12/08/2022
587

CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN_C

Lời Chúa: Gr 38,4-6.8-10; Dt 12,1-4; Lc 12,49-53
 

Mục lục

1. Thập giá và niềm vui (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Tình yêu bắt nguồn từ đâu? (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Lửa tình yêu.  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

4. Phấn đấu  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

5. Mang lấy lửa thiêng (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

6. Ngọn lửa tình yêu. (Annna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

7. Nhân chứng đức tin (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

8. Ngọn lửa yêu thương (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

9. Cuộc chiến triền miên (PM. Cao Huy Hoàng)

10. Lửa cháy – Sự thật tỏ bày (Lm. Nguyễn Văn Nghĩa)

11. Lửa an bình  (Lm. Bùi Quang Tuấn)

12. Thầy không đến đem sự bình an nhưng đem chia rẽ (Lm. Vũ Mộng Thơ)

13. Bình an, niềm vui, ơn cứu độ  (An Phong)

14. Nghe danh thánh Chúa Giêsu là cớ mâu thuẫn (Lm. Trần Bình Trọng)

15. Chúa Nhật XX Thường niên_C (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

16. Đốt lửa tin yêu  (Trầm Thiên Thu)

17. Ngọn lửa tình yêu- (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

18. Chúa Giêsu mang lửa đến trái đất (Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt)

19. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 20 TN_C (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

20. Ước mơ và chọn lựa (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

21. Nhịp cầu (Lm. Vũ Đình Tường)

22. Bùng cháy lửa tình  (Lm. Nguyễn Xuân Trường)


 

THẬP GIÁ VÀ NIỀM VUI

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Theo tâm lý thông thường, ai trong chúng ta cũng thích nghe những lời ngọt ngào êm tai và đem lại niềm vui. Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay lại gồm những ngôn từ xem ra khó chấp nhận: “Anh em tưởng Thày đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thày bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem chia rẽ”. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta không khỏi lúng túng khi tìm cách hiểu đoạn Tin Mừng này. Tuy vậy, nếu suy tư về hành trình đức tin, mỗi chúng ta đều công nhận một điều, để đến với Chúa Giêsu, phải chấp nhận nhiều hy sinh cố gắng. Có những người theo Chúa Giêsu phải vượt qua nhiều trở ngại. Những trở ngại đến từ nhiều phía: cha mẹ, anh em, họ hàng và bạn bè. Như thế, để có thể theo Chúa Giêsu, phải chấp nhận những buông bỏ, để lựa chọn và gắn bó với Người. Và thế là, vì theo Chúa Giêsu mà xảy ra mâu thuẫn, thậm chí xung đột căng thẳng giữa những thành viên trong cùng một gia đình.

Có thể nói, Giêrêmia là một ngôn sứ trải qua nhiều cực nhọc gian nan nhất. Vì trung thành chuyển tải sứ điệp của Chúa mà người đồng hương đã gọi ông là tên “tứ phía kinh hoàng”. Đoạn sách thánh được đọc hôm nay kể lại việc người Do Thái căm ghét ông và lập mưu bỏ ông xuống giếng sâu, nhằm giết chết ông. Nhờ lòng thương cảm của một người khác là ông Evét Mêléc, ông Giêrêmia đã được đưa lên khỏi hầm. Trong lúc người Do Thái thích nghe những lời ngọt ngào, Giêrêmia lại tuyên bố những lời cảnh cáo, trách móc và đe dọa. Tuy vậy, lời ông nói không phải là của cá nhân ông, mà ông chuyển tải ý định của Thiên Chúa. Những lời ấy vừa nhằm giúp cho quốc dân tránh tai họa, vừa uốn nắn giúp họ tìm được sức mạnh nơi Thiên Chúa. Ngôn sứ là người nói lời của Chúa. Ngôn sứ cũng là người gánh chịu những hậu quả do lòng thù ghét của dân. Tuy vậy, những ai trung thành với sứ mạng loan báo sứ điệp của Chúa sẽ được Ngài thương và cứu chữa. Giêrêmia được cứu sống, đó là bằng chứng ơn phù trợ của Chúa dành cho những ai trung tín với Ngài.

Như thế, con đường theo Chúa vừa ngọt ngào vừa chông gai. Chính Chúa Giêsu cũng đã đi trên con đường thập giá và đã tự nguyện chết trên thập giá để bày tỏ tình thương của Thiên Chúa. Chúa đã đau khổ để nâng đỡ cảm thông những người đau khổ. Thập giá mang muôn màu sắc và muôn hình muôn vẻ. Thập giá cũng hiện diện mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Có thể đó là những khác biệt trong suy nghĩ của những thành viên trong một gia đình hay một cộng đoàn; có thể đó là một người bạn đời hay một người hàng xóm có tính nết không mấy dễ chịu; có thể đó là một sự kiện xảy đến làm chúng ta gặp nhiều điều bất tiện… Người Kitô hữu đón nhận thập giá không phải như con trâu mang cày ì ạch bước đi, nhưng như một người chia sẻ gánh nặng của người khác một cách vui vẻ và với mục đích xây dựng cuộc sống bình yên an hòa.

Tác giả thư gửi giáo dân Do Thái đã khẳng định: “Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Tác giả cũng khuyên chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu khổ hình để không sờn lòng nản chí khi gặp đau khổ gian nan (Bài đọc II).

Thày đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thày những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đem đến cho trần gian, đó là lửa tình yêu và sức mạnh, là lửa nhiệt huyết rao giảng tình thương Thiên Chúa đối với con người. Hôm nay, Người vẫn mong cho ngọn lửa ấy sáng lên nơi cuộc đời này. Dẫu biết rằng giáo huấn của Chúa Giêsu sẽ được đón nhận nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta không vì thế mà nản chí ngã lòng. Hãy thắp lên ngọn lửa có tên Giêsu, để chiếu rọi mọi nơi tăm tối và mọi góc khuất của cuộc sống. Hãy là một đốm lửa, dù nhỏ nhoi và mong manh yếu ớt, giữa những tăm tối bủa vây xung quanh, hầu sưởi ấm và thắp sáng cho những người lân cận.

Thập giá là biểu tượng của đau khổ, nhưng thập giá cũng đem lại hạnh phúc và niềm vui. Chúa Giêsu đã vác thập giá và đã chết trên thập giá, nhưng Người đã sống lại vinh quang. Thập giá chỉ là một chặng đường, dùng có nặng nề đến mấy cũng chỉ là nhất thời chứ không phải là đích điểm. Đích điểm cuộc đời chúng ta chính là hạnh phúc viên mãn nơi Thiên Chúa. Người có đức tin vững vàng sẽ làm cho thập giá nở hoa và tỏa hương thơm ngát. Đó chính là hương thơm của sự thánh thiện, của lòng yêu mến và trung thành.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Nếu có ai hỏi tôi tình yêu bắt nguồn từ đâu? Tôi xin trả lời tình yêu bắt đầu từ một trái tim biết sống vì người mình yêu! Trái tim đó biết cho đi mà không hề tính toán. Trái tim đó biết chạnh lòng thương những mảnh đời khổ đau mà họ gặp trong cuộc sống. Khi ta gặp được người có trái tim như vậy thì ta sẽ gặp được niềm vui của hạnh phúc.

Trái tim biết yêu thương còn là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, đến nỗi có thể hợp nhất nên một với người mình yêu. Thị Nở với tình yêu thương của một người đàn bà đã kéo Chí Phèo từ vực sâu của tội lỗi trở lại làm người với khát vọng lương thiện cháy bỏng. 

Ngày 15/1/2018, bé Hải An 7 tuổi nhập viện, được chẩn đoán mắc bệnh ung thư thần kinh thể sao – một thể bệnh hiếm gặp. Dù đã nỗ lực chữa trị, những khối u quái ác khiến em yếu đi từng ngày. Hải An qua đời vào ngày 22/2/2018

Trong những giờ phút tỉnh táo ngắn ngủi cuối cùng, em đã tâm sự với mẹ về việc hiến mô tạng của mình: “Con cũng muốn hiến tặng những bộ phận cơ thể của con cho các bạn đang cần đến nó”.  Và rồi người mẹ trẻ đã âu yếm hôn lên vầng trán con lần cuối, nhỏ giọng thì thầm với con: “Con tặng lại ánh sáng cho bạn khác nhé.”

Tình yêu là vậy. Nó không so đo tính toán. Tình yêu đích thực là chỉ biết cho đi và cho đi mãi mãi như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “Sống ở trên đời cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.

Đây chính là ngôn ngữ tình yêu của Đức Giê-su.Chính Ngài đã để gió cuốn đi và mang lòng thương xót của Ngài đến với mọi ngõ ngách của cuộc đời. Ngài đã hiến dâng mạng sống cho con người được sống và sống dồi dào. Ngài sống không phải vì mình mà cho thế gian được ơn cứu độ. Ngài yêu thương thế gian đến nỗi còn muốn trao ban chính mình làm của ăn của uống cho nhân loại. Chính Ngài đã xác quyết rằng “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống”. Ai ăn và uống Mình và Máu Ngài không chỉ được sống hạnh phúc mà còn hơn thế nữa là được sống muôn đời. Ngài là bánh trường sinh. Dân Do Thái đã từng được ăn Mana từ trời nhưng rồi cũng chết. Còn ai ăn và uống Mình Máu thánh Ngài sẽ được sống muôn đời.

Tình yêu luôn phát sinh những điều kỳ diệu. Có tình yêu sẽ có sáng tạo. Tình yêu đã làm phát sinh biết bao nghĩa cử cao đẹp mà con người dành cho nhau. Từ lời nói đến hành động luôn biết làm đẹp lòng nhau. Người ta chắt chiu từng lời nói, từng việc làm để cho người mình yêu được vui lòng. Tình yêu là một quà tặng vô giá mà chúng ta dành cho nhau. Không có tình yêu sẽ không có tặng ban.

Thế giới hôm nay rất cần tình yêu để con người được sống trong an vui và hạnh phúc. Sự sống còn của nhân loại hoàn toàn tuỳ thuộc vào khả năng yêu thương của chính con người. Hàng ngày trên thế giới có hàng triệu người đã chết bởi sự thiếu tình yêu của đồng loại. Bởi thù hận người ta giết nhau bằng súng đạn, gươm giáo. Bởi thiếu trách nhiệm người ta giết nhau bằng sự bỏ rơi và dửng dưng.

Thế giới không có tình yêu sẽ hoang tàn đổ nát tựa như cơn lũ sau khi tàn phá môi trường chỉ để lại sự dơ bẩn và chết chóc. Đó chính là thảm cảnh mà chúng ta đang phải đối diện. Bởi thiếu vắng tình yêu đã đẩy sự dữ ngày một gia tăng. Sự dữ ẩn chứa khắp nơi. Sự dữ luôn đe doạ hủy diệt địa cầu bất cứ giờ nào. Thế giới hôm nay đã chết vì thiếu vắng tình yêu.

Mỗi lần chúng ta rước Chúa là được đón nhận chính sự sống và tình yêu của Chúa. Ước gì tình yêu Chúa tuôn chảy trong con tim của chúng ta để chúng ta dám hiến dâng chính mình vì sự  sống của tha nhân. Ước gì mỗi người biết hy sinh cho nhau, và biết kiến tạo hạnh phúc cho nhau, chắc chắn cuộc sống này sẽ đẹp hơn. Ước gì mỗi người chúng ta biết noi gương Chúa Giêsu trở thành quà tặng mang lại cho anh em niềm vui và hạnh phúc. Xin cho chúng ta luôn cảm nghiệm rằng “chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Amen

Về mục lục

.

LỬA TÌNH YÊU.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Nói đến lửa có chúng ta thường nghĩ tới lửa gió và nước.Có thể gọi đây là ba sức mạnh khủng khiếp của Tạo Hóa giữa đất trời bao la, mênh mông. Khi đề cập đến lửa, chúng ta thường liên tưởng đến sự bùng cháy, đến những đám cháy lớn lao tiêu diệt, rồi chúng ta đâm ra lo âu, sợ hãi…Phải chăng đây là lửa đã thiêu rụi thành Sôđôma và Gômôra ? Phải chăng đây là thứ lửa mà Giacôbê và Gioan đã vì căm tức một làng xứ Samaria không chịu đón tiếp Chúa và các môn đệ, mà hai tông đồ này muốn khiến lửa từ trời xuống thiêu rụi ? Hay là thứ lửa mà chúng ta thường đọc thấy hoặc được học, được xem trong các bức tranh nói về lửa hỏa ngục!

Dù là thứ lửa nào thì nó cũng đáng gờm, đáng sợ! Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay đã nói đến một thứ lửa :” Thầy đã đến để ném lửa vào mặt đất và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên “ ( Lc 12,49 ). Nghe những lời này của Chúa chúng ta đâm ra ngao ngán, sợ sệt. Tuy nhiên, chúng ta phải thay đổi tư duy, thay đổi cái nhìn để hiểu rõ hơn ý của Chúa Giêsu.

Vâng, lửa mà Chúa Giêsu nói ở đây là đức tin. Đức tin có được, hun đức, trui luyện, đức tin đó mới bền vững, mới trưởng thành. Đức tin như ông đại đội trưởng, như người nữ bị băng huyết. Đó là đức tin bền chặt, đức tin vững chắc. Bởi vì, thánh Phaolô đã nói:” Đức tin không có việc làm là đức tin chết “ hoặc “ Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi “. Chúa Giêsu cũng nói đến sự đau khổ, sự chết khi đề cập đến “ chén đắng “. Chén đắng mà hai ông Giacôbê và Gioan sẽ uống, chứ không phải là việc ngồi bên hữu bên tả của Chúa Giêsu. Ở đây, Chúa Giêsu cho chúng ta hay đau khổ là con đường, là cách thức Chúa Giêsu đã chọn để cứu độ con người, cứu vớt loài người. Nên, con đường đó, cách thức đó, Chúa cũng mời gọi chúng ta đi theo “ Tôi tớ không lớn hơn Thầy “. Chúa Giêsu đã chọn cách thức duy nhất này để làm gương cho nhân loại, làm gương cho chúng ta.

Chúa Giêsu còn nói đến một ý nghĩa khác nữa trong đoạn Tin Mừng này :” Chúa báo trước cho những ai tin theo Ngài là vì đức tin, vì theo đạo, vì theo Người, họ có thể bị chính những người thân yêu của mình khinh chê, ghen ghét, ruồng bỏ vv…” . Lịch sử Giáo Hội cho thấy rất rõ, có nhiều người vì theo đạo, theo Chúa đã bị bách hại, đã bị giết chết. Máu của nhiều thánh tử đạo đã đổ ra rất nhiều nơi các Giáo hội địa phương. Sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta hiểu rất rõ về nhiều cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Gia đình nào có người theo đạo, tin Chúa, người ấy liền bị những người trong gia đình khinh chê, ruồng bỏ vv…

Lịch sử cứu độ cho thấy suốt trong dòng lịch sử con người từ khi Thiên Chúa sáng tao vũ trụ, con người cho đến thời nay đã có biết nhiêu người đã dùng đức tin để làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh, minh chứng cho Chúa là Đường, là Sự thật và Sự sống. Lửa cũng có nghĩa là lửa thiêng liêng Chúa thắp sáng nơi tâm hồn chúng ta để chúng ta luôn nhận ra Chúa, tin theo Chúa và làm tất cả mọi sự vì lòng yêu mến Chúa và tha nhân hầu làm sáng danh và làm vinh danh Chúa. Lửa tình yêu, lửa cứu độ làm cho chúng ta luôn biết tin tưởng, phó thác nơi Chúa vì muôn hồng ân Chúa ban cho chúng ta. Dù chúng ta đang sống giữa những gian nan thử thách, những cạm bẫy bủa vây của ma quỷ, của sự dữ, nhưng chúng ta một mực tin tưởng nhờ lửa tình yêu, nhờ lửa cứu độ mà Thiên Chúa giải thoát chúng ta.

Công đồng Vaticanô II là Công đồng của Chúa Thánh Thần, đã thổi một luồng gió mới vào Giáo Hội, tuy nhiên cũng có nhiều người không muốn canh tân, đổi mới, nên cũng gây ra sự phân hóa, chia rẽ như lời Tin Mừng hôm nay. Tuy nhiên, sau cùng mọi người đều nhận ra rằng chỉ có “ Tình yêu của Đức Kitô thúc bách chúng ta “ và như thánh Augustinô nói :” Tốt đẹp biết bao vì Thiên Chúa là ngọn lửa bùng cháy làm cho chúng ta biết yêu mến Người”. Chúa Thánh Thần chính là ngọn lửa tình yếu đến hiệp nhất, thánh hóa, ban bình an cho Giáo Hội, cho chúng ta để chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Tình Yêu.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đốt lên trong tâm hồn chúng con ngọn lửa tình yêu để chúng con biết luôn “ mặc lấy Đức Kitô “, hầu chúng ta mau mắn chuyền ngọn lửa đức tin, ngọn lửa cứu độ mà Chúa đã đem đến cho nhân loại, để chính ngọn lửa ấy cứu vớt loài người.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Lửa theo Chúa Giêsu có ý nghĩa gì ?
2.Chén đắng Chúa nói có nghĩa gì ?
3.Tại sao Chúa lại nói đem sự chia rẽ ?
4.Sự bình an có cần thiết không ?
5.Lửa cứu độ là gì ?

Về mục lục

.

PHẤN ĐẤU

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thầy đem lửa xuống thế gian,
Mong sao lửa cháy, tràn lan khắp miền.
Tình yêu nung nấu triền miên,
Tỏa lan khắp chốn, ân thiêng dạt dào.
Chúa mong phép rửa Cha trao,
Chu toàn thánh ý, thiên cao cứu đời.
Lòng Thầy khắc khoải khôn vơi,
Đến khi hoàn tất, sáng ngời ước mong.
Bình an nước chảy xuôi dòng,
Cho người tâm thiện, trong lòng ước mơ.
Tại sao chia rẽ hững hờ?
Mẹ cha con cái, nghi ngờ lẫn nhau.
Con trai con gái sầu đau,
Thành viên chống đối, trước sau gây thù.
Ghen tương oán ghét dập trù,
Phân chia đối phó, gương mù khắp nơi.
Lửa thiêng soi chiếu rạng ngời,
Tình yêu thập giá, gọi mời hy sinh.
Theo Thầy từ bỏ thân mình,
Đắng cay khổ nạn, cực hình cũng cam.

Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ: Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên. Chúa muốn cho lửa tình yêu và lửa chân lý được tỏa lan khắp nơi. Ánh sáng của lửa sẽ dọi chiếu vào đêm tối. Chúng ta biết rằng đêm đen không luôn chấp nhận ánh sáng bởi vì sự sáng sẽ dọi tỏ lòng của con người. Nhiều người ta sẽ chối từ ánh sáng và chân lý phúc âm của Chúa.

Giữa ánh sáng và đêm tối có một khoảng cách về sự thánh thiện và tội lỗi. Lời chân lý của Chúa khuấy động cuộc sống của nhiều người. Giai cấp quản trị trong đạo bắt đầu cảm thấy bị mất ưu quyền, nên họ tỏ ra khó chịu. Các thầy tư tế và các vị tai mắt trong dân bị lời Chúa lột trần mặt nạ. Họ bị mất quyền lợi. Họ bị chạm tự ái vì họ luôn nghĩ mình là người công chính. Họ đã chu toàn đầy đủ các lề luật của cha ông. Họ căm phẫn chống lại Chúa. Họ không muốn chấp nhận ánh lửa mà Chúa đem xuống trần gian.

Sống trong đêm tối là sống trong bóng đêm của sự dữ. Những người làm điều gian ác thường chọn đêm tối để hành động. Người nói hành, nói xấu người khác cũng thế, họ không dám công dám đối diện nhưng rỉ tai, dấu diếm và lén lút. Chúa đến mang lửa mới để soi dọi vào chính tâm hồn của chúng ta, chứ không phải những hình thức bên ngoài.

Chúa Giêsu còn nói mạnh mẽ rằng: Ngài không đến đem bình an mà là chia rẽ. Đây là một tư tưởng mới lạ làm chúng ta ngạc nhiên. Chúa xuống trần mang bình an cho nhân loại. Tại sao Chúa lại mang chia rẽ trong gia đình, giữa cha mẹ và con cái? Sự chia rẽ có ý nghĩa gì? Chia rẽ vì có sự giằng co giữa ánh sáng và đêm tối, giữa sự thật và gian trá. Khi sai các môn đệ đi rao giảng tin mừng, Chúa biết các ngài sẽ bị chống đối và bị bách hại như chính Chúa.

Ngựa quen đường cũ. Con người cũng giữ thói quen của mình và không muốn thay đổi. Đôi khi chúng ta khư khư giữ tư tưởng và cách sống đạo của chúng ta. Chúng ta không muốn ai khấy động hoặc thay đổi cách sống của mình. Trong đời sống gia đình cũng thế, sẽ có những phân rẽ vì niềm tin và tâm thức riêng của mỗi thành phần. Chính Chúa Giêsu bị kết án vì Ngài đã mang lửa chân lý và lửa yêu thương đến cho nhân loại.

Chúng ta học biết rằng ngay từ buổi sơ khai của Giáo Hội, người ta đã bách hại đạo, ruồng bắt, tù đầy và giết chết các Kito hữu. Các môn đồ đã gặp phải biết bao nhiêu sự thù ghét và chống đối ngay trong gia đình và cộng đoàn. Thù ghét nhau không phải họ làm điều xấu mà thù ghét vì chỉ họ tin vào Chúa Kitô Phục sinh. Lịch sử Giáo Hội đã minh chứng hùng hồn những mẫu gương của các Thánh Tử Đạo. Các Ngài không làm hại ai cả, chỉ đơn sơ tin vào Chúa Kitô cũng đã đủ để bị thù ghét, bị ruồng bỏ và bịgiết. Lạy Chúa, xin cho lửa tình yêu sưởi ấm tâm hồn chúng con để chúng con phấn đấu ra đi làm nhân chứng cho Chúa giữa đời.

Về mục lục

.

MANG LẤY LỬA THIÊNG

Bông hồng nhỏ

Giữa tiết trời giá lạnh, còn gì hơn khi ta được khoác một tấm áo ấm hay được ngồi sưởi bên bếp hồng, được nép vào lòng mẹ cho ấm áp yêu thương. Cái lạnh của tiết trời thật đáng sợ nhưng nó vẫn không đáng sợ cho bằng sự lạnh lùng giữa người với người. Tình yêu là lửa hồng sưởi ấm những trái tim băng giá. Chúa Thánh Thần chính là lửa yêu thương bừng cháy trong tâm hồn mỗi người.

Chúa Giêsu đã tâm sự cùng các môn đệ lời này: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12, 49-50). Trên thập giá, trái tim Thầy Giêsu đã để cho lưỡi đòng đâm thâu. Ngay lúc này, ta có cảm nhận được nỗi đau đang giẫy lên trong trái tim của Thầy khi lời Thầy vang lên đầy thổn thức. Khi lắng nghe tâm sự của Thầy, lòng ta cảm nhận một nỗi đau của Tình Yêu bị con người từ khước. Đó là nỗi đau của một người cha khi lặng nhìn người con yêu dấu lạc vào con đường của bóng đêm tội lỗi. Thầy Giêsu là người tôi trung của Thiên Chúa. Ngọn lửa yêu thương mà Ngài đã trao ban cho nhân loại đã làm ấm lên bao tâm hồn lạnh giá giữa dòng đời, đã chữa lành bao tâm hồn thương tích, đã dọi sáng một lối đường dẫn đến hạnh phúc cho bao người tội lỗi biết tìm về nẻo chính đường ngay. Ngọn lửa ấy phải được bùng lên để bao người được thấy ánh sáng tình yêu của Chúa, được hưởng nếm ngọn lửa ấm áp của yêu thương. Giữa bóng đêm mịt mù, cần lắm một ánh sáng soi đường. “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119, 105). Bước theo Thầy Giêsu, ta sẽ tìm thấy một lối đường dẫn đến hạnh phúc, một con đường của phục vụ trong yêu thương và hiến dâng đến cùng. Để khi ấy, lòng ta mang lấy nỗi thổn thức của Thầy, mang lấy nỗi khắc khoải của Thầy mà bước vào thế giới, để con tim yêu thương thúc bách hành động trao ban cách quảng đại. Ta có nhìn thấy ngọn lửa mà Chúa đã thắp lên trong lòng ta ngày ta được lãnh Bí tích Rửa tội, ngọn lửa ấy đang cháy lên mạnh mẽ hay leo lét giữa sóng đời bủa vây? Ta hãy chạy đến bên Chúa và tha thiết khẩn cầu Thần Khí Chúa đến thổi bùng ngọn lửa trong trái tim ta, thiêu rụi hết bao nhiêu tội lỗi, những ích kỷ và hư danh giả trá để tâm hồn ta lại được bừng cháy hân hoan.

Thầy Giêsu đã nói với các môn đệ rằng “Ngài đến để đem sự chia rẽ”. Ngài đã mang ánh sáng đến trần gian và những kẻ chuộng bóng tối đã chống đối Ngài. Vì Tin Mừng, ta có sẵn sàng để chấp nhận bị từ khước và đe dọa? Bản thân ta được Chúa mời gọi trở nên muối và ánh sáng cho trần gian. Ta hãy từng ngày mặc lấy tâm tình của Chúa Giêsu, bước vào đời với một tâm hồn tín thác nơi tình yêu và sự dìu dắt của Thiên Chúa. “Thập giá hằng ngày làm con xao xuyến nhưng mang lại cho con niềm hy vọng phục sinh”. Lời của ai đó đã từng nhắn gửi ta, đã hơn một lần giúp ta vững bước hơn trên con đường bước theo Đấng Chịu- Đóng- Đinh. Chúa Giêsu sẽ mãi mãi là điểm tựa vững chắc và là người Thầy tuyệt vời nhất, là Đấng khơi dậy nơi tâm hồn ta nỗi khắc khoải về sứ mạng trở nên ánh sáng cho trần gian.

Lạy Chúa Giêsu! Xin ban Thánh Thần Lửa mến trong tâm hồn con để Người dạy con yêu mến Chúa. “Xin làm cho trái tim con có lửa, xin đặt Lời của Chúa nơi môi miệng con và ban cho con có cái nhìn của ngôn sứ và biết sống sứ vụ ngôn sứ”. Amen.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA TÌNH YÊU.

Anna Cỏ May

Đi vào các công ty hay các nhà chung cư, chúng ta dễ bắt gặp những ống chữa cháy tại mỗi khu vực, phòng khi có sự cố xảy ra. Tuy nhiên, chúng ta vẫn biết lửa không thể thiếu trong việc nấu ăn hay dùng để đốt những gì chúng ta muốn bỏ. Lửa còn mang lại ánh sáng, là niềm hy vọng cho chúng ta những khi ở trong bóng tối. Trong Kinh Thánh, lửa còn được con người dùng để diễn ta trái tim đang nóng lên như ngọn lửa bùng cháy (x.Tv 39,4). Đối với Thiên Chúa, lửa là biểu tượng tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu tác động thanh tẩy mọi người khỏi dơ nhớp. Ngoài ra, lửa là biểu tượng của Chúa Thánh Thần.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc 12,49). Chúa Giêsu đã ban Chúa Thánh Thần cho thế gian. Ngài không ngừng khao khát làm cho ngọn lửa ấy bùng lên. Ngài không còn ở thế gian trong bao lâu nữa. Ngài đi vào Cuộc Thương Khó để mọi người được rửa sạch tội lỗi và nhận lấy Chúa Thánh Thần. Ngài muốn ngọn lửa tình yêu được bùng cháy trong trái tim mỗi người. Ngài yêu từng người bằng tình yêu riêng như mỗi người là đối tượng tình yêu của Ngài. Ngài không ngừng yêu chúng ta mỗi ngày, ngay cả khi chúng ta vô ơn hay phạm tội. Ngài yêu bằng một tình yêu vô điều kiện. Trái tim Ngài luôn khắc khoải về ơn cứu độ cho mọi người. Vậy tại sao Chúa Giêsu lại nói: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để đem bình an cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem chia rẽ” (Lc 12, 51).

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói đến sự chia rẽ giữa người cha và con trai; người mẹ với con gái; mẹ chồng và nàng dâu (x Lc 12,53). Vì Tin Mừng, có khi chúng ta sẽ phải đứng trước nghịch cảnh: sự rạn nứt tình thân khi giữa mỗi người có một niềm tin khác nhau, lối sống khác nhau. Nếu chúng ta quyết tâm chọn Chúa và sống thái độ vâng phục đức tin, chúng ta vẫn mong mỏi một sự hàn gắn tình thân. Chúng ta hãy mang lấy nỗi khắc khoải của Thầy Giêsu, tình yêu sẽ dẫn chúng ta đến hiệp nhất. Hãy cầu nguyện cho chính cha mẹ, anh em của mình nếu như họ chưa có cùng một đức tin. Nhờ ơn Chúa, chúng ta hãy dùng đôi mắt đức tin và tìm hiểu Lời Chúa để hiểu được thánh ý Thiên Chúa. “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Bởi đó, Chúa Giêsu hằng khao khát lửa Chúa Thánh Thần bùng cháy trong chúng ta, để Chính Ngài sẽ giúp chúng ta hiểu biết về tình yêu Chúa, hiểu hạnh phúc ngay ở đời này. Để tình yêu sẽ dẫn chúng ta đến hiệp nhất. Tâm hồn chúng ta có sẵn sàng mở ra trước ngọn lửa ân sủng của Thần Khí Chúa, để Ngài thổi bùng ngọn lửa trong lòng chúng ta?

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho chúng con đắm mình trong ngọn lửa tình yêu và tràn đầy lửa Chúa Thánh Thần, để chúng con không ngừng phấn đấu cho phần rỗi và hạnh phúc của mọi người. Amen.

Về mục lục

.

NHÂN CHỨNG ĐỨC TIN

       Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Gr 38:4-6, 8-10;  Dt 12:1-4;  Lc 12:49-53)

          Khi nói tới ý nghĩa cuộc đời, chúng ta có rất nhiều suy nghĩ khác nhau tùy hoàn cảnh sống và tùy mức độ hiểu biết của ta.  Tuy nhiên đối với Ki-tô hữu, mẫu số chung của mọi ý nghĩa cuộc đời đều nằm trong ý tưởng cốt lõi là làm nhân chứng đức tin.  Qua lối sống, chúng ta nói lên những giá trị Tin Mừng mà Chúa Giê-su dạy chúng ta bằng lời giảng và đời sống của Người.  Để làm chứng nhân cho sứ mệnh, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã phải chịu muôn vàn chống đối và nguy hiểm cho cả mạng sống.  Trong đoạn thư gửi tín hữu Do-thái, tác giả cũng nhắc đến các “nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” chúng ta, để nhắc nhở ta rằng khi làm chứng nhân cho Chúa, ta không cô đơn lẻ loi.  Đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su chia sẻ với chúng ta rằng sứ mệnh của Người là đến “ném lửa vào mặt đất” (tức làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa) và Người “khắc khoải” mong đợi sứ mệnh ấy được hoàn tất.

          Trong lịch sử Cựu Ước, có nhiều câu chuyện làm chứng cho đức tin vào Thiên Chúa, nhất là cuộc đời của các vị ngôn sứ.  Trong số các chứng nhân ấy, chúng ta phải nói tới ngôn sứ Giê-rê-mi-a, một con người đã chịu bao cay đắng tủi nhục vì muốn trung thành với sứ mệnh Thiên Chúa đã trao phó.  Bài đọc 1 hôm nay kể lại câu chuyện ngôn sứ đã bị các thủ lãnh của nước Giu-đa (vương quốc miền Nam của Ít-ra-en) “điệu đi và thả xuống một cái hầm nước”.  Hầm đã hết nước, chỉ còn bùn, nên Giê-rê-mi-a bị lún sâu xuống bùn.  Ngôn sứ bị họ đối xử tàn ác chỉ vì ngài “đã làm nản lòng các binh sĩ còn lại trong thành cũng như toàn dân” khi ngài truyền đạt lại sứ điệp của Thiên Chúa rằng:  “Ai ở lại trong thành này (Giê-ru-sa-lem) sẽ phải chết vì gươm đao, đói kém và ôn dịch; ai chạy ra ngoài đầu hàng quân Can-đê, thì ít ra cũng sống và bảo toàn được tính mạng… Chắc chắn thành này sẽ bị nộp vào tay đạo quân của vua Ba-by-lon; chúng sẽ chiếm được thành.”  Các thủ lãnh coi Giê-rê-mi-a là một mối họa cho toàn dân.  Ở đây, rõ ràng ngôn sứ có thể chọn con đường dễ đi, là nói ngược lại điều Chúa truyền để cho các thủ lãnh tin tưởng và tôn vinh ngài.  Nhưng ngài không muốn làm trái ý Thiên Chúa, bất chấp sẽ bị bách hại và nguy hiểm tính mạng.  Cuối cùng Chúa đã cứu mạng vị ngôn sứ của Người.

          Phụng vụ Lời Chúa lấy câu chuyện ngôn sứ Giê-rê-mi-a làm hình bóng ám chỉ Chúa Giê-su, Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến để “ném lửa vào mặt đất” và phải chịu một “phép rửa”.  Ném lửa vào mặt đất là sứ mệnh Chúa Giê-su phải thi hành.  Lửa là tình yêu của Thiên Chúa, Đấng “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).  Tuy nhiên Chúa Giê-su không chỉ “nói” cho nhân loại biết sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa, mà Người còn “hành động” để chứng tỏ chân lý này.  Người đã “chứng minh” tình yêu vô điều kiện này của Thiên Chúa bằng cách vui lòng chịu chết khổ giá.  Lúc sinh thời thi hành sứ mệnh rao giảng, tâm hồn Chúa Giê-su đã bừng lên ngọn lửa nhiệt thành.  Lúc nào Chúa Giê-su cũng canh cánh bên lòng nỗi lo lắng sao cho sứ mệnh được hoàn tất và sinh hoa kết quả.  Người rất thực tế nhận ra những chống đối và khó khăn trước mặt.  Người biết con đường lên Giê-ru-sa-lem mỗi ngày một ngắn dần và sẽ dẫn Người tới đỉnh đồi Canvariô.  Không những Người biết số phận tương lai của bản thân mình, mà cả tương lai của những ai sẽ theo bước chân chứng nhân của Người nữa.  Các môn đệ Người rồi đây cũng phải chịu chống đối bắt bớ, chịu thiệt thòi vì làm chứng cho giáo lý của Người.  Như thế, việc làm môn đệ Chúa chẳng những không đem lại “hòa bình” trần thế cho các môn đệ, mà còn gây cho họ những mâu thuẫn với những kẻ không theo Chúa, thậm chí cả những người trong chính gia đình họ.  Chúa Giê-su luôn mong rằng các môn đệ sẽ trung thành theo Người và vững lòng tin vào Người.  Người bảo:  “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bê-en-dê-bun, huống chi là người nhà” (Mt 10:24-25).  Lời Chúa nhắn nhủ đã làm nức lòng biết bao người.  Lịch sử Giáo Hội để bao nhiêui là tấm gương chứng nhân của các Ki-tô hữu đã theo bước chân Thầy mình để làm chứng rằng Thiên Chúa yêu thương nhân loại chúng ta.

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Hôm nay tác giả thư Do-thái gửi đến chúng ta lời khích lệ tuyệt vời về việc làm chứng nhân đức tin.  Trước hết tác giả đề cao tấm gương của Chúa Giê-su, “Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin”.  Đúng vậy, Chúa Giê-su đã khai mở cho chúng ta biết chân lý tình yêu Thiên Chúa để chúng ta tin.  Rồi Chúa Giê-su đã kiện toàn lòng tin ấy bằng cái chết minh chứng của Người.  Nhất là tác giả nêu lên tấm gương của Chúa Giê-su, “Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế”, tức là chống đối đến độ đóng đinh Người vào thập giá.  Cuối cùng, đoạn thư khích lệ chúng ta rằng:  Chúng ta tưởng nhớ đến gương mẫu Chúa Giê-su cốt là để khỏi sờn lòng nản chí, khi chúng ta phải chiến đấu với tội lỗi hầu giữ vững đức tin và làm chứng nhân cho Chúa trong gia đình, học đường, xã hội và thế giới chúng ta.  Hơn khi nào hết, Giáo Hội hôm nay càng cần đến chứng từ của các Ki-tô hữu trước một thế giới xuống dốc về đức tin và luân lý.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA YÊU THƯƠNG

Lm Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

 Thưa anh chị em,

Lời Chúa chúng ta vừa nghe: “Thầy mang lửa xuống thế gian và Thầy ước mong ngọn lửa ấy bừng cháy lên”, đó là tâm nguyện của Đức Giêsu. Thế giới này ví tựa như một ngôi đền thờ rộng lớn, bổn phận mỗi người cần phải đặt vào đó một ngọn lửa, để thế giới này bừng sáng lên tình Chúa tình người.

Thế thì, ngọn lửa mà Đức Giêsu mang vào thế giới này là ngọn lửa nào? Thưa, chính là ngọn lửa tình yêu bừng cháy từ trái tim của Ngài. Thật vậy, vì yêu thương nhân loại sống trong bóng tối sự chết, Đức Giêsu từ bỏ từ trời cao xuống đất thấp để thắp lên ngọn lửa yêu thương; ngọn lửa của lòng thương xót; ngọn lửa phục vụ đến nỗi hiến thân mình chịu chết, để rồi từ cõi chết sống lại, Ngài xua tan bóng tối tử thần đem lại sự sống mới cho nhân loại.

Thời Cựu ước, Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với ông Môsê trong bụi gai bốc cháy, và trao sứ mạng cho ông dẫn đưa dân Israel ra khỏi ách nô lệ Aicập – thì nay Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta ra đi thắp sáng niềm tin cho những người chưa nhận biết Chúa.

Đức Giêsu đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh, và sai các môn đệ đi làm chứng cho Tin mừng – nay Chúa cũng sai chúng ta ra đi xua tan bóng tối của bất công, hận thù, chia rẽ, để thay vào đó ánh sáng của tình thương.

Xưa kia ngọn lửa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ, biến đổi họ trở thành chứng nhân Tin mừng – ngày nay chúng ta cũng được mời gọi mang ngọn lửa tình yêu để sưởi ấm những tâm hồn đau thương khốn khổ.

Xưa kia tâm hồn hai môn đệ đi làng Emmau đã bừng cháy lên khi nghe Chúa giải thích Thánh kinh, ước gì tâm hồn chúng ta cũng được ấm áp lên mỗi khi nghe lời Chúa dạy bảo.

Nếu nhân loại ngày hôm nay cần cơm bánh để sống còn, thì cũng cần tình thương để tồn tại. Nếu con người cần tấm áo để che thân, thì cũng cần tình thương để sưởi ấm cho nhau.

Khi người Samaria nhân hậu cúi xuống băng bó vết thương cho người bị nạn, ánh sáng tình thương đã bừng lên như tình anh em ruột thịt. Ước gì, chúng ta hãy là những Samaria nhân hậu, đưa những nạn nhân về quán trọ của lòng mình, bằng đôi tay rộng mở, với tấm lòng yêu thương giúp đỡ, hay ít nhất là một lời cầu nguyện cho những người kém may mắn đó.

Anh chị em thân mến,

Ngọn lửa yêu thương Đức Giêsu đã thắp sáng trần gian, và Ngài ước mong chúng ta tiếp tục thắp lên ngọn lửa yêu thương ấy cho thế giới.

 Giáo hội hơn 2.000 năm qua, đã có nhiều tấm lòng vàng như thánh Gioan Thiên Chúa; như mẹ thánh Têrêsa Cancutta, như thánh Gioan Phaolô II, như các chiến sĩ truyền giáo, những người âm thầm phục vụ trong các mái ấm tình thương… Như vậy, ngọn lửa ấy đã có rồi, nhưng còn nhiều giới hạn.

Thật vậy, chúng ta đang sống trong một thời đại, mà dường như không thiếu thứ gì, duy chỉ có tình yêu, tình người và lòng thương cảm đối với nhau ngày càng thiếu vắng, vì “căn bệnh vô cảm” đang lan tràn khắp nơi. Tin tức mỗi ngày cho chúng ta nghe thấy, đó đây vẫn còn chiến tranh, hận thù, nạn kỳ thị chủng tộc màu da và tôn giáo. Như vậy, nhiều nơi bóng tối thiếu tình người vẫn còn che phủ.

Trong một thời đại như thế, lời mời gọi của Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay vẫn còn mang tính thời sự, như một hồi chuông gióng lên, thức tỉnh xã hội, cách riêng những người mang danh mình là Kitô hữu, hãy cùng nhau xây đắp một nền văn minh tình thương và lòng thương xót.

Bởi vì, chỉ có lòng thương xót mới thực sự là ngọn lửa thắp lên để sưởi ấm lòng người; chỉ có lòng thương xót mới có thể vực con người đứng dậy, trở về với Thiên Chúa sau những vấp ngã, đau thương trên cuộc đời này.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, hãy mở rộng tâm hồn và thắp lên ngọn lửa yêu thương, xoá đi những ích kỷ nhỏ nhen, để mọi người nhìn nhau là anh em thực sự con cùng một Cha trên trời.

Ước gì, chúng ta hãy siêng năng đến kín múc ngọn lửa yêu thương từ nơi Thánh Thể Chúa, để rồi chúng ta đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Lạy Chúa, xin đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa yêu thương của Chúa. Xin Chúa soi sáng những tâm hồn còn ngồi trong bóng tối tăm, sưởi ấm những tâm hồn lạnh lùng, thanh luyện những cõi lòng chai đá, để mọi người trên trái đất này cảm nghiệm được ánh lửa yêu thương của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

CUỘC CHIẾN TRIỀN MIÊN

PM. Cao Huy Hoàng

Hậu quả của tội nguyên tổ thật là khủng khiếp! Satan thật giả dối, gian ngoa, quỷ quyệt! Con người khi đã chấp nhận theo sự hướng dẫn của Satan thì chắc hẳn phải đi vào chỗ chết, chết ngàn thu. Đáng buồn thay, cái chết ngàn thu ấy được Satan phát họa bằng một sự sống đầy tham vọng, giàu sang phú quí, đầy dư khoái lạc ở đời này.

Nếu Chúa Giê-su không xuống thế gian này để dùng Lời Ngài và chính cái chết của Ngài mà cứu con người được sống, thì con người vẫn mãi mãi chìm trong cái chết kinh hoàng ấy, trong cái vỏ bọc của một sự sống tưởng như là tuyệt vời!

Rõ ràng là Chúa Giê-su đã đến và khởi xướng một cuộc chiến tranh triền miên trong cõi đất này, cuộc chiến giữa Sự Sống Vĩnh Cửu và Sự Chết Ngàn Thu.

Trong khi Chúa Giê-su, Sự Sống Vĩnh Cửu, muốn cho tất cả con người được sống không chỉ đời này, mà còn đời sau nữa, và đời đời trong Nước Thiên Chúa, thì Sa-tan ‘Sự Chết Ngàn Thu’ lại lôi kéo con người ta về phía chỉ sống sung túc khoái lạc ở đời này, không cần có đời sau, đời đời. Càng nhiều người quên đi, hoặc không cần có đời sau, thì Satan càng mãn nguyện, vì chúng luôn là chống lại Thiên Chúa.

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”.

Chính Lời Ngài đã mở lòng trí con người phân biệt Thiện, ác; sống, chết; thật, giả… và cũng chính Lời Người là sự Thiện, Sự Thật, Sự Sống làm cho cái ác, cái chết, cái giả dối phải hổ người bẽ mặt.

Cuộc chiến ấy, trước tiên ngay trong lòng mỗi người, và từng giây phút, từng ngày. Con người phải tự chia rẽ chính mình. Cũng trong một con người mà cái thiện cái ác, cái thật cái giả vẫn cùng nhau canh cánh. Bao lâu hãy còn sống đây, trên cõi đất này, thì dù là người có học cao, học rộng, có chức, có quyền, có nhiều đời nhiều năm theo đạo, sống đạo…, có ai dám vỗ ngực xưng tên rằng mình đang hoàn toàn thuộc về sự thiện, sự thật, sự sống đời đời.

Thăm viếng và giúp đỡ cụ Gia-cô-bê trong những ngày cụ lâm bịnh nặng, chúng tôi nghe rõ lời tâm sự của cụ với từng đứa con lúc riêng tư ngồi bên cha, chăm sóc cho cha, cũng chỉ một nội dung: “Hành trình Đức Tin là một cuộc chiến triền miên nghe con. Nhớ là: ma quỷ sàng con như sàng gạo. Ma quỷ rất ác độc nhưng cũng rất dễ thương, rất hung dữ nhưng cũng rất hiền lành, rất thô lỗ cộc cằn nhưng cũng rất ngọt ngào, nịnh nọt… Không cảnh giác, con rất dễ thua cuộc đó. Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giê-su mới chiến thắng được con à”.

Thiết nghĩ cụ đang nói đến cuộc chiến triền miên trong mỗi con người. Tôi vẫn tâm đắc nhất là câu kết của cụ: “Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giê-su mới chiến thắng được con à”.

Tôi có cảm giác đây là cả một kinh nghiệm chiến trường của cụ, khi cụ dùng hai từ “tình yêu và sức mạnh” của Chúa Giê-su.

Tình yêu ấy được Chúa Giê-su đề cập trong đoạn đầu Tin Mừng hôm nay: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”.

Ngọn Lửa của Thiên Chúa Cha được Chúa Giê-su mang đến cho trần gian, là lửa của Thánh Thần Chân Lý, lửa của Thánh Thần Tình Yêu: “Ai yêu mến sự Thật, thì nghe tiếng tôi”. “Ai sống trong Tình Yêu là thực sống trong Chúa”.

Như vậy, phàm ai không yêu mến sự thật thì không nghe tiếng Chúa Giê-su, thì chống đối Chúa Giê-su. Từ đó, trong thế giới loài người xảy ra sự phân rẽ giữa những người theo Chúa và người không chấp nhận theo Chúa, theo giáo lý của Chúa, theo con đường của Chúa. Cũng vậy, ai không sống trong Tình Yêu đích thực của Thiên Chúa thì chống lại Thiên Chúa. Không phải là một sự phân chia rõ ràng, một cuộc chiến triền miên đấy sao. Cụ thể hơn, ngay chính trong lòng mỗi người, mỗi người luôn phải ra sức chiến đấu để được sống đời đời, thì hẳn nhiên phải sẵn sàng tuyên chiến với cái giả trá điêu ngoa, với cái ác tiềm ẩn trong lòng, do ma quỷ điều khiển. Không ai có thể ỡm ờ, lấp lững giữa thiện ác, giữa Thiên Chúa, và ma quỷ. Phải dứt khoát với điều Ác để đón nhận cái Thiện của Thiên Chúa.

Ghi nhận cảm nghiệm về một hành trình Đức Tin đã đi qua của một cụ già, thiết tưởng mỗi người chúng ta phải ngộ ra chúng ta đang là những người lính anh dũng trong cuộc chiến tranh triền miên và hơn thế nữa, phải chiến thắng để bảo vệ Đức Tin, làm chứng cho Sự Thật, cho Sự Sống đời đời. Và chỉ trong Giê-su, chúng ta mới chiến thắng trong cuộc chiến triền miên ở cõi đất này, để chúng ta dành lấy một nền hòa bình là chính sự bình an tâm hồn khi hãy còn sống và chiếm hữu một chỗ trong Nước Thiên Chúa, Nước Hòa Bình.

Lạy Chúa Giê-su, xin hãy đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa tình yêu, chân lý. Xin chính Ngài trở nên sức mạnh của mỗi chúng con trong cuộc chiến triền miên gian khó này. A men.

Về mục lục

.

LỬA CHÁY – SỰ THẬT TỎ BÀY

Lm Nguyễn Văn Nghĩa

“Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Thoạt nghe những lời trên của Chúa Giêsu hẳn nhiều người giật mình. Một tôn sư lỗi lạc, một vị đại ngôn sứ, một Đấng Thiên sai mà tuyên phán những lời ấy thì thật chướng tai, khó nghe. Là người, ai cũng đều khát mong được sống trong an bình. “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” là một sự thật hầu như hiển nhiên. Thế thì chúng ta phải hiểu nội hàm lời tuyên bố của Chúa Giêsu trên đây như thế nào?

Để hiểu đúng và tương đối chính xác lời một ai đó thì cần thiết phải xem xét ngữ cảnh khi người ấy nói. Tin mừng thánh Luca tường thuật ngữ cảnh trước đó là việc Chúa Giêsu khử trừ một tên quỷ câm ra khỏi người bị nó ám và người câm nói được (x.Lc 11,14-23). Tiếp đến Người tuyên bố rằng ai nghe và giữ lời Thiên Chúa mới là người có hạnh phúc thật. Rồi Người tự cho mình hơn cả Ngôn sứ Giona khi thẳng thắn công bố sự thật. Tiếp đến Chúa Giêsu nói về sự nhận thức như là ánh đèn dẫn lối chúng ta đi (x.Lc 11,37-36). Sau đó Người khiển trách nhiều người Pharisiêu và nhiều nhà thông luật đã sống và hướng dẫn kẻ khác trong sự lầm lạc cho dù biết họ  sẽ tức tối tìm cách hảm hại Người (x.Lc 11,37-54).  Rồi Người khuyến dụ các môn đệ đừng sợ và hãy can đảm công bố sự thật (x.Lc  12,1-12), đừng lo thu tích của cải đời này nhưng hãy tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và luôn sống trong tinh thần tỉnh thức và sẵn sàng là chu toàn bổn phận với nhưng người được giao phó cho mình chăm nom (x.Lc 12,13-48).

Trong ngữ cảnh này, Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên!” (Lc 12,49). Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đem xuống thế gian chính là ánh sáng chân lý như lời Người khẳng định với Philatô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Ánh sáng chân lý đã bừng lên thì sự thật, sự giả, điều tốt, điều xấu sẽ được phân biệt rõ ràng. Ánh sáng chân lý đã chiếu soi thì sự thiện hảo nhất thời, chóng qua và hạnh phúc đích thực, vĩnh tồn sẽ được biện phân. Cảnh mập mờ của buổi thời hổn mang sẽ bị xoá dần và con người chúng ta cần phải chọn lựa dứt khoát. Chọn lựa là hy sinh. Đau đớn là chuyện thường tình khi phải bỏ cái này để chọn cái kia, nhất là khi cái này đã từng gắn bó với mình và nó chưa hẳn là xấu.

Sự xâu xé trong tâm hồn luôn có đó khi chúng ta phải chọn lựa giữa điều lành và điều dữ, giữa một điều tốt và một điều tốt hơn, giữa hạnh phúc nhất thời và hạnh phúc vĩnh cửu. Bị giằng co, bị xâu xé là một lẽ rất tự nhiên vì điều tốt hơn chưa thực sự ở trong tầm tay và hạnh phúc vĩnh cửu vẫn đang còn ở phía chân trời xa. Đây chính là sự chia rẽ mà Chúa Giêsu muốn đề cập.

Ai đến với tôi mà không từ bỏ cửa nhà, ruộng nương, cha mẹ, vợ con…và không vác thập giá mình thì không thể làm môn đệ của tôi (x.Lc 14,26-27). Dù là một lối nói kiểu so sánh nhưng Chúa Giêsu đã thẳng thừng đưa ra một đòi hỏi có tính triệt đễ rằng phải chọn Người trên hết và trước hết. Tất cả chỉ vì lý do này: Người chính là Thiên Chúa thật, nhờ Người mà mọi được tạo thành. Dĩ nhiên khi đã can đảm chịu xâu xé, chịu bắt bớ để chọn Người làm Thầy và làm Chúa của mình, chúng ta sẽ lại nhận được mọi sự như trên cách gấp bội và nhất là sự sống trường sinh (x.Mc 10,28-30).

Lửa đã cháy lên. Ánh sáng đã đến thế gian, Sự thật đã được tỏ bày. Vấn đề còn lại là sự chọn lựa của chúng ta. Chọn lựa là phải hy sinh. Thiện hảo nào cũng có giá của nó. Dù là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa ban cho, nhưng hạnh phúc vĩnh cửu dứt khoát không phải là thứ hàng hoá rẻ tiền.

Về mục lục

.

LỬA AN BÌNH

 Lm. Bùi Quang Tuấn

Nếu khẳng định Đức Giêsu là “Hoàng tử Bình an”, người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng thừng của Ngài về chính mình: “Các ngươi nghĩ: Ta đến để ban bình an trên mặt đất ư? Không đâu! Ta bảo thật các ngươi, không gì khác ngoài sự chia rẽ! Vì từ nay, trong một nhà có năm người, sẽ có chia rẽ: ba với hai, hai với ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha với con, con với cha…”?

Làm sao có thể hiểu được khi một người vốn tự xưng là “hiền lành và khiêm nhường” lại gây nên bao nỗi phân ly trong gia đình, một cấu trúc cần được hiệp nhất hơn bất cứ một cấu trúc hay tổ chức nào trên thế giới?

Người ta sẽ phải hiểu thế nào câu nói của Đức Giêsu: “Ta đến ném lửa xuống đất và Ta mong sao lửa đó được cháy lên”? Đây có phải là thứ lửa mà anh em nhà Zêbêđê từng đề nghị Chúa đổ xuống đốt trụi dân thành Samari hỗn láo, hay thứ lửa đã thiêu huỷ thành Sôđôma và Gômôra tội lỗi xưa kia chăng?

Khi nhìn vấn đề qua lăng kính “Lưỡi là lửa” trong thư của Thánh Giacôbê, thì lửa của Đức Kitô đã tương phản với thứ lửa hoen ố “do chính hoả ngục nhóm lên” (Gc 3:6). Ngài chính là “Chiếc Lưỡi”—Ngôi Lời của Thiên Chúa, làm phát sinh bao “lời hằng sống”, nung đốt tâm hồn thế nhân và thúc đẩy một hành trình rao giảng. Lời Chúa phải được toả lan đến khắp mọi nơi và sưởi ấm cho hết mọi người.

Lời của Thiên Chúa đã từng thúc bách ngôn sứ Giêrêmia, một con người có tâm hồn diệu hiền và nhạy cảm, sinh ra để yêu mến, thích yên lành hơn gây phiền phức, thành một con người mang sứ mạng ra đi “để nhổ và lật đổ, để huỷ và để phá, để xây cất và để cấy trồng” (Gr 1:10).

Dù luôn cảm thấy mình như một đứa trẻ, nhưng Lời Chúa đã bắt ông đứng dậy, mở miệng ra nói những lời đanh thép và quyết liệt hầu thức tỉnh con cái Israel đang trong cảnh u mê lầm lạc. Thiên Chúa muốn cứu độ Israel qua việc vạch trần các thói hư nết xấu của dân chúng, sự lật lọng giả hình của hàng tư tế, thói bội phản thất ước của hạng quan quyền để từ đó Ngài đòi buộc họ phải có một sự chọn lựa phân minh: phúc hay hoạ, sống hay chết, bình an hay bất hạnh, cậy dựa Thiên Chúa hay con người.

Vì trung thành với sứ mạng truyền đạt Lời Chúa mà ngôn sứ Giêrêmia đã bị dân chúng đối xử tệ bạc. Có lần người ta tìm cách ném ông xuống một giếng bùn cho lún sâu đến chết, hầu không còn tuyên sấm những lời của Giavê nữa. Nhưng một vị hoạn quan người ngoại là Abđêmêlech biết chuyện, đã tìm cách cứu ông ra khỏi giếng bùn. Về sau vì không nghe lời ông, người Do thái đã phản lại vua Babylon và cấu kết với Ai cập. Thế nên chẳng bao lâu, đất nước Giuđa đã rơi vào sự tàn phá kinh hoàng của dân Babylon. Vị ngôn sứ đã bị một nhóm người bắt đưa sang Ai cập. Có lẽ ông đã chết tại đây, giữa những kẻ hằng chống đối giận ghét, vì cớ ông không ngừng nói Lời Chúa để cảnh báo và thúc dục họ.

Theo nhận xét của một nhà chú giải Kinh Thánh là cố linh mục Nguyễn Thế Thuấn,: “Sứ vụ của Giêrêmia quả đã thất bại lúc ông sinh tiền, nhưng dung mạo của ông không ngừng lớn lên sau khi ông chết. Bởi giáo lý của ông về một Giao ước mới, đặt nền tảng trên lòng đạo, tôn giáo nội tâm, ông đã là cha của Do thái-giáo trong cái nhìn tinh ròng nhất… Đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu, nêu cao những liên lạc thân mật mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa, Giêrêmia đã chuẩn bị cho Giao ước mới, và cuộc quên mình chịu đau khổ để phục vụ Thiên Chúa đã biến ông thành một dung mạo của Đức Kitô”.

Như vậy, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, đã phô bày trọn vẹn dung mạo của người ngôn sứ khi phân rõ ánh sáng và tối tăm, điều tốt và điều xấu, chân thật và giả trá, cùng kêu gọi một thái độ rõ ràng: đón nhận hoặc khước từ, bước theo hay chống đối.

Lời ông Simêon nơi Đền thờ đã được xác nhận: “Ngài có mệnh làm cớ cho nhiều người té nhào và chỗi dậy trong Israel, và làm dấu gợi lên chống đối” (Lc 2:34). Như thế tất có sự đối kháng, mâu thuẫn. Trong một gia đình, cộng đoàn, hay dân tộc, sẽ có người tin nhận và có người chống cự, có người tìm được bình an đích thực, nhưng cũng có người tự ru mình bằng thứ bình an giả tạo.

Bình an là nỗi khát khao trầm lặng của nhiều tâm hồn. Nhưng để có bình an đích thật lắm khi tôi phải trả giá bằng chiến đấu và hy sinh. Đây là một trong những điểm “nghịch lý” của Tin Mừng, nơi mà người ta thường bắt gặp những giá trị “trái ngược” như: cho chính là nhận, thu tích là mất đi, ai tìm sự sống sẽ phải chết, ai đành chết thì lại có sự sống…

Thực tế, có biết bao chân lý của Tin mừng đã không được nói ra vì sợ gia đình bất thuận, có bao sự thoả hiệp nghịch luân đã không được nhắc tới vì sợ cộng đoàn bớt người, và có biết bao nhập nhằng tội lỗi xấu xa vì sợ phải mang một vết thương rướm máu trong tâm hồn. Tất cả đều là những nguỵ trang giả dối và bình an trá hình.

