Theo Dianne Bergant: “Phụ nữ mang thai và các bà mẹ tuy yếu ớt, dễ bị tổn thương nhưng cũng là biểu tượng của phong phú và hy vọng. Họ nắm giữ tương lai trong bản thân mình. Khi họ rời bỏ chốn lưu đày về đất hứa, họ mang theo khả năng sinh sản và khởi sự một tương lai mới”.

Đúng là người công chính, đạo đức thực thi công bình, bác ái, sống thánh thiện siêu nhiên, mặc cho thế giới này sa đoạ đến đâu, mặc cho gièm pha độc ác của kẻ giả hình, những vẫn khao khát tìm gặp và cậy dựa vào Chúa, người ấy sẽ có được niềm vui lớn lao. Anh mù thành Giêricô, tên là Bartimê trong Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng.

Chúa Giêsu là niềm vui của anh Bartimê

Chúng ta chiêm ngắm một anh chàng mù, nghèo khổ, gặp được hạnh phúc thật nhờ Chúa Giêsu. Anh thiếu hai điều : cái nhìn thể lý và khả năng tìm kiếm công ăn việc làm để kiếm sống, nên buộc anh phải đi ăn xin. Anh cần sự giúp đỡ và anh ngồi bên vệ đường lối vào thành Giêricô, nơi có nhiều người qua lại.

May mắn cho anh, một hôm chính Đức Giêsu cùng với các môn đệ và một số người khác đã đi ngang qua đó. Chắc chắn anh mù đã từng nghe nói về Chúa Giêsu, là Đấng đã làm nhiều phép lạ, Đấng ấy đang đến gần anh ta, chớp thời cơ, anh kêu lên : “Hỡi Con vua Davít, xin thương xót tôi!” (Mc 10, 47). Đối với những người đang đi theo Chúa thì tiếng kêu của anh mù thật khó chịu, họ ích kỷ, không chịu thấu hiểu hoàn cảnh của anh. Nhưng lời kêu xin lớn tiếng của anh chứng tỏ anh khao khát gặp Chúa lắm. Lời ấy vang tới tai Chúa và động đến tâm hồn Chúa Giêsu. Người muốn đáp ứng lời van xin của anh mù ăn mày này, nên truyền gọi anh đến đến và chữa lành anh ta.

Lập tức anh mù được đối diện với Con vua Đavít. Giây phút quyết định là sự khát khao gặp gỡ cá nhân, trực tiếp, giữa Chúa với người đang đau khổ. Hai người đối diện nhau : Thiên Chúa với ý muốn chữa lành và con người với ước ao được chữa lành. Hai sự tự do và hai ý chí đều huớng về một điểm. Cuộc đối thoại bắt đầu kẻ hỏi người thưa, “Chúa Giêsu nói với anh: ” Anh muốn Ta làm gì cho anh? “Người mù đáp : “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy” Chúa ra lệnh: “Con hãy đi! Ðức Tin con đã cứu chữa con!” (Mc 10,51) Lập tức Chúa Giêsu cho anh thấy, anh hết sức vui mừng và đi theo Chúa.

Chúa là nguồn vui của chúng ta

Niềm vui của Thiên Chúa, niềm vui của con người. Theo Phúc âm kể tiếp như sau : Bước vào ánh sáng, anh mù Bartimê bắt đầu theo Chúa khắp nơi! Ðiều này có nghĩa là anh mù trở thành môn đệ Chúa và theo Người lên Giêrusalem, để cùng với Chúa tham dự vào mầu nhiệm cao cả của ơn cứu rỗi.

Cái nhìn thể lý thật quan trọng, cái nhìn từ bên trong của Thiên Chúa. Thánh Clêmentê Alexandria nói, “Chúng ta hãy chấm dứt việc lơ là sự thật, hãy ra khỏi bóng tối và sự vô minh, như một áng mây, hãy ra khỏi đám mây che lấp chúng ta để chiêm ngưỡng Thiên Chúa thật”.

Chúng ta thường hay than phiền và nói rằng, tôi không biết cầu nguyện. Hãy noi gương anh chàng Bartimê mù trong Tin Mừng : Anh không ngần ngại kêu lên cùng Chúa Giêsu tất cả những gì anh ta cần. Phải chăng chúng ta thiếu đức tin? Nếu thiếu, hãy thưa cùng Chúa : “Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho chúng con”. Phải chăng chúng ta có người thân bằng hay trong gia đình có người bỏ bê việc sống đạo ? Vậy, hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho họ được nhìn thấy”. Liệu đức tin có quan trọng như vậy không? Nếu chúng ta so sánh cái nhìn thế lý, chúng ta sẽ nói gì đây?

Ðức Tin là cuộc hành trình của sự soi sáng: đức tin khởi sự từ thái độ khiêm tốn nhìn nhận mình cần đến ơn cứu rỗi và đạt đến cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, Ðấng là nguồn vui và là ơn cứu độ. Tình trạng của anh mù thật là buồn, nhưng nhiều người còn chưa tin vào Chúa còn buồn hơn. Chúng ta hãy nói với họ : Thầy gọi anh và hỏi anh cần gì, Chúa Giêsu sẽ đáp trả bạn cách hào phóng.

Lạy Mẹ Maria, xin dẫn chúng con đến gặp Chúa, để chúng con được no thỏa niềm vui ân tình của Chúa. Amen.

 

.

NGƯỜI HÀNH KHẤT MÙ BÁCTIMÊ

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Câu chuyện người hành khất bị mù từ thuở bình sinh tên Báctimê mà Tin mừng của thánh Máccô thuật lại trong Chúa nhật 30 năm B hôm nay, đã gây xúc động và cảm phục cho rất nhiều người qua nhiều thế hệ vì Lòng Thương Xót và quyền năng tuyệt đối của Chúa đối với nhân loại, đối với con người…Báctimê đã không xin giầu sang, danh vọng, địa vị, anh ta chỉ xin Chúa :” Lạy Thầy, xin cho con được sáng “ ( Mc 10,52 ).

Vâng, mù là một điều thiệt thòi lớn cho người bị mắc bệnh. Họ không nhìn thấy vũ trụ, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, tinh tú. Họ không thấy được cây cối, biển, núi, sông ngòi, suối khe vv…Họ không thấy được cha mẹ, anh chị em, bạn bè, những người thân thương. Họ không chỉ khổ nơi thân xác mà còn khổ trong tâm hồn.Một cách nào đó họ bị mặc cảm vì lệ thuộc người khác, bị coi là sống bên lề xã hội. Bài Tin mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu chữa người mù Báctimê. Vì bị mù từ lúc mới sinh, anh lớn lên làm nghề hành khất để độ thân. Mù nên anh ngồi yên một chỗ bên vệ đường, ngày này qua tháng nọ, đợi xem có ai đi qua ngang đó, để anh còn cất giọng xin…Một hôm, nghe biết Đức Giêsu đi ngang qua đó, vì mù nên không thể thấy được Ngài, tuy nhiên anh đã nghe nhiều người nói với anh về Đức Giêsu,và thật đây là cơ hội ngàn vàng, do đó, khi Đức Giêsu đi ngang qua, anh khẩn thiết kêu van:” Hỡi ông Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con “ ( Mc 10, 47 ).Rất nhiều người lúc đó đã quở mắng và bảo anh câm miệng.Thay vì nắm tay anh mù dẫn tới Chúa Giêsu, họ đã túm cổ lôi anh ra xa Chúa Giêsu. Chỉ có một người giúp đỡ anh ta. Người đó là chính Đức Giêsu. Khi nghe tiếng la mắng anh mù. Chúa Giêsu đã dừng lại, truyền cho người ta dẫn anh mù đến với Người. Chỉ lúc đó, dân chúng mới thay đổi thái độ.Chỉ lúc đó, họ mới chịu giúp đỡ anh ta.

“ Lạy Thầy xin cho được sáng “ ( Mc 10, 51 ). Khuôn mặt đầu tiên anh mù được thấy là Đức Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã thắp sáng cho anh, cho cuộc đời bất hạnh, cuộc đời như tuyệt vọng của anh. Người phán :” Đức tin của anh đã chữa anh “ ( Mc 10, 52 ).

Đúng thật anh Báctimê đã bị mù đôi mắt thể xác, nhưng anh lại có con mắt đức tin, vì anh đã nhận ra Đấng cứu Thế khi gọi Chúa là “Con vua Đavít “.  Báctimê tuy mù đôi mắt nhưng anh lại có đôi mắt tâm hồn, anh tin Chúa là Đấng uy quyền tuyệt đối, chỉ mình Người mới có thể chữa lành đôi mắt của anh.

Với đôi mắt đức tin, tin tuyệt đối vào Đức Giêsu, anh đã không sợ sẹt dù bị người ta ngăn cản, la mắng, càng cấm, anh càng la to, kêu van. Càng ngăn cản, anh đã quăng cả cái áo choàng dùng che ấm cuộc đời, ngồi ăn xin ở vệ đường để từ bỏ kiếp ăn xin, thân phận mù lòa, quyết bước vào một cuộc đời mới, tới miền ánh sáng, tới chỗ vinh quang của tình yêu mà Chúa Giêsu, Con vua Đavít đã tặng ban cho anh.

Bài Tin mừng của thánh Máccô khuyên nhủ chúng ta tự vấn lương tâm xem đã có biết bao người hành khất mù như anh Báctimê muốn gặp Đức Giêsu mà chúng ta cố tình cản ngăn không cho họ tới gặp Đức Giêsu? Đã có lần nào chúng ta gặp một người mù xin giúp đỡ mà chúng ta làm ngơ không giúp họ ? Chúng ta có xác tín mạnh mẽ :” Thiên Chúa dựng nên chúng ta để chúng ta làm việc thiện và mang niêm vui đến cho người khác hay không  ? “.Mù lòa thể xác thì ai cũng thấy, nhưng mù lòa tâm hồn khó lòng chúng ta mới có thể nhận ra.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đôi mắt đức tin để chúng con luôn luôn tín thác nơi Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt tâm hồn để chúng con nhận ra quyền năng vô biên của Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt trinh trong để chúng con thấy Chúa và nhận ra anh em.Thấy Chúa là thấy tất cả vì “ Chỉ trong ánh sáng của Chúa, chúng ta mới nhìn thấy ánh sáng “. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1. Tại sao người hành khất Báctimê lại phải ngồi bên vệ đường ?

2. Làm sao anh Báctimê lại biết Đức Giêsu đi ngang qua đó ?

3. Dân chúng đã làm gì đối với Báctimê ?

4. Tại sao dân chúng lại thay đổi thái độ và giúp đỡ anh ?

5. Chúa Giêsu đã làm gì cho anh Báctimê ?

 

.

NHÌN VÀ THẤY ĐƯỢC

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Cuộc đời biết bao nhiêu lần nhìn mà không thấy, hoặc thấy mà không chịu nhìn. Đầy những trớ trêu, nhưng đấy là cái trớ trêu của lòng người đấy ích kỷ, gian tham, kiêu căng. Những nỗi đau từ dân oan, những nỗi thống khổ của người dân nghèo, những món nợ bi ai, thống khổ, có nhìn mà không thấy hoặc có thấy mà không chịu nhìn. “Làng tôi quanh co, quanh co, quanh co” (lời bài hát Bà tôi). Xin Chúa mở cho đôi mắt để họ thấy nỗi thống khổ của dân oan, những người nghèo cô thế, cô thân, những phận người bi ai, thấp hèn, những mùa màng đang bị đố bỏ…

Người mù có tên Ba ti mê

Sau đoạn Tin Mừng Chúa kêu gọi các nhà lãnh đạo hãy: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10, 44), Tin Mừng liền đưa câu chuyện người mù thành Giê ri cô. Không phải ngẫu nhiên mà câu chuyện người mù được đưa ra vào lúc này, nhưng muốn nhấn mạnh đến những người lãnh đạo cần có con mắt để nhìn, để thấy, để hiểu, để làm vơi đi những đau khổ của những người dân nghèo.

Những người dân nghèo ở đây, họ có tên, có tuổi, có địa chỉ rõ rệt trên đường phố. Nghĩa là họ có danh tính, họ không có nhà hoặc bị cướp mất nhà, hoặc vì nghèo đói phải tha hương… Họ có tên tuổi, nhưng họ thiếu những ngày tươi sáng. Họ sống trong tăm tối của thân phận.

Chính vì họ có danh tính nên những người nghèo không phải là những người bỏ đi. Những người lãnh đạo không tên tuổi, là những tập thể lãnh đạo, những người có quyền hành, là những người đang cầm cân nảy mực, là một khối đông không thể gọi hết danh xưng, là những người đang chịu trách nhiệm trước những người nghèo tên tuổi kia, cần được mở đôi mắt để nhìn và để thấy, để hành động.

Nhà lãnh đạo cần được mở tai để mở tấm lòng.

Cần một lời cầu xin của kẻ có mắt nhìn mà không thấy, thấy mà không chịu nhìn. Như người mù thành Giê ri cô, đã được nghe chân lý, sự thiện, được nghe những điều lẽ phải. Những con người đang mù, câm, điếc trước nỗi khổ của người khác, họ cần được nghe những nỗi thống khổ của người dân, cần nghe những tiếng nói từ lương tâm ngay thẳng. Đôi khi, những tiếng ồn ào của những yến tiệc, của những nhạc khí, những lời xu nịnh, những bản giao hưởng từ nhà hát lớn, những tiếng thét gào lòng tham, át đi tiếng lương tâm mách bảo, để lòng chai, dạ cứng, bị câm điếc trước lẽ phải và hành động theo những bản năng thấp hèn.

Tiếng kêu người nghèo thấu đến tai Chúa.

Sứ Điệp của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhân Ngày Quốc Tế Vì Người Nghèo, 18 -11 – 2018 nhắc lại điều đó. Trong bài giảng lễ sáng Thứ Năm (19/05) tại Nguyện Đường Santa Marta, Đức Giáo Hoàng nói : “Khi của cải được tạo nên bởi việc khai thác con người, bởi những người giàu có này khai khác người khác, họ lợi dụng sức lao động của con người, và những người nghèo này trở thành nô lệ. Chúng ta suy nghĩ ở đây và bây giờ, điều tương tự đang diễn ra, trên khắp thế giới”. Không thể mù, câm, điếc mãi được vì tiếng kêu người nghèo thấu đến tai Thiên Chúa mà những người đang truc lợi trên họ phải chịu trách nhiệm.

Là ai và cần làm gì ?

Ba ti mê là những ai? “Trong thời đại hôm nay cũng đang có biết bao nhiêu là những con đường dẫn tới những hình thức thiếu an toàn! Đó là việc thiếu thốn những phương tiện căn bản của kiếp sống, việc bị loại trừ khi người ta không còn đủ khả năng hay đủ sức để làm việc nữa, và những hình thức nô lệ xã hội khác nhau, bất chấp những tiến bộ mà nhân loại đã đạt được… Trong thời đại hôm nay cũng vẫn đang có biết bao nhiêu là những người nghèo ngồi bên vệ đường như Bác-ti-mê, và tìm kiếm một sự cảm thông cho hoàn cảnh của mình! Biết bao nhiêu là con người đang tự hỏi, tại sao mình lại rơi vào đáy vực thẳm này, và làm thế nào để có thế thoát ra được khỏi đó! Họ mong chờ một ai đó sẽ đến gần họ và nói với họ: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Ngài gọi anh đấy!” (Mc 10,49). (Sứ điệp ngày quốc tế vì người nghèo, ngày 18 -11 – 2018).

“Trước những người nghèo, vấn đề không nằm ở chỗ coi sự can thiệp là điều ưu tiên, đúng hơn, chúng ta có thể nhìn nhận một cách khiêm tốn rằng, Chúa Thánh Thần chính là Đấng khơi lên những hành động mà chúng nên trở thành những dấu chỉ cho câu trả lời và cho sự gần gũi của Thiên Chúa. Ngay sau khi chúng ta tìm ra được một cách thức để gần gũi với những người nghèo, thì chúng ta sẽ biết rằng, quyền ưu tiên thuộc về Đấng đã mở cặp mắt và con tim của chúng ta ra cho sự hoán cải. Người nghèo không cần tới sự háo danh, nhưng cần tới Đức Ái biết ẩn mình và quên đi những điều tốt đẹp mình đã làm. Những nhân vật chính thực sự chính là Thiên Chúa và những người nghèo. Ai đặt mình vào trong sự phục vụ, người ấy sẽ trở thành khí cụ trong đôi tay của Thiên Chúa để làm cho sự hiện diện và ơn cứu độ của Ngài được nhận biết.” (Sứ điệp ngày quốc tế vì người nghèo, ngày 18 -11 – 2018).