Bình an thật sự chỉ có được khi con người biết “đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu” và “nêu cao những liên lạc mật thiết mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa”. Bằng việc nhận chân và nêu cao giá trị tinh thần, cùng sự liên lạc thẳm sâu với Thiên Chúa, mà người môn đệ chân chính của Đức Kitô dám hy sinh những mối quan hệ cao quí trong cuộc đời. Dù đó có là quan hệ ruột thịt thân thương như cha mẹ với con cái.

Chắc hẳn lịch sử Giáo hội không bao giờ quên được hình ảnh của một Phanxicô Assisi, người dám lột bỏ hết mọi giàu sang nhung lụa, trả lại cho người cha trần thế, để chỉ chú tâm kiếm tìm các giá trị thiêng liêng nơi người Cha trên trời. Lịch sử cũng không thể quên được hình ảnh của một Giêrađô Majella quyết liệt trốn nhà ra đi sau khi ghi vội cho mẹ dòng chữ: “Mẹ ở lại. Con đi làm thánh.”

Lại còn nữa hình ảnh của một Charles Cornay đã can đảm bước qua mình song thân, lên đường đi truyền giáo tại Việt Nam, chấp nhận biết bao khốn khó nguy nan, để rồi cuối cùng, dù bị kết án lăng trì, vẫn không dập tắt được ngọn lửa khát khao: làm cho Tin mừng Phúc âm được cháy lên trên mảnh đất xa xôi và nghèo nàn này. Và còn nhiều… còn nhiều lắm các mẫu gương hào hùng của những con người đang tiếp nối việc thực hiện nỗi mong của Chúa Giêsu.

Là người Kitô hữu, tôi cũng được mời gọi dấn bước không ngừng trên hành trình loan báo các giá trị Tin mừng, để lửa yêu thương và bình an được bừng sáng khắp nơi trên thế trần.

Về mục lục

.

THẦY KHÔNG ĐẾN ĐEM BÌNH AN NHƯNG ĐEM CHIA RẼ

Lm. Vũ Mộng Thơ

Thoạt nghe những điều Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay, ai trong chúng ta cũng cảm thấy ngạc nhiên và tự hỏi: Tại sao Chúa Kitô lại mang đến sự chia rẽ… Ngài đã chẳng giảng dậy cho các môn đệ: “các con hãy học với Ta sự hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng thì tâm hồn các con sẽ có được sự bình an” sao? Chúa Giêsu còn nói: “Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống!”. Vậy nếu Chúa là Sự Thật, tức là Chân Lý thì Lời của Ngài không thể sai lầm được, không thể đi ngược hay mâu thuẫn với Sự Thật được. Tại sao và tại sao?

Là có lẽ tại vì chúng ta chưa suy niệm cho đủ và cho sâu Lời Chúa… cũng như trong cuộc đời chúng ta thường có thói quen kết luận “nhanh chóng và gọn nhẹ” những người chung quanh mình nhất là những người không cùng một lập trường với chúng ta, những người mà chúng ta không thích. Tục ngữ Việt Nam đã nói: “Sự Thật thì bao giờ cũng mất lòng”. Ít ra hôm nay chúng ta có thể suy niệm hai điều trong bài Tin Mừng:

– Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.

– Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.

– Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống

Nếu sự thật bao giờ cũng mất lòng thì Chúa Kitô không ngại làm mất lòng trước hết những Đạo sĩ và Biệt phái kiêu căng tự phụ thời của Ngài để rao giảng chân lý cho dân chúng, để lột mặt nạ giả hình của họ: ra luật nhưng không giữ luật, để họ không còn ăn chặn đầu chặn cổ toàn dân, bóc lột xương máu nhân dân… mà vẫn lên mặt dạy đời là “người công chính trước mặt Giavê, là người lo lắng cho quốc gia và vận mạng của dân tộc… Chúa Kitô cũng không như những người tâng bốc chế độ, ve vãn những người có quyền hành trong một quốc gia, một đoàn thể để hưởng lợi và được che chở. Họ chủ trương “gió chiều nào theo chiều ấy” để họ lừa dối lương tâm, quên hết hay mặc kệ lẽ phải, luật của Chúa của Giáo hội để làm những điều sai quấy, những điều thất đức mà ngay chính lương tâm họ cũng không dám tự hào và đêm về cũng không ngủ cho yên. Chúa Kitô còn chấp nhận chính cái chết, một cái chết nhục nhã nhất để làm chứng cho Sự Thật. Vì chính Ngài cũng là Sự Sống và là Đường cho chúng ta nối gót theo Ngài. Sự Thật thì muôn đời vẫn chiến thắng và tồn tại, còn sự gian trá hay những tay sai của sự gian trá chống lại sự thật… thì dù có quyền phép có khôn ngoan như Luccifer, như Lênin, như Hitler… cũng rất chóng bị tan rã. Cũng thế đối với những giáo phái (secte), những chế độ cầm quyền gian trá bóc lột nhân dân trái với lòng Trời thì cũng rất chóng bị tan rã, hạ bệ.

– Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.

Trước hết chúng ta hãy tự hỏi chính mình là đã có bao nhiêu lần tôi đã tự lừa dối chính lương tâm mình… thì đủ biết chúng ta còn rất nhiều thiếu sót trong lãnh vực này. Ai cũng muốn dễ dãi với chính mình nhưng lại rất nghiêm khắc với những người khác. Ai cũng muốn nghe người khác nói tốt về mình, khen tặng mình và không thích những ai chỉ trích phê bình mình. Ta phải tôn trọng sự thật và dám nói lên sự thật đó với con cái, với những ngưòi chúng ta có bổn phận dẫn dắt, dạy dỗ dù sự thật bao giờ cũng mất lòng. Cũng cần phải có “đắc nhân tâm”, sự tế nhị và suy tư cũng như cầu nguyện để thực hiện điều này. Không phải dễ. Chúng ta cần học với Tiên tri Giêrêmia hôm nay dù cho “Ngài đã sinh ra tôi làm người bất thuận sống trên vũ trụ”, dù biết là toàn dân không thích mình một tí nào ca, vì theo Lời Giavê, Tiên tri loan báo toàn những ăn chay hãm mình… nếu không sẽ án phạt. Nhưng Giêrêmia đã phải chiến đấu với chính mình để trung thành với sứ mạng của Giavê của Sự Thật dù với cái chết. Xưa kia các bạo quyền đã giết sạch các Tiên tri, lên án tử hình ngay chính Con Thiên Chúa… thì ngày nay họ vẫn tiếp tục ám sát Gandhi, Luther King, Don Romco, bỏ tù các nhà truyền giáo, bắt giam cha Nguyễn Văn Lý… nhưng chính những vị ấy đã và sẽ chiến thắng… còn bạo lực sẽ rất mau chóng tan rã. Bạn có đồng ý như thế không?

Về mục lục

.

BÌNH AN, NIỀM VUI, ƠN CỨU ĐỘ

An Phong.

Tin mừng chúa nhật 20 thường niên C thuật lại những lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Những lời này gợi lên một viễn cảnh bi thảm cho sứ vụ của Người trên trần gian: đó là cuộc Thương khó trong tương lai, những đấu tranh làm phân rẽ con người với nhau.

Khi vào trần gian, Đức Giêsu đã đưa lửa vào, và Người ước mong lửa đó bùng lên. Theo Kinh thánh, Lửa là biểu tượng hình phạt của Thiên Chúa, nhất là vào lúc tận cùng thời gian. Lửa còn là biểu tượng cho sự thanh tẩy và làm đổi mới. Chúa Giêsu sẽ thực hiện cuộc thanh tẩy tâm linh nhờ Chúa Thánh Thần.

Đức Giêsu cũng nói đến phép Rửa mà Người sẽ phải chịu. Đây là biểu tượng của việc dìm vào đau khổ – cuộc Thương khó. Người sẽ phải “cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình” (Dt 12,4).

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban bình an cho trái đất sao?… Không phải thế đâu, nhưng đúng hơn là để gây chia rẽ”. “Sự chia rẽ là đối cực của sự bình an. Nhưng đây là sự chia rẽ vì Chúa, một sự chia rẽ đi vào qui luật của thập giá: Khi mất đi là khi tìm thấy, khi chết đi là khi được sống muôn đời. Hơn nữa, Đức Giêsu đã hứa: Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Bởi thế Đức Giêsu không đến trần gian để gieo sự bất hòa, nhưng là đem đến sự hiện diện của Thiên Chúa, đồng nghĩa với sự bình an. Sự bình an Đức Giêsu mang đến là sự bình an phải chiến đấu trong chân lý, phải được xây dựng trong khó nhọc, trước hết ở trong chính bản thân ta rồi lan tỏa chung quanh ta: đó là dám chấp nhận những mệt nhọc, đói khát, thua lỗ, nhường nhịn vì những điều lành, biết tách mình ra khỏi những đố kị và muôn vàn những cái vừa vụn vặt vừa tầm thường của cuộc sống. Lương thực của sự bình an luôn là một thách thức” (Văn Hòe).

Trong lịch sử nhân loại, Đức Giêsu Kitô quả thực là một nghịch lý. Người đã nên dấu chỉ cho người ta chống đối. Người đã đóng ấn chứng từ của mình bằng việc tự nguyện hy sinh bản thân trên thập giá. Cuộc sống và cái chết của Người đã trở thành dấu chỉ của tình yêu, hy vọng và sự sống.

Trong một thế giới thiếu vắng hơi ấm tình người, thiếu vắng một niềm hy vọng đích thực và tình yêu, Đức Giêsu đã mang đến lửa tình yêu của Người. Ngọn lửa đó sưởi ấm cõi lòng con người, thắp sáng niềm hy vọng. Đó là ngọn lửa Tình Yêu Cứu Độ, nơi đó tất cả chúng ta được thanh tẩy.

Người kitô hữu là người được “vầng đông từ chốn cao vời tỏa xuống hào quang sáng chói, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,78-79). Thiên Chúa chiếu soi chúng ta, để chúng ta được bình an. Khi cuộc sống có những lo âu, buồn chán, tuyệt vọng, chúng ta hãy tìm đến với ơn Chúa; “ơn Chúa sẽ lôi cuốn bạn, cho tới khi bạn tìm lại được nguồn vui” (thánh Bênađô). Người kitô hữu đích thực là người sống trong niềm vui, bình an và ơn cứu độ của Chúa. Người kitô hữu đích thực thắp lên ngọn lửa tình yêu của Thánh Thần trong lòng mình và nơi người khác.

Phải chăng chúng ta đang sống trong bình an, niềm vui và ơn cứu độ của Thiên Chúa?

Phải chăng chúng ta đang thắp lên ngọn lửa tình yêu, hy vọng và cứu độ để sưởi ấm trần gian?

Lạy Chúa,

Xin đừng để chúng con thất vọng

khi đứng trước khổ đau thử thách.

Xin giúp chúng con nhận ra

giữa những tăm tối vẫn còn ánh sáng,

giữa những đau buồn chóng qua luôn có niềm vui đích thực,

và nhất là giữa những thăng trầm biến đổi

luôn có những hồng ân và sự hiện diện đầy yêu thương.

Về mục lục

.

NGHE DANH THÁNH CHÚA GIÊSU LÀ CỚ MÂU THUẪN

Lm Trần Bình Trọng

Trải qua suốt dòng lịch sử nhân loại, người ta đã dùng lửa để nấu ăn và thiêu đốt, để chiếu sáng và sưởi ấm, để chạy máy và bắn phá. Lửa mang nhiều ý nghĩa khác nhau trong Thánh kinh. Lửa trong Thánh kinh Cựu ước ám chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa như khi ông Môsê thấy Chúa trong bụi cây bốc lửa cháy (Xh 3:2).

Lửa còn được dùng như là hình phạt khi thành Sôđôma bị thiêu hủy (St 19:24). Trong Thánh kinh Tân ước, lửa ám chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa (Cv 2:3). Trong đêm thánh Vọng Phục sinh, lửa mới được làm phép và thắp vào cây nến phục sinh, tượng trưng cho ánh sáng Chúa Kitô. Trong Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu phán: Thầy đã đến đem lửa vào mặt đất, và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên (Lc 12:49).

Lửa Phúc âm mà Ðức Kitô mang đến đã là cớ cho người ta chia rẽ và chống đối ngay từ khi Chúa giáng sinh. Trong Phúc âm hôm nay, Chúa phán: Anh em tưởng rằng Thày đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ (Lc 12:51). Lời Chúa trên đây xem ra có vẻ mâu thuẫn với sứ mệnh và đường lối của Chúa cứu thế.

Khi Chúa cứu thế sinh ra tại Bêlem, các sứ thần ca hát vang dội: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Khi Chúa Giêsu sai các môn đệ đi từng hai người một, Chúa bảo các ông chúc bình an cho nhà mà các ông vào (Lc 10:5). Khi Chúa sống lại từ cõi chết, lời đầu tiên Chúa nói với các môn đệ là lời chào bình an (Mt 28:9; Lc 24:36; Ga 20:19, 21, 26). Và trước khi về trời, Chúa hứa ban bình an (Ga 15:27) cho các tông đồ.

Vậy làm sao người ta giải quyết được những mâu thuẫn này? Nếu hiểu bình an theo quan niệm người đời, người ta sẽ thấy lời Chúa mâu thuẫn. Còn bình an theo nghĩa Thánh kinh không hiểu theo nghĩa vắng bóng chiến tranh. Bình an theo nghĩa Thánh kinh là không thoả hiệp với sự dữ và tội lỗi. Bài trích sách Giêrêmia cho thấy vị ngôn sứ được Chúa sai đến cảnh giác là thành Giêrusalem sẽ bị phá huỷ vì tội lỗi dân thành. Ngôn sứ Giêrêmia bị tố cáo là phản bội vì làm nhụt chí của dân thành với thái độ chủ bại. Kết quả là ngôn sứ Giêrêmia bị bắt và tống ngục. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do thái bảo ta: Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu (Dt 12:4). Ngụ ý lời thánh Phaolô là người tín hữu phải sửa soạn đổ máu trong cuộc chiến đấu với tội lỗi. Ðó là việc mà có những vị tử đạo trong Giáo hội đã làm.

Từ khi mới sinh, Chúa Giêsu đã là cớ cho người ta chống đối. Vua Hêrôđê khi nghe tin Chúa cứu thế giáng sinh, vì sợ mất ngai vàng nên đã ra lệnh giết các trẻ em từ hai tuổi trở xuống (Mt 2:16). Khi Ðức Mẹ dâng Chúa vào Đền thờ, ông Simêon tiên báo là con trẻ sẽ nên cớ cho nhiều người vấp ngã (Lc 2: 34). Cuộc đời Chúa cứu thế trong ba năm giảng dạy là những chuỗi ngày bị người ta chống đối, bách hại và cuối cùng bị lên án tử hình trên thập giá. Như vậy phải chăng Chúa đến gây ra ngọn lửa bất hoà và chia rẽ trong thế gian?

Ngay cả trong một gia đình, cũng có sự chia rẽ vì danh Chúa. Ðọc lịch sử các thánh giúp ta hiểu được tại sao những phần tử trong một gia đình lại phân rẽ, chống đối nhau. Có những vị thánh khi tận hiến đời mình cho Chúa đã bị gia đình phản đối và tẩy chay. Trong cùng một gia đình khi có những người tin theo Chúa, nghe lời Chúa giảng dạy, còn những người khác không tin theo, cũng có thể gây bất hoà và chia rẽ. Ðọc lịch sử Giáo hội, ta thấy đạo Chúa thường bị chống đối. Những cuộc bách hại đạo là bằng chứng của việc chống đối. Khi người Kitô hữu muốn cải cách Giáo hội, muốn đem lửa Kitô giáo làm bừng cháy trong lòng thế giới (Lc 12:49), tẩy chay và chống đối sẽ đến ngay từ trong lòng Giáo hội. Ðó là trường hợp thánh Têrêsa thành Avila, thánh Jean d’Arc, thánh I-nha-xi-ô đã bị lên án và chống đối chỉ vì chỉ muốn cải cách Giáo hội.

Như vậy người ta thấy càng theo sát gót chân Chúa bao nhiêu, người ta càng bị chĩa mũi giùi bấy nhiêu. Tại sao người ta bị chống đối khi mang lửa Phúc âm vào thế gian? Lí do là vì người khác không muốn chấp nhận hi sinh cố gắng, không muốn thay đổi cách sống, không muốn trả giá cả để làm môn đệ Chúa. Khi người ta muốn sống theo đường lối Phúc âm, khác đường lối thế gian, người ta sẽ bị nghi ngờ, tẩy chay và kì thị. Giáo lý của Chúa giảng dạy, đường lối của Chúa đi đã đem lại tẩy chay và chống đối, nghĩa là đem lại chia rẽ ngay cả giữa các phần tử trong một gia đình.

Sự hiện diện của Chuá, lời Chúa giảng dạy, đường lối Chúa đi, thường làm xáo trộn tâm trí loài người trước đã. Chỉ khi nào người ta bất mãn với con người cũ, với lối sống hiện tại, người ta mới có thể chấp nhận giáo lí của Chúa, sống theo đường lối Phúc âm và coi Chúa là trung tâm điểm của đới sống. Lúc đó bình an mới đến trong tâm hồn. Kết quả của việc chấp nhận đường lối Phúc âm là bình an. Ðó là điều mà thánh Âu-tinh đã có cảm nghiệm được khi thốt lên: Lạy Chúa, tâm hồn con còn lo âu khắc khoải mãi, cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa.

Lời cầu nguyện xin cho được bình an trong tâm hồn:

Lạy Chúa, Chúa đã sai Con Một Chúa đến

giao hoà loài người với Thiên Chúa,

và đem bình an đến cho người thiện tâm.

Vậy sao sứ điệp của Chúa cứ làm xáo trộn tâm trí loài người?

Xin cho con được nhận thức rằng:

chấp nhận sứ điệp Phúc âm và sống theo đường lối Chúa đi,

con mới có được sự bình an trong tâm hồn. Amen.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN_C

 Lm Giuse Đinh tất Quý

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”(Lc 12,49)

Những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng này thật kỳ lạ khác thường. Chúng ta còn nhớ có lần hai môn đệ xin Ngài sai lửa từ trời xuống thiêu đốt một làng Samaria không tiếp rước Ngài, thì khi đó Ngài đã mắng hai ông và dùng đường khác mà đi. Vậy mà hôm nay Chúa Giêsu lại nói “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian”. Hay như một lần khác, khi Phêrô đã tuốt gươm ra để bênh cho Chúa lúc quân dữ đến bắt Ngài thì Ngài lại bảo Phêrô hãy xỏ gươm vào bao vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm. Vậy mà hôm nay Ngài lại nói “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, + Thầy đến để đem sự chia rẽ !”.

1. “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!

Vậy thì Lửa mà Ðức Giêsu mang lại là lửa nào?

Phải chăng là thứ lửa trời đã thiêu hủy Sôđôma, hay thứ lửa mà Giacôbê và Gioan định sai xuống để thiêu hủy một ngôi làng Samari? (Lc 9,55)

Phải chăng là thứ lửa mà cây không trái (Mt 3,10), hay những cành nho khô héo bị quăng vào (Ga 15,6)?

Lửa này có phải là lửa kinh khủng của ngày phán xét?

Trong cái nhìn của thánh Luca, lửa mà Ðức Giêsu muốn làm bùng lên trên toàn cầu, chắc là thứ lửa của Phép Rửa trong Thánh Thần (Cv1,5). Lửa này đã ngự xuống từng người vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,3).

Lễ Ngũ Tuần quả là Phép Rửa trong lửa, nhưng đó mới chỉ là một khai mở ban đầu. Còn cần vô số những lễ Ngũ Tuần khác trên thế giới.

Trái đất này càng lúc càng nóng lên. Nhưng lòng con người lại nguội lạnh như hai môn đệ Emmau.

Chúng ta cần cảm thấy chút lửa ấm (Lc 24,32) của người đồng hành xa lạ, nói cho ta về Lời Chúa.

Chúng ta cần cảm thấy ngọn lửa trong tim như Giêrêmia, thúc bách ông phải nói Lời Chúa dạy (x. Gr 20,9).

Ðức Giêsu đã bắt đầu nhóm lửa trên địa cầu. Ðừng làm tắt đi ngọn lửa ấy, nhưng hãy để nó lan ra.

Lửa thiêu hủy những cằn cỗi.

Lửa thanh lọc những ô nhơ.

Lửa làm ấm lại cõi lòng băng giá.

Lửa sáng soi trên bước đường kiếm tìm sự thật.

Chúng ta cần làm cho mong muốn của Ðức Giêsu thành tựu. Nhưng trước hết chúng ta phải là người mang trong tim ngọn lửa của Thánh Thần tình yêu.

Tại một khu phố cổ Ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo. Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường xuyên.

Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiếc lồng đèn. Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu.

Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong đền thờ. Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.

Như Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với Môsê nơi bụi gai cháy sáng và kêu gọi ông đi chu toàn sứ mạng, nay Người cũng sai chúng ta đi loan báo sứ điệp là lửa yêu thương cho trần thế.

Như Chúa Giêsu đã đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh và sai các môn đệ đi loan báo tin vui, nay Người cũng mời gọi chúng ta hãy dùng lửa yêu thương để xua tan bóng tối của bất công, hận thù, nghèo đói c3a những anh chị em chúng ta.

Như Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưới lửa để biến họ thành chứng nhân Nước Trời, nay Người cũng muốn chúng ta mang ngọn lửa tình yêu, thanh luyện và sưởi ấm các tâm hồn.

Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã nhận định rất sâu sắc về ngọn lửa tình yêu này như sau: “Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh”. (TP)

2. “Thầy đến để đem sự chia rẽ”

Thực ra Chúa Giêsu đến trần gian không phải để gây chia rẽ và xáo trộn. Tuy nhiên nhiều khi chính vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xảy ra! Điều này đặc biệt đúng trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai. Khi đó, ai bỏ đạo cũ (đạo Rôma, đạo Do thái) để theo đạo Chúa Kitô thì bị gia đình, bạn bè và hàng xóm ghét bỏ, bách hại. Nhưng những Kitô hữu ấy biết làm gì khác hơn được: chọn bên này thì phải bỏ bên kia, và bên bị bỏ sẽ thù ghét mình.

Dù Chúa Giêsu rất hiền lành nhưng, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ: Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống lại Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà hãy tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giàu nổi giận v.v.

Trong Tin Mừng có đầy dẫy những lời chói tai như thế của Chúa Giêsu. Nếu chúng ta chỉ lựa ra những lời thuận tai để đọc thì Tin Mừng chẳng mang lại ích lợi gì cho chúng ta. Ngược lại, chính những lời làm ta khó chịu, những lời có tính cách quấy rối lương tâm chúng ta mới là những lời giúp chúng ta hoán cải và tìm được ơn cứu độ.

Perpetua là một người phụ nữ vừa mới sinh được một đứa con. Chị sống vào thời hoàng đế Septimô Sevêrô. Gia đình Perpetua là một gia đình danh giá. Perpetua đang học giáo lý với Satunô thì bị bắt. Thấy học trò của mình bị bắt, Satunô cũng tự ra nộp mình.

Cha của Perpetua là một người thờ ngẫu tượng. Ông đến xin con bỏ đạo Chúa mà quay trở về với các thần tượng của ngoại giáo. Perpetua đưa tay chỉ vào một cái bình rồi nói với Cha: “Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không? Đối với con cũng vậy, con không thể cho con một cái tên nào khác ngoài cái danh hiệu là Kitô hữu của con”

Tức giận quá ông đánh cho Perpetua một trận rồi bỏ đi. Sau đó Perpetua không thấy cha trở lại. Chính trong thời gian này Perpetua được rửa tội cùng với một số bạn bè khác. Ngày được trở thành Con Thiên Chúa, Perpetua chỉ cầu xin có một điều. Nàng xin cho có được đủ sức mạnh để chịu đựng nổi những đau khổ của cuộc tử đạo.

Trong nhà giam, Perpetua nhớ đứa con của mình. Chị rất phải đau khổ vì phải xa con. Nhưng rất may, đứa bé vì không có mẹ nên kiệt sức. Người ta phải trả lại đứa be cho mẹ của nó. Nhận lại được đứa con, Perpetua vui sướng, quên hết mọi khổ đau.

Vì biết con mình sắp bị án tử, cha của Perpetua đến gặp con và năn nỉ thảm thiết: “Con ơi! Hãy thương mái tóc bạc của ba. Hãy nhớ đến đôi tay này đã nuôi dưỡng con bao ngày. Hãy thương mẹ của con, anh em con và đứa con nhỏ con đang bồng ẵm trên tay. Không có con, cháu sao sống được. Con hãy bỏ đạo, bỏ điều quyết định làm cho chúng ta mất tất cả.

Mặc dầu rất cảm động và đau khổ trước những lời của cha nhưng Perpetua chỉ biết trả lời: “Thưa cha, tại tòa án sẽ xảy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình”.

Về mục lục

.

ĐỐT LỬA TIN YÊU

Trầm Thiên Thu

Bốn chất kết hợp thành vạn vật trong thiên nhiên là Lửa, Đất, Khí và Nước. Thật kỳ lạ trong Việt ngữ, vì cả bốn chất đều phát âm với thanh trắc, cho thấy điều gì đó “sắc bén” lắm. Thật vậy, bốn chất đó rất cần trong cuộc sống, thiếu thứ gì thì khổ thứ đó – nghĩa là không thể thiếu.

LỬA thể hiện tuổi trẻ, với niềm đam mê hừng hực, sôi nổi, không đắn đo đôi khi liều lĩnh, có thất bại rồi lại cháy lên lửa lạc quan với ước mơ và hoài bão. ĐẤT thể hiện sống có trách nhiệm, ý thức hơn, cẩn trọng và thực tế hơn. KHÍ (Gió) thể hiện sự an toàn, hướng ra thế giới rộng lớn, muốn kết nối với mọi người, mọi vật, để trải nghiệm cuộc sống. NƯỚC thể hiện sự khép lại cuộc đời dần dần, như xuôi theo dòng chảy tìm một chốn an nghỉ.

Bốn chất đó gọi là “tứ đại”. Chúng có vẻ “đối nghịch” nhau nhưng lại lại luôn hài hòa. Trong cuộc sống cũng vậy, có những điều tưởng xuôi mà hóa ngược, tưởng ngược mà lại xuôi; và cũng có nhiều điều tưởng chừng là nghịch lý, nhưng thực ra lại là thuận lý – gọi là nghịch-lý-thuận. Đối lại là thuận-lý-nghịch, tưởng xuôi mà lại ngược, tưởng hên mà hóa xui. Triết lý cuộc đời khá nhiêu khê, không hề đơn giản!

Đó là khái niệm của loài người về vấn đề dạng đối lập (phải – trái, trên – dưới, trước – sau, xuôi – ngược, lên – xuống,… ), đối với Thiên Chúa thì khác hẳn, không lệ thuộc bất cứ thứ gì. Chính Chúa Giêsu đã cho biết: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được” (Mt 19:26; Mc 10:27).

Lửa đa dụng: thắp sáng, làm khô, làm chín, thiêu hủy,… Sử dụng đúng thì lửa hữu ích, sử dụng không đúng thì lửa tác hại. Ánh nắng là một dạng lửa rất cần thiết cho mọi loài, mọi vật. Lửa là chất hữu hình mà như chất khí, không thể cắt đứt, nhỏ mà to, to mà nhỏ, càng chia sẻ càng thêm nhiều chứ không bị giảm bớt. Thật kỳ lạ! Ngày xưa, Thiên Chúa dùng “cột lửa” để dẫn đường cho dân đi đúng hướng vào ban đêm (Xh 13:22) trong suốt thời gian họ đi qua sa mạc để về miền đất hứa. Cả màn đêm dày đặc cũng không thể dập tắt được một đốm lửa nhỏ. Lại thêm một sự kỳ lạ nữa.

Từ xưa, Kinh Thánh đã đặt vấn đề và xác định: “Thiên Chúa làm cho đất trổ sinh dược liệu; những thứ đó, người khôn chẳng dám coi thường. Chẳng phải nhờ khúc gỗ mà xưa nước ra ngọt khiến cho người ta thấy hiệu năng của khúc gỗ hay sao? Cũng chính Thiên Chúa cho con người được hiểu biết để tôn vinh Người vì những việc lạ Người làm” (Hc 38:4-6). Quả thật, “tất cả đều là hồng ân” (Rm 4:16), đúng như Thánh Vịnh đã so sánh: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127:1). Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).

Tác giả sách Huấn Ca kết luận: “Như thế công việc của Người vẫn tiếp tục cho đến khi thiên hạ được an lành” (Hc 38:8). Và rồi còn đưa ra lời khuyên thực tế: “Con ơi, khi đau ốm, con chớ coi thường, nhưng hãy cầu xin Đức Chúa, Người sẽ chữa lành cho. Hãy từ bỏ lỗi lầm, hành động cho đúng đắn, thanh tẩy tâm hồn sạch mọi tội khiên” (Hc 38:9-10). Tâm an thì thân khỏe, tâm rối thì xác loạn. Khoa học cũng đã chứng minh đúng như vậy. Những người hay ghen ghét, hờn giận, thù hằn,… dễ bị bệnh hơn những người hiền dịu, yêu thương, cảm thông, tha thứ,… Tính xấu “tích tụ” nhiều hóa tâm bệnh, tâm bệnh dẫn tới thể bệnh.

Chắc hẳn ai cũng đã từng trải nghiệm nhiều nỗi khốn khó trong cuộc sống đời thường hoặc tâm linh, và cũng có thể cảm nhận như Thánh Vịnh gia: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong, khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đặt chân tôi đứng trên tảng đá, làm cho tôi bước đi vững vàng. Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” (Tv 40:2-4). Thiên Chúa yêu thương và chúc phúc cho chúng ta (Đnl 7:13), luôn ở với chúng ta và không bỏ rơi chúng ta (Đnl 31:8).

Thế nhưng vẫn luôn có nhiều thứ nghịch lý trong cuộc sống, có thể chúng ta lại gặp bất trắc, bởi vì đau khổ luôn xuất hiện để tôi luyện chúng ta, và cũng là “lời nhắc khéo” để chúng ta không “ngủ quên trên chiến thắng” mà hóa kiêu ngạo. Do đó mà phải kiên trì và tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót bằng cách không ngừng tha thiết cầu nguyện: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, nhưng Chúa hằng nghĩ tới. Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, lạy Thiên Chúa con thờ, xin đừng trì hoãn!” (Tv 40:18). Cứ an tâm, vì Ngài nghe từ sáng sớm (Tv 5:4).

Từ khi có loài người tới nay, có lẽ Thánh Gióp là người “trắng tay” giống Chúa Giêsu nhất. Ông chịu những nỗi đau khổ đến tột cùng, bị người đời nguyền rủa, kể cả người vợ yêu quý, vì họ cho rằng ông bị đủ thứ hoạn nạn là do ông thế này thế nọ. Và rồi khi các con ông đang ăn tiệc uống rượu trong nhà người anh cả, bỗng có một trận cuồng phong thổi tới xoáy mạnh khiến căn nhà sập xuống đè họ chết hết, chỉ có một người thoát nạn về báo cho ông hay. Lạ thay, ông Gióp trỗi dậy, không buồn giận, thản nhiên xé áo mình, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Khổ tột cùng mà vẫn tạ ơn Chúa, đức tin của ông Gióp thật vĩ đại. Giả sử chúng ta bị hoạn nạn như vậy thì sao? Liệu đức tin còn vững vàng hay bị lung lay? Đã từng có những người dám nguyền rủa trời đất chỉ vì chuyện nhỏ chứ chưa phải chịu nỗi đoạn trường quá đỗi như ông Gióp. Có qua gian nan mới biết ai thế nào, đồng hay thau sẽ rạch ròi ngay.

Người ta ví cuộc sống là thương trường, và còn hơn thế nữa, mà như chiến trường, vì luôn phải chiến đấu với đủ thứ đau khổ, và cam go nhất là chiến đấu với chính mình, thế nên rất cần đức tin mạnh mẽ. Thánh Phaolô nói: “Phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” (Dt 12:1-20). Đức Tin thực sự rất cần thiết cho hành trình tâm linh xuyên suốt cuộc lữ hành trần gian này, và người ta nên công chính là nhờ đức tin mạnh mẽ (Cv 13:39; Rm 3:22, 26, 28, 30). Chính Tổ phụ Ápraham cũng đã nhờ tin mà được công chính hóa (Rm 4:11-13).

Trong cuộc chiến trần gian này, muốn chiến đấu ngoan cường thì nghe lời khuyên của Thánh Phaolô: “Anh em hãy TƯỞNG NHỚ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí. Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu. Thiên Chúa lấy tình cha mà giáo dục” (Dt 12:3-4). Chúng ta có “máu chảnh” nên thường viện đủ cớ để tự biện hộ cho mình.

Theo lẽ thường, chúng ta không thể nào chấp nhận những nghịch lý cuộc sống, nếu không vững tin. Chính cuộc đời Chúa Giêsu cũng đã đầy những nghịch lý. Và có lẽ chúng ta khá “sốc” khi nghe Ngài xác định: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất! Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12:49-51). Bình an và chia rẽ, “chỏi” nhau lắm!

Lại nói về Lửa. Lửa rất mềm nhưng lại rất mạnh, không gì có thể cưỡng lại. Một đốm lửa thì gió thổi tắt, thậm chí hơi thở của chúng ta cũng có thể thổi tắt, nhưng ngọn lửa lớn thì gió càng to càng làm lửa cháy bùng lên. Trong đó cũng có điều nghịch lý. Lạ thật! Những vụ hỏa hoạn và cháy rừng đủ minh chứng sức mạnh của lửa, mà bắt đầu chỉ là một chút lửa – bởi một que diêm hoặc một tia lửa điện.

Lĩnh vực tâm linh cũng tương tự. Lửa mến leo lét thì dễ bị tắt ngúm khi gặp gian nan, nhưng lửa mến mạnh mẽ thì không gì cản nổi – kể cả tử thần, vì thế chúng ta rất cần nỗ lực nhiều để có thể xác tín như Thánh Phaolô: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8:39). Chính ngọn lửa cháy bỏng đó đã tạo nên những thánh nhân, rõ nét là các thánh tử đạo, cụ thể là Thánh PT Lôrensô (tử đạo ngày 10-8-258).

Sự bình an và sự chia rẽ – đối mà không nghịch, đặc biệt là ý nói của Chúa Giêsu: “Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng” (Lc 12:52-53). Ôi chao, xem chừng rất nghịch lý, thế nhưng lại không phải vậy. Ngài chỉ nói sự thật, mà sự thật thì vĩnh hằng, như Ngài có lần minh định: “Sự thật sẽ giải thoát quý vị” (Ga 8:32). Đêm tối không che nổi đốm lửa, gian ác không thể đánh bại công lý. Cây kim sự thật sẽ có lúc lòi ra từ chiếc bao độc ác.

Chắc chắn bất cứ ai dám sống theo Cách Giêsu, đi trên Đường Giêsu, nói Lời Giêsu, làm theo Kiểu Giêsu,… đều bị coi là dại dột, ngu xuẩn, điên rồ, thậm chí còn bị ghen ghét hoặc bị bách hại. Cuộc sống đã và đang cho thấy rất rõ ràng. Có loại nghịch lý hóa thuận lý: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Lc 9:50). Tương tự, nghịch cảnh vẫn có thể trở thành thuận cảnh để chúng ta gặp được chính Đức Kitô, Đấng đã chuyển bại thành thắng, dùng nhục hình thập giá để làm bàn đạp tới vinh quang. Đau khổ là một loại đòn bẩy hiệu quả.

Lạy Thiên Chúa nhân lành, xin ban thêm đức tin cho chúng con (Lc 17:5) và củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con (Mc 9:24), xin khơi lửa yêu mến để chúng con đủ sức vượt qua mọi nghịch cảnh và đi xuyên qua đau khổ hằng ngày. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA TÌNH YÊU-

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP. 

          Đức Giêsu hay có kiểu nói nghịch lý làm cho người ta ngạc nhiên khi mới nghe và chưa hiểu hết ý nghĩa tàng ẩn trong đó. Chẳng hạn trong bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu nói :”Thầy đã đến ném lửa vào trần gian… Các con tưởng rằng Thầy đến đem hòa bình cho trần gian ? Thầy bảo cho các con biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ(Lc 12,49.51). Nếu Đức Giêsu được gọi là “Hoàng tử của Bình an”, hiền lành và khiêm nhường không mang sự hòa bình cho trần gian mà chỉ đem đến sự chia rẽ. Như vậy Ngài muốn nói gì ?

          Đức Giêsu muốn nói cho chúng ta biết rằng sứ mạng của Ngài là xuống trần gian chịu chết để đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người và thanh luyện con người. Thi hành được sứ mạng đó không phải là dễ vì những lời rao giảng của Ngài phải nói lên chân lý và nói lên chân lý thì sẽ đụng chạm đến nhiều người đang chà đạp lên chân lý vì  như người ta nói :“sự thật mất lòng”. Tiên tri Giêrêmia trong bài đọc 1 hôm nay là hình bóng Đức Giêsu. Ông nói sự thật cho dân chúng, nhưng họ không muốn nghe, lại còn hành hạ và muốn giết chết ông. Đức Giêsu cũng phải đi theo con đường đó và Ngài muốn cho việc thi hành sứ mạng đó chóng hoàn tất.

          Ngài đến để đem hòa bình cho nhân lọai, nhưng không phải là thứ hòa bình ru ngủ của trần gian mà là thứ hòa bình thật của Thiên Chúa. Thứ hòa bình này chỉ có thể lãnh được khi người ta đã nỗ lực thi hành Lời Chúa và phải tôi luyện bằng Thập giá. Vì thế, Lời rao giảng của Ngài sẽ gây chia rẽ giữa nhiều người, ngay những người trong một gia đình. Sở dĩ có sự chia rẽ là vì có người tin theo Chúa, có người không tin theo, lại còn chống đối nữa. Vậy là có sự chia rẽ giữa người tin và không tin. Đức Giêsu đòi chúng ta phải xác định lập trường, phải có sự lựa chọn : tin theo hay không tin theo. Nếu đã chấp nhận tin theo thì cũng phải chấp nhận con đường của Chúa đã đi : phải hy sinh tất cả để trung thành với Chúa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA. 

          +  Bài đọc 1 : Gr 38,4-10.

          Thời tiên tri Giêrêmia, dân Do thái phạm tội nhiều, nên Thiên Chúa để cho quân thù là đế quốc Babylon bao vây. Là người hiền lành, nhạy cảm, yêu quê hương, Giêrêmia phải tuân lệnh Thiên Chúa, đi nói những lời nguyền rủa trên dân mình để khuyến khích họ ăn năn sám hối và quay về nương tựa vào Chúa, nhưng họ cứ tiếp tục đi theo con đường sai lầm đó. Ôâng còn bị cáo giác là chủ bại và cộng tác với quân địch. Vì những lời nói thật đó, ông bị kết án vứt xuống giếng sâu, nhưng Chúa đã cho người cứu vớt ông.

          Hôm qua cũng như hôm  nay, vị tiên tri phải trải qua kinh nghiệm xương máu để biết được rằng “Sự thật thì mất lòng”. Đó là số phận của nhà tiên tri, người làm chứng về sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa. Ngoài ra, việc Giêrêmia bị bỏ xuống giếng là hình ảnh tử nạn của Đức Giêsu và việc Giêrêmia được thóat chết là hình ảnh của Chúa sống lại.

          +  Bài đọc 2 : Dt 12,1-4.

          Trong khi chúng ta dấn thân cho Nước Chúa, được nghe đoạn thư gửi cho người Do thái sau đây, chúng ta cảm thấy được an ủi và nâng đỡ rất nhiều. Hồi ấy, các Kitô hữu gốc Do thái đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Một mặt họ bị các đồng đạo Do thái cũ thù ghét và coi họ là những người phản đạo, mặt khác họ cũng bị bách hại bởi đế quốc Rôma.

          Thánh Phaolô đôi khi ưa dùng ngôn ngữ thể thao, Ngài ví cuộc sống của Kitô hữu như một cuộc chạy đua, cần phải có nhiều sức dẻo dai, mắt nhìn thẳng vào Đức Giêsu, chính Ngài cũng gặp phải muôn vàn khó khăn, nhưng đã kiên trì chiến đấu và cuối cùng đã chiến thắng tất cả. Hãy noi gương Ngài và dựa vào sự trợ giúp của Ngài mà chiến đấu.

          +  Bài Tin mừng : Lc 12,49-53. 

          Bài Tin mừng hôm nay có hai ý chính :

a) Đức Giêsu có sứ mạng xuống trần gian để thanh luyện trần gian và Ngài ước cho việc thanh luyện ấy sớm hoàn thành. Ngài cũng báo trước sẽ phải qua một cuộc khổ nạn và việc thanh luyện ấy chỉ hoàn thành sau khi Ngài chịu nạn chịu chết và sống lại.

b) Đức Giêsu dùng hai hình ảnh “hòa bình” và “chia rẽ” để kêu gọi người ta  phải có thái độ lựa chọn trước Tin mừng của Ngài. Sứ mạng của Ngài là chịu chết để chuộc tội cho loài người. Ngài tự hiến mình chịu chết, không còn lựa chọn nào khác khi Ngài muốn hoàn thành đến cùng sứ mạng được giao phó. Nhưng một quyết định như thế càng thêm những chống đối và sẽ gây chia rẽ trong chính lòng dân tộc được chọn : một số người sẽ hoán cải, một số người khác thì không, một số người tin theo, một số người không.

       Lời rao giảng của Ngài sẽ gây chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ còn xẩy ra ngay trong lòng một gia đình.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. ĐỨC GIÊSU ĐEM LỬA XUỐNG TRẦN GIAN.

  1. Điều Đức Giêsu muốn nói.

          Khi đọc bài Tin mừng hôm nay, chúng ta không khỏi thắc mắc : Nếu khẳng định Đức Giêsu là “Hòang tử của Hòa bình”, người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng thừng của Ngài về chính mình :”Thầy đến đem lửa xuống trần gian… Thầy đến không phải để đem hòa bình, nhưng là đem sự chia rẽ”?  Làm sao có thể hiểu được khi một người vốn tự xưng là “hiền lành và khiêm nhường” lại gây nên sự xáo trộn, gây nên nỗi phân ly trong gia đình, một cấu trúc cần được hiệp nhất hơn bất cứ một cấu trúc nào hay tổ chức nào trên thế giới ?

          Người ta phải hiểu thế nào câu nói của Đức Giêsu :”Thầy đến đem lửa xuống trần gian và Thầy muốn sao lửa đó được cháy lên” ? Vậy lửa Đức Giêsu đem đến trần gian là thứ lửa nào?

  1. Lửa trong Thánh Kinh.

          Trong Thánh Kinh lửa được dùng để chỉ ý nghĩa của hai khía cạnh tích cực và tiêu cực : ngọn lửa ở thiên đàng và ở hỏa ngục. Ngọn lửa là hình ảnh của sự hiện diện thiêng thánh của Thiên Chúa khi ông Maisen gặp gỡ Ngài giữa bụi gai đang cháy (Xh 3,2), hay cột lửa đã hướng dẫn dân Do thái trong sa mạc (Xh 13,21), và ngọn lửa từ trời xuống thiêu hủy thành Sôđôma và Gômôra (St 19,24).

          Sức mạnh của Lời Chúa như lửa nơi miệng tiên tri Giêrêmia (Gr 5,14), và ngọn lửa tiên tri Isaia nhìn thấy trong đền thờ đã thanh tẩy môi miệng ông (Is 6,6) trở nên thanh khiết để ngài loan báo sứ điệp cho dân chúng. Tiên tri Eâlia được ví như ngọn lửa, và lời giảng của Ngài như đuốc cháy (Hc 48,1).

          Ngọn lửa của Thần Khí đậu trên các Tông đồ và ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2,3). Mưa lửa từ trời xuống như một phần của sự phán xét trong ngày tận cùng của thế giới (Lc 17,29). Lửa là những thử thách (1Pr 4,12).

          Trong bài Tin mừng hôm nay (Lc 12,49-53), Đức Giêsu phán cùng các môn đệ rằng :”Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên”(Lc 12,49). Tôi tin rằng lửa mà Luca muốn nói ở đây chính là “ngọn lửa của Thần Khí” đã được ban xuống trên các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2,3-4) với sức mạnh và tình yêu Thiên Chúa để đi rao truyền Tin mừng khắp muôn dân (Cv 1,8). Ngọn lửa của Thần Khí thanh luyện linh hồn chúng ta  khỏi sự ích kỷ và kiêu căng, nguồn gốc gây ra tất cả mọi sự thù nghịch và báo oán.

(Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa giữa dòng đời, năm C, tr 282-283).

Đức Giêsu mong uớc “ban Thần Khí” cho thế gian. Ngài nói rằng đó là nhiệm vụ duy nhất của Ngài :”Thầy đến vì việc đó”. Chúng ta hãy thử tưởng tượng Đức Giêsu như một người đang ước mong, mang trong mình một dự án lớn lao. Đức Giêsu hăng say với dự án đổi mới toàn thể địa cầu. Lấy lại hình ảnh ấy, một bài ca hiệp lễ hát rằng :”Là kẻ ăn mày lửa, tôi nắm tay Chúa trong tay tôi, như người ta cầm trong tay mình ngọn lửa cho mùa đông và Chúa trở thành đám cháy thiêu đốt thế gian”. Đức Giêsu trở thành một sức mạnh nhiệt thành mới mẻ cho nhiều người hôm nay. Ở giữa những việc tầm thường hằng ngày, chúng ta có thể đốt lên “ngọn lửa nồng nàn của tình yêu”.

  1. Mâu thuẫn giữa hòa bình và chia rẽ.

Đức Giêsu nói :”Các con tưởng Thầy đến  để đem sự bình an đến thế gian ư ? Không phải thế đâu, Thầy đến để đem sự chia rẽ”. Với tư cách là một người hiền lành và khiêm nhường trong lòng, làm sao Đức Giêsu đã đến trần gian để gây chia rẽ và xáo trộn ? Tuy nhiên, nhiều khi  vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xẩy ra.

Chúng ta cần hiểu rằng : bằng hai chữ  hòa bình và chia rẽ, Đức Giêsu kêu gọi người ta  chọn lựa thái độ trước Tin mừng của Ngài (Lc 51-53) : Nhiều người nghĩ rằng Đấng Messia là Đấng mang hòa bình đến (x. Is 9,5), Đức Giêsu xác nhận là đúng thực, sứ mạng của Ngài là một sứ mạng Hòa bình (Is 9,tt; Dcr 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15). Nhưng Ngài thấy cần giải thích thêm : chữ “Hòa bình” có nhiều nghĩa : hòa bình kiểu thế gian và hòa bình của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình kiểu thế gian, mà là thứ hòa bình của Thiên Chúa. Thứ hòa bình của Thiên Chúa mà Đức Giêsu mang đến, người ta chỉ sẽ nhận được sau khi người ta đã cố gắng chiến đấu để sống theo Tin mừng của Ngài.

          Thực tế cho thấy là sứ vụ của Đức Giêsu đã gặp chống đối, và Lời rao giảng của Ngài đã gây chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ xẩy ra ngay trong lòng một gia đình (Carôlô, Hạt giống nảy mầm, Chúa nhật năm C, tr 141).

          Dù Đức Giêsu rất hiền lành, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ : Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống đối Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giầu nổi giận v.v…. Trong Tin mừng không thiếu gì những lời nói chói tai như thế, nhưng Đức Giêsu cũng cứ nói, vì “thuốc đắng đã tật”.

II. ĐỨC GIÊSU ĐÓN NHẬN SỰ CHỐNG ĐỐI.

  1. Thao thức mãnh liệt của Đức Giêsu

          Khi nói về Đức Giêsu thường chúng ta chỉ chú trọng vào thiên tính mà quên đi nhân tính của Ngài. Vì thế mà không thấy tính gần gũi, dễ thương, dễ mến cách tuyệt vời của Ngài. Nguyên về mặt nhân bản, Đức Giêsu quả là một con người đặc biệt. Chúng ta đã từng thấy Đức Giêsu nhạy cảm như thế nào  khi Ngài chạnh lòng thương trước đám đông, khi Ngài xúc động khóc trước mồ Lazarô. Bài Tin mừng Giáo hội đọc trong phụng vụ hôm nay, giúp chúng ta khám phá thêm về Đức Giêsu : cùng với một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm ít ai có, Ngài còn có một hệ thần kinh thép và trong lòng ấp ủ những hoài bão lớn lao :”Thầy đã đem lửa vào thế gian và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! Thầy còn có một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”.

          Hoài bão của Đức Giêsu là gì nếu không phải là biến đổi thế giới này thành Trời mới Đất mới ? Thao thức của Đức Giêsu là gì nếu không phải là thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa là xây dựng Nước Thiên Chúa, Vương quốc và Triều đại của Thiên Chúa trong mỗi tâm hồn, mỗi cộng đồng, mỗi xã hội con người ? Trời Mới Đất Mới là không gian trong đó con người vui hưởng hạnh phúc thật là nhận biết, tôn thờ Thiên Chúa và yêu thương nhau. Nước Thiên Chúa, Vương Quốc và Triều Đại của Thiên Chúa là thế giới của Sự Sống, của Yêu Thương, của Bình An và Hoan Lạc.

          Để thực hiện hoài bão lớn lao và cao đẹp ấy Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh mất mát, thậm chí cả sự hủy diệt bản thân mình. Hơn nữa, Ngài còn nóng lòng mong đợi cuộc Khổ nạn mau tới như mong đợi những ngày tốt đẹp, tuyệt vời nhất của đời mình.

  1. Tiên tri Giêrêmia là hình bóng Đức Giêsu

          Bài đọc 1 hôm nay mô tả cuộc bách hại tiên tri Giêrêmia. Các Kitô hữu luôn coi ông  như một hình bóng của Đức Giêsu. Ôâng là tiên tri ngay thời còn nhỏ tuổi. Ông sống ơn gọi của mình trong một thời kỳ đầy biến động. Người ta chứng kiến sự thất bại của Israel, sự tàn phá thành Giêrusalem và đền thờ. Ông là lương tâm của đất nước ông. Ôâng thương yêu tha thiết dân tộc ông và không bao giờ đánh mất niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa cứu chuộc dân Ngài. Trước những lời nói tiên tri chân thật của ông, nhiều người thù ghét ông và tìm cách giết hại ông. Nhưng cuối cùng ông đã được cứu.

          Đức Giêsu cũng thế : ngay từ những trang đầu của Tin mừng chúng ta đã thấy Đức Giêsu bị các nhà lãnh đạo đương thời bấy giờ đối xử như thế nào. Ngài đến với những lời chân thật, hằng sống, nhưng người nhà không tiếp rước Ngài, vì cho rằng  Ngài là mối nguy cơ đe dọa địa vị, quyền lợi tôn giáo, xã hội và chính trị (dĩ nhiên bao gồm cả kinh tế) của họ. Thật ra Ngài chỉ là “tiêu chuẩn” để con người chọn lựa : theo và đón nhận hoặc không theo và từ chối Thiên Chúa. Người ta không có quyền không chọn lựa ! Nhưng người ta có quyền chọn không đón nhận Đức Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa Tình thương. Và chính do chọn lựa này mà mỗi người mỗi ngả.

  1. Vì Tin mừng, phải chấp nhận chống đối.

          Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu đã vạch ra điều sẽ dẫn Ngài đến cái chết, và những người môn đệ bước theo Ngài cũng sẽ phải gặp  đủ thứ đụng chạm xung khắc (Mt 10,22). Đức Giêsu đã bị chết không chỉ vì những lời rao giảng yêu thương, nhưng còn vì Tin mừng tự do của Ngài đã xung khắc với các nhà cầm quyền tôn giáo và chính trị. Họ coi Ngài chỉ là con người gây rối và họ nhìn thấy Ngài chỉ là một sự đe dọa cho những địa vị và quyền hành của họ.

          Không phải Đức Giêsu không muốn bình an vì Ngài Là “Hòang Tử của Bình an”, nhưng khi Ngài bênh vực cho những giá trị tinh thần, phục vụ cho công lý và giải phóng nhân lọai khỏi những ràng buộc của tội lỗi, thì chắc chắn phải đụng chạm với quyền lực đang muốn duy trì chúng lại.

          Đức Giêsu bị người ta ghen ghét. Lòng ghen ghét không đơn giản chút nào, nhiều khi nó rất phức tạp khó lường. Không phải người ta chỉ ghét những điều xấu, người ta có thể ghét cả những điều tốt nào không phù hợp với người ta. Thí dụ kẻ nói dối ghét người nói thật, kẻ buôn gian bán lận ghét người buôn bán thật thà.

          Chính vì thế mà Đức Giêsu khuyến cáo các Kitô hữu phải chấp nhận bị ghét, có thể bị giết  bởi chính những người thân của mình và ngay trong gia đình mình :”Từ nay 5 người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, 3 chống lại 2 và 2 chống lại 3. Cha chống đối con trai và con trai chống đối cha. Mẹ chống đối con gái và con gái chống đối mẹ…” Tình trạng này đã xẩy ra trong Giáo hội sơ khai và vẫn xẩy ra luôn mãi. Lịch sử các vị tử đạo đã chứng minh : những người theo đạo thường bị chính quyền hoặc đồng đạo mình ghét bỏ. Hoặc là trong một gia đình ngoại giáo, có một người trở lại đạo, là để kết hôn với người có đạo chẳng hạn, cha mẹ không bằng lòng. Thế là có sự xung khắc giữa cha mẹ và chính người con của mình.

Truyện : Chấp nhận bị chửi.

          Trong một buổi huấn đức tại đại chủng viện Mundelein vào khoảng năm 1992, Đức cố hồng y Joseph Bernadin của tổng giáo phận Chicago đã tâm sự rằng, từ ngày ngài về lãnh trách nhiệm ở Chicago, mỗi ngày đều đặn, không sót một ngày, có một lá thư gửi đến chửi ngài là “son of bitch” –“chó đẻ” ! Vì sao ?  Vì ngài theo giảng huấn của Giáo hội chống lại các thứ tệ đoan xã hội, làm mất quyền lợi của bọn tư bản vật chất. !

          Đức tin và những giá trị tôn giáo  đặt chúng ta vào tư thế đụng chạm, xung khắc với xã hội. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu đã nói :”Các con tưởng rằng Thấy đến để đem sự bình an đến cho thế gian ư ? Thầy bảo thật các con : không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Đó là những sự thù ghét đáng chấp nhận vì nếu không chấp nhận thì có nghĩa là  phản bội lý tưởng Tin mừng của mình.

III. ĐỨC GIÊSU ĐÒI SỰ LỰA CHỌN CỦA TA. 

  1. Kitô hữu phải lựa chọn.

          Nếu đặt câu hỏi : là người Kitô hữu, bạn đã lựa chọn Đức Kitô và đạo của Ngài chưa ? Chắc có người cho là thừa và có thể là một câu hỏi ngớ ngẩn vì khi đã được chịu phép rửa tội chúng ta đã thề hứa bỏ ma qủi mà chỉ phụng sự một mình Thiên Chúa, tin theo Đức Giêsu Kitô, do đó, mới được mang danh là “Kitô hữu”. Kitô hữu là người thuộc về Đức Kitô, và được mang tên của Ngài.

 Đồng ý vậy, đã là Kitô hữu thì dĩ nhiên chúng ta đã chọn Đức Giêsu và đạo của Ngài rồi, nhưng không phải chọn một lần là đủ, là xong. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi giai đọan của cuộc đời chúng ta  phải chọn lại. Chọn lại là kiểm điểm xem chúng ta đã thực sự chọn lựa Chúa chưa, vì nhiều khi, trong nhiều tình huống chúng ta sống theo thế gian, xác thịt và ma qủi mà chúng ta không ý thức. Để kiểm chứng lại sự chọn lựa của chúng ta, hằng ngày chúng ta phải đặt cho mình một câu hỏi :”Đối với tôi, Đức Giêsu là ai” ? Chắc chúng ta sẽ thưa được Đức Giêsu là thế nọ, thế kia… nhưng thể hiệân chứng minh những lời ấy thì không dễ.

  1. Chọn lựa phải dứt khóat và hiệu quả.

        Cuộc sống con người hiện nay quá phức tạp và đa đoan khiến cho tâm tư bị phân tán, xé mỏng – ý chí và nghị lực cũng vì đó mà suy yếu. Một đội quân mạnh cũng dễ gì đánh thắng cùng một lúc 3, 4 mặt trận, phải có tinh thần mạnh mẽ mới vào được Nước Trời (Mt 11,12). Các thánh Tử đạo đã can đảm thực hiện Lời Chúa (Mc 8,38; Lc 9,26). Lời Ngài đâu phải không rõ ràng  hoặc chúng ta có thể thực hành hay không là tùy ý ?  Tình yêu và chân lý luôn đòi hỏi sự lựa chọn dứt khóat, mạnh mẽ.  Dù phải hy sinh – Không thể vừa muốn một đời sống dễ dãi, nhàn hạ (hay lười biếng) đồng thời lại muốn vào Nước Trời. Hai cái muốn đó làm sao có thể đi đôi với nhau (Mt 10,36t)? Chính Đức Kitô còn không sống theo ý Ngài (Mt 4,4; Ga 4,34). Thế nên khi dứt khóat chọn Đức Kitô, ta phải nỗ lực sống theo Lời Ngài và đồng thời luôn vững tin vào tình yêu và sự quan phòng của Ngài (Mt 6,25t; Lc 12,22t).

Truyện : Thánh nữ Perpetua.

          Perpetua thuộc gia đình quí tộc, bị bắt vì đạo. Cha của nàng vẫn là dân ngọai, thuyết phục nàng bỏ đạo. Chỉ vào chiếc bình, nàng lễ phép nói với cha :”Thưa cha, người ta có thể gọi vật này  bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng thế, con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là Kitô hữu”. Tức quá, ông đánh đập nàng tàn nhẫn, rồi bỏ đi nhiều ngày không tới. Perpetua có một đứa con đang bú, rất khổ vì phải xa con. Đứa bé kiệt sức nên người ta đưa lại cho mẹ nó, và nàng quên hết đau khổ vì có con bên cạnh.

          Vì biết con gái mình sắp bị án tử, người cha lại đến với những lời thảm thiết :”Con ơi, hãy thương đến mái tóc bạc của cha, hãy nhớ đến đôi tay cha  đã dưỡng nuôi con. Hãy nhớ tới mẹ con, anh em con  và đến con nhỏ của con nữa, nó sống làm sao nếu không có con. Con hãy bỏ đạo, bỏ đi điều đã làm cho chúng ta mất tất cả”.

        Tuy rất cảm động và đau khổ, Perpetua chỉ nghẹn ngào trả lời :”Thưa cha, tại tòa án sẽ xẩy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình”. Người cha còn cho đem đứa trẻ đến năn nỉ :”Con hãy thương đến đứa con nhỏ của con”.

         Tuy nhiên trước tòa án, cùng với các bạn khác, Perpetua đã công khai tuyên bố trung thành với Chúa và bằng lòng hy sinh tất cả.

          Mỗi người tin Chúa phải quyết định hoặc yêu mến gia đình hơn hoặc yêu Chúa Giêsu hơn. Bản chất của Kitô giáo là  phải đặt sự trung thành với Chúa Giêsu lên trên tất cả các sự trung thành khác của thế gian. Người ta phải sẵn sàng coi mọi sự như thua lỗ vì cớ cao trọng tuyệt đối của Chúa Giêsu.

  1. Lựa chọn và Thập giá. 

          Đức Giêsu đã nói :”Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khỏai biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”. Một phép rửa mới đang chờ đợi Đức Giêsu : tử đạo, cái chết ! Đức Giêsu quả quyết rõ ràng nếu chính Ngài phải trải qua cơn thử thách thì những ai theo Ngài cũng sẽ gặp thử thách trên bước đường họ đi.

          Nếu Ngài đến đem bình an của Đấng Thiên Sai mà các tiên tri đã công bố (Is 9,5-6; Mk 5,4; Lc 2,13) thì đây không phải là sự bình an dễ dãi do các tiên tri giả loan báo, sự bình an mà con người không ngừng mơ tưởng; nhưng là bình an Nước Trời mà người ta chỉ đạt được qua Thập giá. Mỗi người được mời lựa chọn thái độ của mình đối với Đức Giêsu, hoặc theo Ngài, hoặc chống Ngài như ông Simêon đã nói tiên tri (Lc 3,35).

 Truyện : Họ đã chọn một phép rửa.

         Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thấy có biết bao gương sáng của những vị anh hùng. Họ mang lửa nhiệt tình can đảm trong tim để làm chứng cho sự thật Phúc âm. Họ cũng đã phải chịu “một phép rửa” của đau khổ như Đức Giêsu đã chịu.

Chẳng hạn như cựu Tổng thống Nam phi Nelson Mendela, người được giải thưởng Nobel về Hòa bình, đã bị tù 27 năm  vì đấu tranh chống lại nạn kỳ thị chủng tộc ở Nam phi.

Yitzak Rabin, cựu thủ tướng Do thái, bị ám sát chết vì lập trường hòa bình của mình.

 Đức Tổng Giám mục Oscar Rômêrô ở El Salvado bị bắn chết lúc dâng Thánh lễ vì bảo vệ người nghèo chống lại quyền lực.

Và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bị ám sát hụt, như một hậu quả của những giá trị Ngài bênh vực.

        Chúng ta có thể sống ung dung để tránh né “ngọn lửa” thanh luyện mà Đức Giêsu đề cập tới không ? Nếu Đức Giêsu đã nịnh hót đám đông, và chỉ nói với họ những lời “dễ nghe”, hẳn Ngài đã trở nên một người được quần chúng ưa thích. Nhưng Ngài đã chọn cách làm cho quần chúng bối rối. Bởi lẽ họ cần có người làm cho họ phải bối rối.

        Chúng ta sẽ phản bội Tin mừng nếu chúng ta giản lược nó  thành một sứ điệp dịu dàng, từ tốn cho tất cả mọi người không cần biết đến những sự khác nhau giữa người giầu và người nghèo, giữa người có quyền và người cùng khổ, giữa người tốt và người xấu.  Một Tin mừng nhạt nhẽo như thế không thể nào thành men làm dậy bột thế gian. 

        Có một xu huớng “thuần hóa” Tin mừng, giản lược nó thành những lời hay ý đẹp và những kinh nghiệm an tòan dễ chịu. Khi điều ấy xẩy ra thì lửa tàn lụi, men mất hết sức mạnh, muối mất hết vị, ánh sáng trở nên mù mờ. Nếu chúng ta sống như vậy, e rằng đến ngày sau hết Đức Giêsu sẽ đem “ngọn lửa phán xét” từ trờ xuống mà phán rằng :”Ngày ông Lót ra khỏi Sôđôma, thì Thiên Chúa khiến mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả. Sự việc cũng sẽ xẩy ra như thế, ngày Con Người được mạc khải”(Lc 17,29). Hãy làm cho ngọn lửa nhiệt tình bùng cháy lên như thánh Phanxicô Assisi đã làm. Ngài đã dám lột bỏ hết mọi sự giầu sang nhung lụa, trả lại cho người cha trần thế, để chỉ chú tâm kiếm tìm các giá trị thiêng liêng nơi người Cha trên trời. 

Truyện : Ozanam, ngọn lửa nhiệt tình.

         Năm 1843, thành phố Paris đang bị xáo trộn, Đạo Công giáo bị đe dọa, các cơ sở tôn giáo bị phá phách. Tại Lyon, bọn thợ thuyền cũng kéo cờ đỏ, hát những bài phạm đến Chúa và phản đạo. Năm ấy Ozanam học luật tại Paris. Dầu còn thanh niên, cậu đã dùng ngòi bút và việc bác ái để phản công. Cậu siêng năng đọc Phúc âm, rước lễ. Cậu thụ giáo với giáo sư Ampère về học thức và đạo đức. Và cậu mạnh bạo bênh vực Giáo hội. Với Ozanam các sinh viên, trước đây rụt rè lo sợ, bây giờ mạnh bạo. Các giáo sư đại học cũng phải kiêng nể Công giáo. Cậu tổ chức các buổi diễn thuyết làm sống lại Đạo Công giáo. Về phía dân chúng, cậu đã cùng 6 anh em khác lập hội Bác ái Vinh sơn giúp đỡ các người nghèo khổ. Hồi 18 tuổi, cậu đã thề :”Nhất định hy sinh đến thí mạng cho dân nghèo”. Đồng thời với Ozanam, Montalembert tranh đấu cho tự do giáo dục của Giáo hội, tại nghị trường. Dù là giáo sư đại học, Oznam vẫn hàng tuần đi các khu nghèo khó để dạy giáo lý cho những người công nhân nghèo khổ.

          Ngày nay Giáo hội cũng cần nhiều tâm hồn có lửa nhiệt tình như Ozanam.

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU MANG LỬA ĐẾN TRÁI ĐẤT

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

1. Đoạn này chẳng liên hệ mật thiết với dụ ngôn người quản lý nói trước đây. Nhưng vẫn mang một giọng văn trịnh trọng của cả chương 12. Khi đã cho các môn đệ biết ý kiến về các ngày bắt bớ, Chúa Giêsu lại gợi lên những hình ảnh hãi hùng của sứ mệnh Ngài trên mặt đất này, cái chết đau đớn của Ngài, những chống đối làm cho con người chia rẽ vì Ngài.

2. Câu 49 (Chúa Giêsu nói về lửa mà Ngài sẽ mang đến trên trái đất) đã được chú giải khác nhau. Có người cho đó là thứ lửa đã được đốt lên và dịch là: “Tôi đã mang lửa đến trên mặt đất và tôi còn ước muốn gì nữa, nếu lửa ấy đã được thắp lên? (Crampon, Jounn..). Như thế Chúa Giêsu không còn ước muốn gì nữa và không còn gì để chu toàn sứ mệnh ngoài việc phải chịu thương khó (c.50). Nhưng phần lớn các tác giả đều nghĩ rằng Chúa Giêsu diễn tả một ước muốn và dịch là: “Tôi đã đem lửa đến trên trái đất, và tôi ước ao biết bao lửa ấy được đốt lên!”. Bản Vulgata, có thể đã đọc ei.mê (nisi) thay vì ei.edê (si jam) nên nói lên ý nghĩa sau đây: “tôi muốn gì, nếu không phải là nó trong đốt lên?” Cách dịch thứ hai này (Segon, Khabanbauer, Zorell, klostermann, Legrange, Bille du Kentaine, Buzy, BJ, TOB…) hình như phù hợp với văn mạch hơn, vì ánh sáng rực rỡ mà Chúa Giêsu nói đến hình như còn đang lệ thuộc vào một điều kiện chưa thực hiện được, đó là rửa bằng máu của cái chết Ngài. Hơn nữa, vì luật song đối của người sêmit thích lập lại cùng một ý tưởng hay một ý tưởng tương tự, nên có thể cho rằng nhắc đến tương lai trong câu 50 thì phù hợp với câu 49b hơn. Người ta thắc mắc vì sao lối chú giải thứ hai gán cho chữ Ti ý nghĩa tương tự của tiếng Hy bá bao nhiêu (combien étroit) trong Mt 7,14; hay tiếng Hy lạp Ti cala (cômbien beau).

3. Các nhà chú giải không những bằng lòng về cách dịch câu 49, mà còn thay đổi ý nghĩa của tiếng lửa mà Chúa Giêsu đã đem đến trên mặt đất. Nhiều Giáo phụ có uy tín cho đó là Thánh Thần (Th. Grégoire le Grand, Th. Ambrosiô, th. Syrille d’Alexandie, th. Jérome). Cách chú giải này thấy trong phụng vụ cũ của lễ hiện xuống (lời nguyện thánh lễ ngày thứ 7 lễ hiện xuống), nhưng không phải mọi người đều chấp nhận, có vài tác giả (Maldonat) so sánh câu 49 và 51, dựa vào sự chia rẽ mà Đức Kitô gây nên trong thế gian và thấy lửa mà Chúa Giêsu nói đến là hình ảnh của những cuộc thử thách đang chờ các môn đệ, những thử thách người mong ước vì có sức thánh hóa. Nhưng nếu thế, tại sao Chúa Giêsu lại ao ước thực hiện các thử thách đó như vậy? Có những tác giả khác (Knabenbauer, BJ) thích hiểu lửa của sự nghiệp Đức Kitô trong trần gian, là sự nghiệp thanh luyện và đổi mới nhắc nhở lại hành động lửa tôi luyện vàng và bạc khỏi han rỉ. Nếu người bảo rằng hành động của Thánh Linh, thì lối chú giải ấy rất gần với lời chú giải của các giáo phụ. Các giáo phụ cắt nghĩa rằng lời sấm ngôn của Chúa Giêsu về ánh sáng đã ném xuống thực hiện rồi, chứ không phần nào bị che dấu, như mạch văn cho thấy.

Vì thế người ta cho rằng khi nói đến ánh sáng ấy, Chúa Giêsu nói đến một thứ lửa tượng trưng ở trong tâm hồn (Lc 24,32, các lữ hành thành Emmaus và nó rất tuyệt hảo, vì Chúa Giêsu muốn nó phải được đốt lên. Các giáo phụ đã không lầm khi nhận ra đó là công việc của Thánh Linh hay là Đức Ái, nhưng tốt hơn là nên để cho lời nói có vẻ úp mở như kiểu nói của các tiên tri (Lagrange).

4. Việc thực thi ý muốn của Chúa Giêsu phải tuân phục theo một điều kiện: Con Người phải lên Giêrusalem và chịu thương khó ở đó. Chúa Giêsu so sánh sự thương khó với phép rửa mà Ngài phải chịu, phải bị dìm xuống, vì Ngài sẽ như bị nhận chìm trong những đợt sóng đắng cay và phiền não (Mc 10,38). Tâm hồn Ngài phải chịu dằn vặt vì nhãn quan ấy. Người ta chú giải cơn dằn vặt ấy như là một vết thương đầu tiên của cơn khắc khoải sẽ đè xuống trên Ngài ở Giêtsimani, hay như một ước vọng mãnh liệt trong sứ mạng Cứu thế của Ngài đạt đến tột đỉnh (TOB).

5. Cũng như con người Chúa Giêsu, sự nghiệp của Ngài cũng đem lại sự trái nghịch: “Các anh có nghĩ rằng tôi đem đến hòa bình cho mặt đất không?”. người ta có thể đã tưởng thế vì lời phúc âm của Ngài là sứ điệp hòa bình (Is 9,5tt; Za 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15) và hòa giải. Nhưng khi thế giờ bị lửa thánh linh đốt lên qua lời giảng dạy của các tông đồ, thì phúc âm sẽ không luôn luôn được con người thiện tâm bình thản đón tiếp. Phúc âm sẽ bị con cái bóng tối đánh bật, xô đẩy, và như thế bình an của Đức Kitô không phải là thứ bình an của thế gian, con người sẽ phân rẽ vì Chúa Giêsu, “để tư tưởng của nhiều tâm hồn phải bày tỏ ra” (Lc 2,35). Ngay trong gia đình, tự bản chất là nguyên lý của sự hiệp nhất cũng sẽ xuất phát mối bất hòa bất thuận.

KẾT LUẬN

Sự cứu độ của thời cuối cùng sẽ không đến mà không cần có cố gắng và đau khổ. Mối mong chờ ơn cứu độ bao hàm lòng can đảm chịu đựng gánh nặng và lo lắng khổ sở. Muốn lên trời phải qua thánh giá (pâque: passage). Nhưng thánh giá, mà các môn đệ sống là dấu hiện tiên báo các biến cố thế mạt đã bắt đầu, các biến cố đó đòi hỏi con người từ đây phải có một lập trường dứt khoát đối với Đức Kitô và sứ điệp của Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

  1. Đức Kitô đem lửa tình yêu đến nung nấu thế giới không một chút tình người, không mảy may hy vọng vào sự hiệp thông phổ quát đích thực, không có tinh thần vô vị lợi. Chỉ có lửa đó mới nung nấu lòng người, dẹp tan mọi nghi kỵ hận thù và chiến tranh là những mối nguy cho tình bằng hữu giữa người với người, dân này khác với dân kia.
  2. Nhưng Chúa Giêsu cũng biết lửa đó chỉ phát xuất từ hy lễ của chính Ngài, Ngài hướng dẫn hy lễ đó không chút âu lo. Trái lại đã ao ước chóng chu tất nó để hoàn tất sứ mệnh cứu độ của Ngài. Vì cái chết của Ngài sẽ mở ra một khúc ngoặc quan trọng trong lịch sử nhân loại, khai mào cho chúng ta đường cứu độ nhờ thập giá. Và trong mức độ ao ước nung nấu lửa tình yêu đó trên trái đất, thực hiện cuộc cách mạng đổi đời, đổi tâm thức và cơ cấu, chúng ta sẽ chịu một phép rửa như Chúa Giêsu: chúng ta phải bắt chước Ngài khi chịu lo âu, thất bại, từ bỏ, để thực hiện lý tưởng đời mình.
  3. Chúa Giêsu ban hòa bình cho chúng ta, như Tân ước đã nói: Ngài hòa giải chúng ta với Chúa Cha, với chính chúng ta và với mọi người (x. Ep 2,14-17) bằng cách mời gọi chúng ta trở về với đời sống đích thực là yêu thương. Nhưng Ngài không ban bình an theo kiểu thế gian, nhưng theo kiểu chiến đấu như Ngài đã từng chiến đấu, đến nỗi gây chia rẽ chúng ta với than nhân chúng ta.
  4. Ở đây Chúa Giêsu không muốn lên án sự hòa hợp trong gia đình và cổ xúy một tinh thần chia rẽ. Nhưng Ngài luôn nhắc tới giới luật của Thiên Chúa: “Hãy phục vụ cha mẹ ngươi” (Mc 7,10). Nhưng qua các lời nói trên đây, Ngài quả quyết nếu muốn làm môn đệ Ngài, chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả cách tuyệt đối những gì ngăn cản không cho chúng ta theo Ngài, kể cả tình yêu nhân loại cao quí nhất. Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài cách độc quyền, dứt khoát, trọn vẹn. Và sự độc quyền có thể làm người ta chướng tai gai mắt. Chúa Giêsu biết điều đó nên đã nói: “Hạnh phúc cho ai không vấp phạm vì Ta” (Mt 11,6). Tuy nhiên Ngài không ép buộc nhưng mời gọi chúng ta với tư cách là sứ giả của Nước Thiên Chúa sẽ đến đảo lộn mọi trật tự xã hội loài người. Và Ngài đòi chúng ta phải thống hối ăn năn trong mọi lãnh vực của cuộc đời chúng ta, cũng như lãnh vực liên đới gia đình. Một lần nữa Chúa Giêsu không cấm chúng ta yêu thương đồng loại, trái lại còn đòi buộc chúng ta phải yêu thương nhau hơn nữa. Ngài còn phản đối lối yêu thương vụ lợi của chúng ta: “Nếu các ngươi chỉ yêu thương người yêu thương mình, thì còn ân nghĩa gì?”.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 20 TN_C

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XX Thường Niên năm C mời gọi các Ki-tô hữu phải kiên vững đức tin trong sứ mạng của mình dù gặp phải những chống đối, thù nghịch.

Gr 38: 4-6, 8-10

Vì trung thành với sứ mạng của mình, ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị mọi người thù ghét và bách hại. Các Ki-tô hữu coi vị ngôn sứ này là hình bóng của Đức Ki-tô.

Dt 12: 1-4

Tác giả khuyên những Ki-tô hữu gốc Do thái của ông phải kiên trì đức tin trong mọi gian nan thử thách bằng cách noi gương các bậc tiền nhân, nhất là mẫu gương tuyệt hảo của Đức Ki-tô.

Lc 12: 49-53

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt đến tuyệt đỉnh khi Ngài báo trước sứ mạng của các môn đệ sẽ đồng nhất với sứ mạng của Ngài trong cùng một tình yêu tận mức dành cho con người.

BÀI ĐỌC I (Gr 38: 4-6, 8-10)

  1. Hoàn cảnh bi thương của ngôn sứ Giê-rê-mi-a

Đây là một trong những bài trình thuật kể về những đau khổ mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a phải chịu vì trung thành với sứ mạng của mình. Ngôn sứ đã tuyên sấm rằng thành đô Giê-su-sa-lem sẽ bị điêu tàn nếu dân chúng vẫn cứ bất trung với Thiên Chúa của mình. Dĩ nhiên, đối với các thủ lãnh, lời tuyên sấm này phản ảnh tinh thần chủ bại và phản quốc, vì thế họ tìm cách bịt miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a bằng cách thả ông xuống “hầm không có nước mà chỉ có bùn”. Nhưng ngôn sứ được cứu nhờ viên thái giám người Cút là ông E-vét Me-léc.

  1. Một cuộc đời trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa

Để có thể hiểu những nỗi đau giằng xé trong tâm khảm của vị ngôn sứ, chúng ta đừng bỏ qua những lời tâm sự đến xé lòng của ông theo hình thức cầu nguyện như:

“Con vô phúc quá, mẹ ơi, mẹ sinh con ra làm gì,

để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gỗ với con?

Con chẳng cho ai vay, cũng không mượn của người,

thế mà vãn cứ bị nguyền rủa.

Quả vậy, lạy Đức Chúa,

con đã chẳng đem thiện chí phục vụ Ngài hay sao?

Nào con đã chẳng cầu khẩn với Ngài cho thù địch

khi nó gặp hoạn nạn, lúc nó phải gian truân?” (Gr 15: 10-11),

nhất là:

 “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con

và con đã để cho Ngài quyến rũ.

Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.

Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.

Mỗi lần nói năng là con phải la lớn,

phải kêu lên: ‘Bạo tàn! Phá hủy!’

Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.

Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người,

cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa”.

Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim,

ầm ỉ trong xương cốt.

Con nén chịu đến pahri hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (Gr 20: 7-9).

Thật ra, ngôn sứ Giê-rê-mi-a vốn là một con người hiền lành, không muốn làm mất lòng bất kỳ một ai. Trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa mà ông trở nên kẻ thù địch của mọi người, vì những thông điệp của ông đi ngược lại những mong ước của mọi người. Vì thế, đoạn trích dẫn hôm nay không nên nhấn mạnh sự giải thoát cho bằng sứ mạng trung thành chuyển giao lời của Đức Chúa mà ông bị loại trừ và chịu đau khổ. Quả thật, sự đau khổ của Giê-rê-mi-a tiên trưng sự đau khổ của Đức Giê-su, được phác họa trong Tin Mừng hôm nay.

BÀI ĐỌC II (Dt 12: 1-4)

  1. Noi gương các bậc tiền nhân

Vào Chúa Nhật hôm nay, chúng ta tiếp tục đọc Thư gởi tín hữu Do thái mà chúng ta đã khởi sự đọc vào Chúa Nhật trước. Trong đoạn trích hôm nay, chúng ta đọc lời khuyến dụ kết thúc danh sách các bậc anh hùng Cựu Ước. Các ngài là những “chứng nhân” về niềm tin sắc son kiên vững trong mọi gian nan thử thách. Tác giả Thư gởi tín hữu Do thái mời gọi chúng ta noi gương các bậc tiền nhân kiên trì giữ vững đức tin trong mọi gian nan thử thách. Như một vận động viên, để có thể đạt được vòng nguyệt quế chúng ta phải chấp nhận cởi bỏ khỏi bản thân mình bất kỳ thứ gì làm vướng víu cuộc chạy đua của mình.

  1. Đức Giê-su là mẫu gương tuyệt hảo của người Ki-tô hữu

Đối với người Ki-tô hữu, Đức Giê-su còn vĩ đại hơn gấp vạn lần các bậc anh hùng Cựu Ước. Khi sống tại thế, Ngài đã không chỉ “khai mở” con đường đức tin nhưng còn “kiện toàn” lòng tin bằng cách “cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Chính nhờ hướng về Ngài, người Ki-tô hữu sẽ thành toàn cuộc đời mình qua những gian nan thử thách của cuộc đời này.

TIN MỪNG (Lc 12: 49-53)

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt tới cao điểm khi Ngài mặc khải rằng việc họ thuộc về các môn đệ Ngài sẽ đặt họ vào những cảnh ngộ không yên thân thoải mái đâu. Thực vậy, ý nghĩa sứ vụ của Chúa Giê-su được đề cập ở 12: 49-50 có những phản hồi trực tiếp đến các môn đệ ở 12: 51-53. Tin Mừng hôm nay có hai ý được gợi lên qua hai cặp hình ảnh: “lửa và phép rửa” (12: 49-50), “hòa bình và chia rẽ” (12: 51-53).

  1. “Lửa và phép rửa”(12: 49-50)

Bằng cặp hình ảnh “lửa” và “phép rửa”, Chúa Giê-su nói đến sứ mạng sắp đến của Ngài. Trước hết, “Thầy đã ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”: Trong Kinh Thánh, hình ảnh “lửa” thường mô tả tình yêu nồng cháy của Thiên Chúa cho con người (x. Đnl 4: 24; Xh 13: 22; vân vân). Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Người tận mức ở nơi biến cố Nhập Thể của Con Ngài (Ga 3: 16). Qua hình ảnh “lửa”, Đức Giê-su tự nguyện hiến dâng mạng sống mình vì chúng ta: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15: 13). Vì thế, Chúa Giê-su những ước cùng mong đến giờ thực hiện tình yêu tận mức của Ngài đối với con người được bừng cháy trên Thập Giá.

Tiếp đó, Đức Giê-su mô tả cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài qua hình ảnh phép rửa: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”, nghĩa là Ngài sẽ dìm mình vào trong cái chết, nhưng từ cái chết Ngài sẽ sống lại trong vinh quang để không bao giờ chết nữa. Qua hình ảnh “phép rửa”, Đức Giê-su tha thiết ước mong được hiến dâng mạng sống mình vì yêu thương chúng ta. Cũng thế, chúng ta chịu phép rửa, nghĩa là chúng ta dìm mình vào trong cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô, tức là chết cho tội lỗi mình, và được tái sinh vào một đời sống mới chan chứa muôn vàn ân phúc: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 4).

Qua cuộc sống mới này, chúng ta, những người Ki-tô hữu, phải bừng cháy lên ngọn lửa tình yêu theo cùng cách thức như Đức Giê-su đã châm ngọn lửa ở nơi các môn đệ Ngài, như lời của thánh Phao-lô: “Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1: 24).

  1. “Hòa bình và chia rẽ”(12: 51-53)

Con Thiên Chúa đã giáng trần với một sứ điệp hòa bình: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2: 14) và hòa giải: “Nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5: 11). Các ngôn sứ cũng đã loan báo sứ mạng của Đấng Ki-tô là sứ mạng hòa bình (x. I s 9: 5tt; Dcr 9: 10) và thánh Phao-lô cũng xác quyết chính Đức Giê-su “là bình an của chúng ta”(Ep 2: 14-15). Tuy nhiên, vì cưỡng kháng lại công trình cứu độ của Đức Ki-tô do tội, con người trở thành những đối thủ của Ngài: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?”. Bất công và lầm lạc dẫn đến chia rẽ và chiến tranh: “Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa và vẫn sẽ còn đe dọa cho tới khi Chúa Ki-tô đến. Tuy nhiên, nhờ kết hiệp trong bác ái, con người vượt thắng tội lỗi và cũng vượt thắng bạo động cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: ‘Họ sẽ rèn gươm thành lưỡi cày và giáo thánh lưỡi liềm. Các dân tộc sẽ không rút gươm đâm chém nhau và sẽ không tập luyện để chiến đấu’ (Is 2: 4)” (Vatican II, Gaudium et spes, 78).

Vì thế, chẳng có gì phải ngạc nhiên, dù rằng “Người đã đến loan Tin Mừng bình an” cho hết mọi người (Ep 2: 17-18), tuy nhiên, suốt cuộc đời tại thế, Đức Giê-su đã là dấu chỉ của sự mâu thuẫn (x. Lc 2: 34). Chúa Giê-su báo trước cho các môn đệ biết rằng sự bất đồng và chia rẽ đồng hành với công việc truyền bá Tin Mừng (x. Lc 6: 20-23; Mt 10: 24). Ngay cả trong gia đình vốn là nơi yêu thương và đùm bọc nhau, đôi khi vì niềm tin vào Ngài và vào Tin Mừng của Ngài lại trở thành cuộc bách hại ngay trong gia đình mình. Vì thế, Chúa Giê-su nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình theo kiểu thế gian, nghĩa là không có chiến tranh, bách hại, mà là hòa bình của Thiên Chúa, một thứ hòa bình ngự trị trong cõi thâm sâu của lòng người, đó là hòa bình mà thế gian không thể nào ban cho được.

“Lời Chúa Giê-su nói về sứ mạng của Người cũng là một lời khuyến cáo các môn đệ Người: Sự kiện Nước Thiên Chúa đến không phải để các môn đệ hưởng thụ một cuộc sống bình an một cách thụ động. Họ sẽ hưởng bình an đấy, nhưng là một thứ bình an mà phải cố gắng chiến đấu mới đạt được, chiến đấu trong gian truân thử thách, chiến đấu với cả những người thân không cùng niềm tin với mình. Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba đã hiểu như thế, nên đã khuyên các tín hữu rằng: ‘Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa’ (Cv 14: 22). Hòa bình Chúa ban là kết quả của những cố gắng để giải quyết tình trạng ‘chia rẻ’: a) Nơi bản thân mỗi người, chỉ có hòa bình thật khi không còn xung đột giữa cái tôi hướng thiện với cái tôi hướng ác; b) Nơi gia đình, nơi xã hội và bất cứ nơi nào cũng thế, chỉ có hòa bình thật khi mọi người đều một lòng một ý với nhau”(“Hạt Giống Nẩy Mầm”).

Về mục lục

.

ƯỚC MƠ VÀ CHỌN LỰA

Lm. Jos. DĐH.

Mơ ước của con người là được sống vui sống khoẻ, các nhà lãnh đạo thì hướng tới mục tiêu: dân giầu nước mạnh, các đấng bậc sinh thành lại mang chung một thao thức, ta phải làm gì để có được gia đình hạnh phúc, con cháu nên người hữu ích. Hoà chung với vòng xoay ở đời này, mơ ước của chúng ta là gì ? Cơm áo gạo tiền, giầu sang phú quý, hay được sung sướng an nhàn ? Câu trả lời sẽ tuỳ thuộc vào tự do của mỗi người chọn lựa, dù tương lai ra sao thì hiện tại chính là lúc ta đang đầu tư. Cuộc sống có vui có buồn, có nhiều trải nghiệm riêng tư: con đường dẫn tới thành công, không bao giờ thành lối, sống có ước mơ, nhất định phải để đôi chân mình cất bước. Vì bất luận người ta chăm chỉ, lười biếng hay sống cẩu thả, họ đều thấy một kết quả: hấp tấp vội vàng chỉ làm hỏng cơ duyên ; hoặc muốn gặt may mắn, ắt phải gieo ơn lành.

Chúa Giêsu hôm xưa đã gợi lên mơ ước hạnh phúc của Ngài và mời gọi mỗi người suy xét, chọn lựa, bằng chính sự tự do của mình: “Thầy đã đến ném lửa vào thế gian, và Thầy ước mong sao cho lửa ấy bừng cháy lên” ! “Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống cho thế gian ư ?”. Trước hết, và trên hết, xưa nay gì cũng cần phải hiểu thứ lửa mà Chúa Giêsu nói đến là gì, bình an của Chúa và bình an nơi cuộc sống này có khác nhau gì không ? Theo tự nhiên, chẳng ai mơ ước mình phải đau khổ, chẳng ai muốn chọn lựa một tương lai mù mịt. Do đó, người không tin trời phật sẽ ao ước: được an nhàn, được thụ hưởng niềm vui ở hiện tại ; người tin theo Chúa: bây giờ và mai sau đều muốn chọn Chúa và tin tưởng sẽ được hạnh phúc trong Chúa.

Theo phạm vi siêu nhiên, Thiên Chúa vẫn ban ơn cho con người một khả năng để hiểu: lửa mà Đức Giêsu nói là lửa yêu thương, lửa yêu thương có sức tẩy rửa, biến đổi tâm hồn xấu xa tội lỗi nên thánh thiện, hạnh phúc trường tồn. Lửa yêu thương là thứ lửa được Đức Giêsu thanh tẩy bằng sự vâng phục thánh ý Chúa Cha, bằng cuộc tử nạn và phục sinh, vì thế, lửa yêu thương sẽ mang ý nghĩa mời gọi tin và sống niềm tin để được thiêu đốt tội lỗi và làm cho ta thật sự được sống hạnh phúc. Thứ lửa hận thù ghen ghét, là lửa tiêu diệt, lửa giết chết theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thứ lửa đáng sợ ấy ngay trong gia đình, xã hội, đã có chia rẽ, bất hoà rồi, không có tiếng nói chung, vì quyền lợi vật chất làm đảo lộn, vì ích kỷ hơn thiệt, thiếu sự hy sinh tha thứ !

Thầy đã đến và đem lửa vào thế gian, thoáng nghe chúng ta có cảm giác Đức Giêsu “thích chơi trò mạo hiểm quá” ! Nếu nghe tiếp, chúng ta sẽ có ý nghĩ khác về thứ lửa yêu thương được Ngài lý giải: “Thầy còn phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất ! Lửa yêu thương mới đủ đốt cháy được tội lỗi của con người, lửa yêu thương mới đủ ấm áp hoà hợp được tình đệ huynh, mang lại bình an cho các tương quan gia đình, xã hội. Nhiều câu hỏi được đặt ra, nhiều thắc mắc dường như bế tắc không có đáp án: tại sao cứ yêu là khổ, tại sao thật thà thường thua thiệt, vì sao cứ biết nhiều, cứ yêu nhiều là sẽ khổ nhiều ? Tại sao theo Chúa thì phải tuân giữ lề luật, phải sống giáo huấn của Chúa một cách nghiêm túc ? Tại sao ăn gian nói dối, mánh lới lừa đảo, họ vẫn có danh có phận ở đời ; trong khi sống ngay thẳng, sống đúng với tinh thần yêu thương của Chúa, thì đầy khó khăn, bất trắc ?  Chỉ một vài gợi ý như thế, có thể ít nhiều chúng ta cũng thấy: mơ ước và chọn lựa luôn phải “có tri và hành”, mơ ước và chọn lựa ấy mới có giá trị.

Người trẻ hôm nay có những câu “tự tình” đáng để chúng ta phải suy nghĩ: thất tình mới biết yêu là khổ, say tình mới biết khổ vì yêu ! Nói lên định nghĩa về tình yêu, không khó, sống đúng sống đẹp, với lời gọi yêu thương bao giờ cũng phức tạp hơn. Làm cho ngọn lửa “nấu bếp” cháy lên không khó, chỉ cần một cái “quẹt ga” là ổn ; trong khi chỉ vô tình vô tâm một chút, là làm tắt cả tình nghĩa anh chị em mình ! Thực ra thì hoa có thơm là nhờ nhuỵ, người “có tâm có tầm” là nhờ đạo đức, uy tín ; tương quan yêu thương có bền chặt, là do biết cảm thông, đón nhận cả tính tốt tính xấu của nhau. Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy cùng Chúa làm cho lửa mến yêu ở trong lòng gia đình xã hội lớn lên, cháy lên, cũng có nghĩa là hãy làm cho mơ ước và chọn lựa của mình được mạnh mẽ hơn bằng tình yêu và gương sáng đức độ. Có bột sẽ gột nên hồ, có tình yêu Giêsu mới cư xử bác ái giống như Chúa được. Xin tình yêu Giêsu ở mãi trong ước mơ và chọn lựa của mỗi người đang tin tưởng cậy trông vào Chúa. Amen.

Về mục lục

.

NHỊP CẦU

Lm Vũđình Tường

Sông rộng, núi cao, rừng rậm, sa mạc và đại dương đều là những trở ngại trong việc di chuyển, bởi chúng chia cắt đất đai, khoanh vùng thành những nơi thời tiết, mưa nắng khác nhau. Nhờ thế mà có những nơi bên này núi khí hậu ôn hoà mát mẻ, bên kia núi khí hậu khắc nghiệt. Để vượt qua những trở ngại trên, người ta dùng thuyền hay phà di chuyển qua sông, tầu thủy vượt đại dương và ngày nay máy bay chuyên chở hành khách từ lục địa này sang lục địa khác. Đó là công trình sáng tạo của thiên nhiên.

Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế, nhưng là đem sự chia rẽ Lc 12,51

Theo cách của thiên nhiên, ngăn cách không xấu bởi việc ngăn cách mang lại kết quả tốt, điều hoà khí hậu và đôi khi còn ngăn chặn nước lũ tràn lan. Ngoài ngăn cách thiên nhiên ra, còn có những cách trở do con người tạo ra. Thí dụ như đường xá, công viên, đường rầy xe lửa và đại lộ ngăn cách vùng này với vùng khác, tạo nên sự phân biệt giá trị đất đai, và ngay cả nếp sống, tình trạng an toàn cũng khác biệt. Để vượt qua những ngăn cách trên con người xây dựng những con cầu, thuận tiện cho việc di chuyển ngày đêm.

Về phương diện văn hoá và tâm linh con người cũng có những khác biệt. Ở những quốc gia có nhiều sắc tộc khác nhau, văn hoá khác biệt. Khi gặp phải văn hoá khác biệt người ta thường dè dặt, cẩn trọng sợ đụng chạm văn hoá, không giám bác nhịp cầu thông cảm mà e dè xử dụng phương pháp ‘dùng phà di chuyển’ cổ điển. Phương pháp này rất chậm và bị hạn chế. Bác nhịp cầu thông cảm, việc hiểu nhau sẽ nhanh hơn và tiện hơn. Điều này có thể áp dụng cho tâm linh. Khi gặp phải các niềm tin khác nhau thì nhịp cầu thông cảm giúp tìm hiểu các niềm tin khác nhau nhanh hơn và tiện lợi hơn. Đây chính là điều Đức Kitô nói với các môn đệ khi Ngài sai họ đi rao giảng cho muôn dân, làm phép rửa cho họ trong Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần Mat 28,19. Rao giảng cho muôn dân và làm phép rửa cho họ chắc chắn sẽ gặp chống đối từ mọi phía, từ gia đình đến xóm làng, và ngay cả trên bình diện quốc gia.

Họ sẽ chia rẽ nhau, cha chống lại con trai … mẹ chồng chống lại nàng dâu c.53

Đối với Đức Kitô, sự sống trường sinh là điều tối quan trọng nên không thể nhập nhằng mà cần phải rõ ràng, ngăn cách, phân biệt rõ đâu là điều cần phải tin theo, và đâu là điều phải dứt khoát từ bỏ. Khi làm công việc đó chắc chắn có chia rẽ, chống đối. Cần bác nhịp cầu thông cảm, giải quyết vấn đề cách ổn thoả, dịu dàng trong lời nói, nhịp nhàng trong hành động và nhẹ nhàng tránh bạo động, chống đối. Tất cả đều phải làm trong tinh thần cầu nguyện, bởi thiếu cầu nguyện ta có thể không biết mình đang đi sai đường. Sức mạnh cầu nguyện tạo nhịp cầu thông cảm. Sức mạnh cầu nguyện uốn thẳng tư tưởng cong queo. Sức mạnh cầu nguyện sưởi ấm tâm hồn nguội lạnh. Sức mạnh cầu nguyện soi sáng bóng tối tâm linh. Sức mạnh cầu nguyện trong sáng hoá tư tưởng vẩn đục bởi dục vọng, chủ thuyết. Sức mạnh cầu nguyện hàn gắn rạn nứt, làm hẹp lại cách biệt. Sức mạnh cầu nguyện hoà giải bất đồng. Sức mạnh cầu nguyện tẩy rửa phong tục tồi bại thành phong tục tốt lành đặt nền tảng trên chân lí Chúa, yêu thương và tha thứ. Đây chính là ý nghĩa của việc rửa tội bằng lửa mà Đức Kitô nói đến tác dụng thanh tẩy của lửa. Sau đám cháy là sự sống mới, sức sống mới mang lại khung cảnh mới, tươi đẹp, an bình đầy nhựa sống.

Về mục lục

.

BÙNG CHÁY LỬA TÌNH

Lm Nguyễn Xuân Trường

Người ta đang lo sợ hiện tượng ấm lên toàn cầu làm biến đổi khí hậu gây nhiều thảm họa thiên tai cho thế giới. Ngược lại, người ta thấy còn đáng sợ hơn nữa là hiện tượng lạnh lẽo của tình người làm mất đi tình liên đới, và tạo nên sự vô cảm trong xã hội hôm nay. Một thế giới lạnh nhạt tình thân.

Trước thực trạng ấy, lời Tin Mừng hôm nay như tia nắng ấm chiếu vào mùa đông lạnh giá tình người, làm nên một mùa xuân ấm áp yêu thương: Chúa Giêsu đã đến ném lửa vào thế gian và ước mong lửa ấy bùng cháy lên.

Đó là lửa tình yêu đốt cháy những hận thù ghen ghét. Lửa lung linh tình Chúa để sưởi ấm lòng người và đem mùa xuân yêu thương cho đời.

Đó là lửa lòng Chúa thương xót bao trùm mọi yếu đuối lỗi lầm, lan tỏa lòng bao dung tha thứ và chữa lành, để mọi tội nhân có thể làm lại cuộc đời tươi sáng.

Đó là lửa ánh sáng chân lý xóa tan những bóng tối gian dối lọc lừa, những đêm đen của nghi ngờ, mở ra một lối sống chân thật tin tưởng.

Đó là lửa ánh sáng hy vọng chiếu rọi những mảnh đời tuyệt vọng. Lửa ánh sáng Chúa Phục sinh đã soi sáng một lối nhìn mới: Cái chết không phải là nỗi tuyệt vọng đóng lại đời người, mà là cánh cửa mở ra cho ta bước vào đời sống mới.

Trên hết, chính Chúa là ngọn lửa tình yêu cứu độ. Chúa đã cháy hết mình vì yêu thương nhân loại khi hy sinh trên thánh giá.

Xin ngọn lửa tình yêu Chúa soi sáng cuộc đời, sưởi ấm tâm hồn và bừng cháy lên trong lòng mỗi chúng ta. Nhờ ngọn lửa ấy chúng ta được tăng nhiệt: nhiệt huyết, nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt tình trong việc sống đạo và truyền lửa Tin Mừng yêu thương thắp sáng thế giới này. Amen.

Về mục lục

THẬP GIÁ VÀ NIỀM VUI

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Theo tâm lý thông thường, ai trong chúng ta cũng thích nghe những lời ngọt ngào êm tai và đem lại niềm vui. Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay lại gồm những ngôn từ xem ra khó chấp nhận: “Anh em tưởng Thày đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thày bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem chia rẽ”. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta không khỏi lúng túng khi tìm cách hiểu đoạn Tin Mừng này. Tuy vậy, nếu suy tư về hành trình đức tin, mỗi chúng ta đều công nhận một điều, để đến với Chúa Giêsu, phải chấp nhận nhiều hy sinh cố gắng. Có những người theo Chúa Giêsu phải vượt qua nhiều trở ngại. Những trở ngại đến từ nhiều phía: cha mẹ, anh em, họ hàng và bạn bè. Như thế, để có thể theo Chúa Giêsu, phải chấp nhận những buông bỏ, để lựa chọn và gắn bó với Người. Và thế là, vì theo Chúa Giêsu mà xảy ra mâu thuẫn, thậm chí xung đột căng thẳng giữa những thành viên trong cùng một gia đình.

Có thể nói, Giêrêmia là một ngôn sứ trải qua nhiều cực nhọc gian nan nhất. Vì trung thành chuyển tải sứ điệp của Chúa mà người đồng hương đã gọi ông là tên “tứ phía kinh hoàng”. Đoạn sách thánh được đọc hôm nay kể lại việc người Do Thái căm ghét ông và lập mưu bỏ ông xuống giếng sâu, nhằm giết chết ông. Nhờ lòng thương cảm của một người khác là ông Evét Mêléc, ông Giêrêmia đã được đưa lên khỏi hầm. Trong lúc người Do Thái thích nghe những lời ngọt ngào, Giêrêmia lại tuyên bố những lời cảnh cáo, trách móc và đe dọa. Tuy vậy, lời ông nói không phải là của cá nhân ông, mà ông chuyển tải ý định của Thiên Chúa. Những lời ấy vừa nhằm giúp cho quốc dân tránh tai họa, vừa uốn nắn giúp họ tìm được sức mạnh nơi Thiên Chúa. Ngôn sứ là người nói lời của Chúa. Ngôn sứ cũng là người gánh chịu những hậu quả do lòng thù ghét của dân. Tuy vậy, những ai trung thành với sứ mạng loan báo sứ điệp của Chúa sẽ được Ngài thương và cứu chữa. Giêrêmia được cứu sống, đó là bằng chứng ơn phù trợ của Chúa dành cho những ai trung tín với Ngài.

Như thế, con đường theo Chúa vừa ngọt ngào vừa chông gai. Chính Chúa Giêsu cũng đã đi trên con đường thập giá và đã tự nguyện chết trên thập giá để bày tỏ tình thương của Thiên Chúa. Chúa đã đau khổ để nâng đỡ cảm thông những người đau khổ. Thập giá mang muôn màu sắc và muôn hình muôn vẻ. Thập giá cũng hiện diện mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Có thể đó là những khác biệt trong suy nghĩ của những thành viên trong một gia đình hay một cộng đoàn; có thể đó là một người bạn đời hay một người hàng xóm có tính nết không mấy dễ chịu; có thể đó là một sự kiện xảy đến làm chúng ta gặp nhiều điều bất tiện… Người Kitô hữu đón nhận thập giá không phải như con trâu mang cày ì ạch bước đi, nhưng như một người chia sẻ gánh nặng của người khác một cách vui vẻ và với mục đích xây dựng cuộc sống bình yên an hòa.

Tác giả thư gửi giáo dân Do Thái đã khẳng định: “Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Tác giả cũng khuyên chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu khổ hình để không sờn lòng nản chí khi gặp đau khổ gian nan (Bài đọc II).

Thày đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thày những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đem đến cho trần gian, đó là lửa tình yêu và sức mạnh, là lửa nhiệt huyết rao giảng tình thương Thiên Chúa đối với con người. Hôm nay, Người vẫn mong cho ngọn lửa ấy sáng lên nơi cuộc đời này. Dẫu biết rằng giáo huấn của Chúa Giêsu sẽ được đón nhận nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta không vì thế mà nản chí ngã lòng. Hãy thắp lên ngọn lửa có tên Giêsu, để chiếu rọi mọi nơi tăm tối và mọi góc khuất của cuộc sống. Hãy là một đốm lửa, dù nhỏ nhoi và mong manh yếu ớt, giữa những tăm tối bủa vây xung quanh, hầu sưởi ấm và thắp sáng cho những người lân cận.

Thập giá là biểu tượng của đau khổ, nhưng thập giá cũng đem lại hạnh phúc và niềm vui. Chúa Giêsu đã vác thập giá và đã chết trên thập giá, nhưng Người đã sống lại vinh quang. Thập giá chỉ là một chặng đường, dùng có nặng nề đến mấy cũng chỉ là nhất thời chứ không phải là đích điểm. Đích điểm cuộc đời chúng ta chính là hạnh phúc viên mãn nơi Thiên Chúa. Người có đức tin vững vàng sẽ làm cho thập giá nở hoa và tỏa hương thơm ngát. Đó chính là hương thơm của sự thánh thiện, của lòng yêu mến và trung thành.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Nếu có ai hỏi tôi tình yêu bắt nguồn từ đâu? Tôi xin trả lời tình yêu bắt đầu từ một trái tim biết sống vì người mình yêu! Trái tim đó biết cho đi mà không hề tính toán. Trái tim đó biết chạnh lòng thương những mảnh đời khổ đau mà họ gặp trong cuộc sống. Khi ta gặp được người có trái tim như vậy thì ta sẽ gặp được niềm vui của hạnh phúc.

Trái tim biết yêu thương còn là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, đến nỗi có thể hợp nhất nên một với người mình yêu. Thị Nở với tình yêu thương của một người đàn bà đã kéo Chí Phèo từ vực sâu của tội lỗi trở lại làm người với khát vọng lương thiện cháy bỏng. 

Ngày 15/1/2018, bé Hải An 7 tuổi nhập viện, được chẩn đoán mắc bệnh ung thư thần kinh thể sao – một thể bệnh hiếm gặp. Dù đã nỗ lực chữa trị, những khối u quái ác khiến em yếu đi từng ngày. Hải An qua đời vào ngày 22/2/2018

Trong những giờ phút tỉnh táo ngắn ngủi cuối cùng, em đã tâm sự với mẹ về việc hiến mô tạng của mình: “Con cũng muốn hiến tặng những bộ phận cơ thể của con cho các bạn đang cần đến nó”.  Và rồi người mẹ trẻ đã âu yếm hôn lên vầng trán con lần cuối, nhỏ giọng thì thầm với con: “Con tặng lại ánh sáng cho bạn khác nhé.”

Tình yêu là vậy. Nó không so đo tính toán. Tình yêu đích thực là chỉ biết cho đi và cho đi mãi mãi như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “Sống ở trên đời cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.

Đây chính là ngôn ngữ tình yêu của Đức Giê-su.Chính Ngài đã để gió cuốn đi và mang lòng thương xót của Ngài đến với mọi ngõ ngách của cuộc đời. Ngài đã hiến dâng mạng sống cho con người được sống và sống dồi dào. Ngài sống không phải vì mình mà cho thế gian được ơn cứu độ. Ngài yêu thương thế gian đến nỗi còn muốn trao ban chính mình làm của ăn của uống cho nhân loại. Chính Ngài đã xác quyết rằng “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống”. Ai ăn và uống Mình và Máu Ngài không chỉ được sống hạnh phúc mà còn hơn thế nữa là được sống muôn đời. Ngài là bánh trường sinh. Dân Do Thái đã từng được ăn Mana từ trời nhưng rồi cũng chết. Còn ai ăn và uống Mình Máu thánh Ngài sẽ được sống muôn đời.

Tình yêu luôn phát sinh những điều kỳ diệu. Có tình yêu sẽ có sáng tạo. Tình yêu đã làm phát sinh biết bao nghĩa cử cao đẹp mà con người dành cho nhau. Từ lời nói đến hành động luôn biết làm đẹp lòng nhau. Người ta chắt chiu từng lời nói, từng việc làm để cho người mình yêu được vui lòng. Tình yêu là một quà tặng vô giá mà chúng ta dành cho nhau. Không có tình yêu sẽ không có tặng ban.

Thế giới hôm nay rất cần tình yêu để con người được sống trong an vui và hạnh phúc. Sự sống còn của nhân loại hoàn toàn tuỳ thuộc vào khả năng yêu thương của chính con người. Hàng ngày trên thế giới có hàng triệu người đã chết bởi sự thiếu tình yêu của đồng loại. Bởi thù hận người ta giết nhau bằng súng đạn, gươm giáo. Bởi thiếu trách nhiệm người ta giết nhau bằng sự bỏ rơi và dửng dưng.

Thế giới không có tình yêu sẽ hoang tàn đổ nát tựa như cơn lũ sau khi tàn phá môi trường chỉ để lại sự dơ bẩn và chết chóc. Đó chính là thảm cảnh mà chúng ta đang phải đối diện. Bởi thiếu vắng tình yêu đã đẩy sự dữ ngày một gia tăng. Sự dữ ẩn chứa khắp nơi. Sự dữ luôn đe doạ hủy diệt địa cầu bất cứ giờ nào. Thế giới hôm nay đã chết vì thiếu vắng tình yêu.

Mỗi lần chúng ta rước Chúa là được đón nhận chính sự sống và tình yêu của Chúa. Ước gì tình yêu Chúa tuôn chảy trong con tim của chúng ta để chúng ta dám hiến dâng chính mình vì sự  sống của tha nhân. Ước gì mỗi người biết hy sinh cho nhau, và biết kiến tạo hạnh phúc cho nhau, chắc chắn cuộc sống này sẽ đẹp hơn. Ước gì mỗi người chúng ta biết noi gương Chúa Giêsu trở thành quà tặng mang lại cho anh em niềm vui và hạnh phúc. Xin cho chúng ta luôn cảm nghiệm rằng “chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Amen

Về mục lục

.

LỬA TÌNH YÊU.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Nói đến lửa có chúng ta thường nghĩ tới lửa gió và nước.Có thể gọi đây là ba sức mạnh khủng khiếp của Tạo Hóa giữa đất trời bao la, mênh mông. Khi đề cập đến lửa, chúng ta thường liên tưởng đến sự bùng cháy, đến những đám cháy lớn lao tiêu diệt, rồi chúng ta đâm ra lo âu, sợ hãi…Phải chăng đây là lửa đã thiêu rụi thành Sôđôma và Gômôra ? Phải chăng đây là thứ lửa mà Giacôbê và Gioan đã vì căm tức một làng xứ Samaria không chịu đón tiếp Chúa và các môn đệ, mà hai tông đồ này muốn khiến lửa từ trời xuống thiêu rụi ? Hay là thứ lửa mà chúng ta thường đọc thấy hoặc được học, được xem trong các bức tranh nói về lửa hỏa ngục!

Dù là thứ lửa nào thì nó cũng đáng gờm, đáng sợ! Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay đã nói đến một thứ lửa :” Thầy đã đến để ném lửa vào mặt đất và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên “ ( Lc 12,49 ). Nghe những lời này của Chúa chúng ta đâm ra ngao ngán, sợ sệt. Tuy nhiên, chúng ta phải thay đổi tư duy, thay đổi cái nhìn để hiểu rõ hơn ý của Chúa Giêsu.

Vâng, lửa mà Chúa Giêsu nói ở đây là đức tin. Đức tin có được, hun đức, trui luyện, đức tin đó mới bền vững, mới trưởng thành. Đức tin như ông đại đội trưởng, như người nữ bị băng huyết. Đó là đức tin bền chặt, đức tin vững chắc. Bởi vì, thánh Phaolô đã nói:” Đức tin không có việc làm là đức tin chết “ hoặc “ Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi “. Chúa Giêsu cũng nói đến sự đau khổ, sự chết khi đề cập đến “ chén đắng “. Chén đắng mà hai ông Giacôbê và Gioan sẽ uống, chứ không phải là việc ngồi bên hữu bên tả của Chúa Giêsu. Ở đây, Chúa Giêsu cho chúng ta hay đau khổ là con đường, là cách thức Chúa Giêsu đã chọn để cứu độ con người, cứu vớt loài người. Nên, con đường đó, cách thức đó, Chúa cũng mời gọi chúng ta đi theo “ Tôi tớ không lớn hơn Thầy “. Chúa Giêsu đã chọn cách thức duy nhất này để làm gương cho nhân loại, làm gương cho chúng ta.

Chúa Giêsu còn nói đến một ý nghĩa khác nữa trong đoạn Tin Mừng này :” Chúa báo trước cho những ai tin theo Ngài là vì đức tin, vì theo đạo, vì theo Người, họ có thể bị chính những người thân yêu của mình khinh chê, ghen ghét, ruồng bỏ vv…” . Lịch sử Giáo Hội cho thấy rất rõ, có nhiều người vì theo đạo, theo Chúa đã bị bách hại, đã bị giết chết. Máu của nhiều thánh tử đạo đã đổ ra rất nhiều nơi các Giáo hội địa phương. Sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta hiểu rất rõ về nhiều cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Gia đình nào có người theo đạo, tin Chúa, người ấy liền bị những người trong gia đình khinh chê, ruồng bỏ vv…

Lịch sử cứu độ cho thấy suốt trong dòng lịch sử con người từ khi Thiên Chúa sáng tao vũ trụ, con người cho đến thời nay đã có biết nhiêu người đã dùng đức tin để làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh, minh chứng cho Chúa là Đường, là Sự thật và Sự sống. Lửa cũng có nghĩa là lửa thiêng liêng Chúa thắp sáng nơi tâm hồn chúng ta để chúng ta luôn nhận ra Chúa, tin theo Chúa và làm tất cả mọi sự vì lòng yêu mến Chúa và tha nhân hầu làm sáng danh và làm vinh danh Chúa. Lửa tình yêu, lửa cứu độ làm cho chúng ta luôn biết tin tưởng, phó thác nơi Chúa vì muôn hồng ân Chúa ban cho chúng ta. Dù chúng ta đang sống giữa những gian nan thử thách, những cạm bẫy bủa vây của ma quỷ, của sự dữ, nhưng chúng ta một mực tin tưởng nhờ lửa tình yêu, nhờ lửa cứu độ mà Thiên Chúa giải thoát chúng ta.

Công đồng Vaticanô II là Công đồng của Chúa Thánh Thần, đã thổi một luồng gió mới vào Giáo Hội, tuy nhiên cũng có nhiều người không muốn canh tân, đổi mới, nên cũng gây ra sự phân hóa, chia rẽ như lời Tin Mừng hôm nay. Tuy nhiên, sau cùng mọi người đều nhận ra rằng chỉ có “ Tình yêu của Đức Kitô thúc bách chúng ta “ và như thánh Augustinô nói :” Tốt đẹp biết bao vì Thiên Chúa là ngọn lửa bùng cháy làm cho chúng ta biết yêu mến Người”. Chúa Thánh Thần chính là ngọn lửa tình yếu đến hiệp nhất, thánh hóa, ban bình an cho Giáo Hội, cho chúng ta để chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Tình Yêu.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đốt lên trong tâm hồn chúng con ngọn lửa tình yêu để chúng con biết luôn “ mặc lấy Đức Kitô “, hầu chúng ta mau mắn chuyền ngọn lửa đức tin, ngọn lửa cứu độ mà Chúa đã đem đến cho nhân loại, để chính ngọn lửa ấy cứu vớt loài người.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Lửa theo Chúa Giêsu có ý nghĩa gì ?
2.Chén đắng Chúa nói có nghĩa gì ?
3.Tại sao Chúa lại nói đem sự chia rẽ ?
4.Sự bình an có cần thiết không ?
5.Lửa cứu độ là gì ?

Về mục lục

.

PHẤN ĐẤU

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thầy đem lửa xuống thế gian,
Mong sao lửa cháy, tràn lan khắp miền.
Tình yêu nung nấu triền miên,
Tỏa lan khắp chốn, ân thiêng dạt dào.
Chúa mong phép rửa Cha trao,
Chu toàn thánh ý, thiên cao cứu đời.
Lòng Thầy khắc khoải khôn vơi,
Đến khi hoàn tất, sáng ngời ước mong.
Bình an nước chảy xuôi dòng,
Cho người tâm thiện, trong lòng ước mơ.
Tại sao chia rẽ hững hờ?
Mẹ cha con cái, nghi ngờ lẫn nhau.
Con trai con gái sầu đau,
Thành viên chống đối, trước sau gây thù.
Ghen tương oán ghét dập trù,
Phân chia đối phó, gương mù khắp nơi.
Lửa thiêng soi chiếu rạng ngời,
Tình yêu thập giá, gọi mời hy sinh.
Theo Thầy từ bỏ thân mình,
Đắng cay khổ nạn, cực hình cũng cam.

Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ: Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên. Chúa muốn cho lửa tình yêu và lửa chân lý được tỏa lan khắp nơi. Ánh sáng của lửa sẽ dọi chiếu vào đêm tối. Chúng ta biết rằng đêm đen không luôn chấp nhận ánh sáng bởi vì sự sáng sẽ dọi tỏ lòng của con người. Nhiều người ta sẽ chối từ ánh sáng và chân lý phúc âm của Chúa.

Giữa ánh sáng và đêm tối có một khoảng cách về sự thánh thiện và tội lỗi. Lời chân lý của Chúa khuấy động cuộc sống của nhiều người. Giai cấp quản trị trong đạo bắt đầu cảm thấy bị mất ưu quyền, nên họ tỏ ra khó chịu. Các thầy tư tế và các vị tai mắt trong dân bị lời Chúa lột trần mặt nạ. Họ bị mất quyền lợi. Họ bị chạm tự ái vì họ luôn nghĩ mình là người công chính. Họ đã chu toàn đầy đủ các lề luật của cha ông. Họ căm phẫn chống lại Chúa. Họ không muốn chấp nhận ánh lửa mà Chúa đem xuống trần gian.

Sống trong đêm tối là sống trong bóng đêm của sự dữ. Những người làm điều gian ác thường chọn đêm tối để hành động. Người nói hành, nói xấu người khác cũng thế, họ không dám công dám đối diện nhưng rỉ tai, dấu diếm và lén lút. Chúa đến mang lửa mới để soi dọi vào chính tâm hồn của chúng ta, chứ không phải những hình thức bên ngoài.