Xin mở đôi mắt: “Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm! Chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân“ (Is 58, 6-7). Hành động theo cách đó sẽ tạo điều kiện để tội lỗi được thứ tha (1Pr 4, 8), và tạo điều kiện để công lý được hoạt động, cũng như để Thiên Chúa trả lời và nói: “Này, Ta đây!“ (Is 58,9), khi chúng ta kêu cầu lên Ngài.” (Sứ điệp ngày quốc tế vì người nghèo, ngày 18 -11 – 2018).

 

.

TIN MỪNG CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B

Jorathe Nắng Tím

Trình thuật người mù thành Giêricô rất gần gũi hành trình đi tìm Thiên Chúa của mỗi người chúng ta. Đó là hành trình có nhiều giai đọan, nhiều chông gai, nhiều cản trở, nên đòi nhiều cố gắng, hy sinh, nhưng trước hết vẫn là lòng tín thác, trông cậy và trên hết vẫn là trái tim hay “chạnh lòng”  của Thiên Chúa giầu lòng xót thương.

  1. Lời cầu xin thương xót:

Hành trình tìm gặp gỡ  Đức Giêsu của người hành khất  mù tên Bartimê bắt đầu bằng lời cầu : “ Xin thương xót  con !”

Anh mù Bartimê chắc tiếng to và già hàm lắm, nên mới bị nhiều người quát tháo bảo im đi (Mc 10, 48), vì anh không mệt mỏi kêu gào : “Lậy Đức Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con ! ”. Tiếng kêu của anh đã làm nhiều người nhức óc, sốt ruột, khó chịu, bực bội. Họ bực anh làm át tiếng họ; họ khó chịu vì anh cắt ngang câu chuyện giữa họ và Đức Giêsu; họ sốt ruột vì cái giọng bi ai, thảm thiết, não nề của anh.  Nhưng hầu hết đều nhức óc, nhức đầu bởi tiếng kêu của anh mù này đã không can dự gì đến đời họ, khi họ mặc nhiên đồng ý với nhau: đã trót  mù rồi thì mù luôn đến chết cũng có sao đâu. Chẳng thế mà nhiều người đã  ngăn cản không cho anh đến gần Đức Giêsu đang khi anh rát họng nài xin lòng thương xót và quờ qụang, mò mẫm lại gần Đấng mà anh nghĩ sẽ chạnh lòng thương và cho anh được sáng mắt.

Đường đến Thiên Chúa của ta có thể cũng đã bị ngăn cản cách này cách khác bởi nhiều người,  và cũng có thể chính ta đã quát tháo bảo im đi nhiều người đang tha thiết van xin lòng từ bi của Thiên Chúa. Nhưng bên cạnh những người quát tháo, nạt nộ, cấm cản ta đến với Chúa, khóc  với Chúa, kêu cầu Chúa, vẫn có những người đồng hành với ta trên đường tìm gặp Chúa đang thì thầm, nhắc nhở, động viên: “ Hãy vững lòng ! Dậy đi ! Ngài gọi anh đó ”(Mac 10, 49).

Đám đông cùng đi có lòng tốt ấy chính là Giáo Hội, là đoàn thể những người cùng đi theo Đức Giêsu và làm chứng Đức Giêsu cho mọi người. Chúng ta hãy tin vào Giáo Hội, tin vào mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội để đừng bao giờ thất vọng nghĩ mình đơn  độc trên đường tìm gặp Chúa.

  1. Đáp trả của Thiên Chúa:

Đám đông hôm ấy đã đơn sơ nghĩ rằng: Đức Giêsu không chú ý, quan tâm gì đến tiếng kêu “xin thương xót” của người mù hành khất, và tất cả đã ngỡ ngàng khi “Ngài đứng lại và nói : “Gọi người ấy cho tôi! ” (Mc 10, 49). “Người ấy” tức người hành khất mù nãy giờ không ngớt kêu la : “Lậy Đức Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con! ”.

Sự đáp trả của Thiên Chúa chính là gặp được chính Ngài là Nguồn Sống đích thực, Bình An viên mãn và ơn Cứu Độ đời đời. Người mù từ lâu khao khát được gặp Ngài, nay anh không chỉ được gặp, mà còn được chiêm ngưỡng dung  nhan thánh thiện, nhân từ của Ngài, khi Ngài mở mắt cho anh được thấy. Anh thấy Thiên Chúa trong Đức Giêsu và  hạnh phúc ngất ngây, khôn tả đã khiến anh “vất áo choàng một bên, nhẩy chồm dậy mà đến cùng Đức Giêsu” (Mc 10,54).

Như thế, Thiên Chúa luôn cần  thiện chí và cố gắng của chúng ta như bước  chân thứ nhất trên hành trình đến gặp Ngài. Người mù đã làm bước chân thứ nhất khi khao khát gặp Ngài biểu lộ qua tiếng kêu thống thiết : “Xin thương xót con ! ”. Anh đã kêu nhiều lần, rất nhiều lần, kêu to đến rát cổ, lạc giọng; kêu lớn đến độ làm phiền đám đông  và bị nhiều người đe loi, cấm cản. Nhưng khi bước chân thứ nhất của người mù hoàn thành, thì chính Đức Giêsu đi về phiá anh, bước tới tìm anh và lên tiếng gọi anh đến gần Ngài.

Tuyệt vời thay hành trình của con người đi tìm Thiên Chúa bỗng chốc trở thành hành trình của Thiên Chúa đến với con người. Đức Giêsu đã tìm đến người mù khi bất ngờ đứng lại, gọi anh, nói với anh: “Con muốn Ta làm gì cho con ?” (Mc 10,51), rồi bảo anh : “Hãy đi, lòng tin của con đã cứu con” (Mc 10,52). Chỉ trong một vài phút ngắn ngủi, Ngài đã đi hết những bước chân dài còn lại trên hành trình của người mù đi gặp Ngài; chỉ một khoảnh khắc rất vắn vỏi Ngài đã làm thỏa mãn tất cả  ước mơ  và đáp trả trọn vẹn lời cầu xin của anh mù, khi cho anh được sáng mắt, được  thấy Ngài và được “theo Ngài  lên đường” (Mc 10,52).

Qủa thực, Thiên Chúa không bỏ ngoài tai lời cầu xin của bất cứ ai, dù là những lời cầu xin đơn sơ, thô kệch,mộc mạc, kể cả nhức đầu, nhức óc, vì Ngài là Cha nhân hậu luôn thương xót con cái mình. Chân lý này cho phép chúng ta tín thác tuyệt đối ở Thiên Chúa khi cầu nguyện, dù lắm lúc tưởng  Chúa ngủ quên hay đã chết  thật rồi.

Lậy Chúa, xin cho chúng con đức tin của anh Bartimê, người hành khất mù loà  thành Giêricô năm xưa, và giúp chúng con noi gương anh trên đường đi tìm Chúa, bởi ít nhiều chúng con đã cảm thấy thích giọng anh với điệp khúc cầu nguyện bất hủ : “ Lậy Chúa, xin thương xót con ! ”; thích cái lì của anh khi bất chấp đám đông “quát tháo bảo im đi” cứ kêu to hơn nữa;  thích phản ứng tràn đầy niềm vui phục sinh của anh khi “vất áo, nhảy chồm dậy mà đến với Đức Giêsu”; và điều chúng con thích nhất ở anh, chính là anh đã “theo Đức Giêsu lên đường”, sau khi được Ngài chữa lành đôi  mắt.


 

MUỐN TÔI LÀM GÌ?

Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

Thưa anh chị em,

Trên hành trình lên Giêrusalem lần cuối, Đức Giêsu có dịp đi ngang qua thành Giêrikhô, một thành phố lớn, đông đảo kẻ qua người lại. Khi vừa ra khỏi cổng thành, thì có một người mù tên là Ba-ti-mê ngồi ăn xin bên vệ đường lớn tiếng kêu xin: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”.

Theo truyền thống thánh kinh Cựu Ước, tước hiệu “Con vua Đavít” là tước hiệu chỉ tên Đấng Thiên sai. Sang thời Tân Ước cũng vậy, dân Do thái  dùng tước hiệu này để ca tụng, khi Đức Giêsu vào thành Giêrusalem “Hoan hô, Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến” (Mt 21,9).

Vậy khi anh mù kêu xin Chúa bằng tước hiệu “Con vua Đavít”, nghĩa là anh nhận ra đúng sứ mạng của Đức Giêsu, Đấng Mêsia, Đấng mà tổ tiên người Do thái hằng đợi trông. Anh mù này đã tin Đức Giêsu là Đấng cứu thế. Đấng quyền năng làm được mọi sự sẽ chữa lành cho anh.

Thật lạ lùng thay! Người khiếm thị này chưa bao giờ nghe biết Đức Giêsu, thế mà hôm nay khi nghe Đức Giêsu đi ngang qua, thì anh lập tức kêu xin: “Lạy Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”.

 Trong khi đó các môn đệ và dân chúng đã từng nghe lời Chúa giảng, từng thấy phép lạ Chúa làm, ấy thế mà dường như vẫn còn mù mờ chưa nhận đúng ra sứ mạng của Đức Giêsu.

Anh Ba-ti-mê tuy mù con mắt thể lý, nhưng ánh mắt lòng tin đã giúp anh thấy được sứ mạng của Đấng Thiên sai, khi Ngài đến: Sẽ loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn, mở mắt cho người mù được sáng, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.

Vì thế, Anh mù không xin Chúa tha tội cho anh, cũng chẳng xin cơm áo gạo tiền như thường ngày, mà chỉ xin một điều duy nhất đó là: “Xin Chúa dủ lòng thương”. Anh tin nên anh xin, nên Chúa đã chữa lành cho anh, đúng như lời Chúa nói: “Đức tin của anh đã cứu chữa anh”.

Anh chị em thân mến,

Lời Chúa năm xưa nói với anh mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”. Hỏi một bệnh nhân muốn gì trong lúc này quả là một câu hỏi xem ra thừa thãi, nhưng kỳ thực đây là một mặc khải, làm nổi bậc lên tấm lòng thương xót của Thiên Chúa. Có nghĩa là bản tính của Thiên Chúa là tình thương. Tình thương tha thứ, tình thương muốn cứu giúp và chữa lành.

Ngày hôm nay, Chúa cũng muốn ngỏ lời với mỗi người chúng ta: “Con muốn Cha làm gì cho con?”. Nếu chúng ta cảm nhận được lời này, chắc chắn sẽ vô cùng hạnh phúc, vì Chúa rất gần gũi và rất mực yêu thương chúng ta.

Trong đời sống chung, đời sống gia đình và xã hội. Chúng ta cũng nên nói lời này với nhau, giữa vợ chồng và con cái. Hay giữa những mối tương quan “Anh muốn tôi làm gì cho anh? Chị muốn tôi làm gì cho chị?.

 Thế nhưng, Chúa nói: “Những gì các con muốn người khác làm cho mình, thì mình hãy làm cho người khác trước đi” (Mt 7,12).

Bởi lẽ, ai cũng muốn người khác giúp đỡ mình. Ai cũng muốn người khác tôn trọng và yêu mến, cảm thông và chia sẻ, tha thứ và cầu nguyện cho mình. Thì  mình hãy làm những điều đó cho người khác trước đi.

Nếu chúng ta mặc lấy tâm tình như đã có trong Đức Giêsu Kitô, thì chúng ta sẽ làm  những điều tốt đẹp đó cho nhau, như Chúa đã làm cho chúng ta.

Thánh Phanxicô đã dạy: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Để con dọi ánh sáng vào noi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.

Lời kinh này không chỉ là lời cầu nguyện, nhưng còn diễn tả đời sống chứng nhân của người tín hữu Kitô. Có nghĩa là, không những chúng ta đem yêu thương vào nơi oán thù, nhưng còn phải dọi ánh sáng vào nơi tối tăm nữa.

Xin Chúa thương mở đôi mắt đức tin, để chúng ta thấy được Đức Giêsu, là Đấng cứu độ duy nhất. Vì chúng ta như người hành khất mù lòa bên vệ đường.

Xin Chúa thương chữa lành con mắt mù lòa ích kỷ, để chúng ta nhìn thấy dung nhan Ngài nơi mỗi tha nhân, đặc biệt những người nghèo khổ ăn xin nơi đầu đường xó chợ.

Xin đừng để chúng ta vô cảm trước sự bất hạnh của anh em đồng loại, nhưng biết chạnh lòng thương muốn cứu giúp, bằng đôi tay nâng đỡ, với trái tim rộng mở, và nói những lời xây dựng yêu thương, để mang lại ánh sáng tình thương của Chúa, đến cho những người còn ở trong bóng tối sự chết. Amen.

 

.

KHÁT KHAO ĐƯỢC SÁNG

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Rất nhiều người may mắn không bị mù loà, nhưng hầu như ai cũng có lúc bị mù quáng.  Người mù quáng có thể thấy rõ những sai phạm của người khác nhưng mù tối về những lầm lỗi của mình, nên người ta thường nói: “Việc người thì sáng, việc mình thì quáng.”

Bệnh mù quáng nghiêm trọng của Vua Đa-vít

Đa-vít là vị vua khôn ngoan, dũng cảm và đức độ; thế nhưng nhà vua cũng có lúc bị mù quáng nghiêm trọng. Dù đã có nhiều thê thiếp nhưng vua lại mê đắm bà Bát-sa-bê là vợ của U-ri-a và sau đó lại mượn tay quân thù giết chết U-ri-a ngoài mặt trận, để rồi chính thức cưới lấy bà Bát-sa-bê làm vợ.

Thế là cùng một lúc vua đã phạm hai tội ác tầy đình: tội ngoại tình và tội giết người. Ấy thế mà vì mù quáng, vua vẫn ung dung như không có gì xảy ra.

Sau đó, Thiên Chúa sai ngôn sứ Na-tan đến cảnh tỉnh nhà vua. Vị ngôn sứ tâu vua rằng: Trong thành kia, có một người giàu có đến cả ngàn dê cừu. Trong khi đó, bên cạnh nhà ông ta có một ông lão nghèo khó và cô độc, chỉ có một con chiên nhỏ làm bạn cho vui tuổi già. Ông lão thương con chiên đó như con gái của ông. Ông cho chiên ăn trên tay và cho ở trong nhà.

Thế rồi khi người giàu có khách, ông ta không chịu bắt chiên mình thiết tiệc; trái lại, cho tôi tớ qua nhà ông lão nghèo khổ bắt con chiên độc nhất của ông nầy làm thịt đãi khách.

Nghe đến đây, vua Đa-vít bừng bừng nổi giận. Vua muốn trừng trị tức khắc tên bất lương đó. Nhà vua phán: “Nó đáng chết vì tội ác nó đã phạm. Nó phải bồi thường gấp bốn thiệt hại mà nó đã gây ra.”

Bấy giờ ngôn sứ Na-tan mới tỏ cho vua biết tên bất lương đó chính là nhà vua: vua đã có nhiều vợ con, thê thiếp lại đang tâm sát hại U-ri-a và cướp lấy vợ ông ta!

Bấy giờ vua Đa-vít mới bừng sáng mắt, thấy rõ tội ác của mình nên đã ăn năn thống thiết. (II Samuel 11, 1-12,12)

Bất kỳ ở thời đại nào, xã hội nào cũng có đầy dẫy những con người mù quáng.

Nhiều người mù tối lương tri, không nhận thấy mình đang bị lòng tham lam thống trị và xui khiến họ làm đủ mọi thủ đoạn đê hèn, bất chấp luân thường đạo lý, sẵn sàng giết hại người khác, làm cho người ta khuynh gia bại sản… miễn sao thu được nhiều lợi lộc cho mình.

Nhiều người để cho ích kỷ, kiêu căng, giận hờn, ganh tỵ, cố chấp, chia rẽ, bè phái… bén rễ sâu trong tâm hồn mình mà không tự biết, nên trở thành nô lệ cho những thói xấu này, để chúng chi phối mọi hoạt động của mình, mà không thể tự giải thoát mình khỏi sự thống trị của những thế lực đen tối này.

Chỉ đến khi thấu biết sự thiệt hại lớn lao do cảnh mù quáng gây ra, người ta mới cố gắng thoát khỏi sự thống trị nó.

Khao khát được khỏi mù quáng

Người mù trong Tin Mừng hôm nay (Mc 10, 46-52) có lòng khao khát thoát cảnh mù loà cách mãnh liệt. Khi nghe biết có Chúa Giê-su đi ngang qua, anh liền cất tiếng kêu to: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vít, xin hãy thương xót tôi.” Dù người qua kẻ lại quát mắng anh im đi nhưng không gì có thể dập tắt được ngọn lửa khao khát bừng lên mãnh liệt trong lòng, nên anh càng la to hơn: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vít, xin hãy thương xót tôi!”