Chúa Giêsu còn nói mạnh mẽ rằng: Ngài không đến đem bình an mà là chia rẽ. Đây là một tư tưởng mới lạ làm chúng ta ngạc nhiên. Chúa xuống trần mang bình an cho nhân loại. Tại sao Chúa lại mang chia rẽ trong gia đình, giữa cha mẹ và con cái? Sự chia rẽ có ý nghĩa gì? Chia rẽ vì có sự giằng co giữa ánh sáng và đêm tối, giữa sự thật và gian trá. Khi sai các môn đệ đi rao giảng tin mừng, Chúa biết các ngài sẽ bị chống đối và bị bách hại như chính Chúa.

Ngựa quen đường cũ. Con người cũng giữ thói quen của mình và không muốn thay đổi. Đôi khi chúng ta khư khư giữ tư tưởng và cách sống đạo của chúng ta. Chúng ta không muốn ai khấy động hoặc thay đổi cách sống của mình. Trong đời sống gia đình cũng thế, sẽ có những phân rẽ vì niềm tin và tâm thức riêng của mỗi thành phần. Chính Chúa Giêsu bị kết án vì Ngài đã mang lửa chân lý và lửa yêu thương đến cho nhân loại.

Chúng ta học biết rằng ngay từ buổi sơ khai của Giáo Hội, người ta đã bách hại đạo, ruồng bắt, tù đầy và giết chết các Kito hữu. Các môn đồ đã gặp phải biết bao nhiêu sự thù ghét và chống đối ngay trong gia đình và cộng đoàn. Thù ghét nhau không phải họ làm điều xấu mà thù ghét vì chỉ họ tin vào Chúa Kitô Phục sinh. Lịch sử Giáo Hội đã minh chứng hùng hồn những mẫu gương của các Thánh Tử Đạo. Các Ngài không làm hại ai cả, chỉ đơn sơ tin vào Chúa Kitô cũng đã đủ để bị thù ghét, bị ruồng bỏ và bịgiết. Lạy Chúa, xin cho lửa tình yêu sưởi ấm tâm hồn chúng con để chúng con phấn đấu ra đi làm nhân chứng cho Chúa giữa đời.

Về mục lục

.

MANG LẤY LỬA THIÊNG

Bông hồng nhỏ

Giữa tiết trời giá lạnh, còn gì hơn khi ta được khoác một tấm áo ấm hay được ngồi sưởi bên bếp hồng, được nép vào lòng mẹ cho ấm áp yêu thương. Cái lạnh của tiết trời thật đáng sợ nhưng nó vẫn không đáng sợ cho bằng sự lạnh lùng giữa người với người. Tình yêu là lửa hồng sưởi ấm những trái tim băng giá. Chúa Thánh Thần chính là lửa yêu thương bừng cháy trong tâm hồn mỗi người.

Chúa Giêsu đã tâm sự cùng các môn đệ lời này: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12, 49-50). Trên thập giá, trái tim Thầy Giêsu đã để cho lưỡi đòng đâm thâu. Ngay lúc này, ta có cảm nhận được nỗi đau đang giẫy lên trong trái tim của Thầy khi lời Thầy vang lên đầy thổn thức. Khi lắng nghe tâm sự của Thầy, lòng ta cảm nhận một nỗi đau của Tình Yêu bị con người từ khước. Đó là nỗi đau của một người cha khi lặng nhìn người con yêu dấu lạc vào con đường của bóng đêm tội lỗi. Thầy Giêsu là người tôi trung của Thiên Chúa. Ngọn lửa yêu thương mà Ngài đã trao ban cho nhân loại đã làm ấm lên bao tâm hồn lạnh giá giữa dòng đời, đã chữa lành bao tâm hồn thương tích, đã dọi sáng một lối đường dẫn đến hạnh phúc cho bao người tội lỗi biết tìm về nẻo chính đường ngay. Ngọn lửa ấy phải được bùng lên để bao người được thấy ánh sáng tình yêu của Chúa, được hưởng nếm ngọn lửa ấm áp của yêu thương. Giữa bóng đêm mịt mù, cần lắm một ánh sáng soi đường. “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119, 105). Bước theo Thầy Giêsu, ta sẽ tìm thấy một lối đường dẫn đến hạnh phúc, một con đường của phục vụ trong yêu thương và hiến dâng đến cùng. Để khi ấy, lòng ta mang lấy nỗi thổn thức của Thầy, mang lấy nỗi khắc khoải của Thầy mà bước vào thế giới, để con tim yêu thương thúc bách hành động trao ban cách quảng đại. Ta có nhìn thấy ngọn lửa mà Chúa đã thắp lên trong lòng ta ngày ta được lãnh Bí tích Rửa tội, ngọn lửa ấy đang cháy lên mạnh mẽ hay leo lét giữa sóng đời bủa vây? Ta hãy chạy đến bên Chúa và tha thiết khẩn cầu Thần Khí Chúa đến thổi bùng ngọn lửa trong trái tim ta, thiêu rụi hết bao nhiêu tội lỗi, những ích kỷ và hư danh giả trá để tâm hồn ta lại được bừng cháy hân hoan.

Thầy Giêsu đã nói với các môn đệ rằng “Ngài đến để đem sự chia rẽ”. Ngài đã mang ánh sáng đến trần gian và những kẻ chuộng bóng tối đã chống đối Ngài. Vì Tin Mừng, ta có sẵn sàng để chấp nhận bị từ khước và đe dọa? Bản thân ta được Chúa mời gọi trở nên muối và ánh sáng cho trần gian. Ta hãy từng ngày mặc lấy tâm tình của Chúa Giêsu, bước vào đời với một tâm hồn tín thác nơi tình yêu và sự dìu dắt của Thiên Chúa. “Thập giá hằng ngày làm con xao xuyến nhưng mang lại cho con niềm hy vọng phục sinh”. Lời của ai đó đã từng nhắn gửi ta, đã hơn một lần giúp ta vững bước hơn trên con đường bước theo Đấng Chịu- Đóng- Đinh. Chúa Giêsu sẽ mãi mãi là điểm tựa vững chắc và là người Thầy tuyệt vời nhất, là Đấng khơi dậy nơi tâm hồn ta nỗi khắc khoải về sứ mạng trở nên ánh sáng cho trần gian.

Lạy Chúa Giêsu! Xin ban Thánh Thần Lửa mến trong tâm hồn con để Người dạy con yêu mến Chúa. “Xin làm cho trái tim con có lửa, xin đặt Lời của Chúa nơi môi miệng con và ban cho con có cái nhìn của ngôn sứ và biết sống sứ vụ ngôn sứ”. Amen.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA TÌNH YÊU.

Anna Cỏ May

Đi vào các công ty hay các nhà chung cư, chúng ta dễ bắt gặp những ống chữa cháy tại mỗi khu vực, phòng khi có sự cố xảy ra. Tuy nhiên, chúng ta vẫn biết lửa không thể thiếu trong việc nấu ăn hay dùng để đốt những gì chúng ta muốn bỏ. Lửa còn mang lại ánh sáng, là niềm hy vọng cho chúng ta những khi ở trong bóng tối. Trong Kinh Thánh, lửa còn được con người dùng để diễn ta trái tim đang nóng lên như ngọn lửa bùng cháy (x.Tv 39,4). Đối với Thiên Chúa, lửa là biểu tượng tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu tác động thanh tẩy mọi người khỏi dơ nhớp. Ngoài ra, lửa là biểu tượng của Chúa Thánh Thần.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc 12,49). Chúa Giêsu đã ban Chúa Thánh Thần cho thế gian. Ngài không ngừng khao khát làm cho ngọn lửa ấy bùng lên. Ngài không còn ở thế gian trong bao lâu nữa. Ngài đi vào Cuộc Thương Khó để mọi người được rửa sạch tội lỗi và nhận lấy Chúa Thánh Thần. Ngài muốn ngọn lửa tình yêu được bùng cháy trong trái tim mỗi người. Ngài yêu từng người bằng tình yêu riêng như mỗi người là đối tượng tình yêu của Ngài. Ngài không ngừng yêu chúng ta mỗi ngày, ngay cả khi chúng ta vô ơn hay phạm tội. Ngài yêu bằng một tình yêu vô điều kiện. Trái tim Ngài luôn khắc khoải về ơn cứu độ cho mọi người. Vậy tại sao Chúa Giêsu lại nói: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để đem bình an cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem chia rẽ” (Lc 12, 51).

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói đến sự chia rẽ giữa người cha và con trai; người mẹ với con gái; mẹ chồng và nàng dâu (x Lc 12,53). Vì Tin Mừng, có khi chúng ta sẽ phải đứng trước nghịch cảnh: sự rạn nứt tình thân khi giữa mỗi người có một niềm tin khác nhau, lối sống khác nhau. Nếu chúng ta quyết tâm chọn Chúa và sống thái độ vâng phục đức tin, chúng ta vẫn mong mỏi một sự hàn gắn tình thân. Chúng ta hãy mang lấy nỗi khắc khoải của Thầy Giêsu, tình yêu sẽ dẫn chúng ta đến hiệp nhất. Hãy cầu nguyện cho chính cha mẹ, anh em của mình nếu như họ chưa có cùng một đức tin. Nhờ ơn Chúa, chúng ta hãy dùng đôi mắt đức tin và tìm hiểu Lời Chúa để hiểu được thánh ý Thiên Chúa. “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Bởi đó, Chúa Giêsu hằng khao khát lửa Chúa Thánh Thần bùng cháy trong chúng ta, để Chính Ngài sẽ giúp chúng ta hiểu biết về tình yêu Chúa, hiểu hạnh phúc ngay ở đời này. Để tình yêu sẽ dẫn chúng ta đến hiệp nhất. Tâm hồn chúng ta có sẵn sàng mở ra trước ngọn lửa ân sủng của Thần Khí Chúa, để Ngài thổi bùng ngọn lửa trong lòng chúng ta?

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho chúng con đắm mình trong ngọn lửa tình yêu và tràn đầy lửa Chúa Thánh Thần, để chúng con không ngừng phấn đấu cho phần rỗi và hạnh phúc của mọi người. Amen.

Về mục lục

.

NHÂN CHỨNG ĐỨC TIN

       Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Gr 38:4-6, 8-10;  Dt 12:1-4;  Lc 12:49-53)

          Khi nói tới ý nghĩa cuộc đời, chúng ta có rất nhiều suy nghĩ khác nhau tùy hoàn cảnh sống và tùy mức độ hiểu biết của ta.  Tuy nhiên đối với Ki-tô hữu, mẫu số chung của mọi ý nghĩa cuộc đời đều nằm trong ý tưởng cốt lõi là làm nhân chứng đức tin.  Qua lối sống, chúng ta nói lên những giá trị Tin Mừng mà Chúa Giê-su dạy chúng ta bằng lời giảng và đời sống của Người.  Để làm chứng nhân cho sứ mệnh, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã phải chịu muôn vàn chống đối và nguy hiểm cho cả mạng sống.  Trong đoạn thư gửi tín hữu Do-thái, tác giả cũng nhắc đến các “nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” chúng ta, để nhắc nhở ta rằng khi làm chứng nhân cho Chúa, ta không cô đơn lẻ loi.  Đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su chia sẻ với chúng ta rằng sứ mệnh của Người là đến “ném lửa vào mặt đất” (tức làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa) và Người “khắc khoải” mong đợi sứ mệnh ấy được hoàn tất.

          Trong lịch sử Cựu Ước, có nhiều câu chuyện làm chứng cho đức tin vào Thiên Chúa, nhất là cuộc đời của các vị ngôn sứ.  Trong số các chứng nhân ấy, chúng ta phải nói tới ngôn sứ Giê-rê-mi-a, một con người đã chịu bao cay đắng tủi nhục vì muốn trung thành với sứ mệnh Thiên Chúa đã trao phó.  Bài đọc 1 hôm nay kể lại câu chuyện ngôn sứ đã bị các thủ lãnh của nước Giu-đa (vương quốc miền Nam của Ít-ra-en) “điệu đi và thả xuống một cái hầm nước”.  Hầm đã hết nước, chỉ còn bùn, nên Giê-rê-mi-a bị lún sâu xuống bùn.  Ngôn sứ bị họ đối xử tàn ác chỉ vì ngài “đã làm nản lòng các binh sĩ còn lại trong thành cũng như toàn dân” khi ngài truyền đạt lại sứ điệp của Thiên Chúa rằng:  “Ai ở lại trong thành này (Giê-ru-sa-lem) sẽ phải chết vì gươm đao, đói kém và ôn dịch; ai chạy ra ngoài đầu hàng quân Can-đê, thì ít ra cũng sống và bảo toàn được tính mạng… Chắc chắn thành này sẽ bị nộp vào tay đạo quân của vua Ba-by-lon; chúng sẽ chiếm được thành.”  Các thủ lãnh coi Giê-rê-mi-a là một mối họa cho toàn dân.  Ở đây, rõ ràng ngôn sứ có thể chọn con đường dễ đi, là nói ngược lại điều Chúa truyền để cho các thủ lãnh tin tưởng và tôn vinh ngài.  Nhưng ngài không muốn làm trái ý Thiên Chúa, bất chấp sẽ bị bách hại và nguy hiểm tính mạng.  Cuối cùng Chúa đã cứu mạng vị ngôn sứ của Người.

          Phụng vụ Lời Chúa lấy câu chuyện ngôn sứ Giê-rê-mi-a làm hình bóng ám chỉ Chúa Giê-su, Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến để “ném lửa vào mặt đất” và phải chịu một “phép rửa”.  Ném lửa vào mặt đất là sứ mệnh Chúa Giê-su phải thi hành.  Lửa là tình yêu của Thiên Chúa, Đấng “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).  Tuy nhiên Chúa Giê-su không chỉ “nói” cho nhân loại biết sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa, mà Người còn “hành động” để chứng tỏ chân lý này.  Người đã “chứng minh” tình yêu vô điều kiện này của Thiên Chúa bằng cách vui lòng chịu chết khổ giá.  Lúc sinh thời thi hành sứ mệnh rao giảng, tâm hồn Chúa Giê-su đã bừng lên ngọn lửa nhiệt thành.  Lúc nào Chúa Giê-su cũng canh cánh bên lòng nỗi lo lắng sao cho sứ mệnh được hoàn tất và sinh hoa kết quả.  Người rất thực tế nhận ra những chống đối và khó khăn trước mặt.  Người biết con đường lên Giê-ru-sa-lem mỗi ngày một ngắn dần và sẽ dẫn Người tới đỉnh đồi Canvariô.  Không những Người biết số phận tương lai của bản thân mình, mà cả tương lai của những ai sẽ theo bước chân chứng nhân của Người nữa.  Các môn đệ Người rồi đây cũng phải chịu chống đối bắt bớ, chịu thiệt thòi vì làm chứng cho giáo lý của Người.  Như thế, việc làm môn đệ Chúa chẳng những không đem lại “hòa bình” trần thế cho các môn đệ, mà còn gây cho họ những mâu thuẫn với những kẻ không theo Chúa, thậm chí cả những người trong chính gia đình họ.  Chúa Giê-su luôn mong rằng các môn đệ sẽ trung thành theo Người và vững lòng tin vào Người.  Người bảo:  “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bê-en-dê-bun, huống chi là người nhà” (Mt 10:24-25).  Lời Chúa nhắn nhủ đã làm nức lòng biết bao người.  Lịch sử Giáo Hội để bao nhiêui là tấm gương chứng nhân của các Ki-tô hữu đã theo bước chân Thầy mình để làm chứng rằng Thiên Chúa yêu thương nhân loại chúng ta.

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Hôm nay tác giả thư Do-thái gửi đến chúng ta lời khích lệ tuyệt vời về việc làm chứng nhân đức tin.  Trước hết tác giả đề cao tấm gương của Chúa Giê-su, “Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin”.  Đúng vậy, Chúa Giê-su đã khai mở cho chúng ta biết chân lý tình yêu Thiên Chúa để chúng ta tin.  Rồi Chúa Giê-su đã kiện toàn lòng tin ấy bằng cái chết minh chứng của Người.  Nhất là tác giả nêu lên tấm gương của Chúa Giê-su, “Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế”, tức là chống đối đến độ đóng đinh Người vào thập giá.  Cuối cùng, đoạn thư khích lệ chúng ta rằng:  Chúng ta tưởng nhớ đến gương mẫu Chúa Giê-su cốt là để khỏi sờn lòng nản chí, khi chúng ta phải chiến đấu với tội lỗi hầu giữ vững đức tin và làm chứng nhân cho Chúa trong gia đình, học đường, xã hội và thế giới chúng ta.  Hơn khi nào hết, Giáo Hội hôm nay càng cần đến chứng từ của các Ki-tô hữu trước một thế giới xuống dốc về đức tin và luân lý.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA YÊU THƯƠNG

Lm Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

 Thưa anh chị em,

Lời Chúa chúng ta vừa nghe: “Thầy mang lửa xuống thế gian và Thầy ước mong ngọn lửa ấy bừng cháy lên”, đó là tâm nguyện của Đức Giêsu. Thế giới này ví tựa như một ngôi đền thờ rộng lớn, bổn phận mỗi người cần phải đặt vào đó một ngọn lửa, để thế giới này bừng sáng lên tình Chúa tình người.

Thế thì, ngọn lửa mà Đức Giêsu mang vào thế giới này là ngọn lửa nào? Thưa, chính là ngọn lửa tình yêu bừng cháy từ trái tim của Ngài. Thật vậy, vì yêu thương nhân loại sống trong bóng tối sự chết, Đức Giêsu từ bỏ từ trời cao xuống đất thấp để thắp lên ngọn lửa yêu thương; ngọn lửa của lòng thương xót; ngọn lửa phục vụ đến nỗi hiến thân mình chịu chết, để rồi từ cõi chết sống lại, Ngài xua tan bóng tối tử thần đem lại sự sống mới cho nhân loại.

Thời Cựu ước, Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với ông Môsê trong bụi gai bốc cháy, và trao sứ mạng cho ông dẫn đưa dân Israel ra khỏi ách nô lệ Aicập – thì nay Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta ra đi thắp sáng niềm tin cho những người chưa nhận biết Chúa.

Đức Giêsu đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh, và sai các môn đệ đi làm chứng cho Tin mừng – nay Chúa cũng sai chúng ta ra đi xua tan bóng tối của bất công, hận thù, chia rẽ, để thay vào đó ánh sáng của tình thương.

Xưa kia ngọn lửa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ, biến đổi họ trở thành chứng nhân Tin mừng – ngày nay chúng ta cũng được mời gọi mang ngọn lửa tình yêu để sưởi ấm những tâm hồn đau thương khốn khổ.

Xưa kia tâm hồn hai môn đệ đi làng Emmau đã bừng cháy lên khi nghe Chúa giải thích Thánh kinh, ước gì tâm hồn chúng ta cũng được ấm áp lên mỗi khi nghe lời Chúa dạy bảo.

Nếu nhân loại ngày hôm nay cần cơm bánh để sống còn, thì cũng cần tình thương để tồn tại. Nếu con người cần tấm áo để che thân, thì cũng cần tình thương để sưởi ấm cho nhau.

Khi người Samaria nhân hậu cúi xuống băng bó vết thương cho người bị nạn, ánh sáng tình thương đã bừng lên như tình anh em ruột thịt. Ước gì, chúng ta hãy là những Samaria nhân hậu, đưa những nạn nhân về quán trọ của lòng mình, bằng đôi tay rộng mở, với tấm lòng yêu thương giúp đỡ, hay ít nhất là một lời cầu nguyện cho những người kém may mắn đó.

Anh chị em thân mến,

Ngọn lửa yêu thương Đức Giêsu đã thắp sáng trần gian, và Ngài ước mong chúng ta tiếp tục thắp lên ngọn lửa yêu thương ấy cho thế giới.

 Giáo hội hơn 2.000 năm qua, đã có nhiều tấm lòng vàng như thánh Gioan Thiên Chúa; như mẹ thánh Têrêsa Cancutta, như thánh Gioan Phaolô II, như các chiến sĩ truyền giáo, những người âm thầm phục vụ trong các mái ấm tình thương… Như vậy, ngọn lửa ấy đã có rồi, nhưng còn nhiều giới hạn.

Thật vậy, chúng ta đang sống trong một thời đại, mà dường như không thiếu thứ gì, duy chỉ có tình yêu, tình người và lòng thương cảm đối với nhau ngày càng thiếu vắng, vì “căn bệnh vô cảm” đang lan tràn khắp nơi. Tin tức mỗi ngày cho chúng ta nghe thấy, đó đây vẫn còn chiến tranh, hận thù, nạn kỳ thị chủng tộc màu da và tôn giáo. Như vậy, nhiều nơi bóng tối thiếu tình người vẫn còn che phủ.

Trong một thời đại như thế, lời mời gọi của Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay vẫn còn mang tính thời sự, như một hồi chuông gióng lên, thức tỉnh xã hội, cách riêng những người mang danh mình là Kitô hữu, hãy cùng nhau xây đắp một nền văn minh tình thương và lòng thương xót.

Bởi vì, chỉ có lòng thương xót mới thực sự là ngọn lửa thắp lên để sưởi ấm lòng người; chỉ có lòng thương xót mới có thể vực con người đứng dậy, trở về với Thiên Chúa sau những vấp ngã, đau thương trên cuộc đời này.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, hãy mở rộng tâm hồn và thắp lên ngọn lửa yêu thương, xoá đi những ích kỷ nhỏ nhen, để mọi người nhìn nhau là anh em thực sự con cùng một Cha trên trời.

Ước gì, chúng ta hãy siêng năng đến kín múc ngọn lửa yêu thương từ nơi Thánh Thể Chúa, để rồi chúng ta đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Lạy Chúa, xin đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa yêu thương của Chúa. Xin Chúa soi sáng những tâm hồn còn ngồi trong bóng tối tăm, sưởi ấm những tâm hồn lạnh lùng, thanh luyện những cõi lòng chai đá, để mọi người trên trái đất này cảm nghiệm được ánh lửa yêu thương của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

CUỘC CHIẾN TRIỀN MIÊN

PM. Cao Huy Hoàng

Hậu quả của tội nguyên tổ thật là khủng khiếp! Satan thật giả dối, gian ngoa, quỷ quyệt! Con người khi đã chấp nhận theo sự hướng dẫn của Satan thì chắc hẳn phải đi vào chỗ chết, chết ngàn thu. Đáng buồn thay, cái chết ngàn thu ấy được Satan phát họa bằng một sự sống đầy tham vọng, giàu sang phú quí, đầy dư khoái lạc ở đời này.

Nếu Chúa Giê-su không xuống thế gian này để dùng Lời Ngài và chính cái chết của Ngài mà cứu con người được sống, thì con người vẫn mãi mãi chìm trong cái chết kinh hoàng ấy, trong cái vỏ bọc của một sự sống tưởng như là tuyệt vời!

Rõ ràng là Chúa Giê-su đã đến và khởi xướng một cuộc chiến tranh triền miên trong cõi đất này, cuộc chiến giữa Sự Sống Vĩnh Cửu và Sự Chết Ngàn Thu.

Trong khi Chúa Giê-su, Sự Sống Vĩnh Cửu, muốn cho tất cả con người được sống không chỉ đời này, mà còn đời sau nữa, và đời đời trong Nước Thiên Chúa, thì Sa-tan ‘Sự Chết Ngàn Thu’ lại lôi kéo con người ta về phía chỉ sống sung túc khoái lạc ở đời này, không cần có đời sau, đời đời. Càng nhiều người quên đi, hoặc không cần có đời sau, thì Satan càng mãn nguyện, vì chúng luôn là chống lại Thiên Chúa.

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”.

Chính Lời Ngài đã mở lòng trí con người phân biệt Thiện, ác; sống, chết; thật, giả… và cũng chính Lời Người là sự Thiện, Sự Thật, Sự Sống làm cho cái ác, cái chết, cái giả dối phải hổ người bẽ mặt.

Cuộc chiến ấy, trước tiên ngay trong lòng mỗi người, và từng giây phút, từng ngày. Con người phải tự chia rẽ chính mình. Cũng trong một con người mà cái thiện cái ác, cái thật cái giả vẫn cùng nhau canh cánh. Bao lâu hãy còn sống đây, trên cõi đất này, thì dù là người có học cao, học rộng, có chức, có quyền, có nhiều đời nhiều năm theo đạo, sống đạo…, có ai dám vỗ ngực xưng tên rằng mình đang hoàn toàn thuộc về sự thiện, sự thật, sự sống đời đời.

Thăm viếng và giúp đỡ cụ Gia-cô-bê trong những ngày cụ lâm bịnh nặng, chúng tôi nghe rõ lời tâm sự của cụ với từng đứa con lúc riêng tư ngồi bên cha, chăm sóc cho cha, cũng chỉ một nội dung: “Hành trình Đức Tin là một cuộc chiến triền miên nghe con. Nhớ là: ma quỷ sàng con như sàng gạo. Ma quỷ rất ác độc nhưng cũng rất dễ thương, rất hung dữ nhưng cũng rất hiền lành, rất thô lỗ cộc cằn nhưng cũng rất ngọt ngào, nịnh nọt… Không cảnh giác, con rất dễ thua cuộc đó. Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giê-su mới chiến thắng được con à”.

Thiết nghĩ cụ đang nói đến cuộc chiến triền miên trong mỗi con người. Tôi vẫn tâm đắc nhất là câu kết của cụ: “Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giê-su mới chiến thắng được con à”.

Tôi có cảm giác đây là cả một kinh nghiệm chiến trường của cụ, khi cụ dùng hai từ “tình yêu và sức mạnh” của Chúa Giê-su.

Tình yêu ấy được Chúa Giê-su đề cập trong đoạn đầu Tin Mừng hôm nay: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”.

Ngọn Lửa của Thiên Chúa Cha được Chúa Giê-su mang đến cho trần gian, là lửa của Thánh Thần Chân Lý, lửa của Thánh Thần Tình Yêu: “Ai yêu mến sự Thật, thì nghe tiếng tôi”. “Ai sống trong Tình Yêu là thực sống trong Chúa”.

Như vậy, phàm ai không yêu mến sự thật thì không nghe tiếng Chúa Giê-su, thì chống đối Chúa Giê-su. Từ đó, trong thế giới loài người xảy ra sự phân rẽ giữa những người theo Chúa và người không chấp nhận theo Chúa, theo giáo lý của Chúa, theo con đường của Chúa. Cũng vậy, ai không sống trong Tình Yêu đích thực của Thiên Chúa thì chống lại Thiên Chúa. Không phải là một sự phân chia rõ ràng, một cuộc chiến triền miên đấy sao. Cụ thể hơn, ngay chính trong lòng mỗi người, mỗi người luôn phải ra sức chiến đấu để được sống đời đời, thì hẳn nhiên phải sẵn sàng tuyên chiến với cái giả trá điêu ngoa, với cái ác tiềm ẩn trong lòng, do ma quỷ điều khiển. Không ai có thể ỡm ờ, lấp lững giữa thiện ác, giữa Thiên Chúa, và ma quỷ. Phải dứt khoát với điều Ác để đón nhận cái Thiện của Thiên Chúa.

Ghi nhận cảm nghiệm về một hành trình Đức Tin đã đi qua của một cụ già, thiết tưởng mỗi người chúng ta phải ngộ ra chúng ta đang là những người lính anh dũng trong cuộc chiến tranh triền miên và hơn thế nữa, phải chiến thắng để bảo vệ Đức Tin, làm chứng cho Sự Thật, cho Sự Sống đời đời. Và chỉ trong Giê-su, chúng ta mới chiến thắng trong cuộc chiến triền miên ở cõi đất này, để chúng ta dành lấy một nền hòa bình là chính sự bình an tâm hồn khi hãy còn sống và chiếm hữu một chỗ trong Nước Thiên Chúa, Nước Hòa Bình.

Lạy Chúa Giê-su, xin hãy đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa tình yêu, chân lý. Xin chính Ngài trở nên sức mạnh của mỗi chúng con trong cuộc chiến triền miên gian khó này. A men.

Về mục lục

.

LỬA CHÁY – SỰ THẬT TỎ BÀY

Lm Nguyễn Văn Nghĩa

“Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Thoạt nghe những lời trên của Chúa Giêsu hẳn nhiều người giật mình. Một tôn sư lỗi lạc, một vị đại ngôn sứ, một Đấng Thiên sai mà tuyên phán những lời ấy thì thật chướng tai, khó nghe. Là người, ai cũng đều khát mong được sống trong an bình. “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” là một sự thật hầu như hiển nhiên. Thế thì chúng ta phải hiểu nội hàm lời tuyên bố của Chúa Giêsu trên đây như thế nào?

Để hiểu đúng và tương đối chính xác lời một ai đó thì cần thiết phải xem xét ngữ cảnh khi người ấy nói. Tin mừng thánh Luca tường thuật ngữ cảnh trước đó là việc Chúa Giêsu khử trừ một tên quỷ câm ra khỏi người bị nó ám và người câm nói được (x.Lc 11,14-23). Tiếp đến Người tuyên bố rằng ai nghe và giữ lời Thiên Chúa mới là người có hạnh phúc thật. Rồi Người tự cho mình hơn cả Ngôn sứ Giona khi thẳng thắn công bố sự thật. Tiếp đến Chúa Giêsu nói về sự nhận thức như là ánh đèn dẫn lối chúng ta đi (x.Lc 11,37-36). Sau đó Người khiển trách nhiều người Pharisiêu và nhiều nhà thông luật đã sống và hướng dẫn kẻ khác trong sự lầm lạc cho dù biết họ  sẽ tức tối tìm cách hảm hại Người (x.Lc 11,37-54).  Rồi Người khuyến dụ các môn đệ đừng sợ và hãy can đảm công bố sự thật (x.Lc  12,1-12), đừng lo thu tích của cải đời này nhưng hãy tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và luôn sống trong tinh thần tỉnh thức và sẵn sàng là chu toàn bổn phận với nhưng người được giao phó cho mình chăm nom (x.Lc 12,13-48).

Trong ngữ cảnh này, Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên!” (Lc 12,49). Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đem xuống thế gian chính là ánh sáng chân lý như lời Người khẳng định với Philatô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Ánh sáng chân lý đã bừng lên thì sự thật, sự giả, điều tốt, điều xấu sẽ được phân biệt rõ ràng. Ánh sáng chân lý đã chiếu soi thì sự thiện hảo nhất thời, chóng qua và hạnh phúc đích thực, vĩnh tồn sẽ được biện phân. Cảnh mập mờ của buổi thời hổn mang sẽ bị xoá dần và con người chúng ta cần phải chọn lựa dứt khoát. Chọn lựa là hy sinh. Đau đớn là chuyện thường tình khi phải bỏ cái này để chọn cái kia, nhất là khi cái này đã từng gắn bó với mình và nó chưa hẳn là xấu.

Sự xâu xé trong tâm hồn luôn có đó khi chúng ta phải chọn lựa giữa điều lành và điều dữ, giữa một điều tốt và một điều tốt hơn, giữa hạnh phúc nhất thời và hạnh phúc vĩnh cửu. Bị giằng co, bị xâu xé là một lẽ rất tự nhiên vì điều tốt hơn chưa thực sự ở trong tầm tay và hạnh phúc vĩnh cửu vẫn đang còn ở phía chân trời xa. Đây chính là sự chia rẽ mà Chúa Giêsu muốn đề cập.

Ai đến với tôi mà không từ bỏ cửa nhà, ruộng nương, cha mẹ, vợ con…và không vác thập giá mình thì không thể làm môn đệ của tôi (x.Lc 14,26-27). Dù là một lối nói kiểu so sánh nhưng Chúa Giêsu đã thẳng thừng đưa ra một đòi hỏi có tính triệt đễ rằng phải chọn Người trên hết và trước hết. Tất cả chỉ vì lý do này: Người chính là Thiên Chúa thật, nhờ Người mà mọi được tạo thành. Dĩ nhiên khi đã can đảm chịu xâu xé, chịu bắt bớ để chọn Người làm Thầy và làm Chúa của mình, chúng ta sẽ lại nhận được mọi sự như trên cách gấp bội và nhất là sự sống trường sinh (x.Mc 10,28-30).

Lửa đã cháy lên. Ánh sáng đã đến thế gian, Sự thật đã được tỏ bày. Vấn đề còn lại là sự chọn lựa của chúng ta. Chọn lựa là phải hy sinh. Thiện hảo nào cũng có giá của nó. Dù là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa ban cho, nhưng hạnh phúc vĩnh cửu dứt khoát không phải là thứ hàng hoá rẻ tiền.

Về mục lục

.

LỬA AN BÌNH

 Lm. Bùi Quang Tuấn

Nếu khẳng định Đức Giêsu là “Hoàng tử Bình an”, người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng thừng của Ngài về chính mình: “Các ngươi nghĩ: Ta đến để ban bình an trên mặt đất ư? Không đâu! Ta bảo thật các ngươi, không gì khác ngoài sự chia rẽ! Vì từ nay, trong một nhà có năm người, sẽ có chia rẽ: ba với hai, hai với ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha với con, con với cha…”?

Làm sao có thể hiểu được khi một người vốn tự xưng là “hiền lành và khiêm nhường” lại gây nên bao nỗi phân ly trong gia đình, một cấu trúc cần được hiệp nhất hơn bất cứ một cấu trúc hay tổ chức nào trên thế giới?

Người ta sẽ phải hiểu thế nào câu nói của Đức Giêsu: “Ta đến ném lửa xuống đất và Ta mong sao lửa đó được cháy lên”? Đây có phải là thứ lửa mà anh em nhà Zêbêđê từng đề nghị Chúa đổ xuống đốt trụi dân thành Samari hỗn láo, hay thứ lửa đã thiêu huỷ thành Sôđôma và Gômôra tội lỗi xưa kia chăng?

Khi nhìn vấn đề qua lăng kính “Lưỡi là lửa” trong thư của Thánh Giacôbê, thì lửa của Đức Kitô đã tương phản với thứ lửa hoen ố “do chính hoả ngục nhóm lên” (Gc 3:6). Ngài chính là “Chiếc Lưỡi”—Ngôi Lời của Thiên Chúa, làm phát sinh bao “lời hằng sống”, nung đốt tâm hồn thế nhân và thúc đẩy một hành trình rao giảng. Lời Chúa phải được toả lan đến khắp mọi nơi và sưởi ấm cho hết mọi người.

Lời của Thiên Chúa đã từng thúc bách ngôn sứ Giêrêmia, một con người có tâm hồn diệu hiền và nhạy cảm, sinh ra để yêu mến, thích yên lành hơn gây phiền phức, thành một con người mang sứ mạng ra đi “để nhổ và lật đổ, để huỷ và để phá, để xây cất và để cấy trồng” (Gr 1:10).

Dù luôn cảm thấy mình như một đứa trẻ, nhưng Lời Chúa đã bắt ông đứng dậy, mở miệng ra nói những lời đanh thép và quyết liệt hầu thức tỉnh con cái Israel đang trong cảnh u mê lầm lạc. Thiên Chúa muốn cứu độ Israel qua việc vạch trần các thói hư nết xấu của dân chúng, sự lật lọng giả hình của hàng tư tế, thói bội phản thất ước của hạng quan quyền để từ đó Ngài đòi buộc họ phải có một sự chọn lựa phân minh: phúc hay hoạ, sống hay chết, bình an hay bất hạnh, cậy dựa Thiên Chúa hay con người.

Vì trung thành với sứ mạng truyền đạt Lời Chúa mà ngôn sứ Giêrêmia đã bị dân chúng đối xử tệ bạc. Có lần người ta tìm cách ném ông xuống một giếng bùn cho lún sâu đến chết, hầu không còn tuyên sấm những lời của Giavê nữa. Nhưng một vị hoạn quan người ngoại là Abđêmêlech biết chuyện, đã tìm cách cứu ông ra khỏi giếng bùn. Về sau vì không nghe lời ông, người Do thái đã phản lại vua Babylon và cấu kết với Ai cập. Thế nên chẳng bao lâu, đất nước Giuđa đã rơi vào sự tàn phá kinh hoàng của dân Babylon. Vị ngôn sứ đã bị một nhóm người bắt đưa sang Ai cập. Có lẽ ông đã chết tại đây, giữa những kẻ hằng chống đối giận ghét, vì cớ ông không ngừng nói Lời Chúa để cảnh báo và thúc dục họ.

Theo nhận xét của một nhà chú giải Kinh Thánh là cố linh mục Nguyễn Thế Thuấn,: “Sứ vụ của Giêrêmia quả đã thất bại lúc ông sinh tiền, nhưng dung mạo của ông không ngừng lớn lên sau khi ông chết. Bởi giáo lý của ông về một Giao ước mới, đặt nền tảng trên lòng đạo, tôn giáo nội tâm, ông đã là cha của Do thái-giáo trong cái nhìn tinh ròng nhất… Đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu, nêu cao những liên lạc thân mật mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa, Giêrêmia đã chuẩn bị cho Giao ước mới, và cuộc quên mình chịu đau khổ để phục vụ Thiên Chúa đã biến ông thành một dung mạo của Đức Kitô”.

Như vậy, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, đã phô bày trọn vẹn dung mạo của người ngôn sứ khi phân rõ ánh sáng và tối tăm, điều tốt và điều xấu, chân thật và giả trá, cùng kêu gọi một thái độ rõ ràng: đón nhận hoặc khước từ, bước theo hay chống đối.

Lời ông Simêon nơi Đền thờ đã được xác nhận: “Ngài có mệnh làm cớ cho nhiều người té nhào và chỗi dậy trong Israel, và làm dấu gợi lên chống đối” (Lc 2:34). Như thế tất có sự đối kháng, mâu thuẫn. Trong một gia đình, cộng đoàn, hay dân tộc, sẽ có người tin nhận và có người chống cự, có người tìm được bình an đích thực, nhưng cũng có người tự ru mình bằng thứ bình an giả tạo.

Bình an là nỗi khát khao trầm lặng của nhiều tâm hồn. Nhưng để có bình an đích thật lắm khi tôi phải trả giá bằng chiến đấu và hy sinh. Đây là một trong những điểm “nghịch lý” của Tin Mừng, nơi mà người ta thường bắt gặp những giá trị “trái ngược” như: cho chính là nhận, thu tích là mất đi, ai tìm sự sống sẽ phải chết, ai đành chết thì lại có sự sống…

Thực tế, có biết bao chân lý của Tin mừng đã không được nói ra vì sợ gia đình bất thuận, có bao sự thoả hiệp nghịch luân đã không được nhắc tới vì sợ cộng đoàn bớt người, và có biết bao nhập nhằng tội lỗi xấu xa vì sợ phải mang một vết thương rướm máu trong tâm hồn. Tất cả đều là những nguỵ trang giả dối và bình an trá hình.

Bình an thật sự chỉ có được khi con người biết “đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu” và “nêu cao những liên lạc mật thiết mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa”. Bằng việc nhận chân và nêu cao giá trị tinh thần, cùng sự liên lạc thẳm sâu với Thiên Chúa, mà người môn đệ chân chính của Đức Kitô dám hy sinh những mối quan hệ cao quí trong cuộc đời. Dù đó có là quan hệ ruột thịt thân thương như cha mẹ với con cái.

Chắc hẳn lịch sử Giáo hội không bao giờ quên được hình ảnh của một Phanxicô Assisi, người dám lột bỏ hết mọi giàu sang nhung lụa, trả lại cho người cha trần thế, để chỉ chú tâm kiếm tìm các giá trị thiêng liêng nơi người Cha trên trời. Lịch sử cũng không thể quên được hình ảnh của một Giêrađô Majella quyết liệt trốn nhà ra đi sau khi ghi vội cho mẹ dòng chữ: “Mẹ ở lại. Con đi làm thánh.”

Lại còn nữa hình ảnh của một Charles Cornay đã can đảm bước qua mình song thân, lên đường đi truyền giáo tại Việt Nam, chấp nhận biết bao khốn khó nguy nan, để rồi cuối cùng, dù bị kết án lăng trì, vẫn không dập tắt được ngọn lửa khát khao: làm cho Tin mừng Phúc âm được cháy lên trên mảnh đất xa xôi và nghèo nàn này. Và còn nhiều… còn nhiều lắm các mẫu gương hào hùng của những con người đang tiếp nối việc thực hiện nỗi mong của Chúa Giêsu.

Là người Kitô hữu, tôi cũng được mời gọi dấn bước không ngừng trên hành trình loan báo các giá trị Tin mừng, để lửa yêu thương và bình an được bừng sáng khắp nơi trên thế trần.

Về mục lục

.

THẦY KHÔNG ĐẾN ĐEM BÌNH AN NHƯNG ĐEM CHIA RẼ

Lm. Vũ Mộng Thơ

Thoạt nghe những điều Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay, ai trong chúng ta cũng cảm thấy ngạc nhiên và tự hỏi: Tại sao Chúa Kitô lại mang đến sự chia rẽ… Ngài đã chẳng giảng dậy cho các môn đệ: “các con hãy học với Ta sự hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng thì tâm hồn các con sẽ có được sự bình an” sao? Chúa Giêsu còn nói: “Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống!”. Vậy nếu Chúa là Sự Thật, tức là Chân Lý thì Lời của Ngài không thể sai lầm được, không thể đi ngược hay mâu thuẫn với Sự Thật được. Tại sao và tại sao?

Là có lẽ tại vì chúng ta chưa suy niệm cho đủ và cho sâu Lời Chúa… cũng như trong cuộc đời chúng ta thường có thói quen kết luận “nhanh chóng và gọn nhẹ” những người chung quanh mình nhất là những người không cùng một lập trường với chúng ta, những người mà chúng ta không thích. Tục ngữ Việt Nam đã nói: “Sự Thật thì bao giờ cũng mất lòng”. Ít ra hôm nay chúng ta có thể suy niệm hai điều trong bài Tin Mừng:

– Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.

– Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.

– Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống

Nếu sự thật bao giờ cũng mất lòng thì Chúa Kitô không ngại làm mất lòng trước hết những Đạo sĩ và Biệt phái kiêu căng tự phụ thời của Ngài để rao giảng chân lý cho dân chúng, để lột mặt nạ giả hình của họ: ra luật nhưng không giữ luật, để họ không còn ăn chặn đầu chặn cổ toàn dân, bóc lột xương máu nhân dân… mà vẫn lên mặt dạy đời là “người công chính trước mặt Giavê, là người lo lắng cho quốc gia và vận mạng của dân tộc… Chúa Kitô cũng không như những người tâng bốc chế độ, ve vãn những người có quyền hành trong một quốc gia, một đoàn thể để hưởng lợi và được che chở. Họ chủ trương “gió chiều nào theo chiều ấy” để họ lừa dối lương tâm, quên hết hay mặc kệ lẽ phải, luật của Chúa của Giáo hội để làm những điều sai quấy, những điều thất đức mà ngay chính lương tâm họ cũng không dám tự hào và đêm về cũng không ngủ cho yên. Chúa Kitô còn chấp nhận chính cái chết, một cái chết nhục nhã nhất để làm chứng cho Sự Thật. Vì chính Ngài cũng là Sự Sống và là Đường cho chúng ta nối gót theo Ngài. Sự Thật thì muôn đời vẫn chiến thắng và tồn tại, còn sự gian trá hay những tay sai của sự gian trá chống lại sự thật… thì dù có quyền phép có khôn ngoan như Luccifer, như Lênin, như Hitler… cũng rất chóng bị tan rã. Cũng thế đối với những giáo phái (secte), những chế độ cầm quyền gian trá bóc lột nhân dân trái với lòng Trời thì cũng rất chóng bị tan rã, hạ bệ.

– Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.

Trước hết chúng ta hãy tự hỏi chính mình là đã có bao nhiêu lần tôi đã tự lừa dối chính lương tâm mình… thì đủ biết chúng ta còn rất nhiều thiếu sót trong lãnh vực này. Ai cũng muốn dễ dãi với chính mình nhưng lại rất nghiêm khắc với những người khác. Ai cũng muốn nghe người khác nói tốt về mình, khen tặng mình và không thích những ai chỉ trích phê bình mình. Ta phải tôn trọng sự thật và dám nói lên sự thật đó với con cái, với những ngưòi chúng ta có bổn phận dẫn dắt, dạy dỗ dù sự thật bao giờ cũng mất lòng. Cũng cần phải có “đắc nhân tâm”, sự tế nhị và suy tư cũng như cầu nguyện để thực hiện điều này. Không phải dễ. Chúng ta cần học với Tiên tri Giêrêmia hôm nay dù cho “Ngài đã sinh ra tôi làm người bất thuận sống trên vũ trụ”, dù biết là toàn dân không thích mình một tí nào ca, vì theo Lời Giavê, Tiên tri loan báo toàn những ăn chay hãm mình… nếu không sẽ án phạt. Nhưng Giêrêmia đã phải chiến đấu với chính mình để trung thành với sứ mạng của Giavê của Sự Thật dù với cái chết. Xưa kia các bạo quyền đã giết sạch các Tiên tri, lên án tử hình ngay chính Con Thiên Chúa… thì ngày nay họ vẫn tiếp tục ám sát Gandhi, Luther King, Don Romco, bỏ tù các nhà truyền giáo, bắt giam cha Nguyễn Văn Lý… nhưng chính những vị ấy đã và sẽ chiến thắng… còn bạo lực sẽ rất mau chóng tan rã. Bạn có đồng ý như thế không?

Về mục lục

.

BÌNH AN, NIỀM VUI, ƠN CỨU ĐỘ

An Phong.

Tin mừng chúa nhật 20 thường niên C thuật lại những lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Những lời này gợi lên một viễn cảnh bi thảm cho sứ vụ của Người trên trần gian: đó là cuộc Thương khó trong tương lai, những đấu tranh làm phân rẽ con người với nhau.

Khi vào trần gian, Đức Giêsu đã đưa lửa vào, và Người ước mong lửa đó bùng lên. Theo Kinh thánh, Lửa là biểu tượng hình phạt của Thiên Chúa, nhất là vào lúc tận cùng thời gian. Lửa còn là biểu tượng cho sự thanh tẩy và làm đổi mới. Chúa Giêsu sẽ thực hiện cuộc thanh tẩy tâm linh nhờ Chúa Thánh Thần.

Đức Giêsu cũng nói đến phép Rửa mà Người sẽ phải chịu. Đây là biểu tượng của việc dìm vào đau khổ – cuộc Thương khó. Người sẽ phải “cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình” (Dt 12,4).

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban bình an cho trái đất sao?… Không phải thế đâu, nhưng đúng hơn là để gây chia rẽ”. “Sự chia rẽ là đối cực của sự bình an. Nhưng đây là sự chia rẽ vì Chúa, một sự chia rẽ đi vào qui luật của thập giá: Khi mất đi là khi tìm thấy, khi chết đi là khi được sống muôn đời. Hơn nữa, Đức Giêsu đã hứa: Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Bởi thế Đức Giêsu không đến trần gian để gieo sự bất hòa, nhưng là đem đến sự hiện diện của Thiên Chúa, đồng nghĩa với sự bình an. Sự bình an Đức Giêsu mang đến là sự bình an phải chiến đấu trong chân lý, phải được xây dựng trong khó nhọc, trước hết ở trong chính bản thân ta rồi lan tỏa chung quanh ta: đó là dám chấp nhận những mệt nhọc, đói khát, thua lỗ, nhường nhịn vì những điều lành, biết tách mình ra khỏi những đố kị và muôn vàn những cái vừa vụn vặt vừa tầm thường của cuộc sống. Lương thực của sự bình an luôn là một thách thức” (Văn Hòe).

Trong lịch sử nhân loại, Đức Giêsu Kitô quả thực là một nghịch lý. Người đã nên dấu chỉ cho người ta chống đối. Người đã đóng ấn chứng từ của mình bằng việc tự nguyện hy sinh bản thân trên thập giá. Cuộc sống và cái chết của Người đã trở thành dấu chỉ của tình yêu, hy vọng và sự sống.

Trong một thế giới thiếu vắng hơi ấm tình người, thiếu vắng một niềm hy vọng đích thực và tình yêu, Đức Giêsu đã mang đến lửa tình yêu của Người. Ngọn lửa đó sưởi ấm cõi lòng con người, thắp sáng niềm hy vọng. Đó là ngọn lửa Tình Yêu Cứu Độ, nơi đó tất cả chúng ta được thanh tẩy.

Người kitô hữu là người được “vầng đông từ chốn cao vời tỏa xuống hào quang sáng chói, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,78-79). Thiên Chúa chiếu soi chúng ta, để chúng ta được bình an. Khi cuộc sống có những lo âu, buồn chán, tuyệt vọng, chúng ta hãy tìm đến với ơn Chúa; “ơn Chúa sẽ lôi cuốn bạn, cho tới khi bạn tìm lại được nguồn vui” (thánh Bênađô). Người kitô hữu đích thực là người sống trong niềm vui, bình an và ơn cứu độ của Chúa. Người kitô hữu đích thực thắp lên ngọn lửa tình yêu của Thánh Thần trong lòng mình và nơi người khác.

Phải chăng chúng ta đang sống trong bình an, niềm vui và ơn cứu độ của Thiên Chúa?

Phải chăng chúng ta đang thắp lên ngọn lửa tình yêu, hy vọng và cứu độ để sưởi ấm trần gian?

Lạy Chúa,

Xin đừng để chúng con thất vọng

khi đứng trước khổ đau thử thách.

Xin giúp chúng con nhận ra

giữa những tăm tối vẫn còn ánh sáng,

giữa những đau buồn chóng qua luôn có niềm vui đích thực,

và nhất là giữa những thăng trầm biến đổi

luôn có những hồng ân và sự hiện diện đầy yêu thương.

Về mục lục

.

NGHE DANH THÁNH CHÚA GIÊSU LÀ CỚ MÂU THUẪN

Lm Trần Bình Trọng

Trải qua suốt dòng lịch sử nhân loại, người ta đã dùng lửa để nấu ăn và thiêu đốt, để chiếu sáng và sưởi ấm, để chạy máy và bắn phá. Lửa mang nhiều ý nghĩa khác nhau trong Thánh kinh. Lửa trong Thánh kinh Cựu ước ám chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa như khi ông Môsê thấy Chúa trong bụi cây bốc lửa cháy (Xh 3:2).

Lửa còn được dùng như là hình phạt khi thành Sôđôma bị thiêu hủy (St 19:24). Trong Thánh kinh Tân ước, lửa ám chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa (Cv 2:3). Trong đêm thánh Vọng Phục sinh, lửa mới được làm phép và thắp vào cây nến phục sinh, tượng trưng cho ánh sáng Chúa Kitô. Trong Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu phán: Thầy đã đến đem lửa vào mặt đất, và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên (Lc 12:49).

Lửa Phúc âm mà Ðức Kitô mang đến đã là cớ cho người ta chia rẽ và chống đối ngay từ khi Chúa giáng sinh. Trong Phúc âm hôm nay, Chúa phán: Anh em tưởng rằng Thày đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ (Lc 12:51). Lời Chúa trên đây xem ra có vẻ mâu thuẫn với sứ mệnh và đường lối của Chúa cứu thế.

Khi Chúa cứu thế sinh ra tại Bêlem, các sứ thần ca hát vang dội: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Khi Chúa Giêsu sai các môn đệ đi từng hai người một, Chúa bảo các ông chúc bình an cho nhà mà các ông vào (Lc 10:5). Khi Chúa sống lại từ cõi chết, lời đầu tiên Chúa nói với các môn đệ là lời chào bình an (Mt 28:9; Lc 24:36; Ga 20:19, 21, 26). Và trước khi về trời, Chúa hứa ban bình an (Ga 15:27) cho các tông đồ.

Vậy làm sao người ta giải quyết được những mâu thuẫn này? Nếu hiểu bình an theo quan niệm người đời, người ta sẽ thấy lời Chúa mâu thuẫn. Còn bình an theo nghĩa Thánh kinh không hiểu theo nghĩa vắng bóng chiến tranh. Bình an theo nghĩa Thánh kinh là không thoả hiệp với sự dữ và tội lỗi. Bài trích sách Giêrêmia cho thấy vị ngôn sứ được Chúa sai đến cảnh giác là thành Giêrusalem sẽ bị phá huỷ vì tội lỗi dân thành. Ngôn sứ Giêrêmia bị tố cáo là phản bội vì làm nhụt chí của dân thành với thái độ chủ bại. Kết quả là ngôn sứ Giêrêmia bị bắt và tống ngục. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do thái bảo ta: Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu (Dt 12:4). Ngụ ý lời thánh Phaolô là người tín hữu phải sửa soạn đổ máu trong cuộc chiến đấu với tội lỗi. Ðó là việc mà có những vị tử đạo trong Giáo hội đã làm.

Từ khi mới sinh, Chúa Giêsu đã là cớ cho người ta chống đối. Vua Hêrôđê khi nghe tin Chúa cứu thế giáng sinh, vì sợ mất ngai vàng nên đã ra lệnh giết các trẻ em từ hai tuổi trở xuống (Mt 2:16). Khi Ðức Mẹ dâng Chúa vào Đền thờ, ông Simêon tiên báo là con trẻ sẽ nên cớ cho nhiều người vấp ngã (Lc 2: 34). Cuộc đời Chúa cứu thế trong ba năm giảng dạy là những chuỗi ngày bị người ta chống đối, bách hại và cuối cùng bị lên án tử hình trên thập giá. Như vậy phải chăng Chúa đến gây ra ngọn lửa bất hoà và chia rẽ trong thế gian?

Ngay cả trong một gia đình, cũng có sự chia rẽ vì danh Chúa. Ðọc lịch sử các thánh giúp ta hiểu được tại sao những phần tử trong một gia đình lại phân rẽ, chống đối nhau. Có những vị thánh khi tận hiến đời mình cho Chúa đã bị gia đình phản đối và tẩy chay. Trong cùng một gia đình khi có những người tin theo Chúa, nghe lời Chúa giảng dạy, còn những người khác không tin theo, cũng có thể gây bất hoà và chia rẽ. Ðọc lịch sử Giáo hội, ta thấy đạo Chúa thường bị chống đối. Những cuộc bách hại đạo là bằng chứng của việc chống đối. Khi người Kitô hữu muốn cải cách Giáo hội, muốn đem lửa Kitô giáo làm bừng cháy trong lòng thế giới (Lc 12:49), tẩy chay và chống đối sẽ đến ngay từ trong lòng Giáo hội. Ðó là trường hợp thánh Têrêsa thành Avila, thánh Jean d’Arc, thánh I-nha-xi-ô đã bị lên án và chống đối chỉ vì chỉ muốn cải cách Giáo hội.

Như vậy người ta thấy càng theo sát gót chân Chúa bao nhiêu, người ta càng bị chĩa mũi giùi bấy nhiêu. Tại sao người ta bị chống đối khi mang lửa Phúc âm vào thế gian? Lí do là vì người khác không muốn chấp nhận hi sinh cố gắng, không muốn thay đổi cách sống, không muốn trả giá cả để làm môn đệ Chúa. Khi người ta muốn sống theo đường lối Phúc âm, khác đường lối thế gian, người ta sẽ bị nghi ngờ, tẩy chay và kì thị. Giáo lý của Chúa giảng dạy, đường lối của Chúa đi đã đem lại tẩy chay và chống đối, nghĩa là đem lại chia rẽ ngay cả giữa các phần tử trong một gia đình.

Sự hiện diện của Chuá, lời Chúa giảng dạy, đường lối Chúa đi, thường làm xáo trộn tâm trí loài người trước đã. Chỉ khi nào người ta bất mãn với con người cũ, với lối sống hiện tại, người ta mới có thể chấp nhận giáo lí của Chúa, sống theo đường lối Phúc âm và coi Chúa là trung tâm điểm của đới sống. Lúc đó bình an mới đến trong tâm hồn. Kết quả của việc chấp nhận đường lối Phúc âm là bình an. Ðó là điều mà thánh Âu-tinh đã có cảm nghiệm được khi thốt lên: Lạy Chúa, tâm hồn con còn lo âu khắc khoải mãi, cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa.

Lời cầu nguyện xin cho được bình an trong tâm hồn:

Lạy Chúa, Chúa đã sai Con Một Chúa đến

giao hoà loài người với Thiên Chúa,

và đem bình an đến cho người thiện tâm.

Vậy sao sứ điệp của Chúa cứ làm xáo trộn tâm trí loài người?

Xin cho con được nhận thức rằng:

chấp nhận sứ điệp Phúc âm và sống theo đường lối Chúa đi,

con mới có được sự bình an trong tâm hồn. Amen.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN_C

 Lm Giuse Đinh tất Quý

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”(Lc 12,49)

Những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng này thật kỳ lạ khác thường. Chúng ta còn nhớ có lần hai môn đệ xin Ngài sai lửa từ trời xuống thiêu đốt một làng Samaria không tiếp rước Ngài, thì khi đó Ngài đã mắng hai ông và dùng đường khác mà đi. Vậy mà hôm nay Chúa Giêsu lại nói “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian”. Hay như một lần khác, khi Phêrô đã tuốt gươm ra để bênh cho Chúa lúc quân dữ đến bắt Ngài thì Ngài lại bảo Phêrô hãy xỏ gươm vào bao vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm. Vậy mà hôm nay Ngài lại nói “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, + Thầy đến để đem sự chia rẽ !”.

1. “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!

Vậy thì Lửa mà Ðức Giêsu mang lại là lửa nào?

Phải chăng là thứ lửa trời đã thiêu hủy Sôđôma, hay thứ lửa mà Giacôbê và Gioan định sai xuống để thiêu hủy một ngôi làng Samari? (Lc 9,55)

Phải chăng là thứ lửa mà cây không trái (Mt 3,10), hay những cành nho khô héo bị quăng vào (Ga 15,6)?

Lửa này có phải là lửa kinh khủng của ngày phán xét?

Trong cái nhìn của thánh Luca, lửa mà Ðức Giêsu muốn làm bùng lên trên toàn cầu, chắc là thứ lửa của Phép Rửa trong Thánh Thần (Cv1,5). Lửa này đã ngự xuống từng người vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,3).

Lễ Ngũ Tuần quả là Phép Rửa trong lửa, nhưng đó mới chỉ là một khai mở ban đầu. Còn cần vô số những lễ Ngũ Tuần khác trên thế giới.

Trái đất này càng lúc càng nóng lên. Nhưng lòng con người lại nguội lạnh như hai môn đệ Emmau.

Chúng ta cần cảm thấy chút lửa ấm (Lc 24,32) của người đồng hành xa lạ, nói cho ta về Lời Chúa.

Chúng ta cần cảm thấy ngọn lửa trong tim như Giêrêmia, thúc bách ông phải nói Lời Chúa dạy (x. Gr 20,9).

Ðức Giêsu đã bắt đầu nhóm lửa trên địa cầu. Ðừng làm tắt đi ngọn lửa ấy, nhưng hãy để nó lan ra.

Lửa thiêu hủy những cằn cỗi.

Lửa thanh lọc những ô nhơ.

Lửa làm ấm lại cõi lòng băng giá.

Lửa sáng soi trên bước đường kiếm tìm sự thật.

Chúng ta cần làm cho mong muốn của Ðức Giêsu thành tựu. Nhưng trước hết chúng ta phải là người mang trong tim ngọn lửa của Thánh Thần tình yêu.

Tại một khu phố cổ Ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo. Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường xuyên.

Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiếc lồng đèn. Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu.

Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong đền thờ. Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.

Như Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với Môsê nơi bụi gai cháy sáng và kêu gọi ông đi chu toàn sứ mạng, nay Người cũng sai chúng ta đi loan báo sứ điệp là lửa yêu thương cho trần thế.

Như Chúa Giêsu đã đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh và sai các môn đệ đi loan báo tin vui, nay Người cũng mời gọi chúng ta hãy dùng lửa yêu thương để xua tan bóng tối của bất công, hận thù, nghèo đói c3a những anh chị em chúng ta.

Như Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưới lửa để biến họ thành chứng nhân Nước Trời, nay Người cũng muốn chúng ta mang ngọn lửa tình yêu, thanh luyện và sưởi ấm các tâm hồn.

Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã nhận định rất sâu sắc về ngọn lửa tình yêu này như sau: “Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh”. (TP)

2. “Thầy đến để đem sự chia rẽ”

Thực ra Chúa Giêsu đến trần gian không phải để gây chia rẽ và xáo trộn. Tuy nhiên nhiều khi chính vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xảy ra! Điều này đặc biệt đúng trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai. Khi đó, ai bỏ đạo cũ (đạo Rôma, đạo Do thái) để theo đạo Chúa Kitô thì bị gia đình, bạn bè và hàng xóm ghét bỏ, bách hại. Nhưng những Kitô hữu ấy biết làm gì khác hơn được: chọn bên này thì phải bỏ bên kia, và bên bị bỏ sẽ thù ghét mình.

Dù Chúa Giêsu rất hiền lành nhưng, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ: Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống lại Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà hãy tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giàu nổi giận v.v.

Trong Tin Mừng có đầy dẫy những lời chói tai như thế của Chúa Giêsu. Nếu chúng ta chỉ lựa ra những lời thuận tai để đọc thì Tin Mừng chẳng mang lại ích lợi gì cho chúng ta. Ngược lại, chính những lời làm ta khó chịu, những lời có tính cách quấy rối lương tâm chúng ta mới là những lời giúp chúng ta hoán cải và tìm được ơn cứu độ.

Perpetua là một người phụ nữ vừa mới sinh được một đứa con. Chị sống vào thời hoàng đế Septimô Sevêrô. Gia đình Perpetua là một gia đình danh giá. Perpetua đang học giáo lý với Satunô thì bị bắt. Thấy học trò của mình bị bắt, Satunô cũng tự ra nộp mình.

Cha của Perpetua là một người thờ ngẫu tượng. Ông đến xin con bỏ đạo Chúa mà quay trở về với các thần tượng của ngoại giáo. Perpetua đưa tay chỉ vào một cái bình rồi nói với Cha: “Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không? Đối với con cũng vậy, con không thể cho con một cái tên nào khác ngoài cái danh hiệu là Kitô hữu của con”

Tức giận quá ông đánh cho Perpetua một trận rồi bỏ đi. Sau đó Perpetua không thấy cha trở lại. Chính trong thời gian này Perpetua được rửa tội cùng với một số bạn bè khác. Ngày được trở thành Con Thiên Chúa, Perpetua chỉ cầu xin có một điều. Nàng xin cho có được đủ sức mạnh để chịu đựng nổi những đau khổ của cuộc tử đạo.

Trong nhà giam, Perpetua nhớ đứa con của mình. Chị rất phải đau khổ vì phải xa con. Nhưng rất may, đứa bé vì không có mẹ nên kiệt sức. Người ta phải trả lại đứa be cho mẹ của nó. Nhận lại được đứa con, Perpetua vui sướng, quên hết mọi khổ đau.

Vì biết con mình sắp bị án tử, cha của Perpetua đến gặp con và năn nỉ thảm thiết: “Con ơi! Hãy thương mái tóc bạc của ba. Hãy nhớ đến đôi tay này đã nuôi dưỡng con bao ngày. Hãy thương mẹ của con, anh em con và đứa con nhỏ con đang bồng ẵm trên tay. Không có con, cháu sao sống được. Con hãy bỏ đạo, bỏ điều quyết định làm cho chúng ta mất tất cả.

Mặc dầu rất cảm động và đau khổ trước những lời của cha nhưng Perpetua chỉ biết trả lời: “Thưa cha, tại tòa án sẽ xảy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình”.

Về mục lục

.

ĐỐT LỬA TIN YÊU

Trầm Thiên Thu

Bốn chất kết hợp thành vạn vật trong thiên nhiên là Lửa, Đất, Khí và Nước. Thật kỳ lạ trong Việt ngữ, vì cả bốn chất đều phát âm với thanh trắc, cho thấy điều gì đó “sắc bén” lắm. Thật vậy, bốn chất đó rất cần trong cuộc sống, thiếu thứ gì thì khổ thứ đó – nghĩa là không thể thiếu.

LỬA thể hiện tuổi trẻ, với niềm đam mê hừng hực, sôi nổi, không đắn đo đôi khi liều lĩnh, có thất bại rồi lại cháy lên lửa lạc quan với ước mơ và hoài bão. ĐẤT thể hiện sống có trách nhiệm, ý thức hơn, cẩn trọng và thực tế hơn. KHÍ (Gió) thể hiện sự an toàn, hướng ra thế giới rộng lớn, muốn kết nối với mọi người, mọi vật, để trải nghiệm cuộc sống. NƯỚC thể hiện sự khép lại cuộc đời dần dần, như xuôi theo dòng chảy tìm một chốn an nghỉ.

Bốn chất đó gọi là “tứ đại”. Chúng có vẻ “đối nghịch” nhau nhưng lại lại luôn hài hòa. Trong cuộc sống cũng vậy, có những điều tưởng xuôi mà hóa ngược, tưởng ngược mà lại xuôi; và cũng có nhiều điều tưởng chừng là nghịch lý, nhưng thực ra lại là thuận lý – gọi là nghịch-lý-thuận. Đối lại là thuận-lý-nghịch, tưởng xuôi mà lại ngược, tưởng hên mà hóa xui. Triết lý cuộc đời khá nhiêu khê, không hề đơn giản!

Đó là khái niệm của loài người về vấn đề dạng đối lập (phải – trái, trên – dưới, trước – sau, xuôi – ngược, lên – xuống,… ), đối với Thiên Chúa thì khác hẳn, không lệ thuộc bất cứ thứ gì. Chính Chúa Giêsu đã cho biết: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được” (Mt 19:26; Mc 10:27).

Lửa đa dụng: thắp sáng, làm khô, làm chín, thiêu hủy,… Sử dụng đúng thì lửa hữu ích, sử dụng không đúng thì lửa tác hại. Ánh nắng là một dạng lửa rất cần thiết cho mọi loài, mọi vật. Lửa là chất hữu hình mà như chất khí, không thể cắt đứt, nhỏ mà to, to mà nhỏ, càng chia sẻ càng thêm nhiều chứ không bị giảm bớt. Thật kỳ lạ! Ngày xưa, Thiên Chúa dùng “cột lửa” để dẫn đường cho dân đi đúng hướng vào ban đêm (Xh 13:22) trong suốt thời gian họ đi qua sa mạc để về miền đất hứa. Cả màn đêm dày đặc cũng không thể dập tắt được một đốm lửa nhỏ. Lại thêm một sự kỳ lạ nữa.

Từ xưa, Kinh Thánh đã đặt vấn đề và xác định: “Thiên Chúa làm cho đất trổ sinh dược liệu; những thứ đó, người khôn chẳng dám coi thường. Chẳng phải nhờ khúc gỗ mà xưa nước ra ngọt khiến cho người ta thấy hiệu năng của khúc gỗ hay sao? Cũng chính Thiên Chúa cho con người được hiểu biết để tôn vinh Người vì những việc lạ Người làm” (Hc 38:4-6). Quả thật, “tất cả đều là hồng ân” (Rm 4:16), đúng như Thánh Vịnh đã so sánh: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127:1). Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).

Tác giả sách Huấn Ca kết luận: “Như thế công việc của Người vẫn tiếp tục cho đến khi thiên hạ được an lành” (Hc 38:8). Và rồi còn đưa ra lời khuyên thực tế: “Con ơi, khi đau ốm, con chớ coi thường, nhưng hãy cầu xin Đức Chúa, Người sẽ chữa lành cho. Hãy từ bỏ lỗi lầm, hành động cho đúng đắn, thanh tẩy tâm hồn sạch mọi tội khiên” (Hc 38:9-10). Tâm an thì thân khỏe, tâm rối thì xác loạn. Khoa học cũng đã chứng minh đúng như vậy. Những người hay ghen ghét, hờn giận, thù hằn,… dễ bị bệnh hơn những người hiền dịu, yêu thương, cảm thông, tha thứ,… Tính xấu “tích tụ” nhiều hóa tâm bệnh, tâm bệnh dẫn tới thể bệnh.

Chắc hẳn ai cũng đã từng trải nghiệm nhiều nỗi khốn khó trong cuộc sống đời thường hoặc tâm linh, và cũng có thể cảm nhận như Thánh Vịnh gia: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong, khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đặt chân tôi đứng trên tảng đá, làm cho tôi bước đi vững vàng. Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” (Tv 40:2-4). Thiên Chúa yêu thương và chúc phúc cho chúng ta (Đnl 7:13), luôn ở với chúng ta và không bỏ rơi chúng ta (Đnl 31:8).

Thế nhưng vẫn luôn có nhiều thứ nghịch lý trong cuộc sống, có thể chúng ta lại gặp bất trắc, bởi vì đau khổ luôn xuất hiện để tôi luyện chúng ta, và cũng là “lời nhắc khéo” để chúng ta không “ngủ quên trên chiến thắng” mà hóa kiêu ngạo. Do đó mà phải kiên trì và tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót bằng cách không ngừng tha thiết cầu nguyện: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, nhưng Chúa hằng nghĩ tới. Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, lạy Thiên Chúa con thờ, xin đừng trì hoãn!” (Tv 40:18). Cứ an tâm, vì Ngài nghe từ sáng sớm (Tv 5:4).

Từ khi có loài người tới nay, có lẽ Thánh Gióp là người “trắng tay” giống Chúa Giêsu nhất. Ông chịu những nỗi đau khổ đến tột cùng, bị người đời nguyền rủa, kể cả người vợ yêu quý, vì họ cho rằng ông bị đủ thứ hoạn nạn là do ông thế này thế nọ. Và rồi khi các con ông đang ăn tiệc uống rượu trong nhà người anh cả, bỗng có một trận cuồng phong thổi tới xoáy mạnh khiến căn nhà sập xuống đè họ chết hết, chỉ có một người thoát nạn về báo cho ông hay. Lạ thay, ông Gióp trỗi dậy, không buồn giận, thản nhiên xé áo mình, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Khổ tột cùng mà vẫn tạ ơn Chúa, đức tin của ông Gióp thật vĩ đại. Giả sử chúng ta bị hoạn nạn như vậy thì sao? Liệu đức tin còn vững vàng hay bị lung lay? Đã từng có những người dám nguyền rủa trời đất chỉ vì chuyện nhỏ chứ chưa phải chịu nỗi đoạn trường quá đỗi như ông Gióp. Có qua gian nan mới biết ai thế nào, đồng hay thau sẽ rạch ròi ngay.

Người ta ví cuộc sống là thương trường, và còn hơn thế nữa, mà như chiến trường, vì luôn phải chiến đấu với đủ thứ đau khổ, và cam go nhất là chiến đấu với chính mình, thế nên rất cần đức tin mạnh mẽ. Thánh Phaolô nói: “Phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” (Dt 12:1-20). Đức Tin thực sự rất cần thiết cho hành trình tâm linh xuyên suốt cuộc lữ hành trần gian này, và người ta nên công chính là nhờ đức tin mạnh mẽ (Cv 13:39; Rm 3:22, 26, 28, 30). Chính Tổ phụ Ápraham cũng đã nhờ tin mà được công chính hóa (Rm 4:11-13).

Trong cuộc chiến trần gian này, muốn chiến đấu ngoan cường thì nghe lời khuyên của Thánh Phaolô: “Anh em hãy TƯỞNG NHỚ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí. Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu. Thiên Chúa lấy tình cha mà giáo dục” (Dt 12:3-4). Chúng ta có “máu chảnh” nên thường viện đủ cớ để tự biện hộ cho mình.

Theo lẽ thường, chúng ta không thể nào chấp nhận những nghịch lý cuộc sống, nếu không vững tin. Chính cuộc đời Chúa Giêsu cũng đã đầy những nghịch lý. Và có lẽ chúng ta khá “sốc” khi nghe Ngài xác định: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất! Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12:49-51). Bình an và chia rẽ, “chỏi” nhau lắm!

Lại nói về Lửa. Lửa rất mềm nhưng lại rất mạnh, không gì có thể cưỡng lại. Một đốm lửa thì gió thổi tắt, thậm chí hơi thở của chúng ta cũng có thể thổi tắt, nhưng ngọn lửa lớn thì gió càng to càng làm lửa cháy bùng lên. Trong đó cũng có điều nghịch lý. Lạ thật! Những vụ hỏa hoạn và cháy rừng đủ minh chứng sức mạnh của lửa, mà bắt đầu chỉ là một chút lửa – bởi một que diêm hoặc một tia lửa điện.

Lĩnh vực tâm linh cũng tương tự. Lửa mến leo lét thì dễ bị tắt ngúm khi gặp gian nan, nhưng lửa mến mạnh mẽ thì không gì cản nổi – kể cả tử thần, vì thế chúng ta rất cần nỗ lực nhiều để có thể xác tín như Thánh Phaolô: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8:39). Chính ngọn lửa cháy bỏng đó đã tạo nên những thánh nhân, rõ nét là các thánh tử đạo, cụ thể là Thánh PT Lôrensô (tử đạo ngày 10-8-258).

Sự bình an và sự chia rẽ – đối mà không nghịch, đặc biệt là ý nói của Chúa Giêsu: “Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng” (Lc 12:52-53). Ôi chao, xem chừng rất nghịch lý, thế nhưng lại không phải vậy. Ngài chỉ nói sự thật, mà sự thật thì vĩnh hằng, như Ngài có lần minh định: “Sự thật sẽ giải thoát quý vị” (Ga 8:32). Đêm tối không che nổi đốm lửa, gian ác không thể đánh bại công lý. Cây kim sự thật sẽ có lúc lòi ra từ chiếc bao độc ác.

Chắc chắn bất cứ ai dám sống theo Cách Giêsu, đi trên Đường Giêsu, nói Lời Giêsu, làm theo Kiểu Giêsu,… đều bị coi là dại dột, ngu xuẩn, điên rồ, thậm chí còn bị ghen ghét hoặc bị bách hại. Cuộc sống đã và đang cho thấy rất rõ ràng. Có loại nghịch lý hóa thuận lý: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Lc 9:50). Tương tự, nghịch cảnh vẫn có thể trở thành thuận cảnh để chúng ta gặp được chính Đức Kitô, Đấng đã chuyển bại thành thắng, dùng nhục hình thập giá để làm bàn đạp tới vinh quang. Đau khổ là một loại đòn bẩy hiệu quả.

Lạy Thiên Chúa nhân lành, xin ban thêm đức tin cho chúng con (Lc 17:5) và củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con (Mc 9:24), xin khơi lửa yêu mến để chúng con đủ sức vượt qua mọi nghịch cảnh và đi xuyên qua đau khổ hằng ngày. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA TÌNH YÊU-

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP. 

          Đức Giêsu hay có kiểu nói nghịch lý làm cho người ta ngạc nhiên khi mới nghe và chưa hiểu hết ý nghĩa tàng ẩn trong đó. Chẳng hạn trong bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu nói :”Thầy đã đến ném lửa vào trần gian… Các con tưởng rằng Thầy đến đem hòa bình cho trần gian ? Thầy bảo cho các con biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ(Lc 12,49.51). Nếu Đức Giêsu được gọi là “Hoàng tử của Bình an”, hiền lành và khiêm nhường không mang sự hòa bình cho trần gian mà chỉ đem đến sự chia rẽ. Như vậy Ngài muốn nói gì ?

          Đức Giêsu muốn nói cho chúng ta biết rằng sứ mạng của Ngài là xuống trần gian chịu chết để đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người và thanh luyện con người. Thi hành được sứ mạng đó không phải là dễ vì những lời rao giảng của Ngài phải nói lên chân lý và nói lên chân lý thì sẽ đụng chạm đến nhiều người đang chà đạp lên chân lý vì  như người ta nói :“sự thật mất lòng”. Tiên tri Giêrêmia trong bài đọc 1 hôm nay là hình bóng Đức Giêsu. Ông nói sự thật cho dân chúng, nhưng họ không muốn nghe, lại còn hành hạ và muốn giết chết ông. Đức Giêsu cũng phải đi theo con đường đó và Ngài muốn cho việc thi hành sứ mạng đó chóng hoàn tất.

          Ngài đến để đem hòa bình cho nhân lọai, nhưng không phải là thứ hòa bình ru ngủ của trần gian mà là thứ hòa bình thật của Thiên Chúa. Thứ hòa bình này chỉ có thể lãnh được khi người ta đã nỗ lực thi hành Lời Chúa và phải tôi luyện bằng Thập giá. Vì thế, Lời rao giảng của Ngài sẽ gây chia rẽ giữa nhiều người, ngay những người trong một gia đình. Sở dĩ có sự chia rẽ là vì có người tin theo Chúa, có người không tin theo, lại còn chống đối nữa. Vậy là có sự chia rẽ giữa người tin và không tin. Đức Giêsu đòi chúng ta phải xác định lập trường, phải có sự lựa chọn : tin theo hay không tin theo. Nếu đã chấp nhận tin theo thì cũng phải chấp nhận con đường của Chúa đã đi : phải hy sinh tất cả để trung thành với Chúa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA. 

          +  Bài đọc 1 : Gr 38,4-10.

          Thời tiên tri Giêrêmia, dân Do thái phạm tội nhiều, nên Thiên Chúa để cho quân thù là đế quốc Babylon bao vây. Là người hiền lành, nhạy cảm, yêu quê hương, Giêrêmia phải tuân lệnh Thiên Chúa, đi nói những lời nguyền rủa trên dân mình để khuyến khích họ ăn năn sám hối và quay về nương tựa vào Chúa, nhưng họ cứ tiếp tục đi theo con đường sai lầm đó. Ôâng còn bị cáo giác là chủ bại và cộng tác với quân địch. Vì những lời nói thật đó, ông bị kết án vứt xuống giếng sâu, nhưng Chúa đã cho người cứu vớt ông.

          Hôm qua cũng như hôm  nay, vị tiên tri phải trải qua kinh nghiệm xương máu để biết được rằng “Sự thật thì mất lòng”. Đó là số phận của nhà tiên tri, người làm chứng về sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa. Ngoài ra, việc Giêrêmia bị bỏ xuống giếng là hình ảnh tử nạn của Đức Giêsu và việc Giêrêmia được thóat chết là hình ảnh của Chúa sống lại.

          +  Bài đọc 2 : Dt 12,1-4.

          Trong khi chúng ta dấn thân cho Nước Chúa, được nghe đoạn thư gửi cho người Do thái sau đây, chúng ta cảm thấy được an ủi và nâng đỡ rất nhiều. Hồi ấy, các Kitô hữu gốc Do thái đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Một mặt họ bị các đồng đạo Do thái cũ thù ghét và coi họ là những người phản đạo, mặt khác họ cũng bị bách hại bởi đế quốc Rôma.

          Thánh Phaolô đôi khi ưa dùng ngôn ngữ thể thao, Ngài ví cuộc sống của Kitô hữu như một cuộc chạy đua, cần phải có nhiều sức dẻo dai, mắt nhìn thẳng vào Đức Giêsu, chính Ngài cũng gặp phải muôn vàn khó khăn, nhưng đã kiên trì chiến đấu và cuối cùng đã chiến thắng tất cả. Hãy noi gương Ngài và dựa vào sự trợ giúp của Ngài mà chiến đấu.

          +  Bài Tin mừng : Lc 12,49-53. 

          Bài Tin mừng hôm nay có hai ý chính :

a) Đức Giêsu có sứ mạng xuống trần gian để thanh luyện trần gian và Ngài ước cho việc thanh luyện ấy sớm hoàn thành. Ngài cũng báo trước sẽ phải qua một cuộc khổ nạn và việc thanh luyện ấy chỉ hoàn thành sau khi Ngài chịu nạn chịu chết và sống lại.

b) Đức Giêsu dùng hai hình ảnh “hòa bình” và “chia rẽ” để kêu gọi người ta  phải có thái độ lựa chọn trước Tin mừng của Ngài. Sứ mạng của Ngài là chịu chết để chuộc tội cho loài người. Ngài tự hiến mình chịu chết, không còn lựa chọn nào khác khi Ngài muốn hoàn thành đến cùng sứ mạng được giao phó. Nhưng một quyết định như thế càng thêm những chống đối và sẽ gây chia rẽ trong chính lòng dân tộc được chọn : một số người sẽ hoán cải, một số người khác thì không, một số người tin theo, một số người không.

       Lời rao giảng của Ngài sẽ gây chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ còn xẩy ra ngay trong lòng một gia đình.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. ĐỨC GIÊSU ĐEM LỬA XUỐNG TRẦN GIAN.

  1. Điều Đức Giêsu muốn nói.

          Khi đọc bài Tin mừng hôm nay, chúng ta không khỏi thắc mắc : Nếu khẳng định Đức Giêsu là “Hòang tử của Hòa bình”, người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng thừng của Ngài về chính mình :”Thầy đến đem lửa xuống trần gian… Thầy đến không phải để đem hòa bình, nhưng là đem sự chia rẽ”?  Làm sao có thể hiểu được khi một người vốn tự xưng là “hiền lành và khiêm nhường” lại gây nên sự xáo trộn, gây nên nỗi phân ly trong gia đình, một cấu trúc cần được hiệp nhất hơn bất cứ một cấu trúc nào hay tổ chức nào trên thế giới ?

          Người ta phải hiểu thế nào câu nói của Đức Giêsu :”Thầy đến đem lửa xuống trần gian và Thầy muốn sao lửa đó được cháy lên” ? Vậy lửa Đức Giêsu đem đến trần gian là thứ lửa nào?

  1. Lửa trong Thánh Kinh.

          Trong Thánh Kinh lửa được dùng để chỉ ý nghĩa của hai khía cạnh tích cực và tiêu cực : ngọn lửa ở thiên đàng và ở hỏa ngục. Ngọn lửa là hình ảnh của sự hiện diện thiêng thánh của Thiên Chúa khi ông Maisen gặp gỡ Ngài giữa bụi gai đang cháy (Xh 3,2), hay cột lửa đã hướng dẫn dân Do thái trong sa mạc (Xh 13,21), và ngọn lửa từ trời xuống thiêu hủy thành Sôđôma và Gômôra (St 19,24).

          Sức mạnh của Lời Chúa như lửa nơi miệng tiên tri Giêrêmia (Gr 5,14), và ngọn lửa tiên tri Isaia nhìn thấy trong đền thờ đã thanh tẩy môi miệng ông (Is 6,6) trở nên thanh khiết để ngài loan báo sứ điệp cho dân chúng. Tiên tri Eâlia được ví như ngọn lửa, và lời giảng của Ngài như đuốc cháy (Hc 48,1).

          Ngọn lửa của Thần Khí đậu trên các Tông đồ và ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2,3). Mưa lửa từ trời xuống như một phần của sự phán xét trong ngày tận cùng của thế giới (Lc 17,29). Lửa là những thử thách (1Pr 4,12).

          Trong bài Tin mừng hôm nay (Lc 12,49-53), Đức Giêsu phán cùng các môn đệ rằng :”Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên”(Lc 12,49). Tôi tin rằng lửa mà Luca muốn nói ở đây chính là “ngọn lửa của Thần Khí” đã được ban xuống trên các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2,3-4) với sức mạnh và tình yêu Thiên Chúa để đi rao truyền Tin mừng khắp muôn dân (Cv 1,8). Ngọn lửa của Thần Khí thanh luyện linh hồn chúng ta  khỏi sự ích kỷ và kiêu căng, nguồn gốc gây ra tất cả mọi sự thù nghịch và báo oán.

(Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa giữa dòng đời, năm C, tr 282-283).

Đức Giêsu mong uớc “ban Thần Khí” cho thế gian. Ngài nói rằng đó là nhiệm vụ duy nhất của Ngài :”Thầy đến vì việc đó”. Chúng ta hãy thử tưởng tượng Đức Giêsu như một người đang ước mong, mang trong mình một dự án lớn lao. Đức Giêsu hăng say với dự án đổi mới toàn thể địa cầu. Lấy lại hình ảnh ấy, một bài ca hiệp lễ hát rằng :”Là kẻ ăn mày lửa, tôi nắm tay Chúa trong tay tôi, như người ta cầm trong tay mình ngọn lửa cho mùa đông và Chúa trở thành đám cháy thiêu đốt thế gian”. Đức Giêsu trở thành một sức mạnh nhiệt thành mới mẻ cho nhiều người hôm nay. Ở giữa những việc tầm thường hằng ngày, chúng ta có thể đốt lên “ngọn lửa nồng nàn của tình yêu”.

  1. Mâu thuẫn giữa hòa bình và chia rẽ.

Đức Giêsu nói :”Các con tưởng Thầy đến  để đem sự bình an đến thế gian ư ? Không phải thế đâu, Thầy đến để đem sự chia rẽ”. Với tư cách là một người hiền lành và khiêm nhường trong lòng, làm sao Đức Giêsu đã đến trần gian để gây chia rẽ và xáo trộn ? Tuy nhiên, nhiều khi  vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xẩy ra.

Chúng ta cần hiểu rằng : bằng hai chữ  hòa bình và chia rẽ, Đức Giêsu kêu gọi người ta  chọn lựa thái độ trước Tin mừng của Ngài (Lc 51-53) : Nhiều người nghĩ rằng Đấng Messia là Đấng mang hòa bình đến (x. Is 9,5), Đức Giêsu xác nhận là đúng thực, sứ mạng của Ngài là một sứ mạng Hòa bình (Is 9,tt; Dcr 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15). Nhưng Ngài thấy cần giải thích thêm : chữ “Hòa bình” có nhiều nghĩa : hòa bình kiểu thế gian và hòa bình của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình kiểu thế gian, mà là thứ hòa bình của Thiên Chúa. Thứ hòa bình của Thiên Chúa mà Đức Giêsu mang đến, người ta chỉ sẽ nhận được sau khi người ta đã cố gắng chiến đấu để sống theo Tin mừng của Ngài.

          Thực tế cho thấy là sứ vụ của Đức Giêsu đã gặp chống đối, và Lời rao giảng của Ngài đã gây chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ xẩy ra ngay trong lòng một gia đình (Carôlô, Hạt giống nảy mầm, Chúa nhật năm C, tr 141).

          Dù Đức Giêsu rất hiền lành, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ : Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống đối Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giầu nổi giận v.v…. Trong Tin mừng không thiếu gì những lời nói chói tai như thế, nhưng Đức Giêsu cũng cứ nói, vì “thuốc đắng đã tật”.

II. ĐỨC GIÊSU ĐÓN NHẬN SỰ CHỐNG ĐỐI.

  1. Thao thức mãnh liệt của Đức Giêsu

          Khi nói về Đức Giêsu thường chúng ta chỉ chú trọng vào thiên tính mà quên đi nhân tính của Ngài. Vì thế mà không thấy tính gần gũi, dễ thương, dễ mến cách tuyệt vời của Ngài. Nguyên về mặt nhân bản, Đức Giêsu quả là một con người đặc biệt. Chúng ta đã từng thấy Đức Giêsu nhạy cảm như thế nào  khi Ngài chạnh lòng thương trước đám đông, khi Ngài xúc động khóc trước mồ Lazarô. Bài Tin mừng Giáo hội đọc trong phụng vụ hôm nay, giúp chúng ta khám phá thêm về Đức Giêsu : cùng với một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm ít ai có, Ngài còn có một hệ thần kinh thép và trong lòng ấp ủ những hoài bão lớn lao :”Thầy đã đem lửa vào thế gian và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! Thầy còn có một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”.

          Hoài bão của Đức Giêsu là gì nếu không phải là biến đổi thế giới này thành Trời mới Đất mới ? Thao thức của Đức Giêsu là gì nếu không phải là thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa là xây dựng Nước Thiên Chúa, Vương quốc và Triều đại của Thiên Chúa trong mỗi tâm hồn, mỗi cộng đồng, mỗi xã hội con người ? Trời Mới Đất Mới là không gian trong đó con người vui hưởng hạnh phúc thật là nhận biết, tôn thờ Thiên Chúa và yêu thương nhau. Nước Thiên Chúa, Vương Quốc và Triều Đại của Thiên Chúa là thế giới của Sự Sống, của Yêu Thương, của Bình An và Hoan Lạc.

          Để thực hiện hoài bão lớn lao và cao đẹp ấy Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh mất mát, thậm chí cả sự hủy diệt bản thân mình. Hơn nữa, Ngài còn nóng lòng mong đợi cuộc Khổ nạn mau tới như mong đợi những ngày tốt đẹp, tuyệt vời nhất của đời mình.

  1. Tiên tri Giêrêmia là hình bóng Đức Giêsu

          Bài đọc 1 hôm nay mô tả cuộc bách hại tiên tri Giêrêmia. Các Kitô hữu luôn coi ông  như một hình bóng của Đức Giêsu. Ôâng là tiên tri ngay thời còn nhỏ tuổi. Ông sống ơn gọi của mình trong một thời kỳ đầy biến động. Người ta chứng kiến sự thất bại của Israel, sự tàn phá thành Giêrusalem và đền thờ. Ông là lương tâm của đất nước ông. Ôâng thương yêu tha thiết dân tộc ông và không bao giờ đánh mất niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa cứu chuộc dân Ngài. Trước những lời nói tiên tri chân thật của ông, nhiều người thù ghét ông và tìm cách giết hại ông. Nhưng cuối cùng ông đã được cứu.

          Đức Giêsu cũng thế : ngay từ những trang đầu của Tin mừng chúng ta đã thấy Đức Giêsu bị các nhà lãnh đạo đương thời bấy giờ đối xử như thế nào. Ngài đến với những lời chân thật, hằng sống, nhưng người nhà không tiếp rước Ngài, vì cho rằng  Ngài là mối nguy cơ đe dọa địa vị, quyền lợi tôn giáo, xã hội và chính trị (dĩ nhiên bao gồm cả kinh tế) của họ. Thật ra Ngài chỉ là “tiêu chuẩn” để con người chọn lựa : theo và đón nhận hoặc không theo và từ chối Thiên Chúa. Người ta không có quyền không chọn lựa ! Nhưng người ta có quyền chọn không đón nhận Đức Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa Tình thương. Và chính do chọn lựa này mà mỗi người mỗi ngả.

  1. Vì Tin mừng, phải chấp nhận chống đối.

          Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu đã vạch ra điều sẽ dẫn Ngài đến cái chết, và những người môn đệ bước theo Ngài cũng sẽ phải gặp  đủ thứ đụng chạm xung khắc (Mt 10,22). Đức Giêsu đã bị chết không chỉ vì những lời rao giảng yêu thương, nhưng còn vì Tin mừng tự do của Ngài đã xung khắc với các nhà cầm quyền tôn giáo và chính trị. Họ coi Ngài chỉ là con người gây rối và họ nhìn thấy Ngài chỉ là một sự đe dọa cho những địa vị và quyền hành của họ.

          Không phải Đức Giêsu không muốn bình an vì Ngài Là “Hòang Tử của Bình an”, nhưng khi Ngài bênh vực cho những giá trị tinh thần, phục vụ cho công lý và giải phóng nhân lọai khỏi những ràng buộc của tội lỗi, thì chắc chắn phải đụng chạm với quyền lực đang muốn duy trì chúng lại.

          Đức Giêsu bị người ta ghen ghét. Lòng ghen ghét không đơn giản chút nào, nhiều khi nó rất phức tạp khó lường. Không phải người ta chỉ ghét những điều xấu, người ta có thể ghét cả những điều tốt nào không phù hợp với người ta. Thí dụ kẻ nói dối ghét người nói thật, kẻ buôn gian bán lận ghét người buôn bán thật thà.

          Chính vì thế mà Đức Giêsu khuyến cáo các Kitô hữu phải chấp nhận bị ghét, có thể bị giết  bởi chính những người thân của mình và ngay trong gia đình mình :”Từ nay 5 người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, 3 chống lại 2 và 2 chống lại 3. Cha chống đối con trai và con trai chống đối cha. Mẹ chống đối con gái và con gái chống đối mẹ…” Tình trạng này đã xẩy ra trong Giáo hội sơ khai và vẫn xẩy ra luôn mãi. Lịch sử các vị tử đạo đã chứng minh : những người theo đạo thường bị chính quyền hoặc đồng đạo mình ghét bỏ. Hoặc là trong một gia đình ngoại giáo, có một người trở lại đạo, là để kết hôn với người có đạo chẳng hạn, cha mẹ không bằng lòng. Thế là có sự xung khắc giữa cha mẹ và chính người con của mình.

Truyện : Chấp nhận bị chửi.

          Trong một buổi huấn đức tại đại chủng viện Mundelein vào khoảng năm 1992, Đức cố hồng y Joseph Bernadin của tổng giáo phận Chicago đã tâm sự rằng, từ ngày ngài về lãnh trách nhiệm ở Chicago, mỗi ngày đều đặn, không sót một ngày, có một lá thư gửi đến chửi ngài là “son of bitch” –“chó đẻ” ! Vì sao ?  Vì ngài theo giảng huấn của Giáo hội chống lại các thứ tệ đoan xã hội, làm mất quyền lợi của bọn tư bản vật chất. !

          Đức tin và những giá trị tôn giáo  đặt chúng ta vào tư thế đụng chạm, xung khắc với xã hội. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu đã nói :”Các con tưởng rằng Thấy đến để đem sự bình an đến cho thế gian ư ? Thầy bảo thật các con : không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Đó là những sự thù ghét đáng chấp nhận vì nếu không chấp nhận thì có nghĩa là  phản bội lý tưởng Tin mừng của mình.

III. ĐỨC GIÊSU ĐÒI SỰ LỰA CHỌN CỦA TA. 

  1. Kitô hữu phải lựa chọn.

          Nếu đặt câu hỏi : là người Kitô hữu, bạn đã lựa chọn Đức Kitô và đạo của Ngài chưa ? Chắc có người cho là thừa và có thể là một câu hỏi ngớ ngẩn vì khi đã được chịu phép rửa tội chúng ta đã thề hứa bỏ ma qủi mà chỉ phụng sự một mình Thiên Chúa, tin theo Đức Giêsu Kitô, do đó, mới được mang danh là “Kitô hữu”. Kitô hữu là người thuộc về Đức Kitô, và được mang tên của Ngài.

 Đồng ý vậy, đã là Kitô hữu thì dĩ nhiên chúng ta đã chọn Đức Giêsu và đạo của Ngài rồi, nhưng không phải chọn một lần là đủ, là xong. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi giai đọan của cuộc đời chúng ta  phải chọn lại. Chọn lại là kiểm điểm xem chúng ta đã thực sự chọn lựa Chúa chưa, vì nhiều khi, trong nhiều tình huống chúng ta sống theo thế gian, xác thịt và ma qủi mà chúng ta không ý thức. Để kiểm chứng lại sự chọn lựa của chúng ta, hằng ngày chúng ta phải đặt cho mình một câu hỏi :”Đối với tôi, Đức Giêsu là ai” ? Chắc chúng ta sẽ thưa được Đức Giêsu là thế nọ, thế kia… nhưng thể hiệân chứng minh những lời ấy thì không dễ.

  1. Chọn lựa phải dứt khóat và hiệu quả.

        Cuộc sống con người hiện nay quá phức tạp và đa đoan khiến cho tâm tư bị phân tán, xé mỏng – ý chí và nghị lực cũng vì đó mà suy yếu. Một đội quân mạnh cũng dễ gì đánh thắng cùng một lúc 3, 4 mặt trận, phải có tinh thần mạnh mẽ mới vào được Nước Trời (Mt 11,12). Các thánh Tử đạo đã can đảm thực hiện Lời Chúa (Mc 8,38; Lc 9,26). Lời Ngài đâu phải không rõ ràng  hoặc chúng ta có thể thực hành hay không là tùy ý ?  Tình yêu và chân lý luôn đòi hỏi sự lựa chọn dứt khóat, mạnh mẽ.  Dù phải hy sinh – Không thể vừa muốn một đời sống dễ dãi, nhàn hạ (hay lười biếng) đồng thời lại muốn vào Nước Trời. Hai cái muốn đó làm sao có thể đi đôi với nhau (Mt 10,36t)? Chính Đức Kitô còn không sống theo ý Ngài (Mt 4,4; Ga 4,34). Thế nên khi dứt khóat chọn Đức Kitô, ta phải nỗ lực sống theo Lời Ngài và đồng thời luôn vững tin vào tình yêu và sự quan phòng của Ngài (Mt 6,25t; Lc 12,22t).

Truyện : Thánh nữ Perpetua.

          Perpetua thuộc gia đình quí tộc, bị bắt vì đạo. Cha của nàng vẫn là dân ngọai, thuyết phục nàng bỏ đạo. Chỉ vào chiếc bình, nàng lễ phép nói với cha :”Thưa cha, người ta có thể gọi vật này  bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng thế, con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là Kitô hữu”. Tức quá, ông đánh đập nàng tàn nhẫn, rồi bỏ đi nhiều ngày không tới. Perpetua có một đứa con đang bú, rất khổ vì phải xa con. Đứa bé kiệt sức nên người ta đưa lại cho mẹ nó, và nàng quên hết đau khổ vì có con bên cạnh.

          Vì biết con gái mình sắp bị án tử, người cha lại đến với những lời thảm thiết :”Con ơi, hãy thương đến mái tóc bạc của cha, hãy nhớ đến đôi tay cha  đã dưỡng nuôi con. Hãy nhớ tới mẹ con, anh em con  và đến con nhỏ của con nữa, nó sống làm sao nếu không có con. Con hãy bỏ đạo, bỏ đi điều đã làm cho chúng ta mất tất cả”.

        Tuy rất cảm động và đau khổ, Perpetua chỉ nghẹn ngào trả lời :”Thưa cha, tại tòa án sẽ xẩy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình”. Người cha còn cho đem đứa trẻ đến năn nỉ :”Con hãy thương đến đứa con nhỏ của con”.

         Tuy nhiên trước tòa án, cùng với các bạn khác, Perpetua đã công khai tuyên bố trung thành với Chúa và bằng lòng hy sinh tất cả.

          Mỗi người tin Chúa phải quyết định hoặc yêu mến gia đình hơn hoặc yêu Chúa Giêsu hơn. Bản chất của Kitô giáo là  phải đặt sự trung thành với Chúa Giêsu lên trên tất cả các sự trung thành khác của thế gian. Người ta phải sẵn sàng coi mọi sự như thua lỗ vì cớ cao trọng tuyệt đối của Chúa Giêsu.

  1. Lựa chọn và Thập giá. 

          Đức Giêsu đã nói :”Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khỏai biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”. Một phép rửa mới đang chờ đợi Đức Giêsu : tử đạo, cái chết ! Đức Giêsu quả quyết rõ ràng nếu chính Ngài phải trải qua cơn thử thách thì những ai theo Ngài cũng sẽ gặp thử thách trên bước đường họ đi.

          Nếu Ngài đến đem bình an của Đấng Thiên Sai mà các tiên tri đã công bố (Is 9,5-6; Mk 5,4; Lc 2,13) thì đây không phải là sự bình an dễ dãi do các tiên tri giả loan báo, sự bình an mà con người không ngừng mơ tưởng; nhưng là bình an Nước Trời mà người ta chỉ đạt được qua Thập giá. Mỗi người được mời lựa chọn thái độ của mình đối với Đức Giêsu, hoặc theo Ngài, hoặc chống Ngài như ông Simêon đã nói tiên tri (Lc 3,35).

 Truyện : Họ đã chọn một phép rửa.

         Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thấy có biết bao gương sáng của những vị anh hùng. Họ mang lửa nhiệt tình can đảm trong tim để làm chứng cho sự thật Phúc âm. Họ cũng đã phải chịu “một phép rửa” của đau khổ như Đức Giêsu đã chịu.

Chẳng hạn như cựu Tổng thống Nam phi Nelson Mendela, người được giải thưởng Nobel về Hòa bình, đã bị tù 27 năm  vì đấu tranh chống lại nạn kỳ thị chủng tộc ở Nam phi.

Yitzak Rabin, cựu thủ tướng Do thái, bị ám sát chết vì lập trường hòa bình của mình.

 Đức Tổng Giám mục Oscar Rômêrô ở El Salvado bị bắn chết lúc dâng Thánh lễ vì bảo vệ người nghèo chống lại quyền lực.

Và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bị ám sát hụt, như một hậu quả của những giá trị Ngài bênh vực.

        Chúng ta có thể sống ung dung để tránh né “ngọn lửa” thanh luyện mà Đức Giêsu đề cập tới không ? Nếu Đức Giêsu đã nịnh hót đám đông, và chỉ nói với họ những lời “dễ nghe”, hẳn Ngài đã trở nên một người được quần chúng ưa thích. Nhưng Ngài đã chọn cách làm cho quần chúng bối rối. Bởi lẽ họ cần có người làm cho họ phải bối rối.

        Chúng ta sẽ phản bội Tin mừng nếu chúng ta giản lược nó  thành một sứ điệp dịu dàng, từ tốn cho tất cả mọi người không cần biết đến những sự khác nhau giữa người giầu và người nghèo, giữa người có quyền và người cùng khổ, giữa người tốt và người xấu.  Một Tin mừng nhạt nhẽo như thế không thể nào thành men làm dậy bột thế gian. 

        Có một xu huớng “thuần hóa” Tin mừng, giản lược nó thành những lời hay ý đẹp và những kinh nghiệm an tòan dễ chịu. Khi điều ấy xẩy ra thì lửa tàn lụi, men mất hết sức mạnh, muối mất hết vị, ánh sáng trở nên mù mờ. Nếu chúng ta sống như vậy, e rằng đến ngày sau hết Đức Giêsu sẽ đem “ngọn lửa phán xét” từ trờ xuống mà phán rằng :”Ngày ông Lót ra khỏi Sôđôma, thì Thiên Chúa khiến mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả. Sự việc cũng sẽ xẩy ra như thế, ngày Con Người được mạc khải”(Lc 17,29). Hãy làm cho ngọn lửa nhiệt tình bùng cháy lên như thánh Phanxicô Assisi đã làm. Ngài đã dám lột bỏ hết mọi sự giầu sang nhung lụa, trả lại cho người cha trần thế, để chỉ chú tâm kiếm tìm các giá trị thiêng liêng nơi người Cha trên trời. 

Truyện : Ozanam, ngọn lửa nhiệt tình.

         Năm 1843, thành phố Paris đang bị xáo trộn, Đạo Công giáo bị đe dọa, các cơ sở tôn giáo bị phá phách. Tại Lyon, bọn thợ thuyền cũng kéo cờ đỏ, hát những bài phạm đến Chúa và phản đạo. Năm ấy Ozanam học luật tại Paris. Dầu còn thanh niên, cậu đã dùng ngòi bút và việc bác ái để phản công. Cậu siêng năng đọc Phúc âm, rước lễ. Cậu thụ giáo với giáo sư Ampère về học thức và đạo đức. Và cậu mạnh bạo bênh vực Giáo hội. Với Ozanam các sinh viên, trước đây rụt rè lo sợ, bây giờ mạnh bạo. Các giáo sư đại học cũng phải kiêng nể Công giáo. Cậu tổ chức các buổi diễn thuyết làm sống lại Đạo Công giáo. Về phía dân chúng, cậu đã cùng 6 anh em khác lập hội Bác ái Vinh sơn giúp đỡ các người nghèo khổ. Hồi 18 tuổi, cậu đã thề :”Nhất định hy sinh đến thí mạng cho dân nghèo”. Đồng thời với Ozanam, Montalembert tranh đấu cho tự do giáo dục của Giáo hội, tại nghị trường. Dù là giáo sư đại học, Oznam vẫn hàng tuần đi các khu nghèo khó để dạy giáo lý cho những người công nhân nghèo khổ.

          Ngày nay Giáo hội cũng cần nhiều tâm hồn có lửa nhiệt tình như Ozanam.

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU MANG LỬA ĐẾN TRÁI ĐẤT

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

1. Đoạn này chẳng liên hệ mật thiết với dụ ngôn người quản lý nói trước đây. Nhưng vẫn mang một giọng văn trịnh trọng của cả chương 12. Khi đã cho các môn đệ biết ý kiến về các ngày bắt bớ, Chúa Giêsu lại gợi lên những hình ảnh hãi hùng của sứ mệnh Ngài trên mặt đất này, cái chết đau đớn của Ngài, những chống đối làm cho con người chia rẽ vì Ngài.

2. Câu 49 (Chúa Giêsu nói về lửa mà Ngài sẽ mang đến trên trái đất) đã được chú giải khác nhau. Có người cho đó là thứ lửa đã được đốt lên và dịch là: “Tôi đã mang lửa đến trên mặt đất và tôi còn ước muốn gì nữa, nếu lửa ấy đã được thắp lên? (Crampon, Jounn..). Như thế Chúa Giêsu không còn ước muốn gì nữa và không còn gì để chu toàn sứ mệnh ngoài việc phải chịu thương khó (c.50). Nhưng phần lớn các tác giả đều nghĩ rằng Chúa Giêsu diễn tả một ước muốn và dịch là: “Tôi đã đem lửa đến trên trái đất, và tôi ước ao biết bao lửa ấy được đốt lên!”. Bản Vulgata, có thể đã đọc ei.mê (nisi) thay vì ei.edê (si jam) nên nói lên ý nghĩa sau đây: “tôi muốn gì, nếu không phải là nó trong đốt lên?” Cách dịch thứ hai này (Segon, Khabanbauer, Zorell, klostermann, Legrange, Bille du Kentaine, Buzy, BJ, TOB…) hình như phù hợp với văn mạch hơn, vì ánh sáng rực rỡ mà Chúa Giêsu nói đến hình như còn đang lệ thuộc vào một điều kiện chưa thực hiện được, đó là rửa bằng máu của cái chết Ngài. Hơn nữa, vì luật song đối của người sêmit thích lập lại cùng một ý tưởng hay một ý tưởng tương tự, nên có thể cho rằng nhắc đến tương lai trong câu 50 thì phù hợp với câu 49b hơn. Người ta thắc mắc vì sao lối chú giải thứ hai gán cho chữ Ti ý nghĩa tương tự của tiếng Hy bá bao nhiêu (combien étroit) trong Mt 7,14; hay tiếng Hy lạp Ti cala (cômbien beau).

3. Các nhà chú giải không những bằng lòng về cách dịch câu 49, mà còn thay đổi ý nghĩa của tiếng lửa mà Chúa Giêsu đã đem đến trên mặt đất. Nhiều Giáo phụ có uy tín cho đó là Thánh Thần (Th. Grégoire le Grand, Th. Ambrosiô, th. Syrille d’Alexandie, th. Jérome). Cách chú giải này thấy trong phụng vụ cũ của lễ hiện xuống (lời nguyện thánh lễ ngày thứ 7 lễ hiện xuống), nhưng không phải mọi người đều chấp nhận, có vài tác giả (Maldonat) so sánh câu 49 và 51, dựa vào sự chia rẽ mà Đức Kitô gây nên trong thế gian và thấy lửa mà Chúa Giêsu nói đến là hình ảnh của những cuộc thử thách đang chờ các môn đệ, những thử thách người mong ước vì có sức thánh hóa. Nhưng nếu thế, tại sao Chúa Giêsu lại ao ước thực hiện các thử thách đó như vậy? Có những tác giả khác (Knabenbauer, BJ) thích hiểu lửa của sự nghiệp Đức Kitô trong trần gian, là sự nghiệp thanh luyện và đổi mới nhắc nhở lại hành động lửa tôi luyện vàng và bạc khỏi han rỉ. Nếu người bảo rằng hành động của Thánh Linh, thì lối chú giải ấy rất gần với lời chú giải của các giáo phụ. Các giáo phụ cắt nghĩa rằng lời sấm ngôn của Chúa Giêsu về ánh sáng đã ném xuống thực hiện rồi, chứ không phần nào bị che dấu, như mạch văn cho thấy.

Vì thế người ta cho rằng khi nói đến ánh sáng ấy, Chúa Giêsu nói đến một thứ lửa tượng trưng ở trong tâm hồn (Lc 24,32, các lữ hành thành Emmaus và nó rất tuyệt hảo, vì Chúa Giêsu muốn nó phải được đốt lên. Các giáo phụ đã không lầm khi nhận ra đó là công việc của Thánh Linh hay là Đức Ái, nhưng tốt hơn là nên để cho lời nói có vẻ úp mở như kiểu nói của các tiên tri (Lagrange).

4. Việc thực thi ý muốn của Chúa Giêsu phải tuân phục theo một điều kiện: Con Người phải lên Giêrusalem và chịu thương khó ở đó. Chúa Giêsu so sánh sự thương khó với phép rửa mà Ngài phải chịu, phải bị dìm xuống, vì Ngài sẽ như bị nhận chìm trong những đợt sóng đắng cay và phiền não (Mc 10,38). Tâm hồn Ngài phải chịu dằn vặt vì nhãn quan ấy. Người ta chú giải cơn dằn vặt ấy như là một vết thương đầu tiên của cơn khắc khoải sẽ đè xuống trên Ngài ở Giêtsimani, hay như một ước vọng mãnh liệt trong sứ mạng Cứu thế của Ngài đạt đến tột đỉnh (TOB).

5. Cũng như con người Chúa Giêsu, sự nghiệp của Ngài cũng đem lại sự trái nghịch: “Các anh có nghĩ rằng tôi đem đến hòa bình cho mặt đất không?”. người ta có thể đã tưởng thế vì lời phúc âm của Ngài là sứ điệp hòa bình (Is 9,5tt; Za 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15) và hòa giải. Nhưng khi thế giờ bị lửa thánh linh đốt lên qua lời giảng dạy của các tông đồ, thì phúc âm sẽ không luôn luôn được con người thiện tâm bình thản đón tiếp. Phúc âm sẽ bị con cái bóng tối đánh bật, xô đẩy, và như thế bình an của Đức Kitô không phải là thứ bình an của thế gian, con người sẽ phân rẽ vì Chúa Giêsu, “để tư tưởng của nhiều tâm hồn phải bày tỏ ra” (Lc 2,35). Ngay trong gia đình, tự bản chất là nguyên lý của sự hiệp nhất cũng sẽ xuất phát mối bất hòa bất thuận.

KẾT LUẬN

Sự cứu độ của thời cuối cùng sẽ không đến mà không cần có cố gắng và đau khổ. Mối mong chờ ơn cứu độ bao hàm lòng can đảm chịu đựng gánh nặng và lo lắng khổ sở. Muốn lên trời phải qua thánh giá (pâque: passage). Nhưng thánh giá, mà các môn đệ sống là dấu hiện tiên báo các biến cố thế mạt đã bắt đầu, các biến cố đó đòi hỏi con người từ đây phải có một lập trường dứt khoát đối với Đức Kitô và sứ điệp của Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

  1. Đức Kitô đem lửa tình yêu đến nung nấu thế giới không một chút tình người, không mảy may hy vọng vào sự hiệp thông phổ quát đích thực, không có tinh thần vô vị lợi. Chỉ có lửa đó mới nung nấu lòng người, dẹp tan mọi nghi kỵ hận thù và chiến tranh là những mối nguy cho tình bằng hữu giữa người với người, dân này khác với dân kia.
  2. Nhưng Chúa Giêsu cũng biết lửa đó chỉ phát xuất từ hy lễ của chính Ngài, Ngài hướng dẫn hy lễ đó không chút âu lo. Trái lại đã ao ước chóng chu tất nó để hoàn tất sứ mệnh cứu độ của Ngài. Vì cái chết của Ngài sẽ mở ra một khúc ngoặc quan trọng trong lịch sử nhân loại, khai mào cho chúng ta đường cứu độ nhờ thập giá. Và trong mức độ ao ước nung nấu lửa tình yêu đó trên trái đất, thực hiện cuộc cách mạng đổi đời, đổi tâm thức và cơ cấu, chúng ta sẽ chịu một phép rửa như Chúa Giêsu: chúng ta phải bắt chước Ngài khi chịu lo âu, thất bại, từ bỏ, để thực hiện lý tưởng đời mình.
  3. Chúa Giêsu ban hòa bình cho chúng ta, như Tân ước đã nói: Ngài hòa giải chúng ta với Chúa Cha, với chính chúng ta và với mọi người (x. Ep 2,14-17) bằng cách mời gọi chúng ta trở về với đời sống đích thực là yêu thương. Nhưng Ngài không ban bình an theo kiểu thế gian, nhưng theo kiểu chiến đấu như Ngài đã từng chiến đấu, đến nỗi gây chia rẽ chúng ta với than nhân chúng ta.
  4. Ở đây Chúa Giêsu không muốn lên án sự hòa hợp trong gia đình và cổ xúy một tinh thần chia rẽ. Nhưng Ngài luôn nhắc tới giới luật của Thiên Chúa: “Hãy phục vụ cha mẹ ngươi” (Mc 7,10). Nhưng qua các lời nói trên đây, Ngài quả quyết nếu muốn làm môn đệ Ngài, chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả cách tuyệt đối những gì ngăn cản không cho chúng ta theo Ngài, kể cả tình yêu nhân loại cao quí nhất. Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài cách độc quyền, dứt khoát, trọn vẹn. Và sự độc quyền có thể làm người ta chướng tai gai mắt. Chúa Giêsu biết điều đó nên đã nói: “Hạnh phúc cho ai không vấp phạm vì Ta” (Mt 11,6). Tuy nhiên Ngài không ép buộc nhưng mời gọi chúng ta với tư cách là sứ giả của Nước Thiên Chúa sẽ đến đảo lộn mọi trật tự xã hội loài người. Và Ngài đòi chúng ta phải thống hối ăn năn trong mọi lãnh vực của cuộc đời chúng ta, cũng như lãnh vực liên đới gia đình. Một lần nữa Chúa Giêsu không cấm chúng ta yêu thương đồng loại, trái lại còn đòi buộc chúng ta phải yêu thương nhau hơn nữa. Ngài còn phản đối lối yêu thương vụ lợi của chúng ta: “Nếu các ngươi chỉ yêu thương người yêu thương mình, thì còn ân nghĩa gì?”.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 20 TN_C

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XX Thường Niên năm C mời gọi các Ki-tô hữu phải kiên vững đức tin trong sứ mạng của mình dù gặp phải những chống đối, thù nghịch.

Gr 38: 4-6, 8-10

Vì trung thành với sứ mạng của mình, ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị mọi người thù ghét và bách hại. Các Ki-tô hữu coi vị ngôn sứ này là hình bóng của Đức Ki-tô.

Dt 12: 1-4

Tác giả khuyên những Ki-tô hữu gốc Do thái của ông phải kiên trì đức tin trong mọi gian nan thử thách bằng cách noi gương các bậc tiền nhân, nhất là mẫu gương tuyệt hảo của Đức Ki-tô.

Lc 12: 49-53

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt đến tuyệt đỉnh khi Ngài báo trước sứ mạng của các môn đệ sẽ đồng nhất với sứ mạng của Ngài trong cùng một tình yêu tận mức dành cho con người.

BÀI ĐỌC I (Gr 38: 4-6, 8-10)

  1. Hoàn cảnh bi thương của ngôn sứ Giê-rê-mi-a

Đây là một trong những bài trình thuật kể về những đau khổ mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a phải chịu vì trung thành với sứ mạng của mình. Ngôn sứ đã tuyên sấm rằng thành đô Giê-su-sa-lem sẽ bị điêu tàn nếu dân chúng vẫn cứ bất trung với Thiên Chúa của mình. Dĩ nhiên, đối với các thủ lãnh, lời tuyên sấm này phản ảnh tinh thần chủ bại và phản quốc, vì thế họ tìm cách bịt miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a bằng cách thả ông xuống “hầm không có nước mà chỉ có bùn”. Nhưng ngôn sứ được cứu nhờ viên thái giám người Cút là ông E-vét Me-léc.

  1. Một cuộc đời trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa

Để có thể hiểu những nỗi đau giằng xé trong tâm khảm của vị ngôn sứ, chúng ta đừng bỏ qua những lời tâm sự đến xé lòng của ông theo hình thức cầu nguyện như:

“Con vô phúc quá, mẹ ơi, mẹ sinh con ra làm gì,

để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gỗ với con?

Con chẳng cho ai vay, cũng không mượn của người,

thế mà vãn cứ bị nguyền rủa.

Quả vậy, lạy Đức Chúa,

con đã chẳng đem thiện chí phục vụ Ngài hay sao?

Nào con đã chẳng cầu khẩn với Ngài cho thù địch

khi nó gặp hoạn nạn, lúc nó phải gian truân?” (Gr 15: 10-11),

nhất là:

 “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con

và con đã để cho Ngài quyến rũ.

Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.

Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.

Mỗi lần nói năng là con phải la lớn,

phải kêu lên: ‘Bạo tàn! Phá hủy!’

Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.

Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người,

cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa”.

Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim,

ầm ỉ trong xương cốt.

Con nén chịu đến pahri hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (Gr 20: 7-9).

Thật ra, ngôn sứ Giê-rê-mi-a vốn là một con người hiền lành, không muốn làm mất lòng bất kỳ một ai. Trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa mà ông trở nên kẻ thù địch của mọi người, vì những thông điệp của ông đi ngược lại những mong ước của mọi người. Vì thế, đoạn trích dẫn hôm nay không nên nhấn mạnh sự giải thoát cho bằng sứ mạng trung thành chuyển giao lời của Đức Chúa mà ông bị loại trừ và chịu đau khổ. Quả thật, sự đau khổ của Giê-rê-mi-a tiên trưng sự đau khổ của Đức Giê-su, được phác họa trong Tin Mừng hôm nay.