Thế rồi, khi được biết Chúa Giê-su cho vời mình đến, anh vui mừng đến độ vứt cả áo choàng, vứt cả bị, gậy để đến với Chúa Giê-su. Chúa Giê-su hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mau mắn thưa ngay: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy.”

Cầu được ước thấy, ánh sáng đã bừng lên cho anh. Anh thấy được Đức Giê-su, thấy mọi người chung quanh, thấy thế giới rực rỡ muôn màu.

Muốn được chữa lành bệnh mù quáng, chúng ta phải có lòng khao khát mãnh liệt được sáng như anh mù Ba-ti-mê. Lòng khao khát đó sẽ thúc đẩy chúng ta đến với Đức Giê-su là Ánh Sáng đích thật và Ánh Sáng của Ngài sẽ xoá tan sự mù quáng đang vây phủ lòng trí chúng ta. Nhờ đó, chúng ta sẽ thoát khỏi nhiều sai lầm tai hại.

Lạy Chúa Giê-su là Ánh Sáng thế gian,

Người mù quáng sinh hoạt giữa đời cũng giống như tài xế chạy xe giữa đêm đen mà không có đèn chiếu sáng, chắc chắn sẽ gặp phải nhiều nguy hại xảy đến bất ngờ. Nguyện xin ánh sáng của Chúa soi dẫn cho chúng con thấy được nẻo chính đường ngay.

Hôm xưa Chúa đã từng mở mắt cho những kẻ mù loà được xem thấy thì nay xin Chúa xót thương giải thoát chúng con khỏi tình trạng mù quáng khiến chúng con sống trong mê muội, sai lầm.

 

.

ĐẤNG CỨU THẾ CHỮA LÀNH BỆNH TẬT CỦA CHÚNG TA

Lm. Phêrô Lê văn Chính

          Mù lòa là một bất hạnh lớn trong cuộc đời. Do bởi tận nguyền, người mù không có đủ khả năng để phát triển bình thường và đầy đủ như những người khác. Câu chuyện của Tin mừng hôm nay nói đến người mù tên là Bartimê vốn ngồi ăn xin ở vệ đường. Dù phải chịu đựng một thân phận thấp kém hơn những người khác, sống nhờ vào lòng thương xót của bá tánh, nhưng người mù này đã có một sự hiểu biết hơn những người khác và trở nên như một nhân chứng của việc con người gặp gỡ Đấng cứu thế. Khi Đức Giêsu đi ra khỏi thành Giêrikhô cùng với các môn đệ và một đám đông dân chúng, người mù này đã lớn tiếng cầu xin Đức Giêsu chữa lành cho anh. Anh có một sự nhạy bén lạ thường vào một thời điểm quyết định là lúc Đức Giêsu đi qua nơi anh đang ngồi ăn xin ở vệ đường. Tin mừng nói rõ là anh đã kêu lên: “Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Lời cầu xin của anh diễn tả thân phận đau khổ của anh cùng với lòng tin tưởng mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Trong thân phận mù lòa, anh không bị chôn chặt vào định mệnh khắc nghiệt oan trái của mình, nhưng đã biết vươn lên để có thể kêu xin lòng thương xót của Đức Giêsu. Điều đáng ngạc nhiên là tuy không có đầy đủ mọi điều kiện như những người bình thường khác, anh lại có sự hiểu biết chính xác về Đức Giêsu, anh gọi người là “Con vua Đavít”. Theo truyền thống Thánh kinh, Đấng cứu thế dân tộc do thái đang mong đợi là người con thuộc dòng tộc Đavít, chúng ta hãy nhớ lại lời tiên tri Nathan nói với vua Đavít trong sách 2 Samuel 7,14. Khi vua Đavít đã an vị, ông ở trong nhà làm bằng gỗ bá hương, ông nhớ lại hòm bia Thiên Chúa vẫn còn ở trong lều tạm, nên đã quyết định muốn xây dựng cho Chúa một căn nhà. Vì thế, Thiên Chúa đã sai tiên tri Nathan đến nói với vua Đavít: Không phải nhà vua sẽ xây dựng cho Chúa một căn nhà, nhưng chính Chúa sẽ xây dựng cho nhà vua một căn nhà. Căn nhà chính là triều đại của nhà Đavít được trường tồn, và qua đó Thiên Chúa cũng hứa ban một vị vua cứu thế xuất thân từ dòng tộc Đavít.

          Câu chuyện Tin mừng còn cho chúng ta biết thêm chi tiết là trong khi đám đông đi theo Đức Giêsu tìm cách để làm cho người mù phải câm miệng thì anh lại càng kêu to hơn. Người mù là hạng người bị loại trừ, bị gạt ra bên lề cuộc sống xã hội, nên đám đông đi theo Đức Giêsu thấy rằng không nên để cho anh cản đường Đức Giêsu. Nhưng thái độ ngăn cản của đám đông không làm cho người nản chí, anh càng kêu to hơn: “Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Lời cầu xin thống thiết này sau cùng đã đến với Đức Giêsu, người dừng lại và truyền cho anh đến với người. Thái độ của Đức Giêsu thật khác thái độ của đám đông, người lắng nghe lời cầu xin của người mù, người động lòng trắc ẩn, người để người mù đến với mình và hỏi thăm anh cần gì. Thái độ của người mù thực đáng kinh ngạc và ý nghĩa khi được Chúa Giêsu cho phép anh đến với người, anh trỗi dậy, vất bỏ chiếc áo choàng anh vẫn mang trên mình và đến với Đức Giêsu. Thái độ của anh rõ ràng và dứt khoát. Theo Thánh kinh, chiếc áo choàng thực là ý nghĩa. Đây là vật bất ly thân của con người, là tài sản của người nghèo đồng thời nó cũng mặc ý nghĩa như là nhân cách của con người. Cử chỉ anh vất bỏ chiếc áo để chạy đến với Đức Giêsu muốn nói từ đây anh bỏ lại thân phận mù lòa bị loại trừ của mình để vui mừng đến với Đức Giêsu là Đấng mời gọi anh và ban tặng cho anh quà tặng cứu độ của Đấng cứu thế. Anh không chỉ đi mà là chạy và nhảy đến với Chúa Giêsu. Bước nhảy của anh là bước nhảy reo vui của người tin tưởng xác tín vào quyền năng chữa lành của Đấng cứu thế Con vua Đavít mà anh chờ đợi và tin tưởng. Một con người mà bệnh tật và những loại trừ của xã hội không thể nào ngăn cản anh cố gắng vượt qua hố ngăn cách. Đức Giêsu đã hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”. Câu hỏi của Đức Giêsu có thể gây ngạc nhiên, bởi vì chắc hẳn người đã biết anh mù này muốn xin người chữa cho anh được thấy. Thế nhưng, người vẫn luôn tôn trọng và chờ đợi sự tự do của anh. Chúa Giêsu muốn anh nói lên lời cầu xin của mình mặc dù người vốn biết điều người mù muốn xin với người. Người mù đã thẳng thắn và chân thành nói lên lời cầu xin của mình: xin cho tôi được thấy. Và Đức Giêsu đã nói với anh: “Hãy đi, đức tin của con đã chữa con”. Ơn chữa lành của Đức Giêsu đối với người mù không chỉ dừng lại ở việc chữa trị bệnh tật thế lý, mà còn xa hơn nữa, đây là ơn cứu độ để cứu chữa con người toàn vẹn. Người mù không chỉ xin để được sáng mắt, mà điều quan trọng hơn là anh đã tin vào người, anh đã gặp và trở nên môn đệ của người và đi theo người.

          Câu chuyện người mù cho thấy thân phận bi đát của con người. Không những người mù mà tất cả mọi người đều đang ở trong tình trạng cần đến Thiên Chúa cứu độ giải thoát. Thân phận của dân Chúa phải ly hương, sống đau khổ nơi đất khách, làm thân nô lệ là những hình ảnh của một thân phận bi đát hơn nữa của con người là nô lệ tội lỗi và sự chết. Tiên tri Giêrêmia tiên báo giờ Thiên Chúa cứu độ sẽ đến để an ủi và giải thoát dân người để họ được đoàn tụ trong tình thương yêu chăm sóc và hạnh phúc của Thiên Chúa là Cha của mình. Thư Do thái trình bày cho chúng ta Đức Giêsu là vị thượng tế thông cảm và hay thương xót, bởi vì chính người cũng yếu đuối tư bề. Người vừa dâng lễ đền tội thay cho dân, người cũng dâng lễ cho chính mình. Người là vị thượng tế được tuyển chọn vì người chính là Con một của Chúa Cha đời đời. Như người mù trong câu chuyện, mỗi người cần mạnh mẽ khẩn cầu Chúa Giêsu thương xót thân phận của mình, cần nhận thấy tình trạng đau khổ bi đát của mình để van xin lòng thương xót của Đấng cứu thế chữa lành bệnh tật và tội lỗi của mình để được chữa lành và tiến bước trên con đường theo Chúa Giêsu.

 

.

MẮT ĐỨC TIN

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

  1. “Đôi mắt xanh của chị Nữ Tu”

Trong cuốn sách “Những người lữ hành trên đường hy vọng”, Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận kể câu chuyện “Đôi mắt xanh của chị Nữ Tu” thật cảm động.

Trên khắp các nước, thế chiến đã bùng nổ. Quân phát xít chiếm cứ khắp nơi. Một viên tướng Phát xít đến một nhà dòng kia, yêu cầu kêu Mẹ Bề trên cho ông ta gặp… Khi vừa dốc cạn ly nước từ tay Mẹ Bề trên, viên tướng Phát xít lập tức vào đề:

– Xin bà cho tôi gặp chị Maria. Bà Bề trên bấm chuôn gọi chị ấy ra. Ông tướng vui vẻ hẳn lên và nói cách sổ sàng: “Tôi yêu cầu bà trao ngay cho tôi chị này, tôi say mê chị”.

Hai mẹ con nhìn nhau lúng túng. Chị Maria vội đỡ lời: “Tôi là một nữ tu tầm thường, nào có gì để ông say mê. Xin ông tìm ở ngoài thế gian, lắm người nhan sắc lộng lẫy…”.

– Không! Không! Tôi yêu chị vì chị có đôi mắt xanh tuyệt đẹp. Tôi say mê quá!

– Không! Xin lỗi ông, không bao giờ tôi chấp nhận điều ấy.

– Nếu chị không chấp nhận, nội ngày mai, tôi sẽ ra lệnh tiêu diệt cả Nhà Dòng này!

Một bầu khí thinh lặng ghê rợn ập xuống phòng khách. Ông tướng đứng lên và bảo: “Tôi cho một đêm suy nghĩ, sáng mai tôi sẽ trở lại. Phải trả lời dứt khoát, nếu không tôi sẽ…”.

Ngày hôm ấy, cả Nhà Dòng thiết tha cầu nguyệt sốt sắng hơn. Thâu đêm chị không thể nào chợp mắt: “Chẳng lẽ vì mình mà cả nhà phải bị tiêu diệt? Không, không thể được! hay tôi phải bỏ Nhà Dòng, bỏ Tình yêu Chúa Kitô, bỏ đức trinh khiết? Không, không bao giờ như thế!”.

Sáng hôm sau, khi chị em còn nguyện kinh, ông tướng Phát xít đã có mặt ở phòng khách, đôi mắt hau háu, nôn nóng, sốt ruột.

Từ đầu hành lang, Chị Maria đang tiến lại, nhưng… bên cạnh lại cómột người khác dẫn đi, tay chị cầm một cái dĩa. Viên tướng há hốc mồm, trố mắt kinh ngạc. Chị đã bước vào phòng khách, nhưng ông vẫn không ngớt ngẩn ngơ. Chị Maria khuôn mặt đầy máu me, đang sờ soạt đặt cái dĩa trên mặt bàn và nhỏ nhẹ trình bày: “Thưa ông, vì ông say mê cặp mắt của tôi… nên tôi xin sẵn sàng biếu ông cặp mắt ấy… trên dĩa này. Còn thân xác tôi, đời tôi, tôi đã hiến dâng cho Thiên Chúa”.

Viên tướng Phát xít vừa bàng hoàng kinh ngạc vừa cảm phục. Ông xấu hổ đứng dậy bỏ ra về và không đá động gì đến Nhà Dòng nữa. (trang 175-177).

Nữ tu Maria hy sinh đôi mắt xanh tuyệt đẹp để “dọi ánh sáng vào nơi tối tăm” của cõi lòng viên tướng, nhờ vậy ông ta được sáng đôi mắt và nhìn thấy sự cao quý của một tâm hồn thanh khiết.

  1. Đôi mắt mù

Đọc câu chuyện, liên tưởng đến chuyện vua Đavít được tiên tri Natan “mở mắt”. Dù đã có nhiều thê thiếp, nhưng vua lại chiếm đoạt bà Bátsabê là vợ của Uria và sau đó lại mượn tay quân thù giết chết chồng bà để chính thức cưới lấy Bátsabê làm vợ. Thế là vua đã phạm hai tội ác tày đình: ngoại tình và giết người. Vậy mà vua vẫn ung dung như không có gì xảy ta. Sau đó, Thiên Chúa sai tiên tri Natan đến cảnh tỉnh nhà vua. Tiên tri nói với vua: Trong thành kia, có một người giàu có đến cả ngàn dê cừu. Trong khi đó, bên cạnh nhà ông ta có một ông lão nghèo khó và cô độc, chỉ có một con chiên nhỏ làm bạn cho vui tuổi già. Ông lão thương con chiên đó như con gái của ông. Ông cho chiên ăn trên tay và cho ở trong nhà. Thế rồi khi người giàu có khách, ông ta không chịu bắt chiên mình làm tiệc, trái lại, cho tôi tớ qua nhà ông lão nghèo khổ bắt con chiên độc nhất của ông nầy làm thịt đãi khách. Nghe đến đây, vua Đavít bừng bừng nổi giận. Vua muốn trừng trị tức khắc tên bất lương đó. Nhà vua phán: “Nó đáng chết vì tội ác nó đã phạm. Nó phải bồi thường gấp bốn thiệt hại nó đã gây ra.”. Bấy giờ tiên tri Natan mới tỏ cho vua biết tên bất lương đó chính là nhà vua và Chúa sẽ trừng phạt vua vì tội ác đã gây ra.Vua Đavít bừng sáng mắt ra, thấy rõ tội ác của mình nên đã ăn năn thống thiết. (II Samuel 11,1-12,12).

Câu chuyện cũng gợi nhớ về đôi mắt mù của Nguyên Tổ trong sách Sáng Thế: “Rắn đã nói với người đàn bà: chẳng chết chóc gì đâu ! Quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu. Và người đàn bà đã nhìn; quả là cây ăn phải ngon… mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn. Và bà đã ăn… Và mắt cả hai người đã mở ra. Và chúng biết là chúng trần truồng” (St 3, 4-7).

Đoạn Thánh Kinh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến đôi mắt qua 3 tiến trình:

–   Rắn hứa là mắt hai ông bà sẽ mở ra.

–   Evà nhìn trái táo và thấy sướng mắt.

–   Mắt hai người mở ra và thấy mình trần truồng.

Rắn hứa là mắt hai người sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa, nhưng mắt đức tin đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn thấy. Họ không thấy mùa hoa nở rộ, những đồi cỏ bình yên, những dãi nắng hiền, những dòng suối êm ả. “Mà nhìn thì đã sướng mắt”, cái nhìn ấy phải là đắm đuối, bằng cái nhìn đam mê đó, tội lỗi, khổ đau và sự chết đã vào trần thế.

Lời hứa của con rắn đã hiệu nghiệm: “mắt cả hai người đã mở ra”. Không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà nhìn thấy mình trần truồng. “Mắt hai người đã mở ra”. Câu Thánh kinh thật ngắn ngũi diễn tả cách tinh tế sự đau thương: mở ra cũng là lúc đóng lại. Ađam – Evà đã mở mắt, nhưng họ lẫn trốn không dám nhìn Thiên Chúa. Cả hai đã mở mắt nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau. Khởi đầu lịch sử nhân loại là đôi mắt mù và sự mù loà chảy dọc theo thời gian mang tối tăm vào trong trần thế. (x.Nước mắt và hạnh phúc, trg 69-71, Lm Nguyễn Tầm Thường).