BÀI ĐỌC II (Dt 12: 1-4)

  1. Noi gương các bậc tiền nhân

Vào Chúa Nhật hôm nay, chúng ta tiếp tục đọc Thư gởi tín hữu Do thái mà chúng ta đã khởi sự đọc vào Chúa Nhật trước. Trong đoạn trích hôm nay, chúng ta đọc lời khuyến dụ kết thúc danh sách các bậc anh hùng Cựu Ước. Các ngài là những “chứng nhân” về niềm tin sắc son kiên vững trong mọi gian nan thử thách. Tác giả Thư gởi tín hữu Do thái mời gọi chúng ta noi gương các bậc tiền nhân kiên trì giữ vững đức tin trong mọi gian nan thử thách. Như một vận động viên, để có thể đạt được vòng nguyệt quế chúng ta phải chấp nhận cởi bỏ khỏi bản thân mình bất kỳ thứ gì làm vướng víu cuộc chạy đua của mình.

  1. Đức Giê-su là mẫu gương tuyệt hảo của người Ki-tô hữu

Đối với người Ki-tô hữu, Đức Giê-su còn vĩ đại hơn gấp vạn lần các bậc anh hùng Cựu Ước. Khi sống tại thế, Ngài đã không chỉ “khai mở” con đường đức tin nhưng còn “kiện toàn” lòng tin bằng cách “cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Chính nhờ hướng về Ngài, người Ki-tô hữu sẽ thành toàn cuộc đời mình qua những gian nan thử thách của cuộc đời này.

TIN MỪNG (Lc 12: 49-53)

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt tới cao điểm khi Ngài mặc khải rằng việc họ thuộc về các môn đệ Ngài sẽ đặt họ vào những cảnh ngộ không yên thân thoải mái đâu. Thực vậy, ý nghĩa sứ vụ của Chúa Giê-su được đề cập ở 12: 49-50 có những phản hồi trực tiếp đến các môn đệ ở 12: 51-53. Tin Mừng hôm nay có hai ý được gợi lên qua hai cặp hình ảnh: “lửa và phép rửa” (12: 49-50), “hòa bình và chia rẽ” (12: 51-53).

  1. “Lửa và phép rửa”(12: 49-50)

Bằng cặp hình ảnh “lửa” và “phép rửa”, Chúa Giê-su nói đến sứ mạng sắp đến của Ngài. Trước hết, “Thầy đã ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”: Trong Kinh Thánh, hình ảnh “lửa” thường mô tả tình yêu nồng cháy của Thiên Chúa cho con người (x. Đnl 4: 24; Xh 13: 22; vân vân). Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Người tận mức ở nơi biến cố Nhập Thể của Con Ngài (Ga 3: 16). Qua hình ảnh “lửa”, Đức Giê-su tự nguyện hiến dâng mạng sống mình vì chúng ta: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15: 13). Vì thế, Chúa Giê-su những ước cùng mong đến giờ thực hiện tình yêu tận mức của Ngài đối với con người được bừng cháy trên Thập Giá.

Tiếp đó, Đức Giê-su mô tả cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài qua hình ảnh phép rửa: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”, nghĩa là Ngài sẽ dìm mình vào trong cái chết, nhưng từ cái chết Ngài sẽ sống lại trong vinh quang để không bao giờ chết nữa. Qua hình ảnh “phép rửa”, Đức Giê-su tha thiết ước mong được hiến dâng mạng sống mình vì yêu thương chúng ta. Cũng thế, chúng ta chịu phép rửa, nghĩa là chúng ta dìm mình vào trong cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô, tức là chết cho tội lỗi mình, và được tái sinh vào một đời sống mới chan chứa muôn vàn ân phúc: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 4).

Qua cuộc sống mới này, chúng ta, những người Ki-tô hữu, phải bừng cháy lên ngọn lửa tình yêu theo cùng cách thức như Đức Giê-su đã châm ngọn lửa ở nơi các môn đệ Ngài, như lời của thánh Phao-lô: “Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1: 24).

  1. “Hòa bình và chia rẽ”(12: 51-53)

Con Thiên Chúa đã giáng trần với một sứ điệp hòa bình: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2: 14) và hòa giải: “Nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5: 11). Các ngôn sứ cũng đã loan báo sứ mạng của Đấng Ki-tô là sứ mạng hòa bình (x. I s 9: 5tt; Dcr 9: 10) và thánh Phao-lô cũng xác quyết chính Đức Giê-su “là bình an của chúng ta”(Ep 2: 14-15). Tuy nhiên, vì cưỡng kháng lại công trình cứu độ của Đức Ki-tô do tội, con người trở thành những đối thủ của Ngài: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?”. Bất công và lầm lạc dẫn đến chia rẽ và chiến tranh: “Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa và vẫn sẽ còn đe dọa cho tới khi Chúa Ki-tô đến. Tuy nhiên, nhờ kết hiệp trong bác ái, con người vượt thắng tội lỗi và cũng vượt thắng bạo động cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: ‘Họ sẽ rèn gươm thành lưỡi cày và giáo thánh lưỡi liềm. Các dân tộc sẽ không rút gươm đâm chém nhau và sẽ không tập luyện để chiến đấu’ (Is 2: 4)” (Vatican II, Gaudium et spes, 78).

Vì thế, chẳng có gì phải ngạc nhiên, dù rằng “Người đã đến loan Tin Mừng bình an” cho hết mọi người (Ep 2: 17-18), tuy nhiên, suốt cuộc đời tại thế, Đức Giê-su đã là dấu chỉ của sự mâu thuẫn (x. Lc 2: 34). Chúa Giê-su báo trước cho các môn đệ biết rằng sự bất đồng và chia rẽ đồng hành với công việc truyền bá Tin Mừng (x. Lc 6: 20-23; Mt 10: 24). Ngay cả trong gia đình vốn là nơi yêu thương và đùm bọc nhau, đôi khi vì niềm tin vào Ngài và vào Tin Mừng của Ngài lại trở thành cuộc bách hại ngay trong gia đình mình. Vì thế, Chúa Giê-su nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình theo kiểu thế gian, nghĩa là không có chiến tranh, bách hại, mà là hòa bình của Thiên Chúa, một thứ hòa bình ngự trị trong cõi thâm sâu của lòng người, đó là hòa bình mà thế gian không thể nào ban cho được.

“Lời Chúa Giê-su nói về sứ mạng của Người cũng là một lời khuyến cáo các môn đệ Người: Sự kiện Nước Thiên Chúa đến không phải để các môn đệ hưởng thụ một cuộc sống bình an một cách thụ động. Họ sẽ hưởng bình an đấy, nhưng là một thứ bình an mà phải cố gắng chiến đấu mới đạt được, chiến đấu trong gian truân thử thách, chiến đấu với cả những người thân không cùng niềm tin với mình. Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba đã hiểu như thế, nên đã khuyên các tín hữu rằng: ‘Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa’ (Cv 14: 22). Hòa bình Chúa ban là kết quả của những cố gắng để giải quyết tình trạng ‘chia rẻ’: a) Nơi bản thân mỗi người, chỉ có hòa bình thật khi không còn xung đột giữa cái tôi hướng thiện với cái tôi hướng ác; b) Nơi gia đình, nơi xã hội và bất cứ nơi nào cũng thế, chỉ có hòa bình thật khi mọi người đều một lòng một ý với nhau”(“Hạt Giống Nẩy Mầm”).

Về mục lục

.

ƯỚC MƠ VÀ CHỌN LỰA

Lm. Jos. DĐH.

Mơ ước của con người là được sống vui sống khoẻ, các nhà lãnh đạo thì hướng tới mục tiêu: dân giầu nước mạnh, các đấng bậc sinh thành lại mang chung một thao thức, ta phải làm gì để có được gia đình hạnh phúc, con cháu nên người hữu ích. Hoà chung với vòng xoay ở đời này, mơ ước của chúng ta là gì ? Cơm áo gạo tiền, giầu sang phú quý, hay được sung sướng an nhàn ? Câu trả lời sẽ tuỳ thuộc vào tự do của mỗi người chọn lựa, dù tương lai ra sao thì hiện tại chính là lúc ta đang đầu tư. Cuộc sống có vui có buồn, có nhiều trải nghiệm riêng tư: con đường dẫn tới thành công, không bao giờ thành lối, sống có ước mơ, nhất định phải để đôi chân mình cất bước. Vì bất luận người ta chăm chỉ, lười biếng hay sống cẩu thả, họ đều thấy một kết quả: hấp tấp vội vàng chỉ làm hỏng cơ duyên ; hoặc muốn gặt may mắn, ắt phải gieo ơn lành.

Chúa Giêsu hôm xưa đã gợi lên mơ ước hạnh phúc của Ngài và mời gọi mỗi người suy xét, chọn lựa, bằng chính sự tự do của mình: “Thầy đã đến ném lửa vào thế gian, và Thầy ước mong sao cho lửa ấy bừng cháy lên” ! “Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống cho thế gian ư ?”. Trước hết, và trên hết, xưa nay gì cũng cần phải hiểu thứ lửa mà Chúa Giêsu nói đến là gì, bình an của Chúa và bình an nơi cuộc sống này có khác nhau gì không ? Theo tự nhiên, chẳng ai mơ ước mình phải đau khổ, chẳng ai muốn chọn lựa một tương lai mù mịt. Do đó, người không tin trời phật sẽ ao ước: được an nhàn, được thụ hưởng niềm vui ở hiện tại ; người tin theo Chúa: bây giờ và mai sau đều muốn chọn Chúa và tin tưởng sẽ được hạnh phúc trong Chúa.

Theo phạm vi siêu nhiên, Thiên Chúa vẫn ban ơn cho con người một khả năng để hiểu: lửa mà Đức Giêsu nói là lửa yêu thương, lửa yêu thương có sức tẩy rửa, biến đổi tâm hồn xấu xa tội lỗi nên thánh thiện, hạnh phúc trường tồn. Lửa yêu thương là thứ lửa được Đức Giêsu thanh tẩy bằng sự vâng phục thánh ý Chúa Cha, bằng cuộc tử nạn và phục sinh, vì thế, lửa yêu thương sẽ mang ý nghĩa mời gọi tin và sống niềm tin để được thiêu đốt tội lỗi và làm cho ta thật sự được sống hạnh phúc. Thứ lửa hận thù ghen ghét, là lửa tiêu diệt, lửa giết chết theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thứ lửa đáng sợ ấy ngay trong gia đình, xã hội, đã có chia rẽ, bất hoà rồi, không có tiếng nói chung, vì quyền lợi vật chất làm đảo lộn, vì ích kỷ hơn thiệt, thiếu sự hy sinh tha thứ !

Thầy đã đến và đem lửa vào thế gian, thoáng nghe chúng ta có cảm giác Đức Giêsu “thích chơi trò mạo hiểm quá” ! Nếu nghe tiếp, chúng ta sẽ có ý nghĩ khác về thứ lửa yêu thương được Ngài lý giải: “Thầy còn phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất ! Lửa yêu thương mới đủ đốt cháy được tội lỗi của con người, lửa yêu thương mới đủ ấm áp hoà hợp được tình đệ huynh, mang lại bình an cho các tương quan gia đình, xã hội. Nhiều câu hỏi được đặt ra, nhiều thắc mắc dường như bế tắc không có đáp án: tại sao cứ yêu là khổ, tại sao thật thà thường thua thiệt, vì sao cứ biết nhiều, cứ yêu nhiều là sẽ khổ nhiều ? Tại sao theo Chúa thì phải tuân giữ lề luật, phải sống giáo huấn của Chúa một cách nghiêm túc ? Tại sao ăn gian nói dối, mánh lới lừa đảo, họ vẫn có danh có phận ở đời ; trong khi sống ngay thẳng, sống đúng với tinh thần yêu thương của Chúa, thì đầy khó khăn, bất trắc ?  Chỉ một vài gợi ý như thế, có thể ít nhiều chúng ta cũng thấy: mơ ước và chọn lựa luôn phải “có tri và hành”, mơ ước và chọn lựa ấy mới có giá trị.

Người trẻ hôm nay có những câu “tự tình” đáng để chúng ta phải suy nghĩ: thất tình mới biết yêu là khổ, say tình mới biết khổ vì yêu ! Nói lên định nghĩa về tình yêu, không khó, sống đúng sống đẹp, với lời gọi yêu thương bao giờ cũng phức tạp hơn. Làm cho ngọn lửa “nấu bếp” cháy lên không khó, chỉ cần một cái “quẹt ga” là ổn ; trong khi chỉ vô tình vô tâm một chút, là làm tắt cả tình nghĩa anh chị em mình ! Thực ra thì hoa có thơm là nhờ nhuỵ, người “có tâm có tầm” là nhờ đạo đức, uy tín ; tương quan yêu thương có bền chặt, là do biết cảm thông, đón nhận cả tính tốt tính xấu của nhau. Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy cùng Chúa làm cho lửa mến yêu ở trong lòng gia đình xã hội lớn lên, cháy lên, cũng có nghĩa là hãy làm cho mơ ước và chọn lựa của mình được mạnh mẽ hơn bằng tình yêu và gương sáng đức độ. Có bột sẽ gột nên hồ, có tình yêu Giêsu mới cư xử bác ái giống như Chúa được. Xin tình yêu Giêsu ở mãi trong ước mơ và chọn lựa của mỗi người đang tin tưởng cậy trông vào Chúa. Amen.

Về mục lục

.

NHỊP CẦU

Lm Vũđình Tường

Sông rộng, núi cao, rừng rậm, sa mạc và đại dương đều là những trở ngại trong việc di chuyển, bởi chúng chia cắt đất đai, khoanh vùng thành những nơi thời tiết, mưa nắng khác nhau. Nhờ thế mà có những nơi bên này núi khí hậu ôn hoà mát mẻ, bên kia núi khí hậu khắc nghiệt. Để vượt qua những trở ngại trên, người ta dùng thuyền hay phà di chuyển qua sông, tầu thủy vượt đại dương và ngày nay máy bay chuyên chở hành khách từ lục địa này sang lục địa khác. Đó là công trình sáng tạo của thiên nhiên.

Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế, nhưng là đem sự chia rẽ Lc 12,51

Theo cách của thiên nhiên, ngăn cách không xấu bởi việc ngăn cách mang lại kết quả tốt, điều hoà khí hậu và đôi khi còn ngăn chặn nước lũ tràn lan. Ngoài ngăn cách thiên nhiên ra, còn có những cách trở do con người tạo ra. Thí dụ như đường xá, công viên, đường rầy xe lửa và đại lộ ngăn cách vùng này với vùng khác, tạo nên sự phân biệt giá trị đất đai, và ngay cả nếp sống, tình trạng an toàn cũng khác biệt. Để vượt qua những ngăn cách trên con người xây dựng những con cầu, thuận tiện cho việc di chuyển ngày đêm.

Về phương diện văn hoá và tâm linh con người cũng có những khác biệt. Ở những quốc gia có nhiều sắc tộc khác nhau, văn hoá khác biệt. Khi gặp phải văn hoá khác biệt người ta thường dè dặt, cẩn trọng sợ đụng chạm văn hoá, không giám bác nhịp cầu thông cảm mà e dè xử dụng phương pháp ‘dùng phà di chuyển’ cổ điển. Phương pháp này rất chậm và bị hạn chế. Bác nhịp cầu thông cảm, việc hiểu nhau sẽ nhanh hơn và tiện hơn. Điều này có thể áp dụng cho tâm linh. Khi gặp phải các niềm tin khác nhau thì nhịp cầu thông cảm giúp tìm hiểu các niềm tin khác nhau nhanh hơn và tiện lợi hơn. Đây chính là điều Đức Kitô nói với các môn đệ khi Ngài sai họ đi rao giảng cho muôn dân, làm phép rửa cho họ trong Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần Mat 28,19. Rao giảng cho muôn dân và làm phép rửa cho họ chắc chắn sẽ gặp chống đối từ mọi phía, từ gia đình đến xóm làng, và ngay cả trên bình diện quốc gia.

Họ sẽ chia rẽ nhau, cha chống lại con trai … mẹ chồng chống lại nàng dâu c.53

Đối với Đức Kitô, sự sống trường sinh là điều tối quan trọng nên không thể nhập nhằng mà cần phải rõ ràng, ngăn cách, phân biệt rõ đâu là điều cần phải tin theo, và đâu là điều phải dứt khoát từ bỏ. Khi làm công việc đó chắc chắn có chia rẽ, chống đối. Cần bác nhịp cầu thông cảm, giải quyết vấn đề cách ổn thoả, dịu dàng trong lời nói, nhịp nhàng trong hành động và nhẹ nhàng tránh bạo động, chống đối. Tất cả đều phải làm trong tinh thần cầu nguyện, bởi thiếu cầu nguyện ta có thể không biết mình đang đi sai đường. Sức mạnh cầu nguyện tạo nhịp cầu thông cảm. Sức mạnh cầu nguyện uốn thẳng tư tưởng cong queo. Sức mạnh cầu nguyện sưởi ấm tâm hồn nguội lạnh. Sức mạnh cầu nguyện soi sáng bóng tối tâm linh. Sức mạnh cầu nguyện trong sáng hoá tư tưởng vẩn đục bởi dục vọng, chủ thuyết. Sức mạnh cầu nguyện hàn gắn rạn nứt, làm hẹp lại cách biệt. Sức mạnh cầu nguyện hoà giải bất đồng. Sức mạnh cầu nguyện tẩy rửa phong tục tồi bại thành phong tục tốt lành đặt nền tảng trên chân lí Chúa, yêu thương và tha thứ. Đây chính là ý nghĩa của việc rửa tội bằng lửa mà Đức Kitô nói đến tác dụng thanh tẩy của lửa. Sau đám cháy là sự sống mới, sức sống mới mang lại khung cảnh mới, tươi đẹp, an bình đầy nhựa sống.

Về mục lục

.

BÙNG CHÁY LỬA TÌNH

Lm Nguyễn Xuân Trường

Người ta đang lo sợ hiện tượng ấm lên toàn cầu làm biến đổi khí hậu gây nhiều thảm họa thiên tai cho thế giới. Ngược lại, người ta thấy còn đáng sợ hơn nữa là hiện tượng lạnh lẽo của tình người làm mất đi tình liên đới, và tạo nên sự vô cảm trong xã hội hôm nay. Một thế giới lạnh nhạt tình thân.

Trước thực trạng ấy, lời Tin Mừng hôm nay như tia nắng ấm chiếu vào mùa đông lạnh giá tình người, làm nên một mùa xuân ấm áp yêu thương: Chúa Giêsu đã đến ném lửa vào thế gian và ước mong lửa ấy bùng cháy lên.

Đó là lửa tình yêu đốt cháy những hận thù ghen ghét. Lửa lung linh tình Chúa để sưởi ấm lòng người và đem mùa xuân yêu thương cho đời.

Đó là lửa lòng Chúa thương xót bao trùm mọi yếu đuối lỗi lầm, lan tỏa lòng bao dung tha thứ và chữa lành, để mọi tội nhân có thể làm lại cuộc đời tươi sáng.

Đó là lửa ánh sáng chân lý xóa tan những bóng tối gian dối lọc lừa, những đêm đen của nghi ngờ, mở ra một lối sống chân thật tin tưởng.

Đó là lửa ánh sáng hy vọng chiếu rọi những mảnh đời tuyệt vọng. Lửa ánh sáng Chúa Phục sinh đã soi sáng một lối nhìn mới: Cái chết không phải là nỗi tuyệt vọng đóng lại đời người, mà là cánh cửa mở ra cho ta bước vào đời sống mới.

Trên hết, chính Chúa là ngọn lửa tình yêu cứu độ. Chúa đã cháy hết mình vì yêu thương nhân loại khi hy sinh trên thánh giá.

Xin ngọn lửa tình yêu Chúa soi sáng cuộc đời, sưởi ấm tâm hồn và bừng cháy lên trong lòng mỗi chúng ta. Nhờ ngọn lửa ấy chúng ta được tăng nhiệt: nhiệt huyết, nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt tình trong việc sống đạo và truyền lửa Tin Mừng yêu thương thắp sáng thế giới này. Amen.

Về mục lục

THẬP GIÁ VÀ NIỀM VUI

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Theo tâm lý thông thường, ai trong chúng ta cũng thích nghe những lời ngọt ngào êm tai và đem lại niềm vui. Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay lại gồm những ngôn từ xem ra khó chấp nhận: “Anh em tưởng Thày đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thày bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem chia rẽ”. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta không khỏi lúng túng khi tìm cách hiểu đoạn Tin Mừng này. Tuy vậy, nếu suy tư về hành trình đức tin, mỗi chúng ta đều công nhận một điều, để đến với Chúa Giêsu, phải chấp nhận nhiều hy sinh cố gắng. Có những người theo Chúa Giêsu phải vượt qua nhiều trở ngại. Những trở ngại đến từ nhiều phía: cha mẹ, anh em, họ hàng và bạn bè. Như thế, để có thể theo Chúa Giêsu, phải chấp nhận những buông bỏ, để lựa chọn và gắn bó với Người. Và thế là, vì theo Chúa Giêsu mà xảy ra mâu thuẫn, thậm chí xung đột căng thẳng giữa những thành viên trong cùng một gia đình.

Có thể nói, Giêrêmia là một ngôn sứ trải qua nhiều cực nhọc gian nan nhất. Vì trung thành chuyển tải sứ điệp của Chúa mà người đồng hương đã gọi ông là tên “tứ phía kinh hoàng”. Đoạn sách thánh được đọc hôm nay kể lại việc người Do Thái căm ghét ông và lập mưu bỏ ông xuống giếng sâu, nhằm giết chết ông. Nhờ lòng thương cảm của một người khác là ông Evét Mêléc, ông Giêrêmia đã được đưa lên khỏi hầm. Trong lúc người Do Thái thích nghe những lời ngọt ngào, Giêrêmia lại tuyên bố những lời cảnh cáo, trách móc và đe dọa. Tuy vậy, lời ông nói không phải là của cá nhân ông, mà ông chuyển tải ý định của Thiên Chúa. Những lời ấy vừa nhằm giúp cho quốc dân tránh tai họa, vừa uốn nắn giúp họ tìm được sức mạnh nơi Thiên Chúa. Ngôn sứ là người nói lời của Chúa. Ngôn sứ cũng là người gánh chịu những hậu quả do lòng thù ghét của dân. Tuy vậy, những ai trung thành với sứ mạng loan báo sứ điệp của Chúa sẽ được Ngài thương và cứu chữa. Giêrêmia được cứu sống, đó là bằng chứng ơn phù trợ của Chúa dành cho những ai trung tín với Ngài.

Như thế, con đường theo Chúa vừa ngọt ngào vừa chông gai. Chính Chúa Giêsu cũng đã đi trên con đường thập giá và đã tự nguyện chết trên thập giá để bày tỏ tình thương của Thiên Chúa. Chúa đã đau khổ để nâng đỡ cảm thông những người đau khổ. Thập giá mang muôn màu sắc và muôn hình muôn vẻ. Thập giá cũng hiện diện mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Có thể đó là những khác biệt trong suy nghĩ của những thành viên trong một gia đình hay một cộng đoàn; có thể đó là một người bạn đời hay một người hàng xóm có tính nết không mấy dễ chịu; có thể đó là một sự kiện xảy đến làm chúng ta gặp nhiều điều bất tiện… Người Kitô hữu đón nhận thập giá không phải như con trâu mang cày ì ạch bước đi, nhưng như một người chia sẻ gánh nặng của người khác một cách vui vẻ và với mục đích xây dựng cuộc sống bình yên an hòa.

Tác giả thư gửi giáo dân Do Thái đã khẳng định: “Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Tác giả cũng khuyên chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu khổ hình để không sờn lòng nản chí khi gặp đau khổ gian nan (Bài đọc II).

Thày đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thày những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đem đến cho trần gian, đó là lửa tình yêu và sức mạnh, là lửa nhiệt huyết rao giảng tình thương Thiên Chúa đối với con người. Hôm nay, Người vẫn mong cho ngọn lửa ấy sáng lên nơi cuộc đời này. Dẫu biết rằng giáo huấn của Chúa Giêsu sẽ được đón nhận nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta không vì thế mà nản chí ngã lòng. Hãy thắp lên ngọn lửa có tên Giêsu, để chiếu rọi mọi nơi tăm tối và mọi góc khuất của cuộc sống. Hãy là một đốm lửa, dù nhỏ nhoi và mong manh yếu ớt, giữa những tăm tối bủa vây xung quanh, hầu sưởi ấm và thắp sáng cho những người lân cận.

Thập giá là biểu tượng của đau khổ, nhưng thập giá cũng đem lại hạnh phúc và niềm vui. Chúa Giêsu đã vác thập giá và đã chết trên thập giá, nhưng Người đã sống lại vinh quang. Thập giá chỉ là một chặng đường, dùng có nặng nề đến mấy cũng chỉ là nhất thời chứ không phải là đích điểm. Đích điểm cuộc đời chúng ta chính là hạnh phúc viên mãn nơi Thiên Chúa. Người có đức tin vững vàng sẽ làm cho thập giá nở hoa và tỏa hương thơm ngát. Đó chính là hương thơm của sự thánh thiện, của lòng yêu mến và trung thành.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Nếu có ai hỏi tôi tình yêu bắt nguồn từ đâu? Tôi xin trả lời tình yêu bắt đầu từ một trái tim biết sống vì người mình yêu! Trái tim đó biết cho đi mà không hề tính toán. Trái tim đó biết chạnh lòng thương những mảnh đời khổ đau mà họ gặp trong cuộc sống. Khi ta gặp được người có trái tim như vậy thì ta sẽ gặp được niềm vui của hạnh phúc.

Trái tim biết yêu thương còn là lực hấp dẫn kéo con người ta xích lại gần nhau, đến nỗi có thể hợp nhất nên một với người mình yêu. Thị Nở với tình yêu thương của một người đàn bà đã kéo Chí Phèo từ vực sâu của tội lỗi trở lại làm người với khát vọng lương thiện cháy bỏng. 

Ngày 15/1/2018, bé Hải An 7 tuổi nhập viện, được chẩn đoán mắc bệnh ung thư thần kinh thể sao – một thể bệnh hiếm gặp. Dù đã nỗ lực chữa trị, những khối u quái ác khiến em yếu đi từng ngày. Hải An qua đời vào ngày 22/2/2018

Trong những giờ phút tỉnh táo ngắn ngủi cuối cùng, em đã tâm sự với mẹ về việc hiến mô tạng của mình: “Con cũng muốn hiến tặng những bộ phận cơ thể của con cho các bạn đang cần đến nó”.  Và rồi người mẹ trẻ đã âu yếm hôn lên vầng trán con lần cuối, nhỏ giọng thì thầm với con: “Con tặng lại ánh sáng cho bạn khác nhé.”

Tình yêu là vậy. Nó không so đo tính toán. Tình yêu đích thực là chỉ biết cho đi và cho đi mãi mãi như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “Sống ở trên đời cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi”.

Đây chính là ngôn ngữ tình yêu của Đức Giê-su.Chính Ngài đã để gió cuốn đi và mang lòng thương xót của Ngài đến với mọi ngõ ngách của cuộc đời. Ngài đã hiến dâng mạng sống cho con người được sống và sống dồi dào. Ngài sống không phải vì mình mà cho thế gian được ơn cứu độ. Ngài yêu thương thế gian đến nỗi còn muốn trao ban chính mình làm của ăn của uống cho nhân loại. Chính Ngài đã xác quyết rằng “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống”. Ai ăn và uống Mình và Máu Ngài không chỉ được sống hạnh phúc mà còn hơn thế nữa là được sống muôn đời. Ngài là bánh trường sinh. Dân Do Thái đã từng được ăn Mana từ trời nhưng rồi cũng chết. Còn ai ăn và uống Mình Máu thánh Ngài sẽ được sống muôn đời.

Tình yêu luôn phát sinh những điều kỳ diệu. Có tình yêu sẽ có sáng tạo. Tình yêu đã làm phát sinh biết bao nghĩa cử cao đẹp mà con người dành cho nhau. Từ lời nói đến hành động luôn biết làm đẹp lòng nhau. Người ta chắt chiu từng lời nói, từng việc làm để cho người mình yêu được vui lòng. Tình yêu là một quà tặng vô giá mà chúng ta dành cho nhau. Không có tình yêu sẽ không có tặng ban.

Thế giới hôm nay rất cần tình yêu để con người được sống trong an vui và hạnh phúc. Sự sống còn của nhân loại hoàn toàn tuỳ thuộc vào khả năng yêu thương của chính con người. Hàng ngày trên thế giới có hàng triệu người đã chết bởi sự thiếu tình yêu của đồng loại. Bởi thù hận người ta giết nhau bằng súng đạn, gươm giáo. Bởi thiếu trách nhiệm người ta giết nhau bằng sự bỏ rơi và dửng dưng.

Thế giới không có tình yêu sẽ hoang tàn đổ nát tựa như cơn lũ sau khi tàn phá môi trường chỉ để lại sự dơ bẩn và chết chóc. Đó chính là thảm cảnh mà chúng ta đang phải đối diện. Bởi thiếu vắng tình yêu đã đẩy sự dữ ngày một gia tăng. Sự dữ ẩn chứa khắp nơi. Sự dữ luôn đe doạ hủy diệt địa cầu bất cứ giờ nào. Thế giới hôm nay đã chết vì thiếu vắng tình yêu.

Mỗi lần chúng ta rước Chúa là được đón nhận chính sự sống và tình yêu của Chúa. Ước gì tình yêu Chúa tuôn chảy trong con tim của chúng ta để chúng ta dám hiến dâng chính mình vì sự  sống của tha nhân. Ước gì mỗi người biết hy sinh cho nhau, và biết kiến tạo hạnh phúc cho nhau, chắc chắn cuộc sống này sẽ đẹp hơn. Ước gì mỗi người chúng ta biết noi gương Chúa Giêsu trở thành quà tặng mang lại cho anh em niềm vui và hạnh phúc. Xin cho chúng ta luôn cảm nghiệm rằng “chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Amen

Về mục lục

.

LỬA TÌNH YÊU.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Nói đến lửa có chúng ta thường nghĩ tới lửa gió và nước.Có thể gọi đây là ba sức mạnh khủng khiếp của Tạo Hóa giữa đất trời bao la, mênh mông. Khi đề cập đến lửa, chúng ta thường liên tưởng đến sự bùng cháy, đến những đám cháy lớn lao tiêu diệt, rồi chúng ta đâm ra lo âu, sợ hãi…Phải chăng đây là lửa đã thiêu rụi thành Sôđôma và Gômôra ? Phải chăng đây là thứ lửa mà Giacôbê và Gioan đã vì căm tức một làng xứ Samaria không chịu đón tiếp Chúa và các môn đệ, mà hai tông đồ này muốn khiến lửa từ trời xuống thiêu rụi ? Hay là thứ lửa mà chúng ta thường đọc thấy hoặc được học, được xem trong các bức tranh nói về lửa hỏa ngục!

Dù là thứ lửa nào thì nó cũng đáng gờm, đáng sợ! Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay đã nói đến một thứ lửa :” Thầy đã đến để ném lửa vào mặt đất và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên “ ( Lc 12,49 ). Nghe những lời này của Chúa chúng ta đâm ra ngao ngán, sợ sệt. Tuy nhiên, chúng ta phải thay đổi tư duy, thay đổi cái nhìn để hiểu rõ hơn ý của Chúa Giêsu.

Vâng, lửa mà Chúa Giêsu nói ở đây là đức tin. Đức tin có được, hun đức, trui luyện, đức tin đó mới bền vững, mới trưởng thành. Đức tin như ông đại đội trưởng, như người nữ bị băng huyết. Đó là đức tin bền chặt, đức tin vững chắc. Bởi vì, thánh Phaolô đã nói:” Đức tin không có việc làm là đức tin chết “ hoặc “ Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi “. Chúa Giêsu cũng nói đến sự đau khổ, sự chết khi đề cập đến “ chén đắng “. Chén đắng mà hai ông Giacôbê và Gioan sẽ uống, chứ không phải là việc ngồi bên hữu bên tả của Chúa Giêsu. Ở đây, Chúa Giêsu cho chúng ta hay đau khổ là con đường, là cách thức Chúa Giêsu đã chọn để cứu độ con người, cứu vớt loài người. Nên, con đường đó, cách thức đó, Chúa cũng mời gọi chúng ta đi theo “ Tôi tớ không lớn hơn Thầy “. Chúa Giêsu đã chọn cách thức duy nhất này để làm gương cho nhân loại, làm gương cho chúng ta.

Chúa Giêsu còn nói đến một ý nghĩa khác nữa trong đoạn Tin Mừng này :” Chúa báo trước cho những ai tin theo Ngài là vì đức tin, vì theo đạo, vì theo Người, họ có thể bị chính những người thân yêu của mình khinh chê, ghen ghét, ruồng bỏ vv…” . Lịch sử Giáo Hội cho thấy rất rõ, có nhiều người vì theo đạo, theo Chúa đã bị bách hại, đã bị giết chết. Máu của nhiều thánh tử đạo đã đổ ra rất nhiều nơi các Giáo hội địa phương. Sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta hiểu rất rõ về nhiều cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Gia đình nào có người theo đạo, tin Chúa, người ấy liền bị những người trong gia đình khinh chê, ruồng bỏ vv…

Lịch sử cứu độ cho thấy suốt trong dòng lịch sử con người từ khi Thiên Chúa sáng tao vũ trụ, con người cho đến thời nay đã có biết nhiêu người đã dùng đức tin để làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh, minh chứng cho Chúa là Đường, là Sự thật và Sự sống. Lửa cũng có nghĩa là lửa thiêng liêng Chúa thắp sáng nơi tâm hồn chúng ta để chúng ta luôn nhận ra Chúa, tin theo Chúa và làm tất cả mọi sự vì lòng yêu mến Chúa và tha nhân hầu làm sáng danh và làm vinh danh Chúa. Lửa tình yêu, lửa cứu độ làm cho chúng ta luôn biết tin tưởng, phó thác nơi Chúa vì muôn hồng ân Chúa ban cho chúng ta. Dù chúng ta đang sống giữa những gian nan thử thách, những cạm bẫy bủa vây của ma quỷ, của sự dữ, nhưng chúng ta một mực tin tưởng nhờ lửa tình yêu, nhờ lửa cứu độ mà Thiên Chúa giải thoát chúng ta.

Công đồng Vaticanô II là Công đồng của Chúa Thánh Thần, đã thổi một luồng gió mới vào Giáo Hội, tuy nhiên cũng có nhiều người không muốn canh tân, đổi mới, nên cũng gây ra sự phân hóa, chia rẽ như lời Tin Mừng hôm nay. Tuy nhiên, sau cùng mọi người đều nhận ra rằng chỉ có “ Tình yêu của Đức Kitô thúc bách chúng ta “ và như thánh Augustinô nói :” Tốt đẹp biết bao vì Thiên Chúa là ngọn lửa bùng cháy làm cho chúng ta biết yêu mến Người”. Chúa Thánh Thần chính là ngọn lửa tình yếu đến hiệp nhất, thánh hóa, ban bình an cho Giáo Hội, cho chúng ta để chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Tình Yêu.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đốt lên trong tâm hồn chúng con ngọn lửa tình yêu để chúng con biết luôn “ mặc lấy Đức Kitô “, hầu chúng ta mau mắn chuyền ngọn lửa đức tin, ngọn lửa cứu độ mà Chúa đã đem đến cho nhân loại, để chính ngọn lửa ấy cứu vớt loài người.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Lửa theo Chúa Giêsu có ý nghĩa gì ?
2.Chén đắng Chúa nói có nghĩa gì ?
3.Tại sao Chúa lại nói đem sự chia rẽ ?
4.Sự bình an có cần thiết không ?
5.Lửa cứu độ là gì ?

Về mục lục

.

PHẤN ĐẤU

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thầy đem lửa xuống thế gian,
Mong sao lửa cháy, tràn lan khắp miền.
Tình yêu nung nấu triền miên,
Tỏa lan khắp chốn, ân thiêng dạt dào.
Chúa mong phép rửa Cha trao,
Chu toàn thánh ý, thiên cao cứu đời.
Lòng Thầy khắc khoải khôn vơi,
Đến khi hoàn tất, sáng ngời ước mong.
Bình an nước chảy xuôi dòng,
Cho người tâm thiện, trong lòng ước mơ.
Tại sao chia rẽ hững hờ?
Mẹ cha con cái, nghi ngờ lẫn nhau.
Con trai con gái sầu đau,
Thành viên chống đối, trước sau gây thù.
Ghen tương oán ghét dập trù,
Phân chia đối phó, gương mù khắp nơi.
Lửa thiêng soi chiếu rạng ngời,
Tình yêu thập giá, gọi mời hy sinh.
Theo Thầy từ bỏ thân mình,
Đắng cay khổ nạn, cực hình cũng cam.

Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ: Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên. Chúa muốn cho lửa tình yêu và lửa chân lý được tỏa lan khắp nơi. Ánh sáng của lửa sẽ dọi chiếu vào đêm tối. Chúng ta biết rằng đêm đen không luôn chấp nhận ánh sáng bởi vì sự sáng sẽ dọi tỏ lòng của con người. Nhiều người ta sẽ chối từ ánh sáng và chân lý phúc âm của Chúa.

Giữa ánh sáng và đêm tối có một khoảng cách về sự thánh thiện và tội lỗi. Lời chân lý của Chúa khuấy động cuộc sống của nhiều người. Giai cấp quản trị trong đạo bắt đầu cảm thấy bị mất ưu quyền, nên họ tỏ ra khó chịu. Các thầy tư tế và các vị tai mắt trong dân bị lời Chúa lột trần mặt nạ. Họ bị mất quyền lợi. Họ bị chạm tự ái vì họ luôn nghĩ mình là người công chính. Họ đã chu toàn đầy đủ các lề luật của cha ông. Họ căm phẫn chống lại Chúa. Họ không muốn chấp nhận ánh lửa mà Chúa đem xuống trần gian.

Sống trong đêm tối là sống trong bóng đêm của sự dữ. Những người làm điều gian ác thường chọn đêm tối để hành động. Người nói hành, nói xấu người khác cũng thế, họ không dám công dám đối diện nhưng rỉ tai, dấu diếm và lén lút. Chúa đến mang lửa mới để soi dọi vào chính tâm hồn của chúng ta, chứ không phải những hình thức bên ngoài.

Chúa Giêsu còn nói mạnh mẽ rằng: Ngài không đến đem bình an mà là chia rẽ. Đây là một tư tưởng mới lạ làm chúng ta ngạc nhiên. Chúa xuống trần mang bình an cho nhân loại. Tại sao Chúa lại mang chia rẽ trong gia đình, giữa cha mẹ và con cái? Sự chia rẽ có ý nghĩa gì? Chia rẽ vì có sự giằng co giữa ánh sáng và đêm tối, giữa sự thật và gian trá. Khi sai các môn đệ đi rao giảng tin mừng, Chúa biết các ngài sẽ bị chống đối và bị bách hại như chính Chúa.

Ngựa quen đường cũ. Con người cũng giữ thói quen của mình và không muốn thay đổi. Đôi khi chúng ta khư khư giữ tư tưởng và cách sống đạo của chúng ta. Chúng ta không muốn ai khấy động hoặc thay đổi cách sống của mình. Trong đời sống gia đình cũng thế, sẽ có những phân rẽ vì niềm tin và tâm thức riêng của mỗi thành phần. Chính Chúa Giêsu bị kết án vì Ngài đã mang lửa chân lý và lửa yêu thương đến cho nhân loại.

Chúng ta học biết rằng ngay từ buổi sơ khai của Giáo Hội, người ta đã bách hại đạo, ruồng bắt, tù đầy và giết chết các Kito hữu. Các môn đồ đã gặp phải biết bao nhiêu sự thù ghét và chống đối ngay trong gia đình và cộng đoàn. Thù ghét nhau không phải họ làm điều xấu mà thù ghét vì chỉ họ tin vào Chúa Kitô Phục sinh. Lịch sử Giáo Hội đã minh chứng hùng hồn những mẫu gương của các Thánh Tử Đạo. Các Ngài không làm hại ai cả, chỉ đơn sơ tin vào Chúa Kitô cũng đã đủ để bị thù ghét, bị ruồng bỏ và bịgiết. Lạy Chúa, xin cho lửa tình yêu sưởi ấm tâm hồn chúng con để chúng con phấn đấu ra đi làm nhân chứng cho Chúa giữa đời.

Về mục lục

.

MANG LẤY LỬA THIÊNG

Bông hồng nhỏ

Giữa tiết trời giá lạnh, còn gì hơn khi ta được khoác một tấm áo ấm hay được ngồi sưởi bên bếp hồng, được nép vào lòng mẹ cho ấm áp yêu thương. Cái lạnh của tiết trời thật đáng sợ nhưng nó vẫn không đáng sợ cho bằng sự lạnh lùng giữa người với người. Tình yêu là lửa hồng sưởi ấm những trái tim băng giá. Chúa Thánh Thần chính là lửa yêu thương bừng cháy trong tâm hồn mỗi người.

Chúa Giêsu đã tâm sự cùng các môn đệ lời này: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12, 49-50). Trên thập giá, trái tim Thầy Giêsu đã để cho lưỡi đòng đâm thâu. Ngay lúc này, ta có cảm nhận được nỗi đau đang giẫy lên trong trái tim của Thầy khi lời Thầy vang lên đầy thổn thức. Khi lắng nghe tâm sự của Thầy, lòng ta cảm nhận một nỗi đau của Tình Yêu bị con người từ khước. Đó là nỗi đau của một người cha khi lặng nhìn người con yêu dấu lạc vào con đường của bóng đêm tội lỗi. Thầy Giêsu là người tôi trung của Thiên Chúa. Ngọn lửa yêu thương mà Ngài đã trao ban cho nhân loại đã làm ấm lên bao tâm hồn lạnh giá giữa dòng đời, đã chữa lành bao tâm hồn thương tích, đã dọi sáng một lối đường dẫn đến hạnh phúc cho bao người tội lỗi biết tìm về nẻo chính đường ngay. Ngọn lửa ấy phải được bùng lên để bao người được thấy ánh sáng tình yêu của Chúa, được hưởng nếm ngọn lửa ấm áp của yêu thương. Giữa bóng đêm mịt mù, cần lắm một ánh sáng soi đường. “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119, 105). Bước theo Thầy Giêsu, ta sẽ tìm thấy một lối đường dẫn đến hạnh phúc, một con đường của phục vụ trong yêu thương và hiến dâng đến cùng. Để khi ấy, lòng ta mang lấy nỗi thổn thức của Thầy, mang lấy nỗi khắc khoải của Thầy mà bước vào thế giới, để con tim yêu thương thúc bách hành động trao ban cách quảng đại. Ta có nhìn thấy ngọn lửa mà Chúa đã thắp lên trong lòng ta ngày ta được lãnh Bí tích Rửa tội, ngọn lửa ấy đang cháy lên mạnh mẽ hay leo lét giữa sóng đời bủa vây? Ta hãy chạy đến bên Chúa và tha thiết khẩn cầu Thần Khí Chúa đến thổi bùng ngọn lửa trong trái tim ta, thiêu rụi hết bao nhiêu tội lỗi, những ích kỷ và hư danh giả trá để tâm hồn ta lại được bừng cháy hân hoan.

Thầy Giêsu đã nói với các môn đệ rằng “Ngài đến để đem sự chia rẽ”. Ngài đã mang ánh sáng đến trần gian và những kẻ chuộng bóng tối đã chống đối Ngài. Vì Tin Mừng, ta có sẵn sàng để chấp nhận bị từ khước và đe dọa? Bản thân ta được Chúa mời gọi trở nên muối và ánh sáng cho trần gian. Ta hãy từng ngày mặc lấy tâm tình của Chúa Giêsu, bước vào đời với một tâm hồn tín thác nơi tình yêu và sự dìu dắt của Thiên Chúa. “Thập giá hằng ngày làm con xao xuyến nhưng mang lại cho con niềm hy vọng phục sinh”. Lời của ai đó đã từng nhắn gửi ta, đã hơn một lần giúp ta vững bước hơn trên con đường bước theo Đấng Chịu- Đóng- Đinh. Chúa Giêsu sẽ mãi mãi là điểm tựa vững chắc và là người Thầy tuyệt vời nhất, là Đấng khơi dậy nơi tâm hồn ta nỗi khắc khoải về sứ mạng trở nên ánh sáng cho trần gian.

Lạy Chúa Giêsu! Xin ban Thánh Thần Lửa mến trong tâm hồn con để Người dạy con yêu mến Chúa. “Xin làm cho trái tim con có lửa, xin đặt Lời của Chúa nơi môi miệng con và ban cho con có cái nhìn của ngôn sứ và biết sống sứ vụ ngôn sứ”. Amen.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA TÌNH YÊU.

Anna Cỏ May

Đi vào các công ty hay các nhà chung cư, chúng ta dễ bắt gặp những ống chữa cháy tại mỗi khu vực, phòng khi có sự cố xảy ra. Tuy nhiên, chúng ta vẫn biết lửa không thể thiếu trong việc nấu ăn hay dùng để đốt những gì chúng ta muốn bỏ. Lửa còn mang lại ánh sáng, là niềm hy vọng cho chúng ta những khi ở trong bóng tối. Trong Kinh Thánh, lửa còn được con người dùng để diễn ta trái tim đang nóng lên như ngọn lửa bùng cháy (x.Tv 39,4). Đối với Thiên Chúa, lửa là biểu tượng tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu tác động thanh tẩy mọi người khỏi dơ nhớp. Ngoài ra, lửa là biểu tượng của Chúa Thánh Thần.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc 12,49). Chúa Giêsu đã ban Chúa Thánh Thần cho thế gian. Ngài không ngừng khao khát làm cho ngọn lửa ấy bùng lên. Ngài không còn ở thế gian trong bao lâu nữa. Ngài đi vào Cuộc Thương Khó để mọi người được rửa sạch tội lỗi và nhận lấy Chúa Thánh Thần. Ngài muốn ngọn lửa tình yêu được bùng cháy trong trái tim mỗi người. Ngài yêu từng người bằng tình yêu riêng như mỗi người là đối tượng tình yêu của Ngài. Ngài không ngừng yêu chúng ta mỗi ngày, ngay cả khi chúng ta vô ơn hay phạm tội. Ngài yêu bằng một tình yêu vô điều kiện. Trái tim Ngài luôn khắc khoải về ơn cứu độ cho mọi người. Vậy tại sao Chúa Giêsu lại nói: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để đem bình an cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem chia rẽ” (Lc 12, 51).

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói đến sự chia rẽ giữa người cha và con trai; người mẹ với con gái; mẹ chồng và nàng dâu (x Lc 12,53). Vì Tin Mừng, có khi chúng ta sẽ phải đứng trước nghịch cảnh: sự rạn nứt tình thân khi giữa mỗi người có một niềm tin khác nhau, lối sống khác nhau. Nếu chúng ta quyết tâm chọn Chúa và sống thái độ vâng phục đức tin, chúng ta vẫn mong mỏi một sự hàn gắn tình thân. Chúng ta hãy mang lấy nỗi khắc khoải của Thầy Giêsu, tình yêu sẽ dẫn chúng ta đến hiệp nhất. Hãy cầu nguyện cho chính cha mẹ, anh em của mình nếu như họ chưa có cùng một đức tin. Nhờ ơn Chúa, chúng ta hãy dùng đôi mắt đức tin và tìm hiểu Lời Chúa để hiểu được thánh ý Thiên Chúa. “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Bởi đó, Chúa Giêsu hằng khao khát lửa Chúa Thánh Thần bùng cháy trong chúng ta, để Chính Ngài sẽ giúp chúng ta hiểu biết về tình yêu Chúa, hiểu hạnh phúc ngay ở đời này. Để tình yêu sẽ dẫn chúng ta đến hiệp nhất. Tâm hồn chúng ta có sẵn sàng mở ra trước ngọn lửa ân sủng của Thần Khí Chúa, để Ngài thổi bùng ngọn lửa trong lòng chúng ta?

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho chúng con đắm mình trong ngọn lửa tình yêu và tràn đầy lửa Chúa Thánh Thần, để chúng con không ngừng phấn đấu cho phần rỗi và hạnh phúc của mọi người. Amen.

Về mục lục

.

NHÂN CHỨNG ĐỨC TIN

       Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Gr 38:4-6, 8-10;  Dt 12:1-4;  Lc 12:49-53)

          Khi nói tới ý nghĩa cuộc đời, chúng ta có rất nhiều suy nghĩ khác nhau tùy hoàn cảnh sống và tùy mức độ hiểu biết của ta.  Tuy nhiên đối với Ki-tô hữu, mẫu số chung của mọi ý nghĩa cuộc đời đều nằm trong ý tưởng cốt lõi là làm nhân chứng đức tin.  Qua lối sống, chúng ta nói lên những giá trị Tin Mừng mà Chúa Giê-su dạy chúng ta bằng lời giảng và đời sống của Người.  Để làm chứng nhân cho sứ mệnh, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã phải chịu muôn vàn chống đối và nguy hiểm cho cả mạng sống.  Trong đoạn thư gửi tín hữu Do-thái, tác giả cũng nhắc đến các “nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” chúng ta, để nhắc nhở ta rằng khi làm chứng nhân cho Chúa, ta không cô đơn lẻ loi.  Đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su chia sẻ với chúng ta rằng sứ mệnh của Người là đến “ném lửa vào mặt đất” (tức làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa) và Người “khắc khoải” mong đợi sứ mệnh ấy được hoàn tất.

          Trong lịch sử Cựu Ước, có nhiều câu chuyện làm chứng cho đức tin vào Thiên Chúa, nhất là cuộc đời của các vị ngôn sứ.  Trong số các chứng nhân ấy, chúng ta phải nói tới ngôn sứ Giê-rê-mi-a, một con người đã chịu bao cay đắng tủi nhục vì muốn trung thành với sứ mệnh Thiên Chúa đã trao phó.  Bài đọc 1 hôm nay kể lại câu chuyện ngôn sứ đã bị các thủ lãnh của nước Giu-đa (vương quốc miền Nam của Ít-ra-en) “điệu đi và thả xuống một cái hầm nước”.  Hầm đã hết nước, chỉ còn bùn, nên Giê-rê-mi-a bị lún sâu xuống bùn.  Ngôn sứ bị họ đối xử tàn ác chỉ vì ngài “đã làm nản lòng các binh sĩ còn lại trong thành cũng như toàn dân” khi ngài truyền đạt lại sứ điệp của Thiên Chúa rằng:  “Ai ở lại trong thành này (Giê-ru-sa-lem) sẽ phải chết vì gươm đao, đói kém và ôn dịch; ai chạy ra ngoài đầu hàng quân Can-đê, thì ít ra cũng sống và bảo toàn được tính mạng… Chắc chắn thành này sẽ bị nộp vào tay đạo quân của vua Ba-by-lon; chúng sẽ chiếm được thành.”  Các thủ lãnh coi Giê-rê-mi-a là một mối họa cho toàn dân.  Ở đây, rõ ràng ngôn sứ có thể chọn con đường dễ đi, là nói ngược lại điều Chúa truyền để cho các thủ lãnh tin tưởng và tôn vinh ngài.  Nhưng ngài không muốn làm trái ý Thiên Chúa, bất chấp sẽ bị bách hại và nguy hiểm tính mạng.  Cuối cùng Chúa đã cứu mạng vị ngôn sứ của Người.

          Phụng vụ Lời Chúa lấy câu chuyện ngôn sứ Giê-rê-mi-a làm hình bóng ám chỉ Chúa Giê-su, Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến để “ném lửa vào mặt đất” và phải chịu một “phép rửa”.  Ném lửa vào mặt đất là sứ mệnh Chúa Giê-su phải thi hành.  Lửa là tình yêu của Thiên Chúa, Đấng “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).  Tuy nhiên Chúa Giê-su không chỉ “nói” cho nhân loại biết sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa, mà Người còn “hành động” để chứng tỏ chân lý này.  Người đã “chứng minh” tình yêu vô điều kiện này của Thiên Chúa bằng cách vui lòng chịu chết khổ giá.  Lúc sinh thời thi hành sứ mệnh rao giảng, tâm hồn Chúa Giê-su đã bừng lên ngọn lửa nhiệt thành.  Lúc nào Chúa Giê-su cũng canh cánh bên lòng nỗi lo lắng sao cho sứ mệnh được hoàn tất và sinh hoa kết quả.  Người rất thực tế nhận ra những chống đối và khó khăn trước mặt.  Người biết con đường lên Giê-ru-sa-lem mỗi ngày một ngắn dần và sẽ dẫn Người tới đỉnh đồi Canvariô.  Không những Người biết số phận tương lai của bản thân mình, mà cả tương lai của những ai sẽ theo bước chân chứng nhân của Người nữa.  Các môn đệ Người rồi đây cũng phải chịu chống đối bắt bớ, chịu thiệt thòi vì làm chứng cho giáo lý của Người.  Như thế, việc làm môn đệ Chúa chẳng những không đem lại “hòa bình” trần thế cho các môn đệ, mà còn gây cho họ những mâu thuẫn với những kẻ không theo Chúa, thậm chí cả những người trong chính gia đình họ.  Chúa Giê-su luôn mong rằng các môn đệ sẽ trung thành theo Người và vững lòng tin vào Người.  Người bảo:  “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bê-en-dê-bun, huống chi là người nhà” (Mt 10:24-25).  Lời Chúa nhắn nhủ đã làm nức lòng biết bao người.  Lịch sử Giáo Hội để bao nhiêui là tấm gương chứng nhân của các Ki-tô hữu đã theo bước chân Thầy mình để làm chứng rằng Thiên Chúa yêu thương nhân loại chúng ta.

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Hôm nay tác giả thư Do-thái gửi đến chúng ta lời khích lệ tuyệt vời về việc làm chứng nhân đức tin.  Trước hết tác giả đề cao tấm gương của Chúa Giê-su, “Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin”.  Đúng vậy, Chúa Giê-su đã khai mở cho chúng ta biết chân lý tình yêu Thiên Chúa để chúng ta tin.  Rồi Chúa Giê-su đã kiện toàn lòng tin ấy bằng cái chết minh chứng của Người.  Nhất là tác giả nêu lên tấm gương của Chúa Giê-su, “Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế”, tức là chống đối đến độ đóng đinh Người vào thập giá.  Cuối cùng, đoạn thư khích lệ chúng ta rằng:  Chúng ta tưởng nhớ đến gương mẫu Chúa Giê-su cốt là để khỏi sờn lòng nản chí, khi chúng ta phải chiến đấu với tội lỗi hầu giữ vững đức tin và làm chứng nhân cho Chúa trong gia đình, học đường, xã hội và thế giới chúng ta.  Hơn khi nào hết, Giáo Hội hôm nay càng cần đến chứng từ của các Ki-tô hữu trước một thế giới xuống dốc về đức tin và luân lý.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA YÊU THƯƠNG

Lm Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

 Thưa anh chị em,

Lời Chúa chúng ta vừa nghe: “Thầy mang lửa xuống thế gian và Thầy ước mong ngọn lửa ấy bừng cháy lên”, đó là tâm nguyện của Đức Giêsu. Thế giới này ví tựa như một ngôi đền thờ rộng lớn, bổn phận mỗi người cần phải đặt vào đó một ngọn lửa, để thế giới này bừng sáng lên tình Chúa tình người.

Thế thì, ngọn lửa mà Đức Giêsu mang vào thế giới này là ngọn lửa nào? Thưa, chính là ngọn lửa tình yêu bừng cháy từ trái tim của Ngài. Thật vậy, vì yêu thương nhân loại sống trong bóng tối sự chết, Đức Giêsu từ bỏ từ trời cao xuống đất thấp để thắp lên ngọn lửa yêu thương; ngọn lửa của lòng thương xót; ngọn lửa phục vụ đến nỗi hiến thân mình chịu chết, để rồi từ cõi chết sống lại, Ngài xua tan bóng tối tử thần đem lại sự sống mới cho nhân loại.

Thời Cựu ước, Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với ông Môsê trong bụi gai bốc cháy, và trao sứ mạng cho ông dẫn đưa dân Israel ra khỏi ách nô lệ Aicập – thì nay Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta ra đi thắp sáng niềm tin cho những người chưa nhận biết Chúa.

Đức Giêsu đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh, và sai các môn đệ đi làm chứng cho Tin mừng – nay Chúa cũng sai chúng ta ra đi xua tan bóng tối của bất công, hận thù, chia rẽ, để thay vào đó ánh sáng của tình thương.

Xưa kia ngọn lửa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ, biến đổi họ trở thành chứng nhân Tin mừng – ngày nay chúng ta cũng được mời gọi mang ngọn lửa tình yêu để sưởi ấm những tâm hồn đau thương khốn khổ.

Xưa kia tâm hồn hai môn đệ đi làng Emmau đã bừng cháy lên khi nghe Chúa giải thích Thánh kinh, ước gì tâm hồn chúng ta cũng được ấm áp lên mỗi khi nghe lời Chúa dạy bảo.

Nếu nhân loại ngày hôm nay cần cơm bánh để sống còn, thì cũng cần tình thương để tồn tại. Nếu con người cần tấm áo để che thân, thì cũng cần tình thương để sưởi ấm cho nhau.

Khi người Samaria nhân hậu cúi xuống băng bó vết thương cho người bị nạn, ánh sáng tình thương đã bừng lên như tình anh em ruột thịt. Ước gì, chúng ta hãy là những Samaria nhân hậu, đưa những nạn nhân về quán trọ của lòng mình, bằng đôi tay rộng mở, với tấm lòng yêu thương giúp đỡ, hay ít nhất là một lời cầu nguyện cho những người kém may mắn đó.

Anh chị em thân mến,

Ngọn lửa yêu thương Đức Giêsu đã thắp sáng trần gian, và Ngài ước mong chúng ta tiếp tục thắp lên ngọn lửa yêu thương ấy cho thế giới.

 Giáo hội hơn 2.000 năm qua, đã có nhiều tấm lòng vàng như thánh Gioan Thiên Chúa; như mẹ thánh Têrêsa Cancutta, như thánh Gioan Phaolô II, như các chiến sĩ truyền giáo, những người âm thầm phục vụ trong các mái ấm tình thương… Như vậy, ngọn lửa ấy đã có rồi, nhưng còn nhiều giới hạn.

Thật vậy, chúng ta đang sống trong một thời đại, mà dường như không thiếu thứ gì, duy chỉ có tình yêu, tình người và lòng thương cảm đối với nhau ngày càng thiếu vắng, vì “căn bệnh vô cảm” đang lan tràn khắp nơi. Tin tức mỗi ngày cho chúng ta nghe thấy, đó đây vẫn còn chiến tranh, hận thù, nạn kỳ thị chủng tộc màu da và tôn giáo. Như vậy, nhiều nơi bóng tối thiếu tình người vẫn còn che phủ.