  1. Mắt đức tin

Chúa Kitô đã đến chữa lành sự mù loà ấy, hàn gắn lại vết thương thưở sa ngã của Nguyên Tổ. Khi liên kết phép lạ Chúa Giêsu chữa người mù từ thưở mới sinh với sự mù loà của Nguyên Tổ, ta mới thấy ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trong thế gian.

Mù từ thưở mới sinh” là mù từ xa xưa, thưở địa đàng. Chúa Kitô đã mang ánh sáng cho thế gian. Ngài ban cho nhân loại đôi mắt mới: Mắt Đức Tin.

Từ tiến trình đến ánh sáng tự nhiên, người mù có một hành trình tiếp cận ánh sáng đức tin. Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt thể lý và mắt tâm hồn của người mù. Chúa đã mở mắt đức tin để anh ta tin vào Chúa. Anh ta tin vào lời Chúa là đi rửa mắt ở hồ Silôác và đã công khai nói lên sự thật ca ngợi Chúa trước mặt những người Pharisiêu đang tra vấn, khủng bố anh: Chính tôi đây đã được người mà thiên hạ gọi là Giêsu lấy bùn xức mắt tôi và bảo tôi hãy đi rửa ở hồ Silôác. Tôi đã đi, đã rửa và đã trông thấy. Lòng bắt đầu rộng mở nên anh ta nhận ra: Nếu người đó không phải bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì. Bởi đó, khi gặp lại Chúa Giêsu và được hỏi: “Anh có tin Con Người không ?” thì anh đáp lại ngay: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Chúa Giêsu tỏ mình ra cho anh: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh liền đáp: “Lạy Thầy, tôi tin.” Bước nhảy của niềm tin được kết tinh nơi thái độ quỳ xuống bái lạy.

Qua việc chữa lành đôi mắt thể lý, Chúa Giêsu trao ban ánh sáng đức tin cho đôi mắt tâm hồn. Thoát khỏi bóng tối triền miên của cuộc đời, bát ngát một bầu trời mới khi anh được sáng đôi mắt. Lớn lao hơn nữa là tâm hồn anh thênh thang chứa chan lòng mến, anh đã quỳ bái lạy với tất cả lòng tin.

Phép lạ chữa người mù thưở mới sinh là một dấu chỉ minh chứng: Chúa Giêsu là sự sáng thế gian, đã chữa lành sự mù loà của nhân loại với điều kiện: Tin vào Ngài.

Chúa Giêsu cũng chữa nhiều người mù loà tâm hồn. Ngài mở mắt cho Giakêu thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi (Lc 9, 1-10). Ngài mở mắt cho người đàn bà ngoại tình, giúp chị từ bỏ quá khứ lỗi lầm (Lc 7, 36-50). Ngài mở mắt cho người trộm lành giúp nhận ra lòng Chúa xót thương (Lc 23, 32-43)…

Mỗi người chúng ta có lẽ không hoàn toàn mù tối tâm hồn, nhưng có những điểm tối mà ta thấy được. Chẳng hạn như những đam mê, tham vọng, hận thù, ghen ghét, kiêu căng, có thể làm ta mù tối không nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân. Có một số người chỉ nhìn thấy điểm tối của người khác, chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm mà không nhận ra những gì là xinh đẹp, những gì là cao quý, thánh thiện nơi họ. Cứ tiếp tục xét mình, ta sẽ thấy có nhiều điểm tối, sự mù tối của tâm hồn rất nguy hại. Chỉ có ánh sáng của Đức Kitô soi chiếu, chỉ có cái nhìn của Đấng tình yêu, mỗi người mới xoá tan những điểm tối đó. Chỉ có sự cầu nguyện và tin tưởng vào Đấng là ánh sáng thế gian, chúng ta mới có thể xua đuổi bóng tối ra khỏi tâm hồn và nhìn mọi sự trong ánh sáng Tin Mừng Đức Kitô. Ðôi mắt đức tin giúp chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa và yêu mọi người, mọi sự trong Chúa và yêu như Chúa đã yêu.Nhiều Thánh vịnh giúp chúng ta tập nhìn cuộc đời và con người bằng đôi mắt tin yêu, như Thánh vịnh 104, các Thánh vịnh Job 38-39.

Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn. Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy. Thấy nhiều hay ít. Thấy xa hay gần. Thấy rõ hay mờ. Người cận thị chỉ thấy được rất gần. Người viễn thị thì thấy xa hơn. Cần có thị giác tốt và thị lực tốt thì đôi mắt mới sáng ngời. Thị lực còn là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác. Thị lực còn là niềm tin. Bartimê tuy mù nhưng lại có thị lực tốt. Anh đã thấy được Chúa Giêsu là Ðấng Messia “Con Vua Ðavít“. Anh kêu xin : “Rabbuni, xin cho tôi được thấy“, và Chúa Giê-su trả lời : “Hãy đi ! Niềm tin của con đã cứu chữa con“. Bartimê được thấy và anh theo Chúa Giêsu trên con đường của Người ; khi thấy được, anh cùng hành hương lên Giêrusalem (x. Đức Giêsu thành Nazareth phần II, trg 13). Bartimê thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy. Anh thấy Chúa là con vua Đavít, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt. Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giêsu đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt. Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin. Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng.

Muốn trong trắng, con phải hy sinh; cành huệ trắng tinh, cành mai thơm tho, cành đào xinh đẹp, vì nó đâm rễ sâu vào lòng đất, vì nó cầm cự với mưa bão, vì nó chịu đựng những bàn tay cắt tỉa” (ĐHV 431). Lạy Chúa Giêsu, xin cho con có đôi mắt với thị giác và thị lực tốt; để con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt; để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên; để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa.

Và lạy Chúa, Chúa chỉ ban sự trong trắng cho linh hồn khiêm nhường. Con cầu xin hàng ngày với tâm hồn đơn sơ chân thành, thực sự nhìn nhận sự yếu đuối của con” (ĐHV 427); xin cho con được thấy bản thân con với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen

 

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B

Lm Giuse Đinh Tất Quý

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu làm phép lạ chữa cho một người mù.

A. Hoàn cảnh của người mù:

Người mù trong bài Tin Mừng hôm nay có tên là Bartimê: Con của Timê. Như vậy người ta chỉ biết anh là con của Timê chứ người ta không biết tên thật của anh là gì.

Hoàn cảnh nghèo đã khiến anh phải sống bằng nghề ăn xin. Nói một cách văn chương thì ta bảo là khất thực.

Tin Mừng không cho chúng ta biết anh ta bị mù từ bao giờ nhưng xác định thật rõ chỗ anh ta chọn để hành nghề của mình. Đó là vệ đường, chỗ có nhiều người qua lại. Chọn cho mình một chỗ để ngồi khất thực bên vệ đường nơi có nhiều người qua lại là một chọn lựa có một ý đồ rõ rệt: Tỷ lệ những người mà anh ta hy vọng sẽ giúp đỡ anh sẽ cao hơn.

Tin Mừng không cho chúng ta biết làm sao mà anh đã biết Chúa thế nhưng chúng ta có thể phỏng đoán rằng anh ta đã được người ta nói cho anh về nhân vật đặc biệt này.

Hôm đó anh đang ngồi ở vệ đường để khất thực như thường lệ, một công việc được lặp đi lặp lại… nhiều khi đến nhàm chán, thì bỗng dưng như có một cái gì khác thường sắp sửa xẩy ra: những người qua lại có vẻ nhiều hơn. Có lẽ có ai đó đã báo cho anh ta biết về việc Chúa Giêsu sắp đi ngang qua cho nên ngay khi Chúa còn cách xa, anh đã kêu thật lớn tiếng: “Lạy ông Giêsu con Vua Đavid, xin thương xót tôi”.

Nhiều người cùng đi với Chúa Giêsu đã nghe thấy những lời đó. Đáng lý ra thì họ phải thương anh, tìm cách cho anh được tiếp cận với Chúa. Thế nhưng không hiểu lý do gì mà không những họ không giúp đỡ mà ngược lại họ còn ngăn cấm anh nữa.

Bất chấp sự ngăn cấm của mọi người anh càng la to hơn và sự việc này đã đến tai Chúa. Chúa dừng lại và cho gọi anh tới. Thái độ của Chúa khác hẳn với thái độ của nhiều người và lập tức thái độ của những người đi theo Chúa cũng thay đổi theo. Bây giờ không còn phải là những lời ngăn cấm mà là những lời đầy an ủi: “Hãy an tâm đứng dậy. Ngài cho gọi anh”.

Thật là cơ hội ngàn vàng đã tới. Quá vui sướng và tràn trề hy vọng, anh vứt bỏ chiếc áo choàng cũ kỹ anh vẫn mang trên mình để được nhẹ nhàng đến với Chúa.

Bây giờ Chúa đã đối diện với anh nhưng anh chưa nhận ra Người. Người thừa biết anh muốn gì thế nhưng để cho anh cảm thấy anh đang được gần Chúa, Chúa đã sử dụng ngôn ngữ có âm thanh để giúp anh nhận ra Ngài. Ngài hỏi anh:

“Anh muốn Tôi làm gì cho anh?”

Không cần phải suy nghĩ anh thưa ngay: “Lạy Thầy, xin cho con được xem thấy”. Cách anh sử dụng để xưng hô với Chúa “Rabboni: Lạy Thầy” là cách biểu lộ lòng kính trọng.

Và bằng một cử chỉ và thái độ đầy tình yêu thương Chúa nói với anh:

“Được đức tin của anh đã cứu anh”.

B. Bài học

Điều mà anh mù trong bài Tin Mừng hôm nay xin với Chúa cũng chính là điều mà mỗi người chúng ta cần xin: Xin cho con thấy được.

Thấy là một sinh hoạt tâm lý rất quan trọng trong sinh hoạt tri thức của con người. Chúa đã gọi “con mắt là cửa linh hồn”. Chúng ta cũng vẫn thường nói: “Trăm nghe không bằng mắt thấy”.

Mù không phải là không có mắt nhưng cặp mắt không còn khả năng thị giác. Người mù xin với Chúa: Xin cho con thấy được có nghĩa là xin Chúa phục hồi lại khả năng thị giác cho anh: (Restore my sigth). Không có khả năng thị giác người ta sẽ bị thiếu xót rất nhiều trong nhận thức. Thiếu sự nhận thức, con người sẽ dễ bị rơi vào tình trạng sai lầm.

Nói tới đây tôi nhớ tới một giai thoại có liên hệ đến một nhà bác học nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 này. Đó là nhà bác học Albert Einstein.

Một hôm có một sinh viên không hiểu được thuyết “Tương đối” của ông cho nên mạnh miệng xin ông cắt nghĩa cho. Thay vì trả lời theo kiểu một bài học thì ông lại trả lời bằng một câu chuyện. Ông bảo: “Một hôm tôi đi đường, tôi gặp một người mù, tôi hỏi anh ta: Anh có muốn uống một ly sữa không?”

Người mù hỏi lại tôi:

– Sữa là gì?

 Tôi cắt nghĩa:

– Sữa là một thứ nước trăng trắng.

Người mù hỏi lại:

– Nước thì tôi biết nhưng trắng là thế nào?

– Trắng là cái mầu giống như lông con ngỗng.

– Lông thì tôi biết rồi nhưng con ngỗng là con như thế nào?

– Ngỗng là một loại chim có cái cổ dài và cong được.

– Cái cổ thì tôi biết nhưng cong là gì?

Nhà bác học Einstein liền nắm cánh tay của người mù dang thẳng ra và bảo:

– Thế này gọi là ngay. Rồi ông bẻ cánh tay lại và bảo: Thế này thì gọi là cong.

Vừa nói đến đây thì người mù vui sướng như đã khám phá ra được một chân lý bí mật… Anh ta nói với nhà bác học:

– Bây giờ thì tôi hiểu rồi… Sữa là cái cánh tay cong lại giống cái cổ của con ngỗng.

Chúng ta có mắt. Mắt chúng ta sáng. Từ chỗ chúng ta thấy đến chỗ nhận biết, con đường chẳng có bao xa. Nhưng vấn đề là trong cuộc sống chúng ta có thực sự thấy được tất cả hay không?

“Lạy Chúa xin cho con thấy được”.

Lời cầu xin xem ra có vẻ rất đơn sơ, nhưng xét cho thấu tình đạt lý thì chẳng phải là một điều dễ. Tại sao? Tại vì tầm nhìn của cặp mắt chúng ta quá bị hạn chế.

Một tác giả Ấn Độ có kể câu truyện ngụ ngôn được Thu Giang Nguyễn Duy Cần ghi lại trong tác Phẩm “Cái cười của thánh nhân” như sau :

Có một người kia sinh ra đã bị mù. Sống trong một căn phòng nhưng bởi không thấy gì cả, nên anh phủ nhận tất cả những gì người chung quanh quả quyết là có: “Tôi không tin vì tôi không thấy'”

Một vị lương y đem lòng thương hại đi tìm một thứ linh dược trên dẫy Hy-mã-lạp-sơn về chữa anh ta lành bệnh. Anh ta sung sướng tự phụ bảo:

– Giờ đây tôi thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi.

Nhưng có kẻ nói với anh:

– Bạn ơi, bạn chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này. Như thế thì có là bao. Ngoài kia người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, còn biết bao vẻ đẹp lộng lẫy và màu sắc mà bạn chưa thấy.

Nhưng anh ta không tin.

– Làm gì có được những cái đó: tôi chưa thấy những cái đó, những gì có thể thấy được tôi đã thấy tất cả rồi.

Một y sĩ khác liền leo lên tận núi cao, được Sơn Thần chỉ cho một thứ linh dược khác đem về giúp cho anh ta có được cặp mắt nhìn xa hơn những vật chung quanh căn phòng. Bấy giờ thì anh ta thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú. Mừng quá! Rồi lòng tự phụ dâng lên, anh thốt lên:

– Trước đây tôi không thấy, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin. Như thế bây giờ chẳng còn cái gì mà tôi không thấy không biết, đâu còn ai hơn tôi được.

Nhưng có một hiền giả có cặp mắt thần nói với ánh ta:

– Cậu ơi. Cậu vừa hết mù nhưng cậu vẫn còn chưa biết gì cả. Tại sao lại quá tự phụ như thế. Cũng như khi cậu ở trong căn phòng. Tầm con mắt cậu không vượt khỏi bốn bức tường, cậu không tin có vật gì ngoài căn phòng của cậu. Giờ đây tầm mắt cậu vượt khỏi bốn bức tường và thấy được nhiều vật xa hơn. Nhưng với chừng mực của tầm mắt và lỗ tai, cậu làm gì biết được những vật ngoài ngàn dặm mà tai mắt cậu không làm sao nghe được, thấy được. Cậu có thấy được những nguyên nhân cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu không? Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống, còn biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không thể kể như cát sông Hằng. Tại sao cậu dám tự phụ rằng tôi đã thấy cả, tôi biết cả? Cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng và lấy sáng làm tối.

Lạy Chúa xin cho chúng con thấy được. Mãi mãi chúng ta phải xin như thế.

Thấy những gì? Thấy những điều Chúa muốn cho chúng ta thấy để chúng ta được biết bước đi dưới sự dẫn dắt của Chúa, thấy được tình thương của Người để chúng ta cảm nghiệm được niềm vui khi được làm con cái của Người. Hạnh phúc hay bất hạnh ở trong cuộc sống tùy thuộc rất nhiều vào sự việc này. Thấy được tình thương của Chúa chúng ta sẽ có hạnh phúc. Không thấy được tình thương của Chúa chúng ta sẽ bất hạnh. Amen.

 

.

THỊ LỰC

Trầm Thiên Thu

Thị lực liên quan con mắt. Con mắt là một cơ phận nhỏ nhưng quan trọng. Người Việt nhận xét: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Nữ diễn viên Audrey Hepburn (1929-1993, người Anh) có cách nhận định khác: “Mắt đẹp là đôi mắt nhìn thấy nét đẹp từ người khác. Đôi môi xinh là đôi môi chỉ nói lời hay ý đẹp, với đôi chân vững chắc luôn dạo bước trong khu rừng của kiến thức”. Văn sĩ Nikos Kazantzakis (1883-1957, người Hy Lạp) nói: “Khi chúng ta không thể thay đổi thực tế, chúng ta hãy thay đổi cái nhìn của chính chúng ta về thực tế đó”.

Tác giả sách Giảng Viên xác định: “Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. KHÔNG có gì để THÊM, CHẲNG có gì để BỚT. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân BIẾT KÍNH SỢ NGƯỜI” (Gv 3:14). Tương tự, các cơ phận trên thân thể con người cũng chẳng phần nào thừa hoặc thiếu, dù đó là… “ruột thừa”. Thiếu phần nào thì khổ lắm, thừa phần nào cũng mệt lắm, chỉ hoạt động kém một chút là thấy “oải” lắm rồi.

Người ta ví von: “Con mắt là cửa sổ tâm hồn”. Thật chí lý, bởi vì khi nhìn vào mắt người đối diện, người ta có thể “thấy” được những thứ trong tâm hồn người đó. Ánh mắt cũng có một “dòng điện” đặc trưng, người nào “yếu” sẽ chuyển ánh mắt nhìn sang hướng khác – nghĩa là “yếu vía” hơn người kia. Vì thế mà cũng là ánh mắt nhưng có nhiều cách nhìn khác nhau: Nhìn thẳng, nhìn xiên, nhìn ngang, nhìn dọc, nhìn lấm lét, nhìn trộm, nhìn kín đáo, nhìn lộ liễu, nhìn thán phục, nhìn khinh bỉ, nhìn chân thật, nhìn đểu cáng, nhìn thô lỗ, nhìn hiền từ,… Ôi, cũng vẫn chỉ là con mắt nhưng cách nhìn lại đa dạng quá chừng!

Và cũng chỉ với một vấn đề, một sự vật hoặc một con người, thế mà mỗi người lại có cách nhìn hoàn toàn khác nhau. Cố NS Trịnh Công Sơn có cách nhìn thế này: “Còn hai con mắt, khóc người một con. Còn hai con mắt, một con khóc người” (Con Mắt Còn Lại), và ông còn diễn tả con mắt bằng nhiều kiểu: “Những con mắt tình nhân, Nuôi ta biết nồng nàn, Những con mắt thù hận, Cho ta đời lạnh căm. Những mắt biếc cỏ non, Xanh cây trái địa đàng, Những con mắt bạc tình, Cháy tan ngày thần tiên. Những con mắt trần gian, Xin nguôi vết nhục nhằn, Những con mắt muộn phiền, Xin cấy lại niềm tin, Những con mắt quầng thâm, Xin tươi sáng một lần…” (Những Con Mắt Trần Gian).

Theo quan niệm của người Đông phương cổ đại, người ta còn có “con mắt thứ ba” – gọi là “thiên nhãn” (*). Với người có niềm tin tôn giáo nói chung, và với người Công giáo nói riêng, còn có “con mắt đức tin” – một loại “thiên nhãn” đặc biệt. Quả thật, chỉ với con mắt mà cũng có thiên hình vạn trạng. Về tâm linh, con mắt đức tin thực sự quan trọng lắm!

Chúa Giêsu nói: “Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng thì toàn thân anh sẽ sáng” (Mt 6:22). Cuộc đời chúng ta “tối” hay “sáng” là bởi con mắt. Cách nhìn của con mắt có thể khiến lòng tham trỗi dậy. Lòng tham có thể ẩn núp tinh vi: Cho không lấy, thấy không xin, kín thì rình, hở thì rinh. Chưa có “cơ hội” chưa biết ai thật thà hay tham lam. Có những tài xế taxi phát hiện khách bỏ quên trên xe vài chục triệu mà vẫn trả lại khổ chủ, đó mới là người trong sạch – sạch từ ánh mắt. Sách Huấn Ca xác định: “Bạc tiền khiến cho bao người sa ngã, thế nào cũng đưa họ đến hư vong. Nó là cái bẫy cho ai say mê nó, hết mọi kẻ ngu si sẽ sa vào” (Hc 31:6-7). Ai cũng cần tiền, nhưng tiền không là tất cả, cần mức nào và có “nặng lòng” với nó hay không lại là chuyện khác. Tiền bạc chỉ là phương tiện chứ không là mục đích. Người Pháp phân biệt rạch ròi: “Tiền là ĐẦY TỚ TỐT nhưng là ÔNG CHỦ XẤU”. Hãy làm chủ nó, đừng lệ thuộc nó!

Giàu hay Nghèo có thể là Phúc hay Tội còn tùy ở mỗi người, chưa chắc giàu là có tội và nghèo là có phúc. Sách Huấn Ca nói: “Phúc thay ai giàu có mà vô tội, không chạy theo của cải, tiền tài” (Hc 31:6). Đó là “mối phúc lạ” và đó mới là vấn đề. Đừng tưởng nghèo thì được chúc phúc. Nghèo mà lòng không sạch thì cũng vô ích: Nghèo KHÔNG sạch, rách KHÔNG thơm! Nghèo mà vẫn tham thì không thể vô tội, và tất nhiên không thể biện hộ. Quả thật, không hề đơn giản! Đừng nói hay, đừng nói trước mà bước không qua, có cơ hội tham mà không tham đó mới là thực sự trong sạch. Người đó (dù giàu hay nghèo) được khen là có phúc, vì trong dân, người đó khiến cho bao người phải tâm phục khẩu phục qua cách sống. Phải tự thẳng thắn và khó với chính mình, đó mới là nghiêm túc thực sự.

Những người có tâm hồn trong sạch như vậy chắc hẳn là người sống trong ơn nghĩa của Thiên Chúa, dù trong nghèo khổ hoặc cơ cực thì họ vẫn một lòng tín trung với Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh, họ vẫn vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng. Thấy vậy, ngay cả dân ngoại cũng không thể lặng im: “Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay!” (Tv 126:2). Quả thật, việc Chúa làm thật vĩ đại và vô song. Và chính con người đó thấy mình chan chứa một niềm vui – vui vì sống thanh thản trong Ơn Thánh của Thiên Chúa. Tuyệt!

Người ta thường ví von rằng “đời là bể khổ”. Kinh nghiệm sống cho chúng ta biết như vậy. Không ai lại không khổ. Khổ nhiều cách. Khổ nhiều mức. Sinh ra là bắt đầu khổ. Đôi khi có người còn khổ chồng chất, khổ tới chết vẫn không được một ngày sung sướng. Nhưng vấn đề là ở lòng kiên trung trong niềm tin vào Thiên Chúa ngay trong những nỗi cơ cực nhất, chắc chắn Chúa sẽ thương: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng” (Tv 126:5). Muốn tín trung thì phải dùng đến con mắt đức tin và với thị lực tâm linh mạnh mẽ, tầm nhìn xa rộng. Có như vậy mới khả dĩ giữ vững đức tin trong lúc khốn khổ cùng cực, chắc chắn chẳng ai bằng Thánh Gióp. Trước mặt Satan, Thiên Chúa xác nhận bốn điểm son nơi Thánh Gióp: “Thật chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó: một con người VẸN TOÀN và NGAY THẲNG, KÍNH SỢ THIÊN CHÚA và LÁNH XA ĐIỀU ÁC!” (G 1:8).

Tin là chấp nhận hoặc từ chối. Bài học đức tin đơn giản mà phức tạp. Thầy dạy đức tin là Đại sư phụ Giêsu. Chúng ta có đức tin là nhờ Ngài. Vì thế, chúng ta sống đức tin là minh chứng cho Thiên Chúa, không được giữ đức tin đó cho riêng mình mà phải truyền đức tin sang cho người khác. Đó là một nhiệm vụ chung. Truyền đức tin sang người khác cũng là một cách truyền giáo mới trong thế giới ngày nay, vì người ta càng ngày càng không muốn sống đức tin nữa! Thánh nữ Bernadette nói: “Đối với người tin thì không cần giải thích, đối với người không tin thì giải thích cũng vô ích”.

Thông truyền đức tin là nhiệm vụ chung của các tín nhân Kitô giáo, nhưng những người được tuyển trạch để lãnh nhận chức tư tế thừa tác thì trách nhiệm càng nặng nề hơn. Thánh Phaolô cho biết: “Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội” (Dt 5:1). Đúng vậy, trước khi làm tư tế thì vẫn phải làm con người, với mọi thứ của một con người bình thường. Người đó phải “có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy” (Dt 5:2-3). Và vì thế, “không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông A-ha-ron đã được gọi” (Dt 5:4).

Thế nhưng trong thực tế lại khác, đúng như người Việt thường nói: “Cờ đến tay ai người đó phất”. Câu nói giản dị và nhẹ nhàng nhưng vô cùng thâm thúy! Nhưng thật buồn bởi vì có khi người ta sống ngược với lời Đức Kitô: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Thực hành đúng ý Chúa phải nỗ lực rất nhiều, không thể cứ tà tà mà được!

Rõ ràng và rạch ròi, Thánh Phaolô cho biết: “Không phải Đức Kitô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5:5-6). Đức Kitô còn chưa tự xưng mình là “ông kia, ông nọ” thì huống gì chúng ta, những phàm nhân đầy tội lỗi, bất trác, bất túc, và yếu đuối lắm.

Và rồi một hôm, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Thầy trò cùng một đám người khá đông ra khỏi thành Giêrikhô, có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường – tên anh ta là Batimê, con ông Timê. Vừa nghe nói có Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10:47). Thấy vậy, nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10:48). Con mắt thể lý của anh ta mù lòa, nhưng con mắt tâm linh của anh ta lại rất sáng, bởi vì anh nhận ra người mà anh ta kêu xin là Con vua Đavít.

Qua đó, chúng ta thấy có hai thái cực rõ ràng: Những người quát nạt Batimê là những người NGĂN CẢN người khác đến với Chúa Giêsu, còn anh mù Batimê đại diện cho những người TIN TƯỞNG mãnh liệt. Có nhiều khi chúng ta cũng đã từng ngăn cản người khác đến với Chúa bằng nhiều cách, dù không nói trực tiếp. Chẳng hạn, khi chúng ta mỉa mai hoặc chê bai khiến người ta ngại đến với Chúa. Chúng ta phải học tập anh Batimê trong việc tín thác vào Chúa, như ca dao Việt Nam nói: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, Lòng tôi vẫn vững như kiềng ba chân”. Và “chiếc kiềng” đó là: Thỉnh cầu, Tín thác, Thực hành. (Để dễ nhớ, có thể gọi tắt là 3T).

Tiếng kêu cứu của Batimê gào to khiến Đức Giêsu chạnh lòng thương, Ngài đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10:49a). Người ta gọi anh và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Ngài gọi anh đấy!” (Mc 10:49b). Nghe nói vậy, anh ta quá phấn khởi nên liền vất áo choàng, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Ngài hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10:51a). Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được” (Mc 10:51b). Ngài nói: “Anh hãy đi, LÒNG TIN của anh đã CỨU anh!” (Mc 10:52). Chính Chúa Giêsu đã xác định đức tin vô cùng quan trọng!

Sự việc diễn ra rất mau chóng và nhanh gọn. Điều đáng lưu ý là Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh đến LÒNG TIN, nghĩa là “đức tin quan trọng hơn phép lạ” vì “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Gl 3:11), nhưng người ta lại thường “khoái” phép lạ hơn tầm nhìn của đức tin. Nếu vậy, đó là chứng “kém thị lực tâm linh” hoặc “mù đức tin”. Kém thị lực hoặc mù tâm linh nguy hiểm hơn chứng mù thể lý. Bởi vì không hiểu rõ, không biết nhiều hay không chịu hiểu? Đó là điều cần tự suy xét về cách tin và mức độ tin vào Chúa Giêsu, như Ngài đã từng nói: “Quý vị tin thế nào thì được như vậy” (Mt 9:29).

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, xin chữa lành chứng bệnh về con mắt tâm linh nơi chúng con, xin củng cố đức tin cho chúng con để chúng con vững tin trong mọi hoàn cảnh, xin gia tăng thị lực đức tin để chúng con nhận biết Thánh Ý Ngài và sẵn sàng chia sẻ nỗi đời với mọi người. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

 (*) Hình ảnh con mắt thứ ba được thể hiện trên trán của các vị thần trong các tác phẩm điêu khắc cổ đại ở các đền chùa Phật giáo. Người ta tin rằng, con mắt nhìn thấu mọi điều đã được Thượng đế ban tặng cho các vị thần để họ có những năng lực siêu phàm nhìn thấu những vật vô hình. Theo đạo Cao Đài, người tu hành khi đạt được “đạo pháp” sẽ có thêm con mắt thứ ba – gọi là “huệ nhãn”, có thể nhìn thấu cõi vô hình. Trong Yoga, việc luyện tập Marantha để có được một vài năng lực tâm linh thần bí như khai sáng được “con mắt thứ ba” mà người khác không có.

Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, đó là “thần nhãn”, có thể thấy những gì mà người trần mắt thịt vẫn nhìn mà không thể thấy được. Nhiều giả thuyết khác cho rằng, ngày xưa Adam và Eva đã phạm “thiên luật” nên tuyến yên (pituitary) và tuyến hạch (pineal, hình trái thông) nằ  ở khoảng giữa hai con mắt đã dần bị hạn chế khả năng nhìn nhận ánh sáng.

Theo một số nghiên cứu khoa học, thông thường mỗi sinh vật đều có một “con mắt thứ ba” nằm ở trung tâm não, gọi là “tuyến tùng”. Nó cảm nhận giống như một con mắt vì tuyến tùng phản ứng lại với những thay đổi của ánh sáng. Mới đây người ta khám phá thấy mắt thường cũng có thể sản xuất được chất melatonin, làm cho tuyến tùng càng ít quan trọng hơn.

 

.

CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B

Giuse Vũ Trọng Nghĩa

Tin mừng hôm nay, Thánh Máccô đã miêu tả cho chúng ta một đôi mắt “người mù ngồi ăn xin bên vệ đường”. Cái hay trong cách trình thuật của Máccô nằm ở chỗ, tuy người hành khất bị mù nhưng cái mù ấy vẫn chưa phải là một chấm hết, chưa phải là một vận mệnh chung cuộc cho cuộc đời của anh. Mà từ đây, một ánh sáng mới lại bừng lên trong đêm tối khi người mù bắt gặp được Đấng đầy ánh sáng “Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo Tôi sẽ không phải đi trong bóng tối nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”.

Người hành khất này biết chắc rằng, tự sức mình, anh không thể làm gì cho anh cả. Vì thế khi nghe tin Đức Giêsu Nazaret đi ngang qua nơi anh đang ngồi ăn xin, anh đặt hết lòng tin tưởng và phó thác vào Người. Đó chính là phép lạ xảy ra cho đôi mắt tâm linh của anh trước khi một phép lạ xảy ra cho đôi mắt thể lý. Quả thế, trước đó vì mù nên anh không nhìn thấy, nhưng anh nghe được tiếng của Người. Anh là người thính tai trước tiếng gọi của Đấng Cứu Thế và đặt hết mọi hy vọng vào Người, vì anh biết chắc rằng chỉ có một mình Đức Giêsu mới có thể giải thoát anh khỏi bóng đêm đen tối của sự mù loà, chỉ một mình Đức Giêsu là ánh sáng chân thật có thể chữa lành và làm sáng đôi mắt mù loà của anh. Đôi mắt người hành khất này bị mù, nhưng đôi mắt tâm hồn của anh lại lành lặn, trong sáng và đầy lòng tin.

Như thế cách mô tả của Máccô về đôi mắt tuy có khác với nhiều người, nhưng qua đó thánh nhân dạy cho chúng ta phải biết ý thức về thân phận của mình; vì chỉ khi nào ta nhìn nhận tình trạng đui mù tâm linh của ta thì lúc đó Chúa mới có thể chữa lành cho ta được. “Lạy Thầy, xin cho con được thấy”. Đó là lời cầu xin hằng ngày của mỗi người chúng ta, vì sẽ có những lúc chúng ta không thấy, hoặc cố ý không muốn thấy. Mù loà thể xác, ai cũng nhìn ra được nhưng mù loà tâm hồn, con tim thì không dễ nhận ra. Nên chúng ta hãy xin Chúa xoá cảnh mù loà nơi thể xác và tâm hồn chúng ta. Vì chỉ có “trong ánh sáng của Chúa, chúng con mới nhìn thấy ánh sáng”.

Chúng ta tin rằng, Đức Giêsu không những chữa lành đôi mắt thể xác cho người hành khất Báctimê mà Người còn mở rộng đôi mắt tâm hồn cho anh nữa, để anh có thể nhìn thấy ánh sáng chân lý trường cửu. Quả thế, Báctimê không chỉ nhìn thấy được người, cây cối, mọi vật, nhưng còn hơn thế nữa: qua các sự vật trước mắt, anh đã nhìn thấy được mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng hằng dìu dắt những ai thiện tâm bước theo Người, làm môn đệ Người. Trước kia, Báctimê là một người hoàn toàn lặn lội trong bóng đêm mù loà, trong sự cô đơn buồn tủi, nhưng nay đã nhận ra một ý nghĩa mới cho đời mình, và đã khám phá ra một tương lai mới.