Trong một thời đại như thế, lời mời gọi của Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay vẫn còn mang tính thời sự, như một hồi chuông gióng lên, thức tỉnh xã hội, cách riêng những người mang danh mình là Kitô hữu, hãy cùng nhau xây đắp một nền văn minh tình thương và lòng thương xót.

Bởi vì, chỉ có lòng thương xót mới thực sự là ngọn lửa thắp lên để sưởi ấm lòng người; chỉ có lòng thương xót mới có thể vực con người đứng dậy, trở về với Thiên Chúa sau những vấp ngã, đau thương trên cuộc đời này.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, hãy mở rộng tâm hồn và thắp lên ngọn lửa yêu thương, xoá đi những ích kỷ nhỏ nhen, để mọi người nhìn nhau là anh em thực sự con cùng một Cha trên trời.

Ước gì, chúng ta hãy siêng năng đến kín múc ngọn lửa yêu thương từ nơi Thánh Thể Chúa, để rồi chúng ta đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Lạy Chúa, xin đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa yêu thương của Chúa. Xin Chúa soi sáng những tâm hồn còn ngồi trong bóng tối tăm, sưởi ấm những tâm hồn lạnh lùng, thanh luyện những cõi lòng chai đá, để mọi người trên trái đất này cảm nghiệm được ánh lửa yêu thương của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

CUỘC CHIẾN TRIỀN MIÊN

PM. Cao Huy Hoàng

Hậu quả của tội nguyên tổ thật là khủng khiếp! Satan thật giả dối, gian ngoa, quỷ quyệt! Con người khi đã chấp nhận theo sự hướng dẫn của Satan thì chắc hẳn phải đi vào chỗ chết, chết ngàn thu. Đáng buồn thay, cái chết ngàn thu ấy được Satan phát họa bằng một sự sống đầy tham vọng, giàu sang phú quí, đầy dư khoái lạc ở đời này.

Nếu Chúa Giê-su không xuống thế gian này để dùng Lời Ngài và chính cái chết của Ngài mà cứu con người được sống, thì con người vẫn mãi mãi chìm trong cái chết kinh hoàng ấy, trong cái vỏ bọc của một sự sống tưởng như là tuyệt vời!

Rõ ràng là Chúa Giê-su đã đến và khởi xướng một cuộc chiến tranh triền miên trong cõi đất này, cuộc chiến giữa Sự Sống Vĩnh Cửu và Sự Chết Ngàn Thu.

Trong khi Chúa Giê-su, Sự Sống Vĩnh Cửu, muốn cho tất cả con người được sống không chỉ đời này, mà còn đời sau nữa, và đời đời trong Nước Thiên Chúa, thì Sa-tan ‘Sự Chết Ngàn Thu’ lại lôi kéo con người ta về phía chỉ sống sung túc khoái lạc ở đời này, không cần có đời sau, đời đời. Càng nhiều người quên đi, hoặc không cần có đời sau, thì Satan càng mãn nguyện, vì chúng luôn là chống lại Thiên Chúa.

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”.

Chính Lời Ngài đã mở lòng trí con người phân biệt Thiện, ác; sống, chết; thật, giả… và cũng chính Lời Người là sự Thiện, Sự Thật, Sự Sống làm cho cái ác, cái chết, cái giả dối phải hổ người bẽ mặt.

Cuộc chiến ấy, trước tiên ngay trong lòng mỗi người, và từng giây phút, từng ngày. Con người phải tự chia rẽ chính mình. Cũng trong một con người mà cái thiện cái ác, cái thật cái giả vẫn cùng nhau canh cánh. Bao lâu hãy còn sống đây, trên cõi đất này, thì dù là người có học cao, học rộng, có chức, có quyền, có nhiều đời nhiều năm theo đạo, sống đạo…, có ai dám vỗ ngực xưng tên rằng mình đang hoàn toàn thuộc về sự thiện, sự thật, sự sống đời đời.

Thăm viếng và giúp đỡ cụ Gia-cô-bê trong những ngày cụ lâm bịnh nặng, chúng tôi nghe rõ lời tâm sự của cụ với từng đứa con lúc riêng tư ngồi bên cha, chăm sóc cho cha, cũng chỉ một nội dung: “Hành trình Đức Tin là một cuộc chiến triền miên nghe con. Nhớ là: ma quỷ sàng con như sàng gạo. Ma quỷ rất ác độc nhưng cũng rất dễ thương, rất hung dữ nhưng cũng rất hiền lành, rất thô lỗ cộc cằn nhưng cũng rất ngọt ngào, nịnh nọt… Không cảnh giác, con rất dễ thua cuộc đó. Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giê-su mới chiến thắng được con à”.

Thiết nghĩ cụ đang nói đến cuộc chiến triền miên trong mỗi con người. Tôi vẫn tâm đắc nhất là câu kết của cụ: “Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giê-su mới chiến thắng được con à”.

Tôi có cảm giác đây là cả một kinh nghiệm chiến trường của cụ, khi cụ dùng hai từ “tình yêu và sức mạnh” của Chúa Giê-su.

Tình yêu ấy được Chúa Giê-su đề cập trong đoạn đầu Tin Mừng hôm nay: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”.

Ngọn Lửa của Thiên Chúa Cha được Chúa Giê-su mang đến cho trần gian, là lửa của Thánh Thần Chân Lý, lửa của Thánh Thần Tình Yêu: “Ai yêu mến sự Thật, thì nghe tiếng tôi”. “Ai sống trong Tình Yêu là thực sống trong Chúa”.

Như vậy, phàm ai không yêu mến sự thật thì không nghe tiếng Chúa Giê-su, thì chống đối Chúa Giê-su. Từ đó, trong thế giới loài người xảy ra sự phân rẽ giữa những người theo Chúa và người không chấp nhận theo Chúa, theo giáo lý của Chúa, theo con đường của Chúa. Cũng vậy, ai không sống trong Tình Yêu đích thực của Thiên Chúa thì chống lại Thiên Chúa. Không phải là một sự phân chia rõ ràng, một cuộc chiến triền miên đấy sao. Cụ thể hơn, ngay chính trong lòng mỗi người, mỗi người luôn phải ra sức chiến đấu để được sống đời đời, thì hẳn nhiên phải sẵn sàng tuyên chiến với cái giả trá điêu ngoa, với cái ác tiềm ẩn trong lòng, do ma quỷ điều khiển. Không ai có thể ỡm ờ, lấp lững giữa thiện ác, giữa Thiên Chúa, và ma quỷ. Phải dứt khoát với điều Ác để đón nhận cái Thiện của Thiên Chúa.

Ghi nhận cảm nghiệm về một hành trình Đức Tin đã đi qua của một cụ già, thiết tưởng mỗi người chúng ta phải ngộ ra chúng ta đang là những người lính anh dũng trong cuộc chiến tranh triền miên và hơn thế nữa, phải chiến thắng để bảo vệ Đức Tin, làm chứng cho Sự Thật, cho Sự Sống đời đời. Và chỉ trong Giê-su, chúng ta mới chiến thắng trong cuộc chiến triền miên ở cõi đất này, để chúng ta dành lấy một nền hòa bình là chính sự bình an tâm hồn khi hãy còn sống và chiếm hữu một chỗ trong Nước Thiên Chúa, Nước Hòa Bình.

Lạy Chúa Giê-su, xin hãy đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa tình yêu, chân lý. Xin chính Ngài trở nên sức mạnh của mỗi chúng con trong cuộc chiến triền miên gian khó này. A men.

Về mục lục

.

LỬA CHÁY – SỰ THẬT TỎ BÀY

Lm Nguyễn Văn Nghĩa

“Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Thoạt nghe những lời trên của Chúa Giêsu hẳn nhiều người giật mình. Một tôn sư lỗi lạc, một vị đại ngôn sứ, một Đấng Thiên sai mà tuyên phán những lời ấy thì thật chướng tai, khó nghe. Là người, ai cũng đều khát mong được sống trong an bình. “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” là một sự thật hầu như hiển nhiên. Thế thì chúng ta phải hiểu nội hàm lời tuyên bố của Chúa Giêsu trên đây như thế nào?

Để hiểu đúng và tương đối chính xác lời một ai đó thì cần thiết phải xem xét ngữ cảnh khi người ấy nói. Tin mừng thánh Luca tường thuật ngữ cảnh trước đó là việc Chúa Giêsu khử trừ một tên quỷ câm ra khỏi người bị nó ám và người câm nói được (x.Lc 11,14-23). Tiếp đến Người tuyên bố rằng ai nghe và giữ lời Thiên Chúa mới là người có hạnh phúc thật. Rồi Người tự cho mình hơn cả Ngôn sứ Giona khi thẳng thắn công bố sự thật. Tiếp đến Chúa Giêsu nói về sự nhận thức như là ánh đèn dẫn lối chúng ta đi (x.Lc 11,37-36). Sau đó Người khiển trách nhiều người Pharisiêu và nhiều nhà thông luật đã sống và hướng dẫn kẻ khác trong sự lầm lạc cho dù biết họ  sẽ tức tối tìm cách hảm hại Người (x.Lc 11,37-54).  Rồi Người khuyến dụ các môn đệ đừng sợ và hãy can đảm công bố sự thật (x.Lc  12,1-12), đừng lo thu tích của cải đời này nhưng hãy tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và luôn sống trong tinh thần tỉnh thức và sẵn sàng là chu toàn bổn phận với nhưng người được giao phó cho mình chăm nom (x.Lc 12,13-48).

Trong ngữ cảnh này, Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên!” (Lc 12,49). Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đem xuống thế gian chính là ánh sáng chân lý như lời Người khẳng định với Philatô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Ánh sáng chân lý đã bừng lên thì sự thật, sự giả, điều tốt, điều xấu sẽ được phân biệt rõ ràng. Ánh sáng chân lý đã chiếu soi thì sự thiện hảo nhất thời, chóng qua và hạnh phúc đích thực, vĩnh tồn sẽ được biện phân. Cảnh mập mờ của buổi thời hổn mang sẽ bị xoá dần và con người chúng ta cần phải chọn lựa dứt khoát. Chọn lựa là hy sinh. Đau đớn là chuyện thường tình khi phải bỏ cái này để chọn cái kia, nhất là khi cái này đã từng gắn bó với mình và nó chưa hẳn là xấu.

Sự xâu xé trong tâm hồn luôn có đó khi chúng ta phải chọn lựa giữa điều lành và điều dữ, giữa một điều tốt và một điều tốt hơn, giữa hạnh phúc nhất thời và hạnh phúc vĩnh cửu. Bị giằng co, bị xâu xé là một lẽ rất tự nhiên vì điều tốt hơn chưa thực sự ở trong tầm tay và hạnh phúc vĩnh cửu vẫn đang còn ở phía chân trời xa. Đây chính là sự chia rẽ mà Chúa Giêsu muốn đề cập.

Ai đến với tôi mà không từ bỏ cửa nhà, ruộng nương, cha mẹ, vợ con…và không vác thập giá mình thì không thể làm môn đệ của tôi (x.Lc 14,26-27). Dù là một lối nói kiểu so sánh nhưng Chúa Giêsu đã thẳng thừng đưa ra một đòi hỏi có tính triệt đễ rằng phải chọn Người trên hết và trước hết. Tất cả chỉ vì lý do này: Người chính là Thiên Chúa thật, nhờ Người mà mọi được tạo thành. Dĩ nhiên khi đã can đảm chịu xâu xé, chịu bắt bớ để chọn Người làm Thầy và làm Chúa của mình, chúng ta sẽ lại nhận được mọi sự như trên cách gấp bội và nhất là sự sống trường sinh (x.Mc 10,28-30).

Lửa đã cháy lên. Ánh sáng đã đến thế gian, Sự thật đã được tỏ bày. Vấn đề còn lại là sự chọn lựa của chúng ta. Chọn lựa là phải hy sinh. Thiện hảo nào cũng có giá của nó. Dù là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa ban cho, nhưng hạnh phúc vĩnh cửu dứt khoát không phải là thứ hàng hoá rẻ tiền.

Về mục lục

.

LỬA AN BÌNH

 Lm. Bùi Quang Tuấn

Nếu khẳng định Đức Giêsu là “Hoàng tử Bình an”, người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng thừng của Ngài về chính mình: “Các ngươi nghĩ: Ta đến để ban bình an trên mặt đất ư? Không đâu! Ta bảo thật các ngươi, không gì khác ngoài sự chia rẽ! Vì từ nay, trong một nhà có năm người, sẽ có chia rẽ: ba với hai, hai với ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha với con, con với cha…”?

Làm sao có thể hiểu được khi một người vốn tự xưng là “hiền lành và khiêm nhường” lại gây nên bao nỗi phân ly trong gia đình, một cấu trúc cần được hiệp nhất hơn bất cứ một cấu trúc hay tổ chức nào trên thế giới?

Người ta sẽ phải hiểu thế nào câu nói của Đức Giêsu: “Ta đến ném lửa xuống đất và Ta mong sao lửa đó được cháy lên”? Đây có phải là thứ lửa mà anh em nhà Zêbêđê từng đề nghị Chúa đổ xuống đốt trụi dân thành Samari hỗn láo, hay thứ lửa đã thiêu huỷ thành Sôđôma và Gômôra tội lỗi xưa kia chăng?

Khi nhìn vấn đề qua lăng kính “Lưỡi là lửa” trong thư của Thánh Giacôbê, thì lửa của Đức Kitô đã tương phản với thứ lửa hoen ố “do chính hoả ngục nhóm lên” (Gc 3:6). Ngài chính là “Chiếc Lưỡi”—Ngôi Lời của Thiên Chúa, làm phát sinh bao “lời hằng sống”, nung đốt tâm hồn thế nhân và thúc đẩy một hành trình rao giảng. Lời Chúa phải được toả lan đến khắp mọi nơi và sưởi ấm cho hết mọi người.

Lời của Thiên Chúa đã từng thúc bách ngôn sứ Giêrêmia, một con người có tâm hồn diệu hiền và nhạy cảm, sinh ra để yêu mến, thích yên lành hơn gây phiền phức, thành một con người mang sứ mạng ra đi “để nhổ và lật đổ, để huỷ và để phá, để xây cất và để cấy trồng” (Gr 1:10).

Dù luôn cảm thấy mình như một đứa trẻ, nhưng Lời Chúa đã bắt ông đứng dậy, mở miệng ra nói những lời đanh thép và quyết liệt hầu thức tỉnh con cái Israel đang trong cảnh u mê lầm lạc. Thiên Chúa muốn cứu độ Israel qua việc vạch trần các thói hư nết xấu của dân chúng, sự lật lọng giả hình của hàng tư tế, thói bội phản thất ước của hạng quan quyền để từ đó Ngài đòi buộc họ phải có một sự chọn lựa phân minh: phúc hay hoạ, sống hay chết, bình an hay bất hạnh, cậy dựa Thiên Chúa hay con người.

Vì trung thành với sứ mạng truyền đạt Lời Chúa mà ngôn sứ Giêrêmia đã bị dân chúng đối xử tệ bạc. Có lần người ta tìm cách ném ông xuống một giếng bùn cho lún sâu đến chết, hầu không còn tuyên sấm những lời của Giavê nữa. Nhưng một vị hoạn quan người ngoại là Abđêmêlech biết chuyện, đã tìm cách cứu ông ra khỏi giếng bùn. Về sau vì không nghe lời ông, người Do thái đã phản lại vua Babylon và cấu kết với Ai cập. Thế nên chẳng bao lâu, đất nước Giuđa đã rơi vào sự tàn phá kinh hoàng của dân Babylon. Vị ngôn sứ đã bị một nhóm người bắt đưa sang Ai cập. Có lẽ ông đã chết tại đây, giữa những kẻ hằng chống đối giận ghét, vì cớ ông không ngừng nói Lời Chúa để cảnh báo và thúc dục họ.

Theo nhận xét của một nhà chú giải Kinh Thánh là cố linh mục Nguyễn Thế Thuấn,: “Sứ vụ của Giêrêmia quả đã thất bại lúc ông sinh tiền, nhưng dung mạo của ông không ngừng lớn lên sau khi ông chết. Bởi giáo lý của ông về một Giao ước mới, đặt nền tảng trên lòng đạo, tôn giáo nội tâm, ông đã là cha của Do thái-giáo trong cái nhìn tinh ròng nhất… Đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu, nêu cao những liên lạc thân mật mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa, Giêrêmia đã chuẩn bị cho Giao ước mới, và cuộc quên mình chịu đau khổ để phục vụ Thiên Chúa đã biến ông thành một dung mạo của Đức Kitô”.

Như vậy, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, đã phô bày trọn vẹn dung mạo của người ngôn sứ khi phân rõ ánh sáng và tối tăm, điều tốt và điều xấu, chân thật và giả trá, cùng kêu gọi một thái độ rõ ràng: đón nhận hoặc khước từ, bước theo hay chống đối.

Lời ông Simêon nơi Đền thờ đã được xác nhận: “Ngài có mệnh làm cớ cho nhiều người té nhào và chỗi dậy trong Israel, và làm dấu gợi lên chống đối” (Lc 2:34). Như thế tất có sự đối kháng, mâu thuẫn. Trong một gia đình, cộng đoàn, hay dân tộc, sẽ có người tin nhận và có người chống cự, có người tìm được bình an đích thực, nhưng cũng có người tự ru mình bằng thứ bình an giả tạo.

Bình an là nỗi khát khao trầm lặng của nhiều tâm hồn. Nhưng để có bình an đích thật lắm khi tôi phải trả giá bằng chiến đấu và hy sinh. Đây là một trong những điểm “nghịch lý” của Tin Mừng, nơi mà người ta thường bắt gặp những giá trị “trái ngược” như: cho chính là nhận, thu tích là mất đi, ai tìm sự sống sẽ phải chết, ai đành chết thì lại có sự sống…

Thực tế, có biết bao chân lý của Tin mừng đã không được nói ra vì sợ gia đình bất thuận, có bao sự thoả hiệp nghịch luân đã không được nhắc tới vì sợ cộng đoàn bớt người, và có biết bao nhập nhằng tội lỗi xấu xa vì sợ phải mang một vết thương rướm máu trong tâm hồn. Tất cả đều là những nguỵ trang giả dối và bình an trá hình.

Bình an thật sự chỉ có được khi con người biết “đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu” và “nêu cao những liên lạc mật thiết mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa”. Bằng việc nhận chân và nêu cao giá trị tinh thần, cùng sự liên lạc thẳm sâu với Thiên Chúa, mà người môn đệ chân chính của Đức Kitô dám hy sinh những mối quan hệ cao quí trong cuộc đời. Dù đó có là quan hệ ruột thịt thân thương như cha mẹ với con cái.

Chắc hẳn lịch sử Giáo hội không bao giờ quên được hình ảnh của một Phanxicô Assisi, người dám lột bỏ hết mọi giàu sang nhung lụa, trả lại cho người cha trần thế, để chỉ chú tâm kiếm tìm các giá trị thiêng liêng nơi người Cha trên trời. Lịch sử cũng không thể quên được hình ảnh của một Giêrađô Majella quyết liệt trốn nhà ra đi sau khi ghi vội cho mẹ dòng chữ: “Mẹ ở lại. Con đi làm thánh.”

Lại còn nữa hình ảnh của một Charles Cornay đã can đảm bước qua mình song thân, lên đường đi truyền giáo tại Việt Nam, chấp nhận biết bao khốn khó nguy nan, để rồi cuối cùng, dù bị kết án lăng trì, vẫn không dập tắt được ngọn lửa khát khao: làm cho Tin mừng Phúc âm được cháy lên trên mảnh đất xa xôi và nghèo nàn này. Và còn nhiều… còn nhiều lắm các mẫu gương hào hùng của những con người đang tiếp nối việc thực hiện nỗi mong của Chúa Giêsu.

Là người Kitô hữu, tôi cũng được mời gọi dấn bước không ngừng trên hành trình loan báo các giá trị Tin mừng, để lửa yêu thương và bình an được bừng sáng khắp nơi trên thế trần.

Về mục lục

.

THẦY KHÔNG ĐẾN ĐEM BÌNH AN NHƯNG ĐEM CHIA RẼ

Lm. Vũ Mộng Thơ

Thoạt nghe những điều Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay, ai trong chúng ta cũng cảm thấy ngạc nhiên và tự hỏi: Tại sao Chúa Kitô lại mang đến sự chia rẽ… Ngài đã chẳng giảng dậy cho các môn đệ: “các con hãy học với Ta sự hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng thì tâm hồn các con sẽ có được sự bình an” sao? Chúa Giêsu còn nói: “Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống!”. Vậy nếu Chúa là Sự Thật, tức là Chân Lý thì Lời của Ngài không thể sai lầm được, không thể đi ngược hay mâu thuẫn với Sự Thật được. Tại sao và tại sao?

Là có lẽ tại vì chúng ta chưa suy niệm cho đủ và cho sâu Lời Chúa… cũng như trong cuộc đời chúng ta thường có thói quen kết luận “nhanh chóng và gọn nhẹ” những người chung quanh mình nhất là những người không cùng một lập trường với chúng ta, những người mà chúng ta không thích. Tục ngữ Việt Nam đã nói: “Sự Thật thì bao giờ cũng mất lòng”. Ít ra hôm nay chúng ta có thể suy niệm hai điều trong bài Tin Mừng:

– Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.

– Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.

– Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống

Nếu sự thật bao giờ cũng mất lòng thì Chúa Kitô không ngại làm mất lòng trước hết những Đạo sĩ và Biệt phái kiêu căng tự phụ thời của Ngài để rao giảng chân lý cho dân chúng, để lột mặt nạ giả hình của họ: ra luật nhưng không giữ luật, để họ không còn ăn chặn đầu chặn cổ toàn dân, bóc lột xương máu nhân dân… mà vẫn lên mặt dạy đời là “người công chính trước mặt Giavê, là người lo lắng cho quốc gia và vận mạng của dân tộc… Chúa Kitô cũng không như những người tâng bốc chế độ, ve vãn những người có quyền hành trong một quốc gia, một đoàn thể để hưởng lợi và được che chở. Họ chủ trương “gió chiều nào theo chiều ấy” để họ lừa dối lương tâm, quên hết hay mặc kệ lẽ phải, luật của Chúa của Giáo hội để làm những điều sai quấy, những điều thất đức mà ngay chính lương tâm họ cũng không dám tự hào và đêm về cũng không ngủ cho yên. Chúa Kitô còn chấp nhận chính cái chết, một cái chết nhục nhã nhất để làm chứng cho Sự Thật. Vì chính Ngài cũng là Sự Sống và là Đường cho chúng ta nối gót theo Ngài. Sự Thật thì muôn đời vẫn chiến thắng và tồn tại, còn sự gian trá hay những tay sai của sự gian trá chống lại sự thật… thì dù có quyền phép có khôn ngoan như Luccifer, như Lênin, như Hitler… cũng rất chóng bị tan rã. Cũng thế đối với những giáo phái (secte), những chế độ cầm quyền gian trá bóc lột nhân dân trái với lòng Trời thì cũng rất chóng bị tan rã, hạ bệ.

– Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.

Trước hết chúng ta hãy tự hỏi chính mình là đã có bao nhiêu lần tôi đã tự lừa dối chính lương tâm mình… thì đủ biết chúng ta còn rất nhiều thiếu sót trong lãnh vực này. Ai cũng muốn dễ dãi với chính mình nhưng lại rất nghiêm khắc với những người khác. Ai cũng muốn nghe người khác nói tốt về mình, khen tặng mình và không thích những ai chỉ trích phê bình mình. Ta phải tôn trọng sự thật và dám nói lên sự thật đó với con cái, với những ngưòi chúng ta có bổn phận dẫn dắt, dạy dỗ dù sự thật bao giờ cũng mất lòng. Cũng cần phải có “đắc nhân tâm”, sự tế nhị và suy tư cũng như cầu nguyện để thực hiện điều này. Không phải dễ. Chúng ta cần học với Tiên tri Giêrêmia hôm nay dù cho “Ngài đã sinh ra tôi làm người bất thuận sống trên vũ trụ”, dù biết là toàn dân không thích mình một tí nào ca, vì theo Lời Giavê, Tiên tri loan báo toàn những ăn chay hãm mình… nếu không sẽ án phạt. Nhưng Giêrêmia đã phải chiến đấu với chính mình để trung thành với sứ mạng của Giavê của Sự Thật dù với cái chết. Xưa kia các bạo quyền đã giết sạch các Tiên tri, lên án tử hình ngay chính Con Thiên Chúa… thì ngày nay họ vẫn tiếp tục ám sát Gandhi, Luther King, Don Romco, bỏ tù các nhà truyền giáo, bắt giam cha Nguyễn Văn Lý… nhưng chính những vị ấy đã và sẽ chiến thắng… còn bạo lực sẽ rất mau chóng tan rã. Bạn có đồng ý như thế không?

Về mục lục

.

BÌNH AN, NIỀM VUI, ƠN CỨU ĐỘ

An Phong.

Tin mừng chúa nhật 20 thường niên C thuật lại những lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Những lời này gợi lên một viễn cảnh bi thảm cho sứ vụ của Người trên trần gian: đó là cuộc Thương khó trong tương lai, những đấu tranh làm phân rẽ con người với nhau.

Khi vào trần gian, Đức Giêsu đã đưa lửa vào, và Người ước mong lửa đó bùng lên. Theo Kinh thánh, Lửa là biểu tượng hình phạt của Thiên Chúa, nhất là vào lúc tận cùng thời gian. Lửa còn là biểu tượng cho sự thanh tẩy và làm đổi mới. Chúa Giêsu sẽ thực hiện cuộc thanh tẩy tâm linh nhờ Chúa Thánh Thần.

Đức Giêsu cũng nói đến phép Rửa mà Người sẽ phải chịu. Đây là biểu tượng của việc dìm vào đau khổ – cuộc Thương khó. Người sẽ phải “cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình” (Dt 12,4).

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban bình an cho trái đất sao?… Không phải thế đâu, nhưng đúng hơn là để gây chia rẽ”. “Sự chia rẽ là đối cực của sự bình an. Nhưng đây là sự chia rẽ vì Chúa, một sự chia rẽ đi vào qui luật của thập giá: Khi mất đi là khi tìm thấy, khi chết đi là khi được sống muôn đời. Hơn nữa, Đức Giêsu đã hứa: Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Bởi thế Đức Giêsu không đến trần gian để gieo sự bất hòa, nhưng là đem đến sự hiện diện của Thiên Chúa, đồng nghĩa với sự bình an. Sự bình an Đức Giêsu mang đến là sự bình an phải chiến đấu trong chân lý, phải được xây dựng trong khó nhọc, trước hết ở trong chính bản thân ta rồi lan tỏa chung quanh ta: đó là dám chấp nhận những mệt nhọc, đói khát, thua lỗ, nhường nhịn vì những điều lành, biết tách mình ra khỏi những đố kị và muôn vàn những cái vừa vụn vặt vừa tầm thường của cuộc sống. Lương thực của sự bình an luôn là một thách thức” (Văn Hòe).

Trong lịch sử nhân loại, Đức Giêsu Kitô quả thực là một nghịch lý. Người đã nên dấu chỉ cho người ta chống đối. Người đã đóng ấn chứng từ của mình bằng việc tự nguyện hy sinh bản thân trên thập giá. Cuộc sống và cái chết của Người đã trở thành dấu chỉ của tình yêu, hy vọng và sự sống.

Trong một thế giới thiếu vắng hơi ấm tình người, thiếu vắng một niềm hy vọng đích thực và tình yêu, Đức Giêsu đã mang đến lửa tình yêu của Người. Ngọn lửa đó sưởi ấm cõi lòng con người, thắp sáng niềm hy vọng. Đó là ngọn lửa Tình Yêu Cứu Độ, nơi đó tất cả chúng ta được thanh tẩy.

Người kitô hữu là người được “vầng đông từ chốn cao vời tỏa xuống hào quang sáng chói, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,78-79). Thiên Chúa chiếu soi chúng ta, để chúng ta được bình an. Khi cuộc sống có những lo âu, buồn chán, tuyệt vọng, chúng ta hãy tìm đến với ơn Chúa; “ơn Chúa sẽ lôi cuốn bạn, cho tới khi bạn tìm lại được nguồn vui” (thánh Bênađô). Người kitô hữu đích thực là người sống trong niềm vui, bình an và ơn cứu độ của Chúa. Người kitô hữu đích thực thắp lên ngọn lửa tình yêu của Thánh Thần trong lòng mình và nơi người khác.

Phải chăng chúng ta đang sống trong bình an, niềm vui và ơn cứu độ của Thiên Chúa?

Phải chăng chúng ta đang thắp lên ngọn lửa tình yêu, hy vọng và cứu độ để sưởi ấm trần gian?

Lạy Chúa,

Xin đừng để chúng con thất vọng

khi đứng trước khổ đau thử thách.

Xin giúp chúng con nhận ra

giữa những tăm tối vẫn còn ánh sáng,

giữa những đau buồn chóng qua luôn có niềm vui đích thực,

và nhất là giữa những thăng trầm biến đổi

luôn có những hồng ân và sự hiện diện đầy yêu thương.

Về mục lục

.

NGHE DANH THÁNH CHÚA GIÊSU LÀ CỚ MÂU THUẪN

Lm Trần Bình Trọng

Trải qua suốt dòng lịch sử nhân loại, người ta đã dùng lửa để nấu ăn và thiêu đốt, để chiếu sáng và sưởi ấm, để chạy máy và bắn phá. Lửa mang nhiều ý nghĩa khác nhau trong Thánh kinh. Lửa trong Thánh kinh Cựu ước ám chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa như khi ông Môsê thấy Chúa trong bụi cây bốc lửa cháy (Xh 3:2).

Lửa còn được dùng như là hình phạt khi thành Sôđôma bị thiêu hủy (St 19:24). Trong Thánh kinh Tân ước, lửa ám chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa (Cv 2:3). Trong đêm thánh Vọng Phục sinh, lửa mới được làm phép và thắp vào cây nến phục sinh, tượng trưng cho ánh sáng Chúa Kitô. Trong Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu phán: Thầy đã đến đem lửa vào mặt đất, và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên (Lc 12:49).

Lửa Phúc âm mà Ðức Kitô mang đến đã là cớ cho người ta chia rẽ và chống đối ngay từ khi Chúa giáng sinh. Trong Phúc âm hôm nay, Chúa phán: Anh em tưởng rằng Thày đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ (Lc 12:51). Lời Chúa trên đây xem ra có vẻ mâu thuẫn với sứ mệnh và đường lối của Chúa cứu thế.

Khi Chúa cứu thế sinh ra tại Bêlem, các sứ thần ca hát vang dội: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Khi Chúa Giêsu sai các môn đệ đi từng hai người một, Chúa bảo các ông chúc bình an cho nhà mà các ông vào (Lc 10:5). Khi Chúa sống lại từ cõi chết, lời đầu tiên Chúa nói với các môn đệ là lời chào bình an (Mt 28:9; Lc 24:36; Ga 20:19, 21, 26). Và trước khi về trời, Chúa hứa ban bình an (Ga 15:27) cho các tông đồ.

Vậy làm sao người ta giải quyết được những mâu thuẫn này? Nếu hiểu bình an theo quan niệm người đời, người ta sẽ thấy lời Chúa mâu thuẫn. Còn bình an theo nghĩa Thánh kinh không hiểu theo nghĩa vắng bóng chiến tranh. Bình an theo nghĩa Thánh kinh là không thoả hiệp với sự dữ và tội lỗi. Bài trích sách Giêrêmia cho thấy vị ngôn sứ được Chúa sai đến cảnh giác là thành Giêrusalem sẽ bị phá huỷ vì tội lỗi dân thành. Ngôn sứ Giêrêmia bị tố cáo là phản bội vì làm nhụt chí của dân thành với thái độ chủ bại. Kết quả là ngôn sứ Giêrêmia bị bắt và tống ngục. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do thái bảo ta: Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu (Dt 12:4). Ngụ ý lời thánh Phaolô là người tín hữu phải sửa soạn đổ máu trong cuộc chiến đấu với tội lỗi. Ðó là việc mà có những vị tử đạo trong Giáo hội đã làm.

Từ khi mới sinh, Chúa Giêsu đã là cớ cho người ta chống đối. Vua Hêrôđê khi nghe tin Chúa cứu thế giáng sinh, vì sợ mất ngai vàng nên đã ra lệnh giết các trẻ em từ hai tuổi trở xuống (Mt 2:16). Khi Ðức Mẹ dâng Chúa vào Đền thờ, ông Simêon tiên báo là con trẻ sẽ nên cớ cho nhiều người vấp ngã (Lc 2: 34). Cuộc đời Chúa cứu thế trong ba năm giảng dạy là những chuỗi ngày bị người ta chống đối, bách hại và cuối cùng bị lên án tử hình trên thập giá. Như vậy phải chăng Chúa đến gây ra ngọn lửa bất hoà và chia rẽ trong thế gian?

Ngay cả trong một gia đình, cũng có sự chia rẽ vì danh Chúa. Ðọc lịch sử các thánh giúp ta hiểu được tại sao những phần tử trong một gia đình lại phân rẽ, chống đối nhau. Có những vị thánh khi tận hiến đời mình cho Chúa đã bị gia đình phản đối và tẩy chay. Trong cùng một gia đình khi có những người tin theo Chúa, nghe lời Chúa giảng dạy, còn những người khác không tin theo, cũng có thể gây bất hoà và chia rẽ. Ðọc lịch sử Giáo hội, ta thấy đạo Chúa thường bị chống đối. Những cuộc bách hại đạo là bằng chứng của việc chống đối. Khi người Kitô hữu muốn cải cách Giáo hội, muốn đem lửa Kitô giáo làm bừng cháy trong lòng thế giới (Lc 12:49), tẩy chay và chống đối sẽ đến ngay từ trong lòng Giáo hội. Ðó là trường hợp thánh Têrêsa thành Avila, thánh Jean d’Arc, thánh I-nha-xi-ô đã bị lên án và chống đối chỉ vì chỉ muốn cải cách Giáo hội.

Như vậy người ta thấy càng theo sát gót chân Chúa bao nhiêu, người ta càng bị chĩa mũi giùi bấy nhiêu. Tại sao người ta bị chống đối khi mang lửa Phúc âm vào thế gian? Lí do là vì người khác không muốn chấp nhận hi sinh cố gắng, không muốn thay đổi cách sống, không muốn trả giá cả để làm môn đệ Chúa. Khi người ta muốn sống theo đường lối Phúc âm, khác đường lối thế gian, người ta sẽ bị nghi ngờ, tẩy chay và kì thị. Giáo lý của Chúa giảng dạy, đường lối của Chúa đi đã đem lại tẩy chay và chống đối, nghĩa là đem lại chia rẽ ngay cả giữa các phần tử trong một gia đình.

Sự hiện diện của Chuá, lời Chúa giảng dạy, đường lối Chúa đi, thường làm xáo trộn tâm trí loài người trước đã. Chỉ khi nào người ta bất mãn với con người cũ, với lối sống hiện tại, người ta mới có thể chấp nhận giáo lí của Chúa, sống theo đường lối Phúc âm và coi Chúa là trung tâm điểm của đới sống. Lúc đó bình an mới đến trong tâm hồn. Kết quả của việc chấp nhận đường lối Phúc âm là bình an. Ðó là điều mà thánh Âu-tinh đã có cảm nghiệm được khi thốt lên: Lạy Chúa, tâm hồn con còn lo âu khắc khoải mãi, cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa.

Lời cầu nguyện xin cho được bình an trong tâm hồn:

Lạy Chúa, Chúa đã sai Con Một Chúa đến

giao hoà loài người với Thiên Chúa,

và đem bình an đến cho người thiện tâm.

Vậy sao sứ điệp của Chúa cứ làm xáo trộn tâm trí loài người?

Xin cho con được nhận thức rằng:

chấp nhận sứ điệp Phúc âm và sống theo đường lối Chúa đi,

con mới có được sự bình an trong tâm hồn. Amen.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN_C

 Lm Giuse Đinh tất Quý

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”(Lc 12,49)

Những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng này thật kỳ lạ khác thường. Chúng ta còn nhớ có lần hai môn đệ xin Ngài sai lửa từ trời xuống thiêu đốt một làng Samaria không tiếp rước Ngài, thì khi đó Ngài đã mắng hai ông và dùng đường khác mà đi. Vậy mà hôm nay Chúa Giêsu lại nói “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian”. Hay như một lần khác, khi Phêrô đã tuốt gươm ra để bênh cho Chúa lúc quân dữ đến bắt Ngài thì Ngài lại bảo Phêrô hãy xỏ gươm vào bao vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm. Vậy mà hôm nay Ngài lại nói “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, + Thầy đến để đem sự chia rẽ !”.

1. “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!

Vậy thì Lửa mà Ðức Giêsu mang lại là lửa nào?

Phải chăng là thứ lửa trời đã thiêu hủy Sôđôma, hay thứ lửa mà Giacôbê và Gioan định sai xuống để thiêu hủy một ngôi làng Samari? (Lc 9,55)

Phải chăng là thứ lửa mà cây không trái (Mt 3,10), hay những cành nho khô héo bị quăng vào (Ga 15,6)?

Lửa này có phải là lửa kinh khủng của ngày phán xét?

Trong cái nhìn của thánh Luca, lửa mà Ðức Giêsu muốn làm bùng lên trên toàn cầu, chắc là thứ lửa của Phép Rửa trong Thánh Thần (Cv1,5). Lửa này đã ngự xuống từng người vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,3).

Lễ Ngũ Tuần quả là Phép Rửa trong lửa, nhưng đó mới chỉ là một khai mở ban đầu. Còn cần vô số những lễ Ngũ Tuần khác trên thế giới.

Trái đất này càng lúc càng nóng lên. Nhưng lòng con người lại nguội lạnh như hai môn đệ Emmau.

Chúng ta cần cảm thấy chút lửa ấm (Lc 24,32) của người đồng hành xa lạ, nói cho ta về Lời Chúa.

Chúng ta cần cảm thấy ngọn lửa trong tim như Giêrêmia, thúc bách ông phải nói Lời Chúa dạy (x. Gr 20,9).

Ðức Giêsu đã bắt đầu nhóm lửa trên địa cầu. Ðừng làm tắt đi ngọn lửa ấy, nhưng hãy để nó lan ra.

Lửa thiêu hủy những cằn cỗi.

Lửa thanh lọc những ô nhơ.

Lửa làm ấm lại cõi lòng băng giá.

Lửa sáng soi trên bước đường kiếm tìm sự thật.

Chúng ta cần làm cho mong muốn của Ðức Giêsu thành tựu. Nhưng trước hết chúng ta phải là người mang trong tim ngọn lửa của Thánh Thần tình yêu.

Tại một khu phố cổ Ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo. Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường xuyên.

Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiếc lồng đèn. Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu.

Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong đền thờ. Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.

Như Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với Môsê nơi bụi gai cháy sáng và kêu gọi ông đi chu toàn sứ mạng, nay Người cũng sai chúng ta đi loan báo sứ điệp là lửa yêu thương cho trần thế.

Như Chúa Giêsu đã đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh và sai các môn đệ đi loan báo tin vui, nay Người cũng mời gọi chúng ta hãy dùng lửa yêu thương để xua tan bóng tối của bất công, hận thù, nghèo đói c3a những anh chị em chúng ta.

Như Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưới lửa để biến họ thành chứng nhân Nước Trời, nay Người cũng muốn chúng ta mang ngọn lửa tình yêu, thanh luyện và sưởi ấm các tâm hồn.

Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã nhận định rất sâu sắc về ngọn lửa tình yêu này như sau: “Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh”. (TP)

2. “Thầy đến để đem sự chia rẽ”

Thực ra Chúa Giêsu đến trần gian không phải để gây chia rẽ và xáo trộn. Tuy nhiên nhiều khi chính vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xảy ra! Điều này đặc biệt đúng trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai. Khi đó, ai bỏ đạo cũ (đạo Rôma, đạo Do thái) để theo đạo Chúa Kitô thì bị gia đình, bạn bè và hàng xóm ghét bỏ, bách hại. Nhưng những Kitô hữu ấy biết làm gì khác hơn được: chọn bên này thì phải bỏ bên kia, và bên bị bỏ sẽ thù ghét mình.

Dù Chúa Giêsu rất hiền lành nhưng, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ: Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống lại Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà hãy tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giàu nổi giận v.v.

Trong Tin Mừng có đầy dẫy những lời chói tai như thế của Chúa Giêsu. Nếu chúng ta chỉ lựa ra những lời thuận tai để đọc thì Tin Mừng chẳng mang lại ích lợi gì cho chúng ta. Ngược lại, chính những lời làm ta khó chịu, những lời có tính cách quấy rối lương tâm chúng ta mới là những lời giúp chúng ta hoán cải và tìm được ơn cứu độ.

Perpetua là một người phụ nữ vừa mới sinh được một đứa con. Chị sống vào thời hoàng đế Septimô Sevêrô. Gia đình Perpetua là một gia đình danh giá. Perpetua đang học giáo lý với Satunô thì bị bắt. Thấy học trò của mình bị bắt, Satunô cũng tự ra nộp mình.

Cha của Perpetua là một người thờ ngẫu tượng. Ông đến xin con bỏ đạo Chúa mà quay trở về với các thần tượng của ngoại giáo. Perpetua đưa tay chỉ vào một cái bình rồi nói với Cha: “Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không? Đối với con cũng vậy, con không thể cho con một cái tên nào khác ngoài cái danh hiệu là Kitô hữu của con”

Tức giận quá ông đánh cho Perpetua một trận rồi bỏ đi. Sau đó Perpetua không thấy cha trở lại. Chính trong thời gian này Perpetua được rửa tội cùng với một số bạn bè khác. Ngày được trở thành Con Thiên Chúa, Perpetua chỉ cầu xin có một điều. Nàng xin cho có được đủ sức mạnh để chịu đựng nổi những đau khổ của cuộc tử đạo.

Trong nhà giam, Perpetua nhớ đứa con của mình. Chị rất phải đau khổ vì phải xa con. Nhưng rất may, đứa bé vì không có mẹ nên kiệt sức. Người ta phải trả lại đứa be cho mẹ của nó. Nhận lại được đứa con, Perpetua vui sướng, quên hết mọi khổ đau.

Vì biết con mình sắp bị án tử, cha của Perpetua đến gặp con và năn nỉ thảm thiết: “Con ơi! Hãy thương mái tóc bạc của ba. Hãy nhớ đến đôi tay này đã nuôi dưỡng con bao ngày. Hãy thương mẹ của con, anh em con và đứa con nhỏ con đang bồng ẵm trên tay. Không có con, cháu sao sống được. Con hãy bỏ đạo, bỏ điều quyết định làm cho chúng ta mất tất cả.

Mặc dầu rất cảm động và đau khổ trước những lời của cha nhưng Perpetua chỉ biết trả lời: “Thưa cha, tại tòa án sẽ xảy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình”.

Về mục lục

.

ĐỐT LỬA TIN YÊU

Trầm Thiên Thu

Bốn chất kết hợp thành vạn vật trong thiên nhiên là Lửa, Đất, Khí và Nước. Thật kỳ lạ trong Việt ngữ, vì cả bốn chất đều phát âm với thanh trắc, cho thấy điều gì đó “sắc bén” lắm. Thật vậy, bốn chất đó rất cần trong cuộc sống, thiếu thứ gì thì khổ thứ đó – nghĩa là không thể thiếu.

LỬA thể hiện tuổi trẻ, với niềm đam mê hừng hực, sôi nổi, không đắn đo đôi khi liều lĩnh, có thất bại rồi lại cháy lên lửa lạc quan với ước mơ và hoài bão. ĐẤT thể hiện sống có trách nhiệm, ý thức hơn, cẩn trọng và thực tế hơn. KHÍ (Gió) thể hiện sự an toàn, hướng ra thế giới rộng lớn, muốn kết nối với mọi người, mọi vật, để trải nghiệm cuộc sống. NƯỚC thể hiện sự khép lại cuộc đời dần dần, như xuôi theo dòng chảy tìm một chốn an nghỉ.

Bốn chất đó gọi là “tứ đại”. Chúng có vẻ “đối nghịch” nhau nhưng lại lại luôn hài hòa. Trong cuộc sống cũng vậy, có những điều tưởng xuôi mà hóa ngược, tưởng ngược mà lại xuôi; và cũng có nhiều điều tưởng chừng là nghịch lý, nhưng thực ra lại là thuận lý – gọi là nghịch-lý-thuận. Đối lại là thuận-lý-nghịch, tưởng xuôi mà lại ngược, tưởng hên mà hóa xui. Triết lý cuộc đời khá nhiêu khê, không hề đơn giản!

Đó là khái niệm của loài người về vấn đề dạng đối lập (phải – trái, trên – dưới, trước – sau, xuôi – ngược, lên – xuống,… ), đối với Thiên Chúa thì khác hẳn, không lệ thuộc bất cứ thứ gì. Chính Chúa Giêsu đã cho biết: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được” (Mt 19:26; Mc 10:27).

Lửa đa dụng: thắp sáng, làm khô, làm chín, thiêu hủy,… Sử dụng đúng thì lửa hữu ích, sử dụng không đúng thì lửa tác hại. Ánh nắng là một dạng lửa rất cần thiết cho mọi loài, mọi vật. Lửa là chất hữu hình mà như chất khí, không thể cắt đứt, nhỏ mà to, to mà nhỏ, càng chia sẻ càng thêm nhiều chứ không bị giảm bớt. Thật kỳ lạ! Ngày xưa, Thiên Chúa dùng “cột lửa” để dẫn đường cho dân đi đúng hướng vào ban đêm (Xh 13:22) trong suốt thời gian họ đi qua sa mạc để về miền đất hứa. Cả màn đêm dày đặc cũng không thể dập tắt được một đốm lửa nhỏ. Lại thêm một sự kỳ lạ nữa.

Từ xưa, Kinh Thánh đã đặt vấn đề và xác định: “Thiên Chúa làm cho đất trổ sinh dược liệu; những thứ đó, người khôn chẳng dám coi thường. Chẳng phải nhờ khúc gỗ mà xưa nước ra ngọt khiến cho người ta thấy hiệu năng của khúc gỗ hay sao? Cũng chính Thiên Chúa cho con người được hiểu biết để tôn vinh Người vì những việc lạ Người làm” (Hc 38:4-6). Quả thật, “tất cả đều là hồng ân” (Rm 4:16), đúng như Thánh Vịnh đã so sánh: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127:1). Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).

Tác giả sách Huấn Ca kết luận: “Như thế công việc của Người vẫn tiếp tục cho đến khi thiên hạ được an lành” (Hc 38:8). Và rồi còn đưa ra lời khuyên thực tế: “Con ơi, khi đau ốm, con chớ coi thường, nhưng hãy cầu xin Đức Chúa, Người sẽ chữa lành cho. Hãy từ bỏ lỗi lầm, hành động cho đúng đắn, thanh tẩy tâm hồn sạch mọi tội khiên” (Hc 38:9-10). Tâm an thì thân khỏe, tâm rối thì xác loạn. Khoa học cũng đã chứng minh đúng như vậy. Những người hay ghen ghét, hờn giận, thù hằn,… dễ bị bệnh hơn những người hiền dịu, yêu thương, cảm thông, tha thứ,… Tính xấu “tích tụ” nhiều hóa tâm bệnh, tâm bệnh dẫn tới thể bệnh.

Chắc hẳn ai cũng đã từng trải nghiệm nhiều nỗi khốn khó trong cuộc sống đời thường hoặc tâm linh, và cũng có thể cảm nhận như Thánh Vịnh gia: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong, khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đặt chân tôi đứng trên tảng đá, làm cho tôi bước đi vững vàng. Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” (Tv 40:2-4). Thiên Chúa yêu thương và chúc phúc cho chúng ta (Đnl 7:13), luôn ở với chúng ta và không bỏ rơi chúng ta (Đnl 31:8).

Thế nhưng vẫn luôn có nhiều thứ nghịch lý trong cuộc sống, có thể chúng ta lại gặp bất trắc, bởi vì đau khổ luôn xuất hiện để tôi luyện chúng ta, và cũng là “lời nhắc khéo” để chúng ta không “ngủ quên trên chiến thắng” mà hóa kiêu ngạo. Do đó mà phải kiên trì và tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót bằng cách không ngừng tha thiết cầu nguyện: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, nhưng Chúa hằng nghĩ tới. Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, lạy Thiên Chúa con thờ, xin đừng trì hoãn!” (Tv 40:18). Cứ an tâm, vì Ngài nghe từ sáng sớm (Tv 5:4).

Từ khi có loài người tới nay, có lẽ Thánh Gióp là người “trắng tay” giống Chúa Giêsu nhất. Ông chịu những nỗi đau khổ đến tột cùng, bị người đời nguyền rủa, kể cả người vợ yêu quý, vì họ cho rằng ông bị đủ thứ hoạn nạn là do ông thế này thế nọ. Và rồi khi các con ông đang ăn tiệc uống rượu trong nhà người anh cả, bỗng có một trận cuồng phong thổi tới xoáy mạnh khiến căn nhà sập xuống đè họ chết hết, chỉ có một người thoát nạn về báo cho ông hay. Lạ thay, ông Gióp trỗi dậy, không buồn giận, thản nhiên xé áo mình, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Khổ tột cùng mà vẫn tạ ơn Chúa, đức tin của ông Gióp thật vĩ đại. Giả sử chúng ta bị hoạn nạn như vậy thì sao? Liệu đức tin còn vững vàng hay bị lung lay? Đã từng có những người dám nguyền rủa trời đất chỉ vì chuyện nhỏ chứ chưa phải chịu nỗi đoạn trường quá đỗi như ông Gióp. Có qua gian nan mới biết ai thế nào, đồng hay thau sẽ rạch ròi ngay.

Người ta ví cuộc sống là thương trường, và còn hơn thế nữa, mà như chiến trường, vì luôn phải chiến đấu với đủ thứ đau khổ, và cam go nhất là chiến đấu với chính mình, thế nên rất cần đức tin mạnh mẽ. Thánh Phaolô nói: “Phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” (Dt 12:1-20). Đức Tin thực sự rất cần thiết cho hành trình tâm linh xuyên suốt cuộc lữ hành trần gian này, và người ta nên công chính là nhờ đức tin mạnh mẽ (Cv 13:39; Rm 3:22, 26, 28, 30). Chính Tổ phụ Ápraham cũng đã nhờ tin mà được công chính hóa (Rm 4:11-13).

Trong cuộc chiến trần gian này, muốn chiến đấu ngoan cường thì nghe lời khuyên của Thánh Phaolô: “Anh em hãy TƯỞNG NHỚ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí. Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu. Thiên Chúa lấy tình cha mà giáo dục” (Dt 12:3-4). Chúng ta có “máu chảnh” nên thường viện đủ cớ để tự biện hộ cho mình.

Theo lẽ thường, chúng ta không thể nào chấp nhận những nghịch lý cuộc sống, nếu không vững tin. Chính cuộc đời Chúa Giêsu cũng đã đầy những nghịch lý. Và có lẽ chúng ta khá “sốc” khi nghe Ngài xác định: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất! Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12:49-51). Bình an và chia rẽ, “chỏi” nhau lắm!

Lại nói về Lửa. Lửa rất mềm nhưng lại rất mạnh, không gì có thể cưỡng lại. Một đốm lửa thì gió thổi tắt, thậm chí hơi thở của chúng ta cũng có thể thổi tắt, nhưng ngọn lửa lớn thì gió càng to càng làm lửa cháy bùng lên. Trong đó cũng có điều nghịch lý. Lạ thật! Những vụ hỏa hoạn và cháy rừng đủ minh chứng sức mạnh của lửa, mà bắt đầu chỉ là một chút lửa – bởi một que diêm hoặc một tia lửa điện.

Lĩnh vực tâm linh cũng tương tự. Lửa mến leo lét thì dễ bị tắt ngúm khi gặp gian nan, nhưng lửa mến mạnh mẽ thì không gì cản nổi – kể cả tử thần, vì thế chúng ta rất cần nỗ lực nhiều để có thể xác tín như Thánh Phaolô: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8:39). Chính ngọn lửa cháy bỏng đó đã tạo nên những thánh nhân, rõ nét là các thánh tử đạo, cụ thể là Thánh PT Lôrensô (tử đạo ngày 10-8-258).

Sự bình an và sự chia rẽ – đối mà không nghịch, đặc biệt là ý nói của Chúa Giêsu: “Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng” (Lc 12:52-53). Ôi chao, xem chừng rất nghịch lý, thế nhưng lại không phải vậy. Ngài chỉ nói sự thật, mà sự thật thì vĩnh hằng, như Ngài có lần minh định: “Sự thật sẽ giải thoát quý vị” (Ga 8:32). Đêm tối không che nổi đốm lửa, gian ác không thể đánh bại công lý. Cây kim sự thật sẽ có lúc lòi ra từ chiếc bao độc ác.

Chắc chắn bất cứ ai dám sống theo Cách Giêsu, đi trên Đường Giêsu, nói Lời Giêsu, làm theo Kiểu Giêsu,… đều bị coi là dại dột, ngu xuẩn, điên rồ, thậm chí còn bị ghen ghét hoặc bị bách hại. Cuộc sống đã và đang cho thấy rất rõ ràng. Có loại nghịch lý hóa thuận lý: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Lc 9:50). Tương tự, nghịch cảnh vẫn có thể trở thành thuận cảnh để chúng ta gặp được chính Đức Kitô, Đấng đã chuyển bại thành thắng, dùng nhục hình thập giá để làm bàn đạp tới vinh quang. Đau khổ là một loại đòn bẩy hiệu quả.

Lạy Thiên Chúa nhân lành, xin ban thêm đức tin cho chúng con (Lc 17:5) và củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con (Mc 9:24), xin khơi lửa yêu mến để chúng con đủ sức vượt qua mọi nghịch cảnh và đi xuyên qua đau khổ hằng ngày. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

NGỌN LỬA TÌNH YÊU-

Lm Giuse Đinh lập Liễm

A. DẪN NHẬP. 

          Đức Giêsu hay có kiểu nói nghịch lý làm cho người ta ngạc nhiên khi mới nghe và chưa hiểu hết ý nghĩa tàng ẩn trong đó. Chẳng hạn trong bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu nói :”Thầy đã đến ném lửa vào trần gian… Các con tưởng rằng Thầy đến đem hòa bình cho trần gian ? Thầy bảo cho các con biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ(Lc 12,49.51). Nếu Đức Giêsu được gọi là “Hoàng tử của Bình an”, hiền lành và khiêm nhường không mang sự hòa bình cho trần gian mà chỉ đem đến sự chia rẽ. Như vậy Ngài muốn nói gì ?

          Đức Giêsu muốn nói cho chúng ta biết rằng sứ mạng của Ngài là xuống trần gian chịu chết để đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người và thanh luyện con người. Thi hành được sứ mạng đó không phải là dễ vì những lời rao giảng của Ngài phải nói lên chân lý và nói lên chân lý thì sẽ đụng chạm đến nhiều người đang chà đạp lên chân lý vì  như người ta nói :“sự thật mất lòng”. Tiên tri Giêrêmia trong bài đọc 1 hôm nay là hình bóng Đức Giêsu. Ông nói sự thật cho dân chúng, nhưng họ không muốn nghe, lại còn hành hạ và muốn giết chết ông. Đức Giêsu cũng phải đi theo con đường đó và Ngài muốn cho việc thi hành sứ mạng đó chóng hoàn tất.

          Ngài đến để đem hòa bình cho nhân lọai, nhưng không phải là thứ hòa bình ru ngủ của trần gian mà là thứ hòa bình thật của Thiên Chúa. Thứ hòa bình này chỉ có thể lãnh được khi người ta đã nỗ lực thi hành Lời Chúa và phải tôi luyện bằng Thập giá. Vì thế, Lời rao giảng của Ngài sẽ gây chia rẽ giữa nhiều người, ngay những người trong một gia đình. Sở dĩ có sự chia rẽ là vì có người tin theo Chúa, có người không tin theo, lại còn chống đối nữa. Vậy là có sự chia rẽ giữa người tin và không tin. Đức Giêsu đòi chúng ta phải xác định lập trường, phải có sự lựa chọn : tin theo hay không tin theo. Nếu đã chấp nhận tin theo thì cũng phải chấp nhận con đường của Chúa đã đi : phải hy sinh tất cả để trung thành với Chúa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA. 

          +  Bài đọc 1 : Gr 38,4-10.

          Thời tiên tri Giêrêmia, dân Do thái phạm tội nhiều, nên Thiên Chúa để cho quân thù là đế quốc Babylon bao vây. Là người hiền lành, nhạy cảm, yêu quê hương, Giêrêmia phải tuân lệnh Thiên Chúa, đi nói những lời nguyền rủa trên dân mình để khuyến khích họ ăn năn sám hối và quay về nương tựa vào Chúa, nhưng họ cứ tiếp tục đi theo con đường sai lầm đó. Ôâng còn bị cáo giác là chủ bại và cộng tác với quân địch. Vì những lời nói thật đó, ông bị kết án vứt xuống giếng sâu, nhưng Chúa đã cho người cứu vớt ông.

          Hôm qua cũng như hôm  nay, vị tiên tri phải trải qua kinh nghiệm xương máu để biết được rằng “Sự thật thì mất lòng”. Đó là số phận của nhà tiên tri, người làm chứng về sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa. Ngoài ra, việc Giêrêmia bị bỏ xuống giếng là hình ảnh tử nạn của Đức Giêsu và việc Giêrêmia được thóat chết là hình ảnh của Chúa sống lại.

          +  Bài đọc 2 : Dt 12,1-4.

          Trong khi chúng ta dấn thân cho Nước Chúa, được nghe đoạn thư gửi cho người Do thái sau đây, chúng ta cảm thấy được an ủi và nâng đỡ rất nhiều. Hồi ấy, các Kitô hữu gốc Do thái đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Một mặt họ bị các đồng đạo Do thái cũ thù ghét và coi họ là những người phản đạo, mặt khác họ cũng bị bách hại bởi đế quốc Rôma.