Sau khi nhận biết ánh sáng qua việc chũa lành của Đức Giêsu, anh mù Báctimê đã trở nên một mẫu môn đệ lý tưởng. Điều gì đã khiến anh được đề cao như thế? Anh chỉ làm có hai điều, và hai điều này là đủ để trở nên người môn đệ đích thật của Chúa Giêsu. Hai điều đó là: anh bỏ hết mọi sự, ngay cả chiếc áo choàng là tài sản quý giá nhất của một kẻ ăn xin bên vệ đường, để đến với Thầy, và điều thứ hai là đi theo Thầy trên con đường Người đi. Anh từ bỏ mọi sự để đến với Chúa và theo Chúa trên con đường của Chúa, chứ không phải theo Chúa trên con đường riêng của mình.

Cầu nguyện:

Lạy chúa! Chúa đã không ngần ngại đến với chúng con, với ước mong chúng con được bình an, hạnh phúc, để chúng con được trở nên môn đệ của Chúa với lòng hiền hậu và khiêm nhường. Xin cho chúng con biết đưa Chúa vào cuộc đời mình, dám thay đổi bản thân để hoàn thiện hơn, và được làm bạn với Chúa.

Xin cho đôi mắt tâm hồn chúng con được sáng, để chúng con thấy Chúa là tất cả gia nghiệp của đời mình, thấy anh chị em thật dễ mến dễ thương, và thấy mình còn nhỏ bé trong vòng tay yêu thương của Chúa. Amen

 

.

AI MỚI LÀ KẺ MÙ LÒA

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Có thể nói,chưa bao giờ “phong trào” xây dựng cơ sở vật chất lại nở rộ như hiện nay. Các giáo xứ, các dòng tu thi nhau xây dựng. Các trung tâm mục vụ, trung tâm hành hương cũng mọc ra như nấm với những quy mô hoành tránh và hiện đại.

Theo lý thì việc xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh là đúng. Nhưng theo tình thì chúng ta thấy chưa ổn cho lắm? Liệu có cần không khi xây dựng cả hàng ngàn tỉ ở giữa những mảnh đời nghèo đói đang bữa no bữa đói? Liệu có quá vô tâm khi vẫn gửi những bì thư xin tiền đến những gia đình túng thiếu chồng ốm vợ đau hay không? Liệu đó có phải là vấn đề đẹp lòng dân hay chỉ là ý thích của cha hay của lãnh đạo. Có giáo dân nói rằng: xứ con nghèo lắm mà cha lại thích xây dựng, chúng con góp ý cha từ từ rồi xây nhưng cha bảo tiền của tôi chứ tôi có lấy tiền quý vị đâu? Không biết cha lấy tiền ở đâu mà phung phí?

Chúa Giê-su khi rao giảng tin mừng thì Ngài cũng luôn nhắm tới phục vụ nhu cầu cuộc sống con người. Ai đói Ngài cho ăn. Ai bệnh hoạn Ngài chữa trị. Ai cô đơn bất hạnh Ngài an vủi vỗ về. Suốt cuộc đời rao giảng Tin mừng Ngài chưa xây một Hội đường nào! Ngài cũng không ủy thác cho các môn đệ sứ vụ xây dựng những cơ sở vật chất. Ngài chỉ ủy thác chăm sóc người nghèo là tìm cách nâng cao đời sống cho họ, vì “anh em luôn có người nghèo bên cạnh”.

Mới đây khi mà HĐND thành phố Saigon vừa thông qua quyết định lấy đất của dân để xây dựng nhà hát giao hưởng Thủ Thiêm, có người đã hét lên rằng chỉ có HÁT TRÊN NHỮNG XÁC NGƯỜI !

Và facebook đó viết tiếp: Khi cái nhà hát đó mọc lên trên nền đất của nhân dân hôm qua. Có người chết tức, có người sống không bằng chết. Có những giọt nước mắt đoạn trường, những thân phận rách nát chưa thấy ánh sáng.

Trong một bầu oán khí ngút trời như vậy, thành phố kiên quyết làm nhà hát giao hưởng là nhảy múa trên nước mắt của nhân dân. Là hoan ca trên những xác người !”

Bài Phúc âm hôm nay nói về anh mù ngồi bên vệ đường tên là Bartime. Vì đôi mắy mù lòa, nên anh ta đành ở bên lề cuộc sống, anh ngồi bên lề đường, không thể hòa cùng mọi người để có những bước chân thong dong trên đường. Anh ta còn phải trông chờ vào những của bố thí dư thừa để nuôi sống bản thân. Anh cũng muốn hòa vàodòng đời trong những nhộn nhịp củacuộc sống, nhưng con mắt mù lòa khiến anh tách ra khỏi đám đông nhân loại.

Nếu những lãnh đạo cả đời lẫn đạo chỉ nhìn thấy công trình vĩ đại của mình mà không nhìn thấy số đông người nghèo là những vị ấy cũng tự mình tách ra khỏi đám đông nhân loại. Ở xã hội nào cũng thế, người nghèo vẫn là số đông, thế nên, các nhà lãnh đạo cần phải nhìn đến số đông nhân loại đang cần gì và mình có thể làm gì cho họ?Đừng chỉ nhìn vào nhu cầu của số ít người giầu có, quyền thế mà tách ra khỏi số đông nhân loại!

Nhưng tiếcthay,vì nhiều người trong chúng ta muốn ngồi bên lề cuộc sống để hưởng thụ, bất chấp những tiếng xôn xao của cuộc đời, bất chấp những bước chân của sự thật, bất chấp lời mời gọi đứng lên của Thiên Chúa. Chúng ta cố bám lấy chiếc áo choàng của sự ích kỷ để tìm tư lợi bản thân, để không thể bước chân trên con đường yêu thương cùngđồng hànhvới người nghèo khó.Nhiều lãnh đạo đã ngồi bên lề cuộc đời người nghèo nên không thấy nỗi khổ hằn lên trên khuôn mặt luôn già trước tuổi, và xanh xao vì thiếu ăn.Chúng ta vẫn mở mắt nhìn nhưng không thấy gì, vì chỉ thấy chiếc áo choàng của bản thân và những lợi lộc dư thừa đang chứa trong đó. Nếu như thế thì chính chúng ta là những con người mù lòa cần phải để Chúa chữa lành!

Vâng, lạy Chúa, chính con đang chờ một phép lạ thay đổi cái nhìn của con. Con đã mù lòa khi không nhìn thấy những mảnh đời khổ đau. Con muốn giũ bỏ cái áo choàng là tham vọng tìm vinh quang cho bản thân khi cố xây dựng cơ sở  trên nỗi đau của đồng loại, cốlàm những công trình hoành tráng trên sự nuối tiếc của người nghèo, vì giá mà số tiền ấy lạc quyên cho những ngôi nhà tình thương thì đã mang lại mái ấm cho biết bao gia đình! Như người mù thànhGiêricô, xin cho con bước ra ánh sáng để nhìn thấy sốđông nhân loại đang lầm than. Và con bắt đầu biết cảm nhận mọi sự thăng tiến của nhân loại đều phải bắt đầu từ con người chứ không phải cơ sở vật chất vô hồn. Amen

 

.

MÙ LÒA

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Người mù dong duổi mỗi ngày,
Vệ đường hành khất, đắng cay cuộc đời.
Đoán nghe Chúa sắp tới nơi,
Vội vàng cất tiếng, xin Người xót thương
Bar-ti-mê đứng bên đường,
Thành tâm nhận biết, tựa nương bên Ngài.
Con vua Đa-vít thiên sai,
Chữa lành mắt sáng, con nài Chúa ban.
Vững tâm đứng dậy kêu van,
Áo choàng anh liệng, ngập tràn tin yêu.
Xin Thầy thương xót con nhiều,
Cho con được thấy, cao siêu tình Ngài.
Con mù từ thuở tượng thai,
Ban cho ánh sáng, mở khai xác hồn.
Tạ ơn Chúa Tể càn khôn,
Mắt con mở sáng, linh hồn tinh thông.

Con người có các giác quan để thông tri với thế giới bên ngoài. Bất cứ một khuyết tật nào trong thân thể cũng làm cho con người bị khổ đau. Có nhiều thắc mắc chúng ta khó trả lời. Hỏi rằng: Tại sao Chúa lại để cho người này mù lòa, người kia câm điếc hay bất toại? Nếu chỉ nhìn vào cuộc sống tự nhiên, chúng ta không tìm được câu trả lời thích đáng. Chính vì thế, nhiều người cảm thấy bất hạnh. Chúa Giêsu đã đến như một nguồn ánh sáng làm cho chúng ta nhận biết được giá trị của những bất toàn trong đời sống.

Phúc âm hôm nay tả cảnh Chúa chữa lành cho người mù ăn xin vệ đường. Anh mù đến van xin Chúa rằng: Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy. Chúa Giêsu đáp: Được, đức tin của anh đã chữa anh. Anh đã được thấy và thấy rõ hơn cả những người nghĩ mình có mắt sáng. Biết bao người có mắt sáng chung quanh anh. Họ trông thấy Chúa nhưng họ không nhìn biết Chúa. Họ đâu có nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Họ đâu có tin Chúa có quyền phép vô cùng. Anh mù đặt niềm tin tưởng nơi Chúa, Đấng có thể chữa anh. Chúa đã chữa mắt thể xác và cả mắt tinh thần cho anh.

Chúng ta có mắt sáng nhưng không phải chúng ta nhìn thấy mọi sự. Có nhiều điều xảy ra chung quanh mà chúng ta không thấy. Đôi khi mắt chúng ta bị che khuất bởi sự ích kỷ, lòng hẹp hòi, ghen tương, lòng hận thù, chúng ta không nhận ra được sự tốt lành nơi người khác. Chúng ta có những điểm mù trong cuộc sống. Điểm mù của con mắt tinh thần làm chúng ta không nhận ra nhân phẩm xứng đáng của anh chị em.

Truyện kể người ta thấy một em bé gái mù lòa, mặt mày hốc hác, quần áo rách rưới đứng co ro ở một góc đường để xin ăn. Cô bé trông bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, ốm o bệnh hoạn. Lúc ấy, một ông ăn mặc sang trọng lái xe ngang qua đó trông thấy cô bé nhưng ông chẳng thèm nhìn đến lần thứ hai. Khi lái xe về đến nhà, thoải mái trong căn hộ ấm cúng với vợ con. Trước mâm cơm thịnh soạn, hình ảnh cô bé bỗng hiện ra rõ rệt trong đầu ông. Ông thở dài và phàn nàn cùng Chúa: Tại sao Chúa để cho những hoàn cảnh đáng thương như thế xảy ra trên cõi đời này? Hình ảnh cô bé cứ ám ảnh ông, không chịu được sự dằn vặt nên ông trách Chúa: Chúa phép tắc vô cùng, tại sao Chúa không làm cái gì để giúp cô bé nghèo khổ đáng thương ấy. Lúc ấy, tự thâm tâm ông nghe tiếng Chúa phán cùng ông rằng: Ta đã làm rồi chứ sao lại không. Điều này Ta dành cho con đó. Ta đã dựng nên con mà.

Lạy Chúa, xin mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con quan chiêm những kỳ công của Chúa. Xin cho con mắt đức tin của chúng con mở sáng để chúng con nhìn được hình ảnh Chúa nơi anh chị em của chúng con.

 

.

CÓ MẮT CŨNG NHƯ MÙ

JM. Lam Thy 

Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXX.TN-B – Mc 10, 46-52) trình thuật phép lạ Đức Giê-su chữa lành một người mù ở Giê-ri-khô. Anh tên là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. Thánh sử Mac-cô ghi nhận phép lạ chữa lành cho anh mù Ba-ti-mê tiếp liền với những câu chuyện được Đức Giê-su Ki-tô báo trước cho các môn đệ về cuộc Thương Khó của Người. Tại sao lại thế? Chuyện cũng đơn giản: Qua những tiên báo ấy, Chúa Giê-su muốn các môn đệ nhận biết Người là Đấng Mê-si-a đến thế gian để chịu chết chuộc tội cho nhân loại. Tuy nhiên, tham vọng đã khiến cho các môn đệ không muốn chấp nhận một Đấng Ki-tô chịu thân phận ô nhục như vậy. Quả thực họ có mắt mà không thấy! Ngược lại, anh mù bẩm sinh Ba-ti-mê tuy không thấy Chúa Giê-su bằng con mắt bình thường, nhưng lại thấy Chúa qua con mắt đức tin, để rồi anh tuyên xưng: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”

Có một điều rất đáng lưu ý là khi anh kêu to lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” thì liền bị đám người Pha-ri-sêu quát nạt, bảo anh ta im đi. Đám người Pha-ri-sêu này là ai mà hống hách vậy? Họ chính là nhóm người cùng với nhóm Xa-đốc bị thánh Gio-an Tẩy giả gọi là “rắn độc” (“Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” – Mt 3, 7). Họ sợ Đức Giê-su có thêm cơ hội làm phép lạ khiến Người nổi tiếng và có ảnh hưởng trên dân chúng nhiều hơn. Họ muốn độc quyền chiếm lĩnh cảm tình của cộng đồng. Hành động đó nào có khác chi nòi rắn độc!

Đáng lẽ đám người Pha-ri-sêu này (cùng với nhóm Xa-đốc) phải hiểu được rằng họ “là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính vị ấy cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên vị ấy phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy.” (Dt 5, 1-3). Tuy nhiên đám người Pha-ri-sêu đã không làm thế – không muốn Đức Giê-su có ảnh hưởng trong xã hội vì lời giảng dạy và những phép lạ của Người – mà còn muốn truyền nọc độc từ nơi họ sang người khác. Gọi họ là rắn độc là quá đúng.

Trước những con rắn độc ấy, đáng lẽ anh mù phải sợ, vì họ có quyền thế về tôn giáo. Họ có thể – nói theo kiểu hiện đại – “dứt phép thông công” anh ngay lập tức, khiến anh bị cô lập giữa những người đồng đạo và đời anh đã khốn khổ sẽ càng thêm khốn khổ. Nhưng anh đã không sợ hãi và càng kêu lớn tiếng hơn: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” Sự can đảm ấy của anh đã được Đức Giê-su chúc lành: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Và thế là “Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.” Viết tới đây, kẻ viết bài này chợt nhớ tới một lần khác, Đức Giê-su chữa lành cho một người mù bẩm sinh (Ga 9, 1-41):

Cũng lại là đám người Pha-ri-sêu tra vấn, vặn hỏi bệnh nhân (kể cả cha mẹ anh ta nữa) đủ điều, và cuối cùng trục xuất anh ra khỏi hội đường (“dứt phép thông công” đấy!). Nghe tin ấy, Đức Giê-su gặp lại anh mù, Người hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?” Anh hỏi lại: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?” Đức Giê-su trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” Anh nói: “Thưa Ngài, tôi tin”. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người” (Ga 9, 35-38). Căn cứ trên sự kiện hiển nhiên đó, Đức Ki-tô khẳng định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9, 39). Lời nói này “chạm nọc” đám người Pha-ri-sêu, khiến họ “có tật thì giật mình”, liền ngớ người ra và hỏi lại: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?” khiến “Đức Giê-su bảo họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9, 40-41).

Rõ ràng Đức Ki-tô muốn cho đám người Pha-ri-sêu biết rằng nếu phạm tội vì không biết đó là tội – phạm tội do vô tình (vì bị mù, không xem thấy) thì không cấu thành tội; còn nếu đã biết đó là tội, đã dám tư xưng là “chúng tôi thấy”, mà còn cố ý phạm, thì mới thực sự là có tội. Như thế thì cũng chẳng khác nào nói: Anh mù vì tin mà được sáng mắt, nhưng nhóm người Pha-ri-sêu mắt vẫn sáng, nhưng không tin, nên cũng chẳng khác kẻ đui mù. “Thấy mà không thấy – không thấy mà thấy”, đó là một nghịch lý trong cuộc sống, nhưng lại là “chuyện thường ngày ở huỵện”. Trường hợp thánh Phao-lô với biến cố Đa-mát là một minh hoạ sống động: Khi còn sáng mắt (thể lý) nhưng vì nhiễm phải giáo lý sai lầm của Pha-ri-sêu nên Sao-lô cũng chẳng khác chi người mù (mù nội tâm). Đến khi bị ánh sáng chói loà làm mù mắt (mù thể lý) ở Đa-mát thì lại là lúc được sáng mắt sáng lòng (tâm linh). Cuối cùng, cả mù thể lý lẫn mù nội tâm đều được chữa lành và trở thành một Tông đồ dân ngoại kiệt xuất Phao-lô.

Thật là thú vị! Những người “sáng mắt” thuộc Kinh Thánh làu làu, từng đứng trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy, lúc nào cũng huênh hoang “chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê”, thì lại không biết gì về Con Người đã được ông Mô-sê (nhờ được Thiên Chúa mạc khải) tiên báo (“Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” – Ga 9, 28-29). Trong khi đó, một anh mù từ lúc mới sinh (chắc chắn không được học hành và giả thử có được học thì cũng chẳng tới đâu) lại biết về Thiên Chúa còn hơn cả đám người sáng mắt (“Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” – Ga 9, 30-33). Chẳng cần lý luận đanh thép, lý thuyết sâu xa, mà chỉ căn cứ vào thực tế (anh được chữa khỏi bệnh mù), mà anh mù đã khiến đám Pha-ri-sêu lâm vào thế bí, phát khùng (“Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” – Ga 9, 34), và đành giở chiêu quyền lực trục xuất anh khỏi hội đường! Thế đấy! Như vậy thì ai sáng, ai mù thực sự đây?

Chung quy thì cũng chỉ vì vấn đề cốt tuỷ: đức tin. Anh mù được chữa lành bởi anh tin vào Con Người; mà cũng không phải chỉ riêng anh, tất cả những người bệnh hoạn, tật nguyền đến với Đức Ki-tô đều được chữa lành vì “Đức tin của con đã chữa lành con” (Mc 5, 34). Còn đám người Pha-ri-sêu thì mù vẫn hoàn mù, bởi họ không tin vào Con Nguời, mà chỉ tin vào những giáo lý sai lầm như thánh Phao-lô trước biến cố Đa-mát vậy. Nói đi nói lại không gì bằng mượn chính ngay lời người mắc bệnh “mù nội tâm“  và được chữa lành, để minh hoạ: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng: Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!”  (Ep 5, 8-14).

Ôi! Lạy Chúa! Cảnh người mù kêu cầu Chúa chữa lành, bị bọn người Pha-ri-sêu quát nạt, tra vấn vặn hỏi đủ điều, vẫn hằng xảy ra trong thế giới hôm nay. Là những người theo Chúa, nhưng chúng con vẫn còn mê ngủ, vẫn luôn “cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối” (Ep 5, 11), mà chẳng thấy được ánh sáng của Lời Chúa. Chúng con chẳng muốn quan tâm tới những người nghèo khổ, bệnh tật, những kẻ bị áp bức bất công, mà chỉ thích bắt chước những người Pha-ri-sêu chú trọng đến những hình thức hào nhoáng bên ngoài (những cái áo loè loẹt, những bộ vó sặc sỡ…), và nhất là bo bo thủ cựu với những quan niệm hủ hoá lỗi thời… Phải chăng chúng con thiếu đức tin và nghèo tình thương? Và cũng chính vì thế mà chúng con mắt vẫn sáng, tai vẫn thính, miệng vẫn nói năng lưu loát, nhưng lại thực sự là những kẻ đui mù câm điếc tâm linh.

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa muốn cho mọi người nhận biết Chúa chính là lẽ sống của mình, và Chúa không hề bỏ rơi con cái Chúa. Xin ban cho các anh chị em yếu đau bệnh tật và đang gặp hoạn nạn có thêm nghị lực để phấn đấu. Giữa cơn đau khổ, xin cho họ nghiệm thấy rằng có Chúa luôn luôn ở kề bên, nhờ những anh chị em hết tình nâng đỡ và nhờ niềm trông cậy họ đặt nơi Đức Ki-tô. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.” (Lời nguyện Nhập lễ, lễ cầu cho bệnh nhân).

 

.

LÒNG TIN CỦA ANH ĐÃ CỨU CHỮA ANH

      Fx Đỗ Công Minh

          Bài Tin Mừng hôm nay Thánh Maccô kể lại việc Chúa chữa cho một người mù được sáng mắt. Người ăn mày  bên vệ đường. Anh chưa từng nhìn thấy Chúa, chưa có dịp nào được gặp Người, nhưng cũng đã từng nghe biết về Người, Đấng đã từng làm phép lạ chữa lành cho những ai biết kêu cầu, tin tưởng vào Người. Anh nghe nói Đức Giêsu Na- Gia- Rét đang di chuyển trên  đường ra khỏi thành Giê-Ri-Cô, anh lớn tiếng kêu :”  Lạy Ông Giêsu, con vua ĐaVít, xin dủ lòng thương tôi” . Nhưng những người  bên cạnh anh quát nạt anh. Họ có thể là những người biết Đức Kitô nhưng ngăn cản anh đến với Người vì mong muốn được Người ưu ái, càng ít càng tốt, một thái độ theo Chúa vụ lợi. Cũng có thể họ là những người không tin Chúa  nên không muốn có thêm một người chạy đến với Người. Anh mù Bartimê không những không im theo lời những người chung quanh dọa dẫm, quát nạt mà còn lớn tiếng :”Lạy con vua Đa Vít, xin dủ lòng thương tôi “. Đức Kitô từ xa  vẫn nhận ra lời kêu cầu của anh. Người gọi anh đến. Mừng quá khi nghe có người nào đó nói:” Cứ yên tâm, đứng dậy. Người gọi anh đấy “. Thật thế, anh đã đứng ngay dậy, vứt bỏ tấm áo chòang, chạy đến cùng Chúa. Một thái độ thật dứt khóat khi được Chúa gọi . Khi được hỏi : ” Anh muốn tôi làm gì cho anh ?” , người hành khất mù  thưa :” Xin cho tôi  nhìn thấy được “. Chúa đã chữa cho anh. Người nói “ Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh “. Và anh bước đi theo Người trên con đường Người đi .

        Những người đi bên cạnh Chúa hôm ấy hẳn phải rất ngạc nhiên, thậm chí bực tức xen lẫn sợ hãi. Bởi trước đó họ không tin Người có quyền năng như thế. Họ ganh ghét, đố kỵ vì họ không thể nào tin rằng một người ở cùng quê Na-Gia-Rét  với họ, lại có thể làm những việc lạ lùng như vậy. Đối với những người lãnh đạo trong dân Do Thái thì họ sợ mất ảnh hưởng. Họ sợ dân chúng không còn chấp nhận họ, vì chính cuộc sống bê bối của họ. Họ còn sợ Đức Kitô đến không chỉ chữa lành bệnh tật thể xác mà còn làm cho mọi người khác được mở mắt, mở tai, mở trí, mở lòng về phương diện tâm linh, trí hiểu. Khi đó mọi người sẽ nhận ra những điều tiêu cực, tội lỗi, những điều  xấu xa họ đã từng làm. Không còn kiêng nể, tuân phục họ.

      Con đã từng nghe đọan Tin Mừng này, và trong trao đổi, học hỏi, có lúc con đã lên án những kẻ ngăn cản anh mù đến với Chúa là cứng lòng, là vị lề luật, là kém lòng tin.  Không như anh mù, chưa từng gặp Chúa, nhưng vẫn tin và mong ước được Người chữa lành,  anh tin như thế nên đã mạnh dạn “Xin cho tôi nhìn thấy được “. Nhìn lại mình, con cũng nhận ra, con cũng không  có được lòng tin như anh mù. Bản thân con cũng lại đã từng có lúc ngăn cản anh chị em con đến với Chúa, bằng cuộc sống thiếu gương mẫu trong đời sống đạo. Những lần rủ rê nhau thay vì đến nhà Chúa để đón nhận Lời Người, lại lao vào những thú vui trần thế. Có những lần, thay vì tham gia các sinh họat đạo đức, học hỏi Lời Chúa hay làm việc từ thiện bác ái lại phung phí thời gian vào những việc vô bổ. Trong gia đình, không nhắc nhở khuyến khích con cái đi đến với Chúa qua việc dâng Thánh lễ, lãnh nhận các Bí tích. Không biết hy sinh thời giờ để theo Chúa.

       Lạy Chúa,

      Xin cho con, khi nhận ra thiếu sót của mình, con phải thay đổi đời sống đạo, nhờ đó con nhận ra lòng  nhân từ của Chúa, nhận ra con đường Chúa đi hầu con được kết hiệp với Chúa. Chắc chắn khi ấy, nếu con kêu cầu, Chúa sẽ nhận lời chữa lành bệnh tật thân xác lẫn linh hồn con. Chúa sẽ mở mắt, mở tai, mở trí, mở lòng cho con, hầu con xứng đáng bước theo chân Người trên cuộc đời trần gian này . AMEN .

 

.

ĐẾN VỚI CHÚA

Bông hồng nhỏ

Hai anh bạn khiếm thị ngồi trò chuyện vui vẻ. Một anh hớn hở khoe:

  • Tớ mới quen nhỏ kia dễ thương lắm.
  • Đẹp nữa?
  • Ừ, đẹp.
  • Sao cậu biết?
  • Nghe giọng nói dịu dàng của nhỏ là tớ biết.

Người khiếm thị cảm nhận bằng đôi tay và thính giác của họ rất tốt.

Hôm nay, anh mù Bartimê vẫn ngồi ăn xin bên vệ đường ngoài thành Giêrikhô như mọi ngày. Từ lâu anh đã nghe danh tiếng của Thầy Giê-su và những khao khát mong mỏi được gặp. Bởi thế, vừa nghe nói Đức Giê-su Nadarét đang đi qua, anh liền kêu lên rằng: “Lạy ông Giê-su, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10,47). Tiếng kêu của anh không át được tiếng đám đông ồn ào. Nghe anh kêu, đám đông chẳng động lòng thương giúp đỡ lại còn quát nạt bắt anh im đi. Càng bị cấm cản, khao khát trong anh càng mãnh liệt, anh tin rằng chỉ có Thầy Giê-su mới cho anh nhìn thấy ánh sáng, vì thế anh càng kêu lớn tiếng hơn. Đám đông thờ ơ với nỗi bất hạnh của anh nhưng Thầy Giê-su thì lưu tâm đến anh. Thầy nghe anh kêu xin tha thiết, Thầy hiểu khát khao cháy bỏng trong anh. Và Thầy đáp lại khát mong của con người đáng thương này. Thầy Giê-su đã đứng lại và nói với đám đông: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10,49). Thầy đã để cho đám đông gọi anh. Đó có phải là những người mới đây thôi đã quát nạt, ngăn cản anh đến với Thầymà nay lại đến với anh mù mà bảo: “Cứ yên tâm đứng dậy, Thầy gọi anh đấy!”. Ở đây ta thấy có một sự thay đổi và đón nhận. Nếu như hằng ngày ta nhìn thấy anh mù cầm gậy mò mẫm trên con đường để đi ăn xin, hẳn ta sẽ phải hết sức kinh ngạc trước phản ứng của anh khi Thầy gọi và “Anh liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su” (Mc 10,50). Có bao giờ ta dứt khoát vứt bỏ tất cả những gì ta có để đến với Chúa? Khi nghe Tình Yêu gọi mời tha thiết, ta có đứng phắt dậy, rời bỏ lề đường quen thuộc để đến cùng Chúa?

Thầy Giê-su gọi anh mù đến với Thầy. Anh đã đến với Thầy và để cho Thầy thấy tất cả những bất toàn, yếu đuối nơi mình. Anh làm cho Thầy rung động với tất cả con tim. Tâm hồn Thầy cảm thấu nỗi đau, sự bất hạnh mà anh đã gánh chịu suốt bao nhiêu năm qua. Thầy hiểu anh cần điều gì nhưng vẫn hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được” (x.Mc 10,51). Nỗi khát khao vỡ òa thành lời cầu xin tha thiết. Thầy Giê-su đã chữa lành cho anh không chỉ bằng tình thương và quyền năng mà còn vì lòng tin mãnh liệt nơi anh. Đám đông đã không nhận ra một con người đáng thương đang ở giữa họ nhưng trái tim của Thầy Giê-su đã yêu thương anh từ rất lâu rồi. Thầy đã cho anh được sáng mắt lại còn cho anh đi theo. Có ai hạnh phúc hơn anh? Bây giờ, anh càng xác tín hơn niềm tin vào Thầy Giê-su và “đi theo Người trên con đường Người đi”.

Lạy Chúa Giê-su yêu mến! Con xin đến với Chúa với tất cả những yếu đuối và bất toàn nơi con: mù lòa, câm điếc, bại tay,… Con để cho Chúa nhìn thấy con đáng thương mà không ngại ngùng xấu hổ. Bởi con tin vào trái tim đầy thương cảm của Chúa, ánh mắt yêu thương của Chúa nhìn con, đón nhận con và chữa lành con. Xin Chúa giúp con sau khi được Chúa xót thương cũng biết yêu thương anh chị em mình, để từng ngày con vui say trên con đường theo Chúa. Amen.

 

.

XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY

Lm. Simon Trần Văn Đức

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Sự bất hạnh đáng thương của con người chính là mù lòa. Bởi mù, nên họ không thể nhìn thấy những vẻ đẹp của thiên nhiên, nhất là vẻ đẹp của những người thân yêu… Thế nhưng, cái đáng thương hơn mù lòa thể xác đó là cái mù lòa nơi tâm hồn. Người mù tâm hồn là họ mù nhưng họ không chấp nhận mình mù. Họ vẫn bước đi trong vùng tối của tội lỗi, của nhưng đam mê thể xác mà không nhận ra cái sai trái của mình để mà sửa đổi. Họ vẫn cố chấp sống theo quan điểm của mình để rồi gây nên biết bao nhiêu là đau khổ cho những người chung quanh.

Thực tế cho thấy, trong các vụ án trộm cắp, lường gạt, đâm chém, hiếp đáp, ngoại tình,… chúng ta có thấy thủ phạm là người mù không? Trong số những dân chơi cuồng quay nơi các vũ trường nghiện ngập ma tuý, thuốc lắc, hàng “đá”, chúng ta có bắt gặp bóng dáng những người khiếm thị nào không? Trước vành móng ngựa xét xử các quan tham ô, có lẽ chúng ta cũng khó mà tìm được một bị cáo nào là kẻ mù loà ở đấy; có chăng chỉ toàn là những người có cả hai mắt sáng tỏ!!! Vậy thì ai “bất hạnh” hơn ai đây? Người mù hay người sáng?

Hôm nay, Thánh sử Marcô thuật lại cho chúng ta thấy một người mù tên là Bartimê đang ngồi ăn xin bên vệ đường thành Giêricô. Không biết anh có thuộc nhóm “Hội Người Mù” hay không! Song thiết tưởng anh là một con người chân thành khiêm tốn. Anh biết rõ thân phận của mình, nên anh sống bằng những gì kiếm được từ lòng hảo tâm của người khác. Mặc dù nghèo phải đi ăn xin, nhưng cuộc đời của anh thanh thoát an lành. Anh sống vô tư giản dị, không bon chen giành giật, không tính toán hơn thua, không đua đòi ăn diện. Anh cũng không vợ nọ con kia, không rượu bia các thứ. Có lẽ anh cũng chưa bao giờ phạm vào những tội “đội sổ” của con người thời đại hôm nay: buôn gian bán lận, trốn thuế, tham ô, móc ngoặc, hối lộ, hay rút ruột các công trình xây dựng… Suốt cuộc đời của anh, chắc hẳn anh cũng chưa hề lường gạt, bóc lột hay hãm hại ai. Tắt một lời, anh sống hoàn toàn ngay chính từ bên trong ra bên ngoài.

Hơn thế nữa, trong khi rất nhiều người sáng đôi mắt thể lý, lại mù loà trước ánh sáng vô hình, ánh sáng niềm tin. Vì thiếu ánh sáng niềm tin nên cả đám đông dân chúng đi theo Chúa Giêsu suốt cuộc hành trình đời mình mà không nhận ra Chúa Giêsu là ai. Chỉ có anh mù Bartimê lại “thấy tỏ tường” Chúa Giêsu là ai. Bởi anh biết, cho nên khi anh van xin Chúa không phải danh xưng “Giêsu Nazareth”, mà dùng danh xưng “Con Vua Đavít” – một danh xưng mà cả dân Do Thái đều hiểu đó là tước hiệu Đấng Mêsia, Đấng Cứu Thế. Đám đông càng ngăn cản thì anh càng can đảm kêu to hơn: “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót tôi”, anh tin chắc rằng chỉ có Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế mới phục hồi sự sáng mắt cho anh. Do đó, khi được Chúa Giêsu hỏi anh muốn xin gì, anh không xin Chúa Giêsu cho anh đúng mấy tờ vé số, cũng không xin Chúa Giêsu cho anh bố thí, như anh đã từng nói với những người qua lại, mà anh xin Chúa Giêsu cho anh được thấy, tức là được sáng mắt. Nếu anh không tin Chúa Giêsu là Đấng có thể mở được mắt cho nguời mù bẩm sinh, thì anh đã không xin Ngài điều này.