          Thánh Phaolô đôi khi ưa dùng ngôn ngữ thể thao, Ngài ví cuộc sống của Kitô hữu như một cuộc chạy đua, cần phải có nhiều sức dẻo dai, mắt nhìn thẳng vào Đức Giêsu, chính Ngài cũng gặp phải muôn vàn khó khăn, nhưng đã kiên trì chiến đấu và cuối cùng đã chiến thắng tất cả. Hãy noi gương Ngài và dựa vào sự trợ giúp của Ngài mà chiến đấu.

          +  Bài Tin mừng : Lc 12,49-53. 

          Bài Tin mừng hôm nay có hai ý chính :

a) Đức Giêsu có sứ mạng xuống trần gian để thanh luyện trần gian và Ngài ước cho việc thanh luyện ấy sớm hoàn thành. Ngài cũng báo trước sẽ phải qua một cuộc khổ nạn và việc thanh luyện ấy chỉ hoàn thành sau khi Ngài chịu nạn chịu chết và sống lại.

b) Đức Giêsu dùng hai hình ảnh “hòa bình” và “chia rẽ” để kêu gọi người ta  phải có thái độ lựa chọn trước Tin mừng của Ngài. Sứ mạng của Ngài là chịu chết để chuộc tội cho loài người. Ngài tự hiến mình chịu chết, không còn lựa chọn nào khác khi Ngài muốn hoàn thành đến cùng sứ mạng được giao phó. Nhưng một quyết định như thế càng thêm những chống đối và sẽ gây chia rẽ trong chính lòng dân tộc được chọn : một số người sẽ hoán cải, một số người khác thì không, một số người tin theo, một số người không.

       Lời rao giảng của Ngài sẽ gây chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ còn xẩy ra ngay trong lòng một gia đình.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. ĐỨC GIÊSU ĐEM LỬA XUỐNG TRẦN GIAN.

  1. Điều Đức Giêsu muốn nói.

          Khi đọc bài Tin mừng hôm nay, chúng ta không khỏi thắc mắc : Nếu khẳng định Đức Giêsu là “Hòang tử của Hòa bình”, người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng thừng của Ngài về chính mình :”Thầy đến đem lửa xuống trần gian… Thầy đến không phải để đem hòa bình, nhưng là đem sự chia rẽ”?  Làm sao có thể hiểu được khi một người vốn tự xưng là “hiền lành và khiêm nhường” lại gây nên sự xáo trộn, gây nên nỗi phân ly trong gia đình, một cấu trúc cần được hiệp nhất hơn bất cứ một cấu trúc nào hay tổ chức nào trên thế giới ?

          Người ta phải hiểu thế nào câu nói của Đức Giêsu :”Thầy đến đem lửa xuống trần gian và Thầy muốn sao lửa đó được cháy lên” ? Vậy lửa Đức Giêsu đem đến trần gian là thứ lửa nào?

  1. Lửa trong Thánh Kinh.

          Trong Thánh Kinh lửa được dùng để chỉ ý nghĩa của hai khía cạnh tích cực và tiêu cực : ngọn lửa ở thiên đàng và ở hỏa ngục. Ngọn lửa là hình ảnh của sự hiện diện thiêng thánh của Thiên Chúa khi ông Maisen gặp gỡ Ngài giữa bụi gai đang cháy (Xh 3,2), hay cột lửa đã hướng dẫn dân Do thái trong sa mạc (Xh 13,21), và ngọn lửa từ trời xuống thiêu hủy thành Sôđôma và Gômôra (St 19,24).

          Sức mạnh của Lời Chúa như lửa nơi miệng tiên tri Giêrêmia (Gr 5,14), và ngọn lửa tiên tri Isaia nhìn thấy trong đền thờ đã thanh tẩy môi miệng ông (Is 6,6) trở nên thanh khiết để ngài loan báo sứ điệp cho dân chúng. Tiên tri Eâlia được ví như ngọn lửa, và lời giảng của Ngài như đuốc cháy (Hc 48,1).

          Ngọn lửa của Thần Khí đậu trên các Tông đồ và ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2,3). Mưa lửa từ trời xuống như một phần của sự phán xét trong ngày tận cùng của thế giới (Lc 17,29). Lửa là những thử thách (1Pr 4,12).

          Trong bài Tin mừng hôm nay (Lc 12,49-53), Đức Giêsu phán cùng các môn đệ rằng :”Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên”(Lc 12,49). Tôi tin rằng lửa mà Luca muốn nói ở đây chính là “ngọn lửa của Thần Khí” đã được ban xuống trên các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2,3-4) với sức mạnh và tình yêu Thiên Chúa để đi rao truyền Tin mừng khắp muôn dân (Cv 1,8). Ngọn lửa của Thần Khí thanh luyện linh hồn chúng ta  khỏi sự ích kỷ và kiêu căng, nguồn gốc gây ra tất cả mọi sự thù nghịch và báo oán.

(Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa giữa dòng đời, năm C, tr 282-283).

Đức Giêsu mong uớc “ban Thần Khí” cho thế gian. Ngài nói rằng đó là nhiệm vụ duy nhất của Ngài :”Thầy đến vì việc đó”. Chúng ta hãy thử tưởng tượng Đức Giêsu như một người đang ước mong, mang trong mình một dự án lớn lao. Đức Giêsu hăng say với dự án đổi mới toàn thể địa cầu. Lấy lại hình ảnh ấy, một bài ca hiệp lễ hát rằng :”Là kẻ ăn mày lửa, tôi nắm tay Chúa trong tay tôi, như người ta cầm trong tay mình ngọn lửa cho mùa đông và Chúa trở thành đám cháy thiêu đốt thế gian”. Đức Giêsu trở thành một sức mạnh nhiệt thành mới mẻ cho nhiều người hôm nay. Ở giữa những việc tầm thường hằng ngày, chúng ta có thể đốt lên “ngọn lửa nồng nàn của tình yêu”.

  1. Mâu thuẫn giữa hòa bình và chia rẽ.

Đức Giêsu nói :”Các con tưởng Thầy đến  để đem sự bình an đến thế gian ư ? Không phải thế đâu, Thầy đến để đem sự chia rẽ”. Với tư cách là một người hiền lành và khiêm nhường trong lòng, làm sao Đức Giêsu đã đến trần gian để gây chia rẽ và xáo trộn ? Tuy nhiên, nhiều khi  vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xẩy ra.

Chúng ta cần hiểu rằng : bằng hai chữ  hòa bình và chia rẽ, Đức Giêsu kêu gọi người ta  chọn lựa thái độ trước Tin mừng của Ngài (Lc 51-53) : Nhiều người nghĩ rằng Đấng Messia là Đấng mang hòa bình đến (x. Is 9,5), Đức Giêsu xác nhận là đúng thực, sứ mạng của Ngài là một sứ mạng Hòa bình (Is 9,tt; Dcr 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15). Nhưng Ngài thấy cần giải thích thêm : chữ “Hòa bình” có nhiều nghĩa : hòa bình kiểu thế gian và hòa bình của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình kiểu thế gian, mà là thứ hòa bình của Thiên Chúa. Thứ hòa bình của Thiên Chúa mà Đức Giêsu mang đến, người ta chỉ sẽ nhận được sau khi người ta đã cố gắng chiến đấu để sống theo Tin mừng của Ngài.

          Thực tế cho thấy là sứ vụ của Đức Giêsu đã gặp chống đối, và Lời rao giảng của Ngài đã gây chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ xẩy ra ngay trong lòng một gia đình (Carôlô, Hạt giống nảy mầm, Chúa nhật năm C, tr 141).

          Dù Đức Giêsu rất hiền lành, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ : Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống đối Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giầu nổi giận v.v…. Trong Tin mừng không thiếu gì những lời nói chói tai như thế, nhưng Đức Giêsu cũng cứ nói, vì “thuốc đắng đã tật”.

II. ĐỨC GIÊSU ĐÓN NHẬN SỰ CHỐNG ĐỐI.

  1. Thao thức mãnh liệt của Đức Giêsu

          Khi nói về Đức Giêsu thường chúng ta chỉ chú trọng vào thiên tính mà quên đi nhân tính của Ngài. Vì thế mà không thấy tính gần gũi, dễ thương, dễ mến cách tuyệt vời của Ngài. Nguyên về mặt nhân bản, Đức Giêsu quả là một con người đặc biệt. Chúng ta đã từng thấy Đức Giêsu nhạy cảm như thế nào  khi Ngài chạnh lòng thương trước đám đông, khi Ngài xúc động khóc trước mồ Lazarô. Bài Tin mừng Giáo hội đọc trong phụng vụ hôm nay, giúp chúng ta khám phá thêm về Đức Giêsu : cùng với một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm ít ai có, Ngài còn có một hệ thần kinh thép và trong lòng ấp ủ những hoài bão lớn lao :”Thầy đã đem lửa vào thế gian và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! Thầy còn có một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”.

          Hoài bão của Đức Giêsu là gì nếu không phải là biến đổi thế giới này thành Trời mới Đất mới ? Thao thức của Đức Giêsu là gì nếu không phải là thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa là xây dựng Nước Thiên Chúa, Vương quốc và Triều đại của Thiên Chúa trong mỗi tâm hồn, mỗi cộng đồng, mỗi xã hội con người ? Trời Mới Đất Mới là không gian trong đó con người vui hưởng hạnh phúc thật là nhận biết, tôn thờ Thiên Chúa và yêu thương nhau. Nước Thiên Chúa, Vương Quốc và Triều Đại của Thiên Chúa là thế giới của Sự Sống, của Yêu Thương, của Bình An và Hoan Lạc.

          Để thực hiện hoài bão lớn lao và cao đẹp ấy Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh mất mát, thậm chí cả sự hủy diệt bản thân mình. Hơn nữa, Ngài còn nóng lòng mong đợi cuộc Khổ nạn mau tới như mong đợi những ngày tốt đẹp, tuyệt vời nhất của đời mình.

  1. Tiên tri Giêrêmia là hình bóng Đức Giêsu

          Bài đọc 1 hôm nay mô tả cuộc bách hại tiên tri Giêrêmia. Các Kitô hữu luôn coi ông  như một hình bóng của Đức Giêsu. Ôâng là tiên tri ngay thời còn nhỏ tuổi. Ông sống ơn gọi của mình trong một thời kỳ đầy biến động. Người ta chứng kiến sự thất bại của Israel, sự tàn phá thành Giêrusalem và đền thờ. Ông là lương tâm của đất nước ông. Ôâng thương yêu tha thiết dân tộc ông và không bao giờ đánh mất niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa cứu chuộc dân Ngài. Trước những lời nói tiên tri chân thật của ông, nhiều người thù ghét ông và tìm cách giết hại ông. Nhưng cuối cùng ông đã được cứu.

          Đức Giêsu cũng thế : ngay từ những trang đầu của Tin mừng chúng ta đã thấy Đức Giêsu bị các nhà lãnh đạo đương thời bấy giờ đối xử như thế nào. Ngài đến với những lời chân thật, hằng sống, nhưng người nhà không tiếp rước Ngài, vì cho rằng  Ngài là mối nguy cơ đe dọa địa vị, quyền lợi tôn giáo, xã hội và chính trị (dĩ nhiên bao gồm cả kinh tế) của họ. Thật ra Ngài chỉ là “tiêu chuẩn” để con người chọn lựa : theo và đón nhận hoặc không theo và từ chối Thiên Chúa. Người ta không có quyền không chọn lựa ! Nhưng người ta có quyền chọn không đón nhận Đức Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa Tình thương. Và chính do chọn lựa này mà mỗi người mỗi ngả.

  1. Vì Tin mừng, phải chấp nhận chống đối.

          Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu đã vạch ra điều sẽ dẫn Ngài đến cái chết, và những người môn đệ bước theo Ngài cũng sẽ phải gặp  đủ thứ đụng chạm xung khắc (Mt 10,22). Đức Giêsu đã bị chết không chỉ vì những lời rao giảng yêu thương, nhưng còn vì Tin mừng tự do của Ngài đã xung khắc với các nhà cầm quyền tôn giáo và chính trị. Họ coi Ngài chỉ là con người gây rối và họ nhìn thấy Ngài chỉ là một sự đe dọa cho những địa vị và quyền hành của họ.

          Không phải Đức Giêsu không muốn bình an vì Ngài Là “Hòang Tử của Bình an”, nhưng khi Ngài bênh vực cho những giá trị tinh thần, phục vụ cho công lý và giải phóng nhân lọai khỏi những ràng buộc của tội lỗi, thì chắc chắn phải đụng chạm với quyền lực đang muốn duy trì chúng lại.

          Đức Giêsu bị người ta ghen ghét. Lòng ghen ghét không đơn giản chút nào, nhiều khi nó rất phức tạp khó lường. Không phải người ta chỉ ghét những điều xấu, người ta có thể ghét cả những điều tốt nào không phù hợp với người ta. Thí dụ kẻ nói dối ghét người nói thật, kẻ buôn gian bán lận ghét người buôn bán thật thà.

          Chính vì thế mà Đức Giêsu khuyến cáo các Kitô hữu phải chấp nhận bị ghét, có thể bị giết  bởi chính những người thân của mình và ngay trong gia đình mình :”Từ nay 5 người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, 3 chống lại 2 và 2 chống lại 3. Cha chống đối con trai và con trai chống đối cha. Mẹ chống đối con gái và con gái chống đối mẹ…” Tình trạng này đã xẩy ra trong Giáo hội sơ khai và vẫn xẩy ra luôn mãi. Lịch sử các vị tử đạo đã chứng minh : những người theo đạo thường bị chính quyền hoặc đồng đạo mình ghét bỏ. Hoặc là trong một gia đình ngoại giáo, có một người trở lại đạo, là để kết hôn với người có đạo chẳng hạn, cha mẹ không bằng lòng. Thế là có sự xung khắc giữa cha mẹ và chính người con của mình.

Truyện : Chấp nhận bị chửi.

          Trong một buổi huấn đức tại đại chủng viện Mundelein vào khoảng năm 1992, Đức cố hồng y Joseph Bernadin của tổng giáo phận Chicago đã tâm sự rằng, từ ngày ngài về lãnh trách nhiệm ở Chicago, mỗi ngày đều đặn, không sót một ngày, có một lá thư gửi đến chửi ngài là “son of bitch” –“chó đẻ” ! Vì sao ?  Vì ngài theo giảng huấn của Giáo hội chống lại các thứ tệ đoan xã hội, làm mất quyền lợi của bọn tư bản vật chất. !

          Đức tin và những giá trị tôn giáo  đặt chúng ta vào tư thế đụng chạm, xung khắc với xã hội. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu đã nói :”Các con tưởng rằng Thấy đến để đem sự bình an đến cho thế gian ư ? Thầy bảo thật các con : không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12,51). Đó là những sự thù ghét đáng chấp nhận vì nếu không chấp nhận thì có nghĩa là  phản bội lý tưởng Tin mừng của mình.

III. ĐỨC GIÊSU ĐÒI SỰ LỰA CHỌN CỦA TA. 

  1. Kitô hữu phải lựa chọn.

          Nếu đặt câu hỏi : là người Kitô hữu, bạn đã lựa chọn Đức Kitô và đạo của Ngài chưa ? Chắc có người cho là thừa và có thể là một câu hỏi ngớ ngẩn vì khi đã được chịu phép rửa tội chúng ta đã thề hứa bỏ ma qủi mà chỉ phụng sự một mình Thiên Chúa, tin theo Đức Giêsu Kitô, do đó, mới được mang danh là “Kitô hữu”. Kitô hữu là người thuộc về Đức Kitô, và được mang tên của Ngài.

 Đồng ý vậy, đã là Kitô hữu thì dĩ nhiên chúng ta đã chọn Đức Giêsu và đạo của Ngài rồi, nhưng không phải chọn một lần là đủ, là xong. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi giai đọan của cuộc đời chúng ta  phải chọn lại. Chọn lại là kiểm điểm xem chúng ta đã thực sự chọn lựa Chúa chưa, vì nhiều khi, trong nhiều tình huống chúng ta sống theo thế gian, xác thịt và ma qủi mà chúng ta không ý thức. Để kiểm chứng lại sự chọn lựa của chúng ta, hằng ngày chúng ta phải đặt cho mình một câu hỏi :”Đối với tôi, Đức Giêsu là ai” ? Chắc chúng ta sẽ thưa được Đức Giêsu là thế nọ, thế kia… nhưng thể hiệân chứng minh những lời ấy thì không dễ.

  1. Chọn lựa phải dứt khóat và hiệu quả.

        Cuộc sống con người hiện nay quá phức tạp và đa đoan khiến cho tâm tư bị phân tán, xé mỏng – ý chí và nghị lực cũng vì đó mà suy yếu. Một đội quân mạnh cũng dễ gì đánh thắng cùng một lúc 3, 4 mặt trận, phải có tinh thần mạnh mẽ mới vào được Nước Trời (Mt 11,12). Các thánh Tử đạo đã can đảm thực hiện Lời Chúa (Mc 8,38; Lc 9,26). Lời Ngài đâu phải không rõ ràng  hoặc chúng ta có thể thực hành hay không là tùy ý ?  Tình yêu và chân lý luôn đòi hỏi sự lựa chọn dứt khóat, mạnh mẽ.  Dù phải hy sinh – Không thể vừa muốn một đời sống dễ dãi, nhàn hạ (hay lười biếng) đồng thời lại muốn vào Nước Trời. Hai cái muốn đó làm sao có thể đi đôi với nhau (Mt 10,36t)? Chính Đức Kitô còn không sống theo ý Ngài (Mt 4,4; Ga 4,34). Thế nên khi dứt khóat chọn Đức Kitô, ta phải nỗ lực sống theo Lời Ngài và đồng thời luôn vững tin vào tình yêu và sự quan phòng của Ngài (Mt 6,25t; Lc 12,22t).

Truyện : Thánh nữ Perpetua.

          Perpetua thuộc gia đình quí tộc, bị bắt vì đạo. Cha của nàng vẫn là dân ngọai, thuyết phục nàng bỏ đạo. Chỉ vào chiếc bình, nàng lễ phép nói với cha :”Thưa cha, người ta có thể gọi vật này  bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng thế, con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là Kitô hữu”. Tức quá, ông đánh đập nàng tàn nhẫn, rồi bỏ đi nhiều ngày không tới. Perpetua có một đứa con đang bú, rất khổ vì phải xa con. Đứa bé kiệt sức nên người ta đưa lại cho mẹ nó, và nàng quên hết đau khổ vì có con bên cạnh.

          Vì biết con gái mình sắp bị án tử, người cha lại đến với những lời thảm thiết :”Con ơi, hãy thương đến mái tóc bạc của cha, hãy nhớ đến đôi tay cha  đã dưỡng nuôi con. Hãy nhớ tới mẹ con, anh em con  và đến con nhỏ của con nữa, nó sống làm sao nếu không có con. Con hãy bỏ đạo, bỏ đi điều đã làm cho chúng ta mất tất cả”.

        Tuy rất cảm động và đau khổ, Perpetua chỉ nghẹn ngào trả lời :”Thưa cha, tại tòa án sẽ xẩy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình”. Người cha còn cho đem đứa trẻ đến năn nỉ :”Con hãy thương đến đứa con nhỏ của con”.

         Tuy nhiên trước tòa án, cùng với các bạn khác, Perpetua đã công khai tuyên bố trung thành với Chúa và bằng lòng hy sinh tất cả.

          Mỗi người tin Chúa phải quyết định hoặc yêu mến gia đình hơn hoặc yêu Chúa Giêsu hơn. Bản chất của Kitô giáo là  phải đặt sự trung thành với Chúa Giêsu lên trên tất cả các sự trung thành khác của thế gian. Người ta phải sẵn sàng coi mọi sự như thua lỗ vì cớ cao trọng tuyệt đối của Chúa Giêsu.

  1. Lựa chọn và Thập giá. 

          Đức Giêsu đã nói :”Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khỏai biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”. Một phép rửa mới đang chờ đợi Đức Giêsu : tử đạo, cái chết ! Đức Giêsu quả quyết rõ ràng nếu chính Ngài phải trải qua cơn thử thách thì những ai theo Ngài cũng sẽ gặp thử thách trên bước đường họ đi.

          Nếu Ngài đến đem bình an của Đấng Thiên Sai mà các tiên tri đã công bố (Is 9,5-6; Mk 5,4; Lc 2,13) thì đây không phải là sự bình an dễ dãi do các tiên tri giả loan báo, sự bình an mà con người không ngừng mơ tưởng; nhưng là bình an Nước Trời mà người ta chỉ đạt được qua Thập giá. Mỗi người được mời lựa chọn thái độ của mình đối với Đức Giêsu, hoặc theo Ngài, hoặc chống Ngài như ông Simêon đã nói tiên tri (Lc 3,35).

 Truyện : Họ đã chọn một phép rửa.

         Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thấy có biết bao gương sáng của những vị anh hùng. Họ mang lửa nhiệt tình can đảm trong tim để làm chứng cho sự thật Phúc âm. Họ cũng đã phải chịu “một phép rửa” của đau khổ như Đức Giêsu đã chịu.

Chẳng hạn như cựu Tổng thống Nam phi Nelson Mendela, người được giải thưởng Nobel về Hòa bình, đã bị tù 27 năm  vì đấu tranh chống lại nạn kỳ thị chủng tộc ở Nam phi.

Yitzak Rabin, cựu thủ tướng Do thái, bị ám sát chết vì lập trường hòa bình của mình.

 Đức Tổng Giám mục Oscar Rômêrô ở El Salvado bị bắn chết lúc dâng Thánh lễ vì bảo vệ người nghèo chống lại quyền lực.

Và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bị ám sát hụt, như một hậu quả của những giá trị Ngài bênh vực.

        Chúng ta có thể sống ung dung để tránh né “ngọn lửa” thanh luyện mà Đức Giêsu đề cập tới không ? Nếu Đức Giêsu đã nịnh hót đám đông, và chỉ nói với họ những lời “dễ nghe”, hẳn Ngài đã trở nên một người được quần chúng ưa thích. Nhưng Ngài đã chọn cách làm cho quần chúng bối rối. Bởi lẽ họ cần có người làm cho họ phải bối rối.

        Chúng ta sẽ phản bội Tin mừng nếu chúng ta giản lược nó  thành một sứ điệp dịu dàng, từ tốn cho tất cả mọi người không cần biết đến những sự khác nhau giữa người giầu và người nghèo, giữa người có quyền và người cùng khổ, giữa người tốt và người xấu.  Một Tin mừng nhạt nhẽo như thế không thể nào thành men làm dậy bột thế gian. 

        Có một xu huớng “thuần hóa” Tin mừng, giản lược nó thành những lời hay ý đẹp và những kinh nghiệm an tòan dễ chịu. Khi điều ấy xẩy ra thì lửa tàn lụi, men mất hết sức mạnh, muối mất hết vị, ánh sáng trở nên mù mờ. Nếu chúng ta sống như vậy, e rằng đến ngày sau hết Đức Giêsu sẽ đem “ngọn lửa phán xét” từ trờ xuống mà phán rằng :”Ngày ông Lót ra khỏi Sôđôma, thì Thiên Chúa khiến mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả. Sự việc cũng sẽ xẩy ra như thế, ngày Con Người được mạc khải”(Lc 17,29). Hãy làm cho ngọn lửa nhiệt tình bùng cháy lên như thánh Phanxicô Assisi đã làm. Ngài đã dám lột bỏ hết mọi sự giầu sang nhung lụa, trả lại cho người cha trần thế, để chỉ chú tâm kiếm tìm các giá trị thiêng liêng nơi người Cha trên trời. 

Truyện : Ozanam, ngọn lửa nhiệt tình.

         Năm 1843, thành phố Paris đang bị xáo trộn, Đạo Công giáo bị đe dọa, các cơ sở tôn giáo bị phá phách. Tại Lyon, bọn thợ thuyền cũng kéo cờ đỏ, hát những bài phạm đến Chúa và phản đạo. Năm ấy Ozanam học luật tại Paris. Dầu còn thanh niên, cậu đã dùng ngòi bút và việc bác ái để phản công. Cậu siêng năng đọc Phúc âm, rước lễ. Cậu thụ giáo với giáo sư Ampère về học thức và đạo đức. Và cậu mạnh bạo bênh vực Giáo hội. Với Ozanam các sinh viên, trước đây rụt rè lo sợ, bây giờ mạnh bạo. Các giáo sư đại học cũng phải kiêng nể Công giáo. Cậu tổ chức các buổi diễn thuyết làm sống lại Đạo Công giáo. Về phía dân chúng, cậu đã cùng 6 anh em khác lập hội Bác ái Vinh sơn giúp đỡ các người nghèo khổ. Hồi 18 tuổi, cậu đã thề :”Nhất định hy sinh đến thí mạng cho dân nghèo”. Đồng thời với Ozanam, Montalembert tranh đấu cho tự do giáo dục của Giáo hội, tại nghị trường. Dù là giáo sư đại học, Oznam vẫn hàng tuần đi các khu nghèo khó để dạy giáo lý cho những người công nhân nghèo khổ.

          Ngày nay Giáo hội cũng cần nhiều tâm hồn có lửa nhiệt tình như Ozanam.

Về mục lục

.

CHÚA GIÊSU MANG LỬA ĐẾN TRÁI ĐẤT

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

1. Đoạn này chẳng liên hệ mật thiết với dụ ngôn người quản lý nói trước đây. Nhưng vẫn mang một giọng văn trịnh trọng của cả chương 12. Khi đã cho các môn đệ biết ý kiến về các ngày bắt bớ, Chúa Giêsu lại gợi lên những hình ảnh hãi hùng của sứ mệnh Ngài trên mặt đất này, cái chết đau đớn của Ngài, những chống đối làm cho con người chia rẽ vì Ngài.

2. Câu 49 (Chúa Giêsu nói về lửa mà Ngài sẽ mang đến trên trái đất) đã được chú giải khác nhau. Có người cho đó là thứ lửa đã được đốt lên và dịch là: “Tôi đã mang lửa đến trên mặt đất và tôi còn ước muốn gì nữa, nếu lửa ấy đã được thắp lên? (Crampon, Jounn..). Như thế Chúa Giêsu không còn ước muốn gì nữa và không còn gì để chu toàn sứ mệnh ngoài việc phải chịu thương khó (c.50). Nhưng phần lớn các tác giả đều nghĩ rằng Chúa Giêsu diễn tả một ước muốn và dịch là: “Tôi đã đem lửa đến trên trái đất, và tôi ước ao biết bao lửa ấy được đốt lên!”. Bản Vulgata, có thể đã đọc ei.mê (nisi) thay vì ei.edê (si jam) nên nói lên ý nghĩa sau đây: “tôi muốn gì, nếu không phải là nó trong đốt lên?” Cách dịch thứ hai này (Segon, Khabanbauer, Zorell, klostermann, Legrange, Bille du Kentaine, Buzy, BJ, TOB…) hình như phù hợp với văn mạch hơn, vì ánh sáng rực rỡ mà Chúa Giêsu nói đến hình như còn đang lệ thuộc vào một điều kiện chưa thực hiện được, đó là rửa bằng máu của cái chết Ngài. Hơn nữa, vì luật song đối của người sêmit thích lập lại cùng một ý tưởng hay một ý tưởng tương tự, nên có thể cho rằng nhắc đến tương lai trong câu 50 thì phù hợp với câu 49b hơn. Người ta thắc mắc vì sao lối chú giải thứ hai gán cho chữ Ti ý nghĩa tương tự của tiếng Hy bá bao nhiêu (combien étroit) trong Mt 7,14; hay tiếng Hy lạp Ti cala (cômbien beau).

3. Các nhà chú giải không những bằng lòng về cách dịch câu 49, mà còn thay đổi ý nghĩa của tiếng lửa mà Chúa Giêsu đã đem đến trên mặt đất. Nhiều Giáo phụ có uy tín cho đó là Thánh Thần (Th. Grégoire le Grand, Th. Ambrosiô, th. Syrille d’Alexandie, th. Jérome). Cách chú giải này thấy trong phụng vụ cũ của lễ hiện xuống (lời nguyện thánh lễ ngày thứ 7 lễ hiện xuống), nhưng không phải mọi người đều chấp nhận, có vài tác giả (Maldonat) so sánh câu 49 và 51, dựa vào sự chia rẽ mà Đức Kitô gây nên trong thế gian và thấy lửa mà Chúa Giêsu nói đến là hình ảnh của những cuộc thử thách đang chờ các môn đệ, những thử thách người mong ước vì có sức thánh hóa. Nhưng nếu thế, tại sao Chúa Giêsu lại ao ước thực hiện các thử thách đó như vậy? Có những tác giả khác (Knabenbauer, BJ) thích hiểu lửa của sự nghiệp Đức Kitô trong trần gian, là sự nghiệp thanh luyện và đổi mới nhắc nhở lại hành động lửa tôi luyện vàng và bạc khỏi han rỉ. Nếu người bảo rằng hành động của Thánh Linh, thì lối chú giải ấy rất gần với lời chú giải của các giáo phụ. Các giáo phụ cắt nghĩa rằng lời sấm ngôn của Chúa Giêsu về ánh sáng đã ném xuống thực hiện rồi, chứ không phần nào bị che dấu, như mạch văn cho thấy.

Vì thế người ta cho rằng khi nói đến ánh sáng ấy, Chúa Giêsu nói đến một thứ lửa tượng trưng ở trong tâm hồn (Lc 24,32, các lữ hành thành Emmaus và nó rất tuyệt hảo, vì Chúa Giêsu muốn nó phải được đốt lên. Các giáo phụ đã không lầm khi nhận ra đó là công việc của Thánh Linh hay là Đức Ái, nhưng tốt hơn là nên để cho lời nói có vẻ úp mở như kiểu nói của các tiên tri (Lagrange).

4. Việc thực thi ý muốn của Chúa Giêsu phải tuân phục theo một điều kiện: Con Người phải lên Giêrusalem và chịu thương khó ở đó. Chúa Giêsu so sánh sự thương khó với phép rửa mà Ngài phải chịu, phải bị dìm xuống, vì Ngài sẽ như bị nhận chìm trong những đợt sóng đắng cay và phiền não (Mc 10,38). Tâm hồn Ngài phải chịu dằn vặt vì nhãn quan ấy. Người ta chú giải cơn dằn vặt ấy như là một vết thương đầu tiên của cơn khắc khoải sẽ đè xuống trên Ngài ở Giêtsimani, hay như một ước vọng mãnh liệt trong sứ mạng Cứu thế của Ngài đạt đến tột đỉnh (TOB).

5. Cũng như con người Chúa Giêsu, sự nghiệp của Ngài cũng đem lại sự trái nghịch: “Các anh có nghĩ rằng tôi đem đến hòa bình cho mặt đất không?”. người ta có thể đã tưởng thế vì lời phúc âm của Ngài là sứ điệp hòa bình (Is 9,5tt; Za 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15) và hòa giải. Nhưng khi thế giờ bị lửa thánh linh đốt lên qua lời giảng dạy của các tông đồ, thì phúc âm sẽ không luôn luôn được con người thiện tâm bình thản đón tiếp. Phúc âm sẽ bị con cái bóng tối đánh bật, xô đẩy, và như thế bình an của Đức Kitô không phải là thứ bình an của thế gian, con người sẽ phân rẽ vì Chúa Giêsu, “để tư tưởng của nhiều tâm hồn phải bày tỏ ra” (Lc 2,35). Ngay trong gia đình, tự bản chất là nguyên lý của sự hiệp nhất cũng sẽ xuất phát mối bất hòa bất thuận.

KẾT LUẬN

Sự cứu độ của thời cuối cùng sẽ không đến mà không cần có cố gắng và đau khổ. Mối mong chờ ơn cứu độ bao hàm lòng can đảm chịu đựng gánh nặng và lo lắng khổ sở. Muốn lên trời phải qua thánh giá (pâque: passage). Nhưng thánh giá, mà các môn đệ sống là dấu hiện tiên báo các biến cố thế mạt đã bắt đầu, các biến cố đó đòi hỏi con người từ đây phải có một lập trường dứt khoát đối với Đức Kitô và sứ điệp của Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

  1. Đức Kitô đem lửa tình yêu đến nung nấu thế giới không một chút tình người, không mảy may hy vọng vào sự hiệp thông phổ quát đích thực, không có tinh thần vô vị lợi. Chỉ có lửa đó mới nung nấu lòng người, dẹp tan mọi nghi kỵ hận thù và chiến tranh là những mối nguy cho tình bằng hữu giữa người với người, dân này khác với dân kia.
  2. Nhưng Chúa Giêsu cũng biết lửa đó chỉ phát xuất từ hy lễ của chính Ngài, Ngài hướng dẫn hy lễ đó không chút âu lo. Trái lại đã ao ước chóng chu tất nó để hoàn tất sứ mệnh cứu độ của Ngài. Vì cái chết của Ngài sẽ mở ra một khúc ngoặc quan trọng trong lịch sử nhân loại, khai mào cho chúng ta đường cứu độ nhờ thập giá. Và trong mức độ ao ước nung nấu lửa tình yêu đó trên trái đất, thực hiện cuộc cách mạng đổi đời, đổi tâm thức và cơ cấu, chúng ta sẽ chịu một phép rửa như Chúa Giêsu: chúng ta phải bắt chước Ngài khi chịu lo âu, thất bại, từ bỏ, để thực hiện lý tưởng đời mình.
  3. Chúa Giêsu ban hòa bình cho chúng ta, như Tân ước đã nói: Ngài hòa giải chúng ta với Chúa Cha, với chính chúng ta và với mọi người (x. Ep 2,14-17) bằng cách mời gọi chúng ta trở về với đời sống đích thực là yêu thương. Nhưng Ngài không ban bình an theo kiểu thế gian, nhưng theo kiểu chiến đấu như Ngài đã từng chiến đấu, đến nỗi gây chia rẽ chúng ta với than nhân chúng ta.
  4. Ở đây Chúa Giêsu không muốn lên án sự hòa hợp trong gia đình và cổ xúy một tinh thần chia rẽ. Nhưng Ngài luôn nhắc tới giới luật của Thiên Chúa: “Hãy phục vụ cha mẹ ngươi” (Mc 7,10). Nhưng qua các lời nói trên đây, Ngài quả quyết nếu muốn làm môn đệ Ngài, chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả cách tuyệt đối những gì ngăn cản không cho chúng ta theo Ngài, kể cả tình yêu nhân loại cao quí nhất. Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài cách độc quyền, dứt khoát, trọn vẹn. Và sự độc quyền có thể làm người ta chướng tai gai mắt. Chúa Giêsu biết điều đó nên đã nói: “Hạnh phúc cho ai không vấp phạm vì Ta” (Mt 11,6). Tuy nhiên Ngài không ép buộc nhưng mời gọi chúng ta với tư cách là sứ giả của Nước Thiên Chúa sẽ đến đảo lộn mọi trật tự xã hội loài người. Và Ngài đòi chúng ta phải thống hối ăn năn trong mọi lãnh vực của cuộc đời chúng ta, cũng như lãnh vực liên đới gia đình. Một lần nữa Chúa Giêsu không cấm chúng ta yêu thương đồng loại, trái lại còn đòi buộc chúng ta phải yêu thương nhau hơn nữa. Ngài còn phản đối lối yêu thương vụ lợi của chúng ta: “Nếu các ngươi chỉ yêu thương người yêu thương mình, thì còn ân nghĩa gì?”.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 20 TN_C

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XX Thường Niên năm C mời gọi các Ki-tô hữu phải kiên vững đức tin trong sứ mạng của mình dù gặp phải những chống đối, thù nghịch.

Gr 38: 4-6, 8-10

Vì trung thành với sứ mạng của mình, ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị mọi người thù ghét và bách hại. Các Ki-tô hữu coi vị ngôn sứ này là hình bóng của Đức Ki-tô.

Dt 12: 1-4

Tác giả khuyên những Ki-tô hữu gốc Do thái của ông phải kiên trì đức tin trong mọi gian nan thử thách bằng cách noi gương các bậc tiền nhân, nhất là mẫu gương tuyệt hảo của Đức Ki-tô.

Lc 12: 49-53

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt đến tuyệt đỉnh khi Ngài báo trước sứ mạng của các môn đệ sẽ đồng nhất với sứ mạng của Ngài trong cùng một tình yêu tận mức dành cho con người.

BÀI ĐỌC I (Gr 38: 4-6, 8-10)

  1. Hoàn cảnh bi thương của ngôn sứ Giê-rê-mi-a

Đây là một trong những bài trình thuật kể về những đau khổ mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a phải chịu vì trung thành với sứ mạng của mình. Ngôn sứ đã tuyên sấm rằng thành đô Giê-su-sa-lem sẽ bị điêu tàn nếu dân chúng vẫn cứ bất trung với Thiên Chúa của mình. Dĩ nhiên, đối với các thủ lãnh, lời tuyên sấm này phản ảnh tinh thần chủ bại và phản quốc, vì thế họ tìm cách bịt miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a bằng cách thả ông xuống “hầm không có nước mà chỉ có bùn”. Nhưng ngôn sứ được cứu nhờ viên thái giám người Cút là ông E-vét Me-léc.

  1. Một cuộc đời trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa

Để có thể hiểu những nỗi đau giằng xé trong tâm khảm của vị ngôn sứ, chúng ta đừng bỏ qua những lời tâm sự đến xé lòng của ông theo hình thức cầu nguyện như:

“Con vô phúc quá, mẹ ơi, mẹ sinh con ra làm gì,

để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gỗ với con?

Con chẳng cho ai vay, cũng không mượn của người,

thế mà vãn cứ bị nguyền rủa.

Quả vậy, lạy Đức Chúa,

con đã chẳng đem thiện chí phục vụ Ngài hay sao?

Nào con đã chẳng cầu khẩn với Ngài cho thù địch

khi nó gặp hoạn nạn, lúc nó phải gian truân?” (Gr 15: 10-11),

nhất là:

 “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con

và con đã để cho Ngài quyến rũ.

Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.

Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.

Mỗi lần nói năng là con phải la lớn,

phải kêu lên: ‘Bạo tàn! Phá hủy!’

Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.

Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người,

cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa”.

Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim,

ầm ỉ trong xương cốt.

Con nén chịu đến pahri hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (Gr 20: 7-9).

Thật ra, ngôn sứ Giê-rê-mi-a vốn là một con người hiền lành, không muốn làm mất lòng bất kỳ một ai. Trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa mà ông trở nên kẻ thù địch của mọi người, vì những thông điệp của ông đi ngược lại những mong ước của mọi người. Vì thế, đoạn trích dẫn hôm nay không nên nhấn mạnh sự giải thoát cho bằng sứ mạng trung thành chuyển giao lời của Đức Chúa mà ông bị loại trừ và chịu đau khổ. Quả thật, sự đau khổ của Giê-rê-mi-a tiên trưng sự đau khổ của Đức Giê-su, được phác họa trong Tin Mừng hôm nay.

BÀI ĐỌC II (Dt 12: 1-4)

  1. Noi gương các bậc tiền nhân

Vào Chúa Nhật hôm nay, chúng ta tiếp tục đọc Thư gởi tín hữu Do thái mà chúng ta đã khởi sự đọc vào Chúa Nhật trước. Trong đoạn trích hôm nay, chúng ta đọc lời khuyến dụ kết thúc danh sách các bậc anh hùng Cựu Ước. Các ngài là những “chứng nhân” về niềm tin sắc son kiên vững trong mọi gian nan thử thách. Tác giả Thư gởi tín hữu Do thái mời gọi chúng ta noi gương các bậc tiền nhân kiên trì giữ vững đức tin trong mọi gian nan thử thách. Như một vận động viên, để có thể đạt được vòng nguyệt quế chúng ta phải chấp nhận cởi bỏ khỏi bản thân mình bất kỳ thứ gì làm vướng víu cuộc chạy đua của mình.

  1. Đức Giê-su là mẫu gương tuyệt hảo của người Ki-tô hữu

Đối với người Ki-tô hữu, Đức Giê-su còn vĩ đại hơn gấp vạn lần các bậc anh hùng Cựu Ước. Khi sống tại thế, Ngài đã không chỉ “khai mở” con đường đức tin nhưng còn “kiện toàn” lòng tin bằng cách “cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Chính nhờ hướng về Ngài, người Ki-tô hữu sẽ thành toàn cuộc đời mình qua những gian nan thử thách của cuộc đời này.

TIN MỪNG (Lc 12: 49-53)

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt tới cao điểm khi Ngài mặc khải rằng việc họ thuộc về các môn đệ Ngài sẽ đặt họ vào những cảnh ngộ không yên thân thoải mái đâu. Thực vậy, ý nghĩa sứ vụ của Chúa Giê-su được đề cập ở 12: 49-50 có những phản hồi trực tiếp đến các môn đệ ở 12: 51-53. Tin Mừng hôm nay có hai ý được gợi lên qua hai cặp hình ảnh: “lửa và phép rửa” (12: 49-50), “hòa bình và chia rẽ” (12: 51-53).

  1. “Lửa và phép rửa”(12: 49-50)

Bằng cặp hình ảnh “lửa” và “phép rửa”, Chúa Giê-su nói đến sứ mạng sắp đến của Ngài. Trước hết, “Thầy đã ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”: Trong Kinh Thánh, hình ảnh “lửa” thường mô tả tình yêu nồng cháy của Thiên Chúa cho con người (x. Đnl 4: 24; Xh 13: 22; vân vân). Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Người tận mức ở nơi biến cố Nhập Thể của Con Ngài (Ga 3: 16). Qua hình ảnh “lửa”, Đức Giê-su tự nguyện hiến dâng mạng sống mình vì chúng ta: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15: 13). Vì thế, Chúa Giê-su những ước cùng mong đến giờ thực hiện tình yêu tận mức của Ngài đối với con người được bừng cháy trên Thập Giá.

Tiếp đó, Đức Giê-su mô tả cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài qua hình ảnh phép rửa: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”, nghĩa là Ngài sẽ dìm mình vào trong cái chết, nhưng từ cái chết Ngài sẽ sống lại trong vinh quang để không bao giờ chết nữa. Qua hình ảnh “phép rửa”, Đức Giê-su tha thiết ước mong được hiến dâng mạng sống mình vì yêu thương chúng ta. Cũng thế, chúng ta chịu phép rửa, nghĩa là chúng ta dìm mình vào trong cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô, tức là chết cho tội lỗi mình, và được tái sinh vào một đời sống mới chan chứa muôn vàn ân phúc: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 4).

Qua cuộc sống mới này, chúng ta, những người Ki-tô hữu, phải bừng cháy lên ngọn lửa tình yêu theo cùng cách thức như Đức Giê-su đã châm ngọn lửa ở nơi các môn đệ Ngài, như lời của thánh Phao-lô: “Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1: 24).

  1. “Hòa bình và chia rẽ”(12: 51-53)

Con Thiên Chúa đã giáng trần với một sứ điệp hòa bình: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2: 14) và hòa giải: “Nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5: 11). Các ngôn sứ cũng đã loan báo sứ mạng của Đấng Ki-tô là sứ mạng hòa bình (x. I s 9: 5tt; Dcr 9: 10) và thánh Phao-lô cũng xác quyết chính Đức Giê-su “là bình an của chúng ta”(Ep 2: 14-15). Tuy nhiên, vì cưỡng kháng lại công trình cứu độ của Đức Ki-tô do tội, con người trở thành những đối thủ của Ngài: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?”. Bất công và lầm lạc dẫn đến chia rẽ và chiến tranh: “Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa và vẫn sẽ còn đe dọa cho tới khi Chúa Ki-tô đến. Tuy nhiên, nhờ kết hiệp trong bác ái, con người vượt thắng tội lỗi và cũng vượt thắng bạo động cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: ‘Họ sẽ rèn gươm thành lưỡi cày và giáo thánh lưỡi liềm. Các dân tộc sẽ không rút gươm đâm chém nhau và sẽ không tập luyện để chiến đấu’ (Is 2: 4)” (Vatican II, Gaudium et spes, 78).

Vì thế, chẳng có gì phải ngạc nhiên, dù rằng “Người đã đến loan Tin Mừng bình an” cho hết mọi người (Ep 2: 17-18), tuy nhiên, suốt cuộc đời tại thế, Đức Giê-su đã là dấu chỉ của sự mâu thuẫn (x. Lc 2: 34). Chúa Giê-su báo trước cho các môn đệ biết rằng sự bất đồng và chia rẽ đồng hành với công việc truyền bá Tin Mừng (x. Lc 6: 20-23; Mt 10: 24). Ngay cả trong gia đình vốn là nơi yêu thương và đùm bọc nhau, đôi khi vì niềm tin vào Ngài và vào Tin Mừng của Ngài lại trở thành cuộc bách hại ngay trong gia đình mình. Vì thế, Chúa Giê-su nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình theo kiểu thế gian, nghĩa là không có chiến tranh, bách hại, mà là hòa bình của Thiên Chúa, một thứ hòa bình ngự trị trong cõi thâm sâu của lòng người, đó là hòa bình mà thế gian không thể nào ban cho được.

“Lời Chúa Giê-su nói về sứ mạng của Người cũng là một lời khuyến cáo các môn đệ Người: Sự kiện Nước Thiên Chúa đến không phải để các môn đệ hưởng thụ một cuộc sống bình an một cách thụ động. Họ sẽ hưởng bình an đấy, nhưng là một thứ bình an mà phải cố gắng chiến đấu mới đạt được, chiến đấu trong gian truân thử thách, chiến đấu với cả những người thân không cùng niềm tin với mình. Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba đã hiểu như thế, nên đã khuyên các tín hữu rằng: ‘Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa’ (Cv 14: 22). Hòa bình Chúa ban là kết quả của những cố gắng để giải quyết tình trạng ‘chia rẻ’: a) Nơi bản thân mỗi người, chỉ có hòa bình thật khi không còn xung đột giữa cái tôi hướng thiện với cái tôi hướng ác; b) Nơi gia đình, nơi xã hội và bất cứ nơi nào cũng thế, chỉ có hòa bình thật khi mọi người đều một lòng một ý với nhau”(“Hạt Giống Nẩy Mầm”).

Về mục lục

.

ƯỚC MƠ VÀ CHỌN LỰA

Lm. Jos. DĐH.

Mơ ước của con người là được sống vui sống khoẻ, các nhà lãnh đạo thì hướng tới mục tiêu: dân giầu nước mạnh, các đấng bậc sinh thành lại mang chung một thao thức, ta phải làm gì để có được gia đình hạnh phúc, con cháu nên người hữu ích. Hoà chung với vòng xoay ở đời này, mơ ước của chúng ta là gì ? Cơm áo gạo tiền, giầu sang phú quý, hay được sung sướng an nhàn ? Câu trả lời sẽ tuỳ thuộc vào tự do của mỗi người chọn lựa, dù tương lai ra sao thì hiện tại chính là lúc ta đang đầu tư. Cuộc sống có vui có buồn, có nhiều trải nghiệm riêng tư: con đường dẫn tới thành công, không bao giờ thành lối, sống có ước mơ, nhất định phải để đôi chân mình cất bước. Vì bất luận người ta chăm chỉ, lười biếng hay sống cẩu thả, họ đều thấy một kết quả: hấp tấp vội vàng chỉ làm hỏng cơ duyên ; hoặc muốn gặt may mắn, ắt phải gieo ơn lành.

Chúa Giêsu hôm xưa đã gợi lên mơ ước hạnh phúc của Ngài và mời gọi mỗi người suy xét, chọn lựa, bằng chính sự tự do của mình: “Thầy đã đến ném lửa vào thế gian, và Thầy ước mong sao cho lửa ấy bừng cháy lên” ! “Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống cho thế gian ư ?”. Trước hết, và trên hết, xưa nay gì cũng cần phải hiểu thứ lửa mà Chúa Giêsu nói đến là gì, bình an của Chúa và bình an nơi cuộc sống này có khác nhau gì không ? Theo tự nhiên, chẳng ai mơ ước mình phải đau khổ, chẳng ai muốn chọn lựa một tương lai mù mịt. Do đó, người không tin trời phật sẽ ao ước: được an nhàn, được thụ hưởng niềm vui ở hiện tại ; người tin theo Chúa: bây giờ và mai sau đều muốn chọn Chúa và tin tưởng sẽ được hạnh phúc trong Chúa.

Theo phạm vi siêu nhiên, Thiên Chúa vẫn ban ơn cho con người một khả năng để hiểu: lửa mà Đức Giêsu nói là lửa yêu thương, lửa yêu thương có sức tẩy rửa, biến đổi tâm hồn xấu xa tội lỗi nên thánh thiện, hạnh phúc trường tồn. Lửa yêu thương là thứ lửa được Đức Giêsu thanh tẩy bằng sự vâng phục thánh ý Chúa Cha, bằng cuộc tử nạn và phục sinh, vì thế, lửa yêu thương sẽ mang ý nghĩa mời gọi tin và sống niềm tin để được thiêu đốt tội lỗi và làm cho ta thật sự được sống hạnh phúc. Thứ lửa hận thù ghen ghét, là lửa tiêu diệt, lửa giết chết theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thứ lửa đáng sợ ấy ngay trong gia đình, xã hội, đã có chia rẽ, bất hoà rồi, không có tiếng nói chung, vì quyền lợi vật chất làm đảo lộn, vì ích kỷ hơn thiệt, thiếu sự hy sinh tha thứ !

Thầy đã đến và đem lửa vào thế gian, thoáng nghe chúng ta có cảm giác Đức Giêsu “thích chơi trò mạo hiểm quá” ! Nếu nghe tiếp, chúng ta sẽ có ý nghĩ khác về thứ lửa yêu thương được Ngài lý giải: “Thầy còn phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất ! Lửa yêu thương mới đủ đốt cháy được tội lỗi của con người, lửa yêu thương mới đủ ấm áp hoà hợp được tình đệ huynh, mang lại bình an cho các tương quan gia đình, xã hội. Nhiều câu hỏi được đặt ra, nhiều thắc mắc dường như bế tắc không có đáp án: tại sao cứ yêu là khổ, tại sao thật thà thường thua thiệt, vì sao cứ biết nhiều, cứ yêu nhiều là sẽ khổ nhiều ? Tại sao theo Chúa thì phải tuân giữ lề luật, phải sống giáo huấn của Chúa một cách nghiêm túc ? Tại sao ăn gian nói dối, mánh lới lừa đảo, họ vẫn có danh có phận ở đời ; trong khi sống ngay thẳng, sống đúng với tinh thần yêu thương của Chúa, thì đầy khó khăn, bất trắc ?  Chỉ một vài gợi ý như thế, có thể ít nhiều chúng ta cũng thấy: mơ ước và chọn lựa luôn phải “có tri và hành”, mơ ước và chọn lựa ấy mới có giá trị.

Người trẻ hôm nay có những câu “tự tình” đáng để chúng ta phải suy nghĩ: thất tình mới biết yêu là khổ, say tình mới biết khổ vì yêu ! Nói lên định nghĩa về tình yêu, không khó, sống đúng sống đẹp, với lời gọi yêu thương bao giờ cũng phức tạp hơn. Làm cho ngọn lửa “nấu bếp” cháy lên không khó, chỉ cần một cái “quẹt ga” là ổn ; trong khi chỉ vô tình vô tâm một chút, là làm tắt cả tình nghĩa anh chị em mình ! Thực ra thì hoa có thơm là nhờ nhuỵ, người “có tâm có tầm” là nhờ đạo đức, uy tín ; tương quan yêu thương có bền chặt, là do biết cảm thông, đón nhận cả tính tốt tính xấu của nhau. Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy cùng Chúa làm cho lửa mến yêu ở trong lòng gia đình xã hội lớn lên, cháy lên, cũng có nghĩa là hãy làm cho mơ ước và chọn lựa của mình được mạnh mẽ hơn bằng tình yêu và gương sáng đức độ. Có bột sẽ gột nên hồ, có tình yêu Giêsu mới cư xử bác ái giống như Chúa được. Xin tình yêu Giêsu ở mãi trong ước mơ và chọn lựa của mỗi người đang tin tưởng cậy trông vào Chúa. Amen.

Về mục lục

.

NHỊP CẦU

Lm Vũđình Tường

Sông rộng, núi cao, rừng rậm, sa mạc và đại dương đều là những trở ngại trong việc di chuyển, bởi chúng chia cắt đất đai, khoanh vùng thành những nơi thời tiết, mưa nắng khác nhau. Nhờ thế mà có những nơi bên này núi khí hậu ôn hoà mát mẻ, bên kia núi khí hậu khắc nghiệt. Để vượt qua những trở ngại trên, người ta dùng thuyền hay phà di chuyển qua sông, tầu thủy vượt đại dương và ngày nay máy bay chuyên chở hành khách từ lục địa này sang lục địa khác. Đó là công trình sáng tạo của thiên nhiên.

Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế, nhưng là đem sự chia rẽ Lc 12,51

Theo cách của thiên nhiên, ngăn cách không xấu bởi việc ngăn cách mang lại kết quả tốt, điều hoà khí hậu và đôi khi còn ngăn chặn nước lũ tràn lan. Ngoài ngăn cách thiên nhiên ra, còn có những cách trở do con người tạo ra. Thí dụ như đường xá, công viên, đường rầy xe lửa và đại lộ ngăn cách vùng này với vùng khác, tạo nên sự phân biệt giá trị đất đai, và ngay cả nếp sống, tình trạng an toàn cũng khác biệt. Để vượt qua những ngăn cách trên con người xây dựng những con cầu, thuận tiện cho việc di chuyển ngày đêm.

Về phương diện văn hoá và tâm linh con người cũng có những khác biệt. Ở những quốc gia có nhiều sắc tộc khác nhau, văn hoá khác biệt. Khi gặp phải văn hoá khác biệt người ta thường dè dặt, cẩn trọng sợ đụng chạm văn hoá, không giám bác nhịp cầu thông cảm mà e dè xử dụng phương pháp ‘dùng phà di chuyển’ cổ điển. Phương pháp này rất chậm và bị hạn chế. Bác nhịp cầu thông cảm, việc hiểu nhau sẽ nhanh hơn và tiện hơn. Điều này có thể áp dụng cho tâm linh. Khi gặp phải các niềm tin khác nhau thì nhịp cầu thông cảm giúp tìm hiểu các niềm tin khác nhau nhanh hơn và tiện lợi hơn. Đây chính là điều Đức Kitô nói với các môn đệ khi Ngài sai họ đi rao giảng cho muôn dân, làm phép rửa cho họ trong Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần Mat 28,19. Rao giảng cho muôn dân và làm phép rửa cho họ chắc chắn sẽ gặp chống đối từ mọi phía, từ gia đình đến xóm làng, và ngay cả trên bình diện quốc gia.

Họ sẽ chia rẽ nhau, cha chống lại con trai … mẹ chồng chống lại nàng dâu c.53

Đối với Đức Kitô, sự sống trường sinh là điều tối quan trọng nên không thể nhập nhằng mà cần phải rõ ràng, ngăn cách, phân biệt rõ đâu là điều cần phải tin theo, và đâu là điều phải dứt khoát từ bỏ. Khi làm công việc đó chắc chắn có chia rẽ, chống đối. Cần bác nhịp cầu thông cảm, giải quyết vấn đề cách ổn thoả, dịu dàng trong lời nói, nhịp nhàng trong hành động và nhẹ nhàng tránh bạo động, chống đối. Tất cả đều phải làm trong tinh thần cầu nguyện, bởi thiếu cầu nguyện ta có thể không biết mình đang đi sai đường. Sức mạnh cầu nguyện tạo nhịp cầu thông cảm. Sức mạnh cầu nguyện uốn thẳng tư tưởng cong queo. Sức mạnh cầu nguyện sưởi ấm tâm hồn nguội lạnh. Sức mạnh cầu nguyện soi sáng bóng tối tâm linh. Sức mạnh cầu nguyện trong sáng hoá tư tưởng vẩn đục bởi dục vọng, chủ thuyết. Sức mạnh cầu nguyện hàn gắn rạn nứt, làm hẹp lại cách biệt. Sức mạnh cầu nguyện hoà giải bất đồng. Sức mạnh cầu nguyện tẩy rửa phong tục tồi bại thành phong tục tốt lành đặt nền tảng trên chân lí Chúa, yêu thương và tha thứ. Đây chính là ý nghĩa của việc rửa tội bằng lửa mà Đức Kitô nói đến tác dụng thanh tẩy của lửa. Sau đám cháy là sự sống mới, sức sống mới mang lại khung cảnh mới, tươi đẹp, an bình đầy nhựa sống.

Về mục lục

.

BÙNG CHÁY LỬA TÌNH

Lm Nguyễn Xuân Trường

Người ta đang lo sợ hiện tượng ấm lên toàn cầu làm biến đổi khí hậu gây nhiều thảm họa thiên tai cho thế giới. Ngược lại, người ta thấy còn đáng sợ hơn nữa là hiện tượng lạnh lẽo của tình người làm mất đi tình liên đới, và tạo nên sự vô cảm trong xã hội hôm nay. Một thế giới lạnh nhạt tình thân.

Trước thực trạng ấy, lời Tin Mừng hôm nay như tia nắng ấm chiếu vào mùa đông lạnh giá tình người, làm nên một mùa xuân ấm áp yêu thương: Chúa Giêsu đã đến ném lửa vào thế gian và ước mong lửa ấy bùng cháy lên.

Đó là lửa tình yêu đốt cháy những hận thù ghen ghét. Lửa lung linh tình Chúa để sưởi ấm lòng người và đem mùa xuân yêu thương cho đời.

Đó là lửa lòng Chúa thương xót bao trùm mọi yếu đuối lỗi lầm, lan tỏa lòng bao dung tha thứ và chữa lành, để mọi tội nhân có thể làm lại cuộc đời tươi sáng.

Đó là lửa ánh sáng chân lý xóa tan những bóng tối gian dối lọc lừa, những đêm đen của nghi ngờ, mở ra một lối sống chân thật tin tưởng.

Đó là lửa ánh sáng hy vọng chiếu rọi những mảnh đời tuyệt vọng. Lửa ánh sáng Chúa Phục sinh đã soi sáng một lối nhìn mới: Cái chết không phải là nỗi tuyệt vọng đóng lại đời người, mà là cánh cửa mở ra cho ta bước vào đời sống mới.

Trên hết, chính Chúa là ngọn lửa tình yêu cứu độ. Chúa đã cháy hết mình vì yêu thương nhân loại khi hy sinh trên thánh giá.

Xin ngọn lửa tình yêu Chúa soi sáng cuộc đời, sưởi ấm tâm hồn và bừng cháy lên trong lòng mỗi chúng ta. Nhờ ngọn lửa ấy chúng ta được tăng nhiệt: nhiệt huyết, nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt tình trong việc sống đạo và truyền lửa Tin Mừng yêu thương thắp sáng thế giới này. Amen.

Về mục lục