Dẫu biết rằng, anh chưa một lần được gặp gỡ hay diện kiến Đức Kitô; chưa một lần được trực tiếp nghe những lời Ngài giảng dạy, cũng chưa một lần được diễm phúc chứng kiến các phép lạ Ngài đã làm; anh chỉ mới được nghe người ta bàn tán nói về con người của Giêsu; thế mà anh đã tin. Anh tin một cách mãnh liệt. Và nhờ niềm tin đó, anh đã gặp được hiện thân lòng nhân hậu của Thiên Chúa, hiện thân của những mối phúc thật “Phúc cho những ai không thấy mà tin“. Cũng vì lẽ đó mà anh được phục hồi sự sáng mắt thể lý, quan trọng hơn là cặp mắt đức tin nơi anh vốn đã sáng nay sáng tỏ hơn. Điều đã được Chúa Giêsu khẳng định: “Đức tin của anh đã chữa anh”.

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Chúng ta điều có đôi mắt thể lý sáng, đó là hồng ân Chúa ban cho chúng ta nên chúng ta phải biết quý trọng và cảm tạ Chúa. Thế nhưng, nhìn lại cuộc đời của mình, chúng ta thấy hổ thẹn trước anh mù Bartimê,đôi mắt tâm hồn của chúng ta nhiều khi trở nên mù lòa thực sự.

Vì mù lòa mà nhiều người trong chúng ta, nhất là các bạn trẻ đã chạy theo xu hướng sai lầm của thời đại, quá tự do về giới tính, quan hệ nam nữ cách bừa bãi dẫn đến hủy hoại tâm hồn và thể xác.

Vì mù lòa mà nhiều người đam mê rượu chè, ham thích đỏ đen đã hủy hoại thanh danh không chỉ cho bản thân mình, mà còn ảnh hưởng xấu đến gia đình, bạn bè.

Vì mù lòa một chút bổng lộc ở thế gian, mà nhiều người đã bán mình làm tôi cho ma quỷ, trở thành một Giuđa bán Chúa và làm hại tha nhân.

Vì mù lòa cố chấp mà nhiều người sống bất khoan nhượng với gia đình, với sớm làng gây ra biết bao nhiêu là chia rẽ….

Xem ra anh mù Bartimê thật có phúc vì anh ý thức được sự mù lòa của mình. Anh đã vượt qua mọi trở ngại để chạy đến nương nhờ lòng thương xót của Chúa. Ước gì mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ, với hành vi đấm ngực ăn năn đích thực, chứ không phải là máy móc, vụ hình thức mà là sự nhức nhối của con tim đầy nuối tiếc về sự mù lòa tâm linh của mình dẫn đến biết bao điều sai quấy, gây lo âu bất an cho tâm hồn, và gây đau khổ cho gia đình.

Ước gì chúng ta luôn khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của mình để cần Chúa chỉ đường dẫn lối, và chữa lành khỏi những u mê của cõi lòng, để chúng ta luôn hân hoan bước đi trong ánh sáng Tin Mừng, của chân thiện mỹ, của nẻo chính đường ngay. Ước gì cặp mắt của tâm hồn chúng ta luôn đủ sáng để nhận ra đâu là thiện, là ác, để luôn hành động đúng theo lương tri của một con người. Amen.

 

.

HAI MẶT

Lm Vũdình Tường

Cuộc sống thường có hai mặt, phải và trái. Điều này không có nghĩa là phải trái luôn trái nghịch nhau. Trong nhiều trường hợp phải trái bổ túc nhau làm cho sự kiện hoặc vật thể trở nên trọn vẹn hơn. Hai mặt phải trái của lá cây, hai mặt phải trái của xấp vải, hai mặt phải trái của tờ giấy. Phúc Âm hôm nay đưa ra nhiều hình ảnh phải trái xem ra có vẻ trái nghịch nhau. Cảnh trái nghịch rõ nhất là ánh sáng và bóng tối, hình ảnh người mù ngồi vệ đường và hình ảnh người sáng mắt theo Đức Kitô, hình ảnh đám đông ngăn cản anh đến gặp Đức Kitô và hình ảnh một mình anh cô đơn giữa đám đông ồn ào. Hình ảnh đám đông coi thường anh và hình ảnh Đức Kitô tỏ lòng xót thương anh. Đa số chúng ta thích chọn theo í kiến của đa số, í kiến của đám đông và bị ảnh hưởng đám đông lôi kéo. Người mù chọn đứng riêng bởi anh biết rõ anh muốn gì. Anh chọn theo thiểu số, thực ra một mình anh một í và điều đó khiến anh tách biệt khỏi đám đông. Đám đông dùng sức mạnh đa số lấn át anh, cấm anh lên tiếng. Anh đã không im tiếng, trái lại, anh còn la to hơn trước. Bị xã hội chê cười, chối bỏ và anh đã sống cảnh đó trong bao năm. Anh nhất quyết gặp Đức Kitô để có đời sống mới tốt lành hơn. Anh biết đám đông không giúp anh, mình anh không đủ khả năng thay đổi kiếp sống đoạ đầy nên anh quyết tâm gặp Đức Kitô xin Ngài giúp. Nghe người ta ồn ào nói về Đức Kitô, anh biết Ngài sắp đi ngang qua và anh lên tiếng nài van: ‘Lậy Đức Kitô, con Vua Đavít, xin thương đến con’ c.47.

Chúng ta không biết bởi đâu anh mù biết Đức Kitô thuộc dòng dõi vua Đavít nhưng vương hiệu hoàng tộc đó đóng vai trò quan trọng vào cuối đời của Đức Kitô. Đám đông đón Ngài vào thành thánh Jerusalem như một quân vương thắng trận trở về. Philatô đối chất Đức Kitô là Vua dân Do Thái và tấm bảng ghi phía trên đầu thập tự ‘Vua Dân Do Thái’. Chúng ta cũng không rõ từ đâu anh mù nhận biết danh tánh Đức Kitô và tin chắc Đức Kitô có thể làm cho anh sáng mắt. Có lẽ anh nghe người ta nói nhiều về Đức Kitô và lòng anh ao ước được gặp Ngài và mong Ngài chữa mắt cho. Anh bị mù mắt, mù thể lí nhưng tâm linh anh không mù, mắt tâm linh anh sáng, nhận biết Đức Kitô, con vua Đavít, tâm anh tỏ bởi anh nhận biết sự thật. Xã hội coi khinh anh nhưng không thể cấm anh đến gặp Đức Kitô, nghe tiếng anh kêu gào Đức Kitô lên tiếng cứu anh. Đám đông trước là rào cản cấm anh lên tiếng, giờ họ lại hỗ trợ khuyến khích anh. Nghe tiếng Đức Kitô mời gọi anh vui mừng nhảy như sáo đến gặp Ngài. ‘Anh muốn ta làm gì cho anh?’ Đức Kitô hỏi thế. Anh biết rõ điều anh cần, anh xin cho được sáng mắt. Lời xin thật rõ ràng, ngắn gọn, mạch lạc. Có người xin được quyền thế, kẻ xin được giầu sang, kẻ xin được chức tước. Anh xin rất thực tế. Xin được sáng mắt và Đức Kitô đã thoả mãn lòng anh mong ước. Hành động vất áo choàng là dấu chỉ từ nay anh sống cuộc sống mới, trong sáng, thanh tao, không còn lệ thuộc vào chiếc áo choàng che nắng, chắn mưa nhưng anh có Đức Kitô dẫn đường, có bầu trời trong xanh bao bọc và đồng hành với môn đệ Đức Kitô. Đức Kitô trên đường vào thành thánh và cũng nơi đây Ngài trải qua đau khổ, cứu độ nhân trần. Người mù giờ sáng mắt chứng kiến những đau khổ Đức Kitô trải qua vì Ngài đến ban hy vọng, ủi an, xoá tan bóng tối. Chính anh cảm nhận điều đó trong đời và tiếp tục chứng kiến lòng nhân từ Đức Kitô qua đau khổ Ngài tự nguyện lãnh nhận.

Chúng ta tự xét mình xem mình là người dẫn người khác đến Đức Kitô hay là rào cản ngăn người khác đến nhận ơn lành Chúa.

.

LÒNG TIN CỦA ANH ĐÃ CỨU CHỮA ANH.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Các đề tài liên quan đến các khuyết tật như câm, điếc, mù lòa… xem ra dễ trình bày và hình như cấu trúc xưa nay ít đổi thay. Trước hết đề cập đến các nổi khổ đau của những người mang khuyết tật về thể lý.

Nào là chuyện câm thì không thể, đúng hơn là rất khó giao tiếp với tha nhân, rồi chuyện mù thì không được diễm phúc nhìn thấy ánh sáng mặt trời, không thấy được vẻ đẹp của hạt sương long lanh trên cành hoa, không thấy được khuôn mặt của người đối diện, vân vân và vân vân. Rồi sau đó lại triển khai nổi khốn khổ của những người mắc các khuyết tật tinh thần hay tâm linh như chuyện có mắt mà như mù, có tai mà chẳng biết nghe hay không thèm nghe…và dĩ nhiên sẽ kéo theo những mối nguy hại cho bản thân họ hay cho xã hội.

Trong văn thơ có thể loại được gọi là “huề vốn” nghĩa là có nói cũng không thêm gì. Một ví dụ: “Đứng bên này sông thấy bờ bên kia sông. Bơi qua bờ bên kia thì thấy bờ sông bên này. Bơi ra giữa sông, hụp đầu xuống thì không thấy bờ sông nào.” Đã là người thì không một ai đành cam chịu cảnh mù lòa khi còn khả năng làm sáng đôi mắt. Cũng chẳng một ai thấy dễ chịu khi đang sáng mắt mà bị chê trách là đui mù. Xin cũng được dùng kiểu nói “huề vốn” để vào thẳng vấn đề, đúng hơn là để luận bàn đôi điều về điều gọi là “thấy”. Ai là người đang bị mù? Thưa đó là những người không thấy.

Đó là những ai không thấy người anh chị em mình đang túng cực, nghèo khổ mong kiếm cho được ba chục ngàn mỗi ngày để sinh sống, chưa kể nếu có người thân phải cưu mang. Đó là những ai không thấy người anh chị em của mình đang bị bóc lột sức lao công do bởi những người lắm tiền, nhiều quyền trong xã hội. Đó là những ai không thấy anh chị em của mình đang bị đối xử bất công do bởi những người nắm quyền bất nhân hay do bởi các luật lệ bất minh. Đó là những ai không thấy nền giáo dục nước nhà đang loay hoay trong ngõ cụt vì những cơ chế phi lý, lạc hậu, lỗi thời…Đó là những ai không thấy con thuyền của một vài Giáo Hội địa phương xem ra đang vất vả lướt sóng không nguyên chỉ vì bão tố thế gian mà còn có thể vì quá nặng nề với các “lễ hội” bên ngoài, để rồi dù không phải là xao lãng, nhưng chưa xem trọng nghĩa vụ sống yêu thương, làm chứng cho sự thật, bảo vệ công lý, loan truyền Tin mừng… Đó là…

Thế nhưng căn cứ vào đâu để xác định rằng ai đó đã và đang không thấy? “Phản ứng hay hiệu ứng” là một trong những biểu hiện cho biết là ai đó đang còn thấy. Với người hấp hối hay người gặp một sự cố nặng về thể lý thì người ta thường lấy đèn soi vào mắt hay một kiểu cách vẩy ngón tay sát mắt nạn nhân để xem phản ứng đôi mắt của họ. Khi thấy được vẻ đẹp một cánh hoa, hay một quang cảnh kỳ lạ thì người ta không thể không có phản ứng cho dù có thể mỗi người một cách khác nhau. Một cái thấy được gọi là thấy, khi và chỉ khi đối tượng được thấy gây được một hiệu ứng nào đó nơi người thấy nó. Cũng thế, chúng ta chỉ có thể gọi là thấy, khi những điều đập vào mắt chúng ta làm phát sinh trong chúng ta những tâm tình như vui, buồn, hoan hỷ, giận dữ, đồng cảm, đồng thuận hay bất bình, phẫn nộ…

Nếu làm thống kê thì con số người không thấy có lẽ là rất ít. Dù không thể đòi hỏi cách tuyệt đối, nhưng thử hỏi trong số những người được gọi là có thấy thì được bao nhiêu phần trăm là thấy đúng sự vật hiện tượng, thấy đúng bản chất của đối tượng như nó là? Mỗi khi đã thấy rõ, thấy đúng thì người ta sẽ dễ có phản ứng chính xác, hợp lý và cả hợp tình. Một nguy hiểm và cũng là vấn đề cần đặt ra, đó là chúng ta chỉ thấy cách phiếm diện, một chiều mà cứ tưởng rằng mình thấy đúng, thấy rõ. Vì thế các phản ứng của chúng ta nhiều khi vừa thiếu chính xác, lại vừa thiếu lý, thiếu tình. Dĩ nhiên với phận phàm hèn, không một ai dám to gan cho rằng mình có thể thấy đúng, chính xác cách hoàn toàn. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta có thể lơ là việc tìm cách để thấy các sự vật, hiện tượng ngày một đúng đắn và chính xác hơn, vì đây là một tiền đề không thể thiếu để có được những phản ứng hợp lý, hợp tình.

“Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Câu nói của Chúa Giêsu với anh mù Bactimê trong ngữ cảnh bài Tin mừng đề cập trực tiếp đến thái độ cậy trông của anh Bactimê vào tình yêu và quyền năng của Người. Và thái độ cậy trông ấy được thể hiện bằng việc anh ta cương quyết gặp Chúa Giêsu bất chấp mọi trở ngại. Tuy nhiên câu nói ấy cũng cho chúng ta chiếc chìa khóa giải quyết vấn nạn thấy. Để có thể thấy và thấy đúng thì cần có lòng tin. Chúng ta dễ đồng thuận với nhau về sự thật này nếu chấp nhận rằng tin là nhìn với cái nhìn của Thiên Chúa. Thế nhưng lại phải tự hỏi với nhau rằng khi nào thì chúng ta đang nhìn với cái nhìn của Thiên Chúa? Quả thật, để tìm được câu trả lời khả dĩ có tính thuyết phục thì không mấy dễ. Tuy nhiên, là Kitô hữu, chúng ta biết rằng những ai ở trong ân sủng, tức là có sự kết hiệp mật thiết với Chúa thì sẽ biết cách nhìn như Chúa nhìn. Trong vấn đề này, các nhà tu đức chỉ dạy chúng ta kế sách tuyệt với đó là hãy chuyên chăm cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa ở trong hoàn cảnh này của con, Chúa sẽ thấy sự kiện, vấn đề này ra sao?”. Qua đời sống câu nguyện, nỗ lực kết hiệp với Chúa thì ta sẽ biết nhìn như Chúa nhìn.

Một kinh nghiệm dân gian có thể nói là khá chính xác: “Con chim sắp chết hót tiếng bi ai. Con người sắp chết nói lời lẽ phải”. Để nói được lời lẽ phải, thì người cận kề với cõi đời sau hẳn đã thấy được chân tướng các sự vật hiện tượng cách nào đó. Tin Mừng cho ta hay trong cuộc đời công khai rao giảng, Chúa Giêsu luôn hướng về cái giờ của Người, đó là giờ mà Người sẽ bỏ thế gian này mà về cùng Cha bằng cái chết trên thập giá. Và đây chính là một trong những chìa khóa giúp Chúa Giêsu nhìn thấy các sự vật hiện tượng theo cái nhìn của Cha trên trời, để rồi có được những cách thế phản ứng thuận ý Cha, đẹp lòng Cha (x.Mt 3,17; Mc 1,11).

Vì sao còn có những phản ứng chưa thấu lý và đạt tình nơi Kitô hữu, giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ? Một trong những nguyên nhân đó là vì ta chưa thấy đúng sự vật hiện tượng. Vì sao ta chưa thấy đúng sự vật hiện tượng? Vì ta chưa biết nhìn như Chúa nhìn. Chưa biết nhìn như Chúa nhìn, ngoài những lý do khách quan thì rất có thể vì ta chưa thực sự gắn bó thiết thân với Chúa và cũng ít nghĩ đến cái giờ ta rời bỏ thế gian.


Đang xử lý, vui lòng đợi trong giây lát